Đề Xuất 12/2022 # Vướng Mắc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Trường Hợp Chuyển Hồ Sơ Vụ Vi Phạm Để Xử Phạt Hành Chính / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Vướng Mắc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Trường Hợp Chuyển Hồ Sơ Vụ Vi Phạm Để Xử Phạt Hành Chính / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vướng Mắc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Trường Hợp Chuyển Hồ Sơ Vụ Vi Phạm Để Xử Phạt Hành Chính / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính được quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cụ thể như sau:

“1. Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến.Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày”.

Trên thực tế, tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian vừa qua, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định không nhiều. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định pháp luật, đặc biệt là những quy định về trình tự, thủ tục đối với những trường hợp này đang có những khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong trường hợp có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại không quy định hồ sơ phải có biên bản vi phạm hành chính.

Mặt khác, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng không quy định trong trường hợp có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính mà người tiến hành tố tụng hoặc người đang giải quyết vụ việc không có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với trường hợp cụ thể đó thì phải chuyển đến người có thẩm quyền lập biên bản để tiến hành lập biên bản trước khi đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Dẫn đến, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng gửi hồ sơ trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, và trong trường hợp này người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không cần có biên bản vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản vi phạm hành chính như trên là không phù hợp với quy định pháp luật, vì:

– Khoản 1 Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành năm 2012 quy định: Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

– Khoản 1 Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính , cụ thể:

“1. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 56 của Luật này.

Như vậy, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, trừ hai trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 56, thì các trường hợp khác khi ra quyết định xử phạt hành chính phải trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính được lập với cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

Từ thực tế khó khăn, vướng mắc trên, để việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính do có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án được thống nhất, đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định pháp luật cũng như phù hợp với thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng trong trường hợp có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định đó kèm theo hồ sơ vụ việc và biên bản vi phạm hành chính, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp người tiến hành tố tụng hoặc người đang giải quyết vụ việc không có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi đó thì phải chuyển ngay hồ sơ vụ việc và đề nghị lập biên bản vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền lập biên bản để tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Sau khi tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, nếu người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính không có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc thì cần chuyển ngay hồ sơ vụ việc, biên bản vi phạm hành chính và đề nghị xử phạt đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Như vậy, từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính do có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã cho thấy có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Điều này đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn một số quy định pháp luật cụ thể nêu trên là cơ sở để việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính được thực hiện thống nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, đồng thời, góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn tới./.

Vướng Mắc Trong Ủy Quyền Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính / 2023

Theo quy định Điều 54 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 81/2013/NĐ-CP c ủa Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền xử phạt có thể ủy quyền cho cấp phó. Việc ủy quyền phải thực hiện bằng văn bản, cụ thể là Quyết định giao quyền phải được đánh số, ghi rõ ngày, tháng, năm, trích yếu, ký và đóng dấu; trường hợp cơ quan, đơn vị của người giao quyền không được sử dụng dấu riêng, thì đóng dấu treo của cơ quan cấp trên.

Quy định về ủy quyền xử phạt hành chính

Phần căn cứ pháp lý ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp phó được giao quyền phải thể hiện rõ số, ngày, tháng, năm, trích yếu của quyết định giao quyền.

Tùy vào tình hình thực tế mà người có thẩm quyền có thể ủy quyền thường xuyên hoặc ủy quyền theo những vụ việc, lĩnh vực cụ thể. Khi được thì cấp phó phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Và người được giao quyền không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác.

Quy định trên đã góp phần giảm tải áp lực cho người có thẩm quyền xử phạt, giúp việc xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện nhanh hơn, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cấp phó khi được giao quyền xử phạt. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính đã phát sinh một số trường hợp vướng mắc, gây lúng túng cho các cơ quan tham mưu, cụ thể:

Đã ủy quyền cho cấp phó, cấp trưởng có được xử phạt?

Khi cấp trưởng giao quyền xử phạt vi phạm hành chính cho cấp phó xử phạt thì cấp trưởng có còn được ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính nữa hay không? Do hiện nay chưa có văn bản nào quy định về việc sau khi giao quyền cho cấp phó thì cấp trưởng không được quyền xử phạt nên nhiều ý kiến cho rằng cấp trưởng vẫn có quyền xử phạt, bởi vì đây là quyền đương nhiên của họ, việc họ ủy quyền không làm mất đi thẩm quyền xử phạt đã được pháp luật quy định.

Ý kiến này viện dẫn Công văn 494/TCHQ-PC năm 2015 trả lời vướng mắc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính do Tổng cục Hải quan, theo đó: Trường hợp khi đã giao quyền xử phạt vi phạm hành chính thường xuyên cho một cấp phó, nhưng cấp phó được giao quyền thường xuyên vắng mặt trong một thời gian nhất định thì để đảm bảo nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt có thể tự mình ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc giao quyền xử phạt cho một cấp phó khác trong một thời hạn nhất định hoặc theo vụ việc. Trong văn bản giao quyền sau phải thể hiện được nội dung Quyết định giao quyền này chấm dứt hiệu lực hoặc thay thế Quyết định giao quyền trước đó.

Đã ủy quyền thì mất quyền xử phạt

Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng sau khi ủy quyền cho cấp phó thì cấp trưởng không thể ký các quyết định xử phạt nữa, bởi vì trong văn bản ủy quyền đã thể hiện rõ trong thời hạn ủy quyền thì cấp phó được quyền xử phạt đối với những hành vi vi phạm thuộc quyền xử phạt của cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật, đặc biệt không được giao quyền cho người khác. Như vậy, một khi quyền xử phạt đã được chuyển giao cho cấp phó thì quyền đó hoàn toàn thuộc về cấp phó. Nếu cấp trưởng muốn xử phạt thì phải có văn bản hủy bỏ việc ủy quyền, lúc đó quyền xử phạt mới thuộc về cấp trưởng.

