Đề Xuất 12/2022 # Việc Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Quận, Huyện, Phường / 2023 # Top 18 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Việc Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Quận, Huyện, Phường / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Việc Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Quận, Huyện, Phường / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Căn cứ pháp lý cho hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công, Sắc lệnh số 63, ngày 22- 11-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ; Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945 về tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố đã được ban hành. Hiến pháp các năm: 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001); cùng với Luật chính quyền địa phương năm 1958, Luật tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 (sửa đổi, bổ sung năm 1989), Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Quy chế hoạt động của HĐND ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 2-4-2005 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức HĐND các cấp. 68 năm qua, HĐND – một mắt xích của chính quyền địa phương, không ngừng được củng cố và kiện toàn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi một thời kỳ cách mạng.

Một kỳ họp của Hội đồng nhân dân quận Thốt Nốt, Cần Thơ

Ngày 01-8-2007, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-TW về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã đề ra phương hướng: “Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp”. Tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường; Nghị quyết số 25/2008/QH12 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND và UBND các cấp. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Nghị quyết  số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16-01-2009 về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Theo đó, việc thí điểm này được thực hiện trên 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đó là: Lào Cai; Vĩnh Phúc; Thành phố Hải Phòng; Nam Định; Quảng Trị; Thành phố Đà Nẵng; Phú Yên; Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Rịa – Vũng Tàu; Kiên Giang.

Từ tháng 4-2009, HĐND 10 tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện thí điểm và chỉ đạo việc kiện toàn bộ máy, bố trí cán bộ (chủ yếu là Phó Chủ tịch HĐND, Ủy viên Thường trực HĐND quận, huyện và Phó Chủ tịch HĐND phường hoạt động chuyên trách). Việc triển khai bầu Hội thẩm nhân dân quận, huyện được tiến hành trong tháng 5, tháng 6-2009 và năm 2011. Việc thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường tính đến nay đã trải qua hơn 5 năm, vì vậy việc đánh giá, tổng kết chủ trương trên vào thời điểm này cũng là phù hợp.

2. Một số bất cập trong thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường

Bên cạnh những yếu tố tích cực, những kết quả đạt được, cũng đã nảy sinh một số bất cập qua thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường cần được xem xét đó là:

Theo quy định của pháp luật, Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu, gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực và các chức danh này không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Việc bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ chuyên trách HĐND phụ thuộc vào sự quan tâm của cấp ủy Đảng ở địa phương, chức danh Ủy viên Thường trực ít tham gia cấp ủy cùng cấp.

Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Như vậy, 4 nhiệm vụ chính của HĐND cấp quận, huyện đã được chuyển giao cho HĐND cấp tỉnh là:

– Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân TAND huyện, quận;

– Giám sát hoạt động của UBND, TAND, VKSND huyện, quận;

– Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết trái pháp luật của HĐND xã, thị trấn;

– Giải tán HĐND xã, thị trấn trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân.

Thực tiễn thí điểm cho thấy, đã xuất hiện nhiều bất cập cần được quan tâm đó là: bầu Hội thẩm nhân dân; thực hiện nhiệm vụ giám sát; quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; tính đại diện cho người dân… Trong khi số lượng đại biểu HĐND chuyên trách ở các địa phương rất ít như hiện nay (từ 5 đến 6 đại biểu) lại thêm trách nhiệm cho HĐND cấp tỉnh sẽ dẫn đến việc HĐND cấp tỉnh khó có khả năng hoàn thành được khối lượng công việc được giao. Chỉ tính hai nhiệm vụ đầu trong 4 nhiệm vụ chính được chuyển giao nói trên, cũng thấy ngay những vướng mắc không dễ giải quyết.

Chẳng hạn, với nhiệm vụ là bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân TAND huyện, quận, HĐND cấp tỉnh đã phải quyết định một số lượng rất lớn Hội thẩm nhân dân khi không có HĐND cấp dưới, nên không tránh khỏi tính hình thức. Ví dụ, TP. Hồ Chí Minh phải bầu 762 Hội thẩm nhân dân cho các huyện, quận thí điểm không tổ chức HĐND. Để bầu cho 762 vị Hội thẩm, riêng việc đọc hết 762 hồ sơ (mỗi hồ sơ từ 1 – 2 trang, nếu đầy đủ thông tin để đại biểu quyết thì phải còn nhiều hơn thế) cũng là điều không phải dễ dàng.

