Đề Xuất 1/2023 # Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử # Top 2 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực tế những năm gần đây, trong hoạt động Thừa phát lại, chúng tôi gặp khá nhiều trường hợp như: đương sự cần xác nhận nợ, xác nhận một nghĩa vụ nhưng đối tác không muốn ký văn bản xác nhận, hoặc ra Tòa làm chứng; trường hợp cung cấp hình ảnh về một vụ tai nạn giao thông, hoặc tường hợp các trang web đăng tin vi phạm bản quyền sản phẩm hoặc sở hữu trí tuệ v.v… đã tìm đến Thừa phát lại. Chúng tôi đã đáp ứng yêu cầu của các đương sự thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS): Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho tòa trong quá trình tố tụng. Điều 94 BLTTDS quy định: Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; …Các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Các thông điệp, dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Từ các quy định trên có thể thấy rằng, bạn sẽ gặp trở ngại lớn trong việc chứng minh nguồn gốc và tính xác thực của băng ghi âm nhất là trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại ngày nay. Bạn không thể giao nộp chiếc máy, ghi âm, điện thoại có chức năng ghi âm, ghi hình cho Tòa án hoặc cho Luật sư. Vậy, có cơ quan hay tổ chức nào có thể hỗ trợ bạn trong trường hợp này? Câu trả lời là các văn phòng Thừa phát lại. Thừa phát lại được nhà nước bổ nhiệm trao cho các thẩm quyền mang tính quyền lực công mà trong đó có thẩm quyền lập vi bằng. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. 1. Vi bằng ghi nhận sự kiện cung cấp chứng cứ ghi âm, ghi hình: Khi có người yêu cầu, bằng các nghiệp vụ chuyên môn và thẩm quyền của mình Thừa phát lại sẽ lập vi bằng ghi nhận sự kiện hành vi ông Q. cung cấp nội dung và nguồn gốc hình ảnh ghi được từ một vụ tai nạn giao thông đó …Trong vi bằng, Thừa phát lại sẽ mô tả lại buổi làm việc, xác nhận sự kiện đương sự cung cấp các thông tin, nôi dung và nguồn gốc đĩa ghi âm, ghi hình hình đó.

Thừa phát lại đã lập vi bằng ghi nhận sự kiện ông A ghi lại nội dung ghi âm thành văn bản và sao in đĩa CD kèm theo vi bằng, xác nhận nguồn gốc đĩa ghi âm đáp ứng yêu cầu về chứng cứ cho đương sự khi làm thủ tục khởi kiện. 2. Vi bằng ghi nhận các chứng cứ về dữ liệu điện tử.

Vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội và có giá trị chứng cứ trước Tòa hoặc các quan hệ pháp lý khác, là cơ sở vững chắc giúp bạn bảo vệ quyền lợi của mình./. Hoàng Hải

Khi Nào Băng Ghi Âm Là Chứng Cứ?

Bà LTBL vừa kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện Hóc Môn (TP.HCM), cho rằng tòa chỉ dựa vào chứng cứ duy nhất là “băng ghi âm lén” để tuyên bà phải trả cho ông NC 1,4 tỉ đồng là vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và đánh giá chứng cứ.

Dùng băng ghi âm đòi nợ

Theo đơn khởi kiện của ông C., trước đây vì tin tưởng nên khi cho bà L. vay tiền, ông không làm giấy tờ gì. Ngày 27-5-2014, ông C. đi cùng một người bạn và con trai đến gặp bà L. ở quán cà phê (được coi là buổi nói chuyện để dàn xếp) và bà L. có thừa nhận việc vay tiền. Trong buổi nói chuyện này, ông C. đã bí mật ghi âm thành một file dài 32 phút. Sau đó, ông C. đã dùng băng ghi âm nói trên làm chứng cứ khởi kiện bà L. đòi tiền.