Theo Khoản 5 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Nghị định 81/2013/NĐ-CP thì Việc giao quyền chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Quyết định giao quyền hết thời hạn;

b) Công việc được giao quyền đã hoàn thành;

c) Cấp trưởng chấm dứt việc giao quyền cho cấp phó. Trong trường hợp này, việc chấm dứt giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định;

d) Người giao quyền hoặc người được giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức hoặc tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật;

đ) Người giao quyền hoặc người được giao quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết;

e) Công việc được giao quyền tuy chưa hoàn thành nhưng vụ việc phải chuyển giao cho cơ quan, người có thẩm quyền khác xử lý theo quy định của pháp luật;

g) Người giao quyền hoặc người được giao quyền bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Như vậy, Nghị định 97/2017/NĐ-CP cũng không quy định về việc đã giao quyền thì có được ký hay không nhưng lại có quy định các trường hợp chấm dứt việc giao quyền, có thể hiểu nếu chưa chấm dứt giao quyền thì cấp phó có quyền ký văn bản, còn cấp trưởng khi đã giao quyền thì sẽ không còn quyền ký văn bản nữa.

(Tổng hợp tất cả các biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính mới nhất )

Để khắc phục những vướng mắc trong ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính, thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn để tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Rubi

Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính / 2023

I. Khái quát về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính

1. Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Xử phạt vi phạm hành chính: là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính

II. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

1. Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

3. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

4. Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

5. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

6. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính.

Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính. Người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên pháp lý;

7. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

III. Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính

2. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;

3. Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

IV. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính

1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa;

2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng. Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên;

3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ. Sự kiện bất ngờ là sự kiện mà cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra;

4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

6. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.

V. Những hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý hành chính

1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính.

3. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

4. Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

5. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính.

6. Áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

7. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

8. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

9. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

10. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.

11. Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

VI. Bồi thường thiệt hại

1. Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

VII. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.

Hồ Sơ Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Gồm Những Văn Bản Gì? / 2023

Trangtinphapluat.com, trả lời:

Hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Hồ sơ là gì?

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ về công tác văn thư thì:

Theo Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hồ sơ xử phạt hành chính đối với trường hợp có lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính như sau:

(Hướng dẫn cách lập biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất)

Các tài liệu khác có thể là:

– Biên bản giải trình theo Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính, cụ thể:

– Biên bản xác minh tình tiết vi phạm hành chính

Theo Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính như sau:

1. Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây:

(Xem clip hướng dẫn hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính)

a) Có hay không có vi phạm hành chính;

b) Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm hành chính;

c) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

d) Tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra;

đ) Trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này;

e) Tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt.

Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.

2. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.

– Quyết định sửa đổi, bổ sung, văn bản đính chính quyết định hành chính

Theo Khoản 4 Điều 6a Nghị định 81/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 97/2017/NĐ-Cp thì: Quyết định sửa đổi, bổ sung, văn bản đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính là những văn bản gắn liền với quyết định về xử lý vi phạm hành chính đã được ban hành và được lưu trong hồ sơ xử lý vi phạm hành chính.

– Thông báo về thời gian cưỡng chế vi phạm hành chính; thông báo nhận lại tài sản trong trường hợp cá nhân/ tổ chức không nhận tài sản không thuộc đối tượng bị cưỡng chế theo Nghị định 166/2013/NĐ-CP về cưỡng chế vi phạm hành chính

(Trường hợp nào được sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

– Các loại tài liệu khác có thể là: biên bản bàn giao, niêm yết quyết định xử phạt, biên lai thu tiền phạt, biên bản bàn giao, niêm yết quyết định cưỡng chế (trường hợp họ không chấp hành), giấy mời làm việc với đối tượng, biên lai gửi các biên bản, quyết định xử phạt qua đường bưu điện, văn bản đôn đốc các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính…. Các hồ sơ này phải được đánh bút lục theo số thứ tự 1,2 ,3 để thuận lợi cho việc tra cứu.

Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Vì sao phải lưu trữ hồ sơ xử phạt?

Mục đích của việc quy định hồ sơ xử phạt hành chính nhằm thực hiện tốt công tác lưu trữ hồ sơ xử phạt hành chính, phục vụ cho sau này như dùng để làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ đất đai, nhà ở khi nhà nước thu hồi đất hoặc làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự…

Và Luật Xử lý vi phạm hành chính, tại Khoản 10 Điều 12 quy định những hành vi bị nghiêm cấm thì: Cấm Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định tại về kiểm tra và xử lý kỷ luật trong quá trình xử lý vi phạm hành chính.

(Các sai sót thường gặp trong xử phạt vi phạm hành chính cần biết để tránh)

Một số trường hợp cần có hồ sơ xử phạt hành chính

+ Trong lĩnh vực đất đai:

Đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo Điểm a, g Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì: Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp:

– Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm.

– Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành…

Như vậy, để thực hiện được thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai thì phải có hồ sơ chứng minh đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

+ Trong lĩnh vực hình sự

Trong các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình quy định tại các Điều 181, 182, 183, 185, 186 đều có quy định tình tiết “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”, do đó cần phải có hồ sơ xử phạt hành chính để chứng minh.

rubi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vướng Mắc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Trường Hợp Chuyển Hồ Sơ Vụ Vi Phạm Để Xử Phạt Hành Chính / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!