Đối với nhiệm vụ quan trọng là giám sát, ở nơi không có HĐND cấp quận, huyện, việc này được giao cho HĐND cấp tỉnh giám sát UBND, TAND, VKSND quận, huyện. Đây là nhiệm vụ khó khăn, dẫn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh chưa đạt được như mong muốn của người dân. Nếu chỉ xét riêng về số lượng đối tượng là cơ quan bị HĐND giám sát thì tại TP. Hồ Chí Minh, HĐND phải giám sát thêm 72 đầu mối ở 24 đơn vị quận, huyện trong khi trước đó HĐND chỉ giám sát khoảng 30 đối tượng là cơ quan cùng cấp. Bên cạnh số lượng đối tượng giám sát tăng thì hình thức giám sát, các chế tài hậu giám sát (áp dụng với đối tượng giám sát nếu phát hiện vi phạm…) cũng là gánh nặng phải giải quyết. Đó là chưa tính tới hạn chế bởi HĐND cấp tỉnh khó có đủ nhân lực, quyền lực để thực hiện tốt.

Trong khi chưa có sự thay đổi về hoạt động thanh tra, kiểm tra của UBND cấp tỉnh như hiện nay, dẫn đến trong thực tế, hoạt động của Chủ tịch UBND quận, huyện nói riêng và của UBND quận, huyện nói chung dễ có sự vi phạm pháp luật bởi thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực. Thực tế này tạo ra không  ít  áp  lực  cho  HĐND  cấp  trên  ở những nơi thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận, huyện.

Và như vậy, khi không còn HĐND huyện, quận, phường thì gần như không còn cơ chế độc lập giám sát, kiểm soát UBND huyện, quận có hiệu quả, nhất là với việc kết hợp Bí thư kiêm Chủ tịch UBND. Mặt trận Tổ quốc huyện, quận không đủ năng lực và cơ chế pháp lý để giám sát UBND; HĐND cấp tỉnh như trên đã  nói, cũng không đủ khả năng giám sát. Có chăng, chỉ còn hoạt động giám sát của cấp ủy Đảng và sự kiểm tra của UBND cấp trên mà thôi, nhưng việc kiểm tra của UBND tỉnh, thành phố cũng hạn chế, không thường xuyên mà chủ yếu kiểm tra khi có vụ việc xảy ra.

3. Nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND

Giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể bị giám sát để đưa ra các nhận định, đánh giá về hoạt động của các chủ thể đó. Mục đích của hoạt động giám sát là để kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật hay lạm quyền trong hoạt động quản lý, đưa ra các phân tích, đánh giá để đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, hoạt động giám sát của HĐND mang tính quyền lực nhà nước, là công cụ đặc thù nhằm đánh giá hiệu quả và năng lực hoạt động của chính quyền địa phương.

Muốn đạt được hiệu quả giám sát thì HĐND phải thực hiện đúng chức năng giám sát như luật định và đảm bảo cho các kiến nghị, kết luận của mình được thực hiện nghiêm chỉnh. Kể cả các địa phương đang thực hiện thí điểm cũng như những địa phương không thực hiện đều rất cần đảm bảo thời gian, trí lực, vật lực, nguồn lực cho hoạt động giám sát. Song song cùng với đó thì phải chú ý tới các yếu tố sau:

Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường giao quyền giám sát cho HĐND cấp tỉnh nhưng lại thiếu đi quy định về trình tự, thủ tục tiến hành giám sát nên không thể đạt hiệu quả như mong muốn. Theo quy định này thì không rõ HĐND tỉnh sẽ giám sát UBND, TAND, VKSND quận, huyện bằng hình thức gì, có được tiến hành chất vấn, xem xét báo cáo công tác, xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND quận, huyện hay không?

– Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức của HĐND đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, giúp  cho  các  hoạt  động  được  chủ  động trong kỳ họp và giữa hai kỳ họp. Bởi đại biểu HĐND đa phần là hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, hoạt động chủ yếu thông qua các kỳ họp. Hoạt động giữa hai kỳ họp chủ yếu là do Thường trực và các Ban của HĐND. Vì vậy, đảm bảo số lượng, chất lượng cán bộ sẽ góp phần rất lớn để khẳng định vị thế của HĐND tại địa phương.

– Khẳng định năng lực, trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của đại biểu HĐND, nhất là trong chức năng giám sát. Người đại biểu HĐND phải có đủ tâm và tầm, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Năng lực và bản lĩnh của cán bộ thể hiện ở trình độ am tường mọi kiến thức ở lĩnh vực tham gia giám sát, thấu hiểu và nắm chắc pháp luật, biết vận dụng đúng trong thực tiễn để chỉ ra được cái đúng, cái tích cực nhưng đồng thời cũng chỉ ra được hạn chế, tồn tại để đề xuất kiến nghị những biện pháp hữu hiệu nhằm chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót, hạn chế, mạnh dạn đề xuất loại bỏ những cái sai, vi phạm pháp luật dù đó là cá nhân hay tổ chức nào. Người tham gia giám sát phải có cái nhìn sáng suốt, công tâm, phương pháp làm việc khoa học, dám  nghĩ,  dám  nói,  dám  làm,  không  nể nang vị kỷ, đặt lợi ích của nhân dân, của nhà nước lên trên hết.

Trong thời gian qua, công tác giám sát của HĐND đã đạt một số thành tựu đáng ghi nhận. Nhưng nhìn chung, so với mong muốn, công tác này còn cần có những cải tiến, đổi mới tích cực hơn nữa. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính  quyền  địa  phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp”… Đổi mới hoạt động của HĐND nói chung, tăng cường chất lượng và hiệu quả giám sát của HĐND nói riêng đang được các địa phương chú trọng để có thể đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.

Vũ Thy Huệ

(Văn phòng Quốc hội)

Nghị Quyết 26/2008/Qh12 Thực Hiện Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Huyện, Quận, Phường / 2023

Số hiệu:

26/2008/QH12

Loại văn bản:

Nghị quyết

Nơi ban hành:

Quốc hội

Người ký:

Nguyễn Phú Trọng

Ngày ban hành:

15/11/2008

Ngày hiệu lực:

Đã biết

Ngày công báo:

Đã biết

Số công báo:

Đã biết

Tình trạng:

Đã biết

Số: 26/2008/QH12

NGHỊ QUYẾT

VỀ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN, PHƯỜNG

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Sau khi xem xét Tờ trình số 18/TTr-CP ngày 30 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về Đề án và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; Báo cáo thẩm tra số 544/BC-UBPL12 ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban pháp luật của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, QUYẾT NGHỊ Điều 1.

Thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương; danh sách cụ thể do Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định.

Điều 2.

Thời gian thực hiện thí điểm bắt đầu từ ngày 25 tháng 4 năm 2009 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm. Tại những nơi thực hiện thí điểm, Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường kết thúc nhiệm kỳ 2004-2009 vào ngày 25 tháng 4 năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nhiệm kỳ 2004-2009 tiếp tục hoạt động cho đến khi Ủy ban nhân dân mới được thành lập.

Điều 3.

Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội trên cơ sở các quy định của pháp luật, Nghị quyết này, các nội dung cơ bản của Đề án và yêu cầu thí điểm ban hành nghị quyết:

1. Điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

2. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường tại nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân;

3. Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.

Điều 4.

1. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a. Tổ chức thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;

b. Trình Quốc hội xem xét, quyết định những vấn đề chưa phù hợp hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện thí điểm;

c. Sơ kết, tổng kết việc thí điểm, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Điều 5.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2009.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2008.

No. 26/2008/QH12

Hanoi, November 15, 2008

RESOLUTION

ON TRIAL NON-ORGANIZATION OF PEOPLES COUNCILS OF RURAL DISTRICTS, URBAN DISTRICTS AND WARDS

THE NATIONAL ASSEMBLY OF THE SOCLALIST REPUBLIC OF VIETNAM Pursuant to Article 84 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam, which was amended and supplemented under Resolution No. 51/2001/QH10;RESOLVES: After considering the Governments Report No. 18/TTr-CP of October 30, 2008, on the scheme and the National Assembly’s draft resolution on trial non-organization of Peoples Councils of rural districts, urban districts and wards, and the direct election of presidents of commune Peoples Committees by the people; and the National Assembly Law Committees Examination Report No. 544/BC-UBPL12 of October 31, 2008, and opinions of National Assembly deputies;

Article 1. Not to organize on a trial basis Peoples Councils of rural districts, urban districts and wards in a number of localities, which are specified in a list to be submitted by the Government to the National Assembly Standing Committee for decision.

Article 2. The trial period will begin on April 25.2009, and end under a decision of the National Assembly. In rural districts, urban districts and wards where Peoples Councils will not be organized on a trial basis, the 2004-2009 term of office of their Peoples Councils will expire on April 25, 2009, while the Peoples Committees of the 2004-2009 term of office in these localities will continue operating until new ones are established.

Article 3. To assign the National Assembly Standing Committee to issue, in accordance with law, this Resolution and principal contents of the trial scheme and requirements, resolutions on:

1. Transferring a number of tasks and powers of Peoples Councils of rural districts and urban districts where no Peoples Councils will be organized to Peoples Councils and Peoples Committees of provinces or centrally run cities;

…………………………………………..

…………………………………………..

…………………………………………..

Địa chỉ:

17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM

Điện thoại:

(028) 3930 3279 (06 lines)

E-mail:

in f o@ThuVienPhapLuat.vn

Nghị Quyết Số 26/2008/Qh12 Ngày 15/11/2008 Của Quốc Hội Về Thực Hiện Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Huyện, Quận, Phường (Văn Bản Hết Hiệu Lực) / 2023

VỀ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN, PHƯỜNG

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Sau khi xem xét Tờ trình số 18/TTr-CP ngày 30 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về Đề án và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; Báo cáo thẩm tra số 544/BC-UBPL12 ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban pháp luật của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, QUYẾT NGHỊ Điều 1.

Thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương; danh sách cụ thể do Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định.

Điều 2.

Thời gian thực hiện thí điểm bắt đầu từ ngày 25 tháng 4 năm 2009 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm. Tại những nơi thực hiện thí điểm, Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường kết thúc nhiệm kỳ 2004-2009 vào ngày 25 tháng 4 năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nhiệm kỳ 2004-2009 tiếp tục hoạt động cho đến khi Ủy ban nhân dân mới được thành lập.

Điều 3.

Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội trên cơ sở các quy định của pháp luật, Nghị quyết này, các nội dung cơ bản của Đề án và yêu cầu thí điểm ban hành nghị quyết:

1. Điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

2. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường tại nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân;

3. Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.

Điều 4.

1. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a. Tổ chức thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;

b. Trình Quốc hội xem xét, quyết định những vấn đề chưa phù hợp hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện thí điểm;

c. Sơ kết, tổng kết việc thí điểm, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Điều 5.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2009.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2008.

Hội Đồng Nhân Dân Huyện Trang Thông Tin Điện Tử Huyện Ngọc Lặc / 2023

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN

Page Content

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN

HỌ VÀ TÊN

CHỨC VỤ

 Lê Văn Tuấn

 Chủ tịch HĐND huyện

 Cao Viết Trường

 Phó Chủ tịch Thường trực HĐND huyện

BAN PHÁP CHẾ

 Lê Bá Ngà

 Trưởng Ban 

 Lê Thị Ngân

 Phó Trưởng Ban

 Bùi Thị Hương

 

Thành viên

 

BAN KINH TẾ – XÃ HỘI

 Lê Xuân Hoàn

 Trưởng Ban

 Phạm Văn Trọng

 Thành viên

 Lê Đình Khải

 Thành viên

BAN DÂN TỘC

 Phạm Thị Thu

 Trưởng Ban

 Phạm Thị Thu

 Thành viên

 Phạm Văn Đồng

 Thành viên

 Nguyễn Quốc Minh

 Thành viên

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN  CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, THƯỜNG TRỰC HĐND, CÁC BAN HĐND HUYỆN

(Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2015)

Điều 26. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền:

a) Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện;

b) Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện;

d) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện;

đ) Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này;

e) Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã;

g) Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện;

h) Giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân và trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn trước khi thi hành;

i) Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân huyện và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân huyện xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường:

a) Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

b) Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền;

d) Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật.

3. Quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.

4. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp xã.

5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 104. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân

1. Triệu tập các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

2. Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

3. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương.

5. Tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định của pháp luật; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân để báo cáo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân.

6. Phê chuẩn danh sách Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số đại biểu Hội đồng nhân dân và việc cho thôi làm Ủy viên của Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Trưởng ban của Hội đồng nhân dân.

7. Trình Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.

8. Quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân.

9. Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

10. Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Điều 109. Nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của Hội đồng nhân dân

3. Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách.

4. Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công.

5. Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân.

6. Ban của Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực Hội đồng nhân dân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Việc Thí Điểm Không Tổ Chức Hội Đồng Nhân Dân Quận, Huyện, Phường / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!