Làm việc với tòa, bà L. cho rằng không có việc vay mượn tiền giữa hai bên, việc ông C. dùng “băng ghi âm lén” để khởi kiện là không có cơ sở. Bà L. không thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, không đồng ý đối chất với ông C. Bà cũng không đồng ý cho tòa lấy mẫu giọng nói của mình để giám định theo yêu cầu của ông C. Lý do là bà không có nghĩa vụ chứng minh để phản bác người khởi kiện mà việc chứng minh cho yêu cầu của mình là nghĩa vụ của ông C. Ngoài ra, bà L. cho rằng hai nhân chứng đều là người thân của ông C. nên không khách quan.

Xử sơ thẩm hồi cuối tháng 4-2016, TAND huyện Hóc Môn nhận định: Tại phút thứ 23 của băng ghi âm, bà L. có thừa nhận vay tiền của ông C., có hai người chứng kiến nên cuộc nói chuyện đó là tự nhiên, không ép buộc. Tòa không thực hiện được việc đối chất và lấy mẫu giọng nói vì bà L. không hợp tác nên xem như bà không cung cấp được chứng cứ bảo vệ mình và phản bác ông C. Do bà L. không có sự phản bác nên băng ghi âm mà ông C. cung cấp được coi là chứng cứ. Mặt khác, lời khai của hai nhân chứng phù hợp với diễn tiến, nội dung vụ việc nên có cơ sở chấp nhận. Từ đó tòa đã tuyên buộc như trên.

Phải có văn bản xác nhận xuất xứ…

Kết quả của vụ kiện này sẽ do TAND chúng tôi quyết định khi xét xử phúc thẩm. Vấn đề pháp lý mà chúng tôi muốn đặt ra từ vụ việc này là trong tố tụng dân sự, khi nào thì băng ghi âm được coi là chứng cứ có giá trị pháp lý để tòa án căn cứ vào đó mà ra phán quyết?

Như vậy, pháp luật đã quy định khá rõ về điều kiện để băng ghi âm trở thành chứng cứ. Nếu không đáp ứng được điều kiện nêu trên thì tòa không thể coi băng ghi âm là chứng cứ chứng minh để xác định sự thật khách quan của vụ án mà chỉ coi là tài liệu tham khảo.

Người yêu cầu phải chứng minh

Trong thực tiễn xét xử, nếu các bên đương sự đều thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, thừa nhận nội dung trao đổi trong băng ghi âm là đúng sự thật thì tòa án công nhận là chứng cứ.

Cần lưu ý thêm, nghĩa vụ chứng minh trong án dân sự thuộc về người có yêu cầu. Chẳng hạn bên cung cấp băng ghi âm cho tòa có nghĩa vụ chứng minh giọng nói trong băng ghi âm là của bên kia, bên kia thì có quyền không cung cấp mẫu giọng nói để giám định vì không có nghĩa vụ phải chứng minh. Luật cũng không có quy định buộc họ phải có nghĩa vụ hợp tác với bên cung cấp băng ghi âm khi họ không muốn. Chỉ khi nào họ có yêu cầu phản tố (ví dụ yêu cầu bên cung cấp băng ghi âm phải xin lỗi vì đã dùng băng ghi âm vu khống…) thì họ mới phải có nghĩa vụ chứng minh rằng giọng nói trong băng ghi âm không phải của mình.

TS NGUYỄN VĂN TIẾN, khoa Luật dân sự Trường ĐH Luật TP.HCM

Tính Hợp Pháp Của Chứng Cứ Ghi Âm Trong Tố Tụng Dân Sự

Theo khoản 1 Điều 82 BLTTDS hiện hành, băng ghi âm được coi là một nguồn chứng cứ (tài liệu nghe được). Tuy nhiên, việc xác định nó có phải là chứng cứ hay không thì phải theo quy định tại khoản 2 Điều 83 bộ luật này.

Từ điều luật hiện hành, trong thực tiễn khi đương sự thu thập tài liệu chứng cứ ghi âm phải biết chuyển hóa tài liệu. Nghiệp vụ chuyển hóa có thể tư vấn từ luật sư, cán bộ điều tra, những người ngành luật khác…

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

2. Các vật chứng;

3. Lời khai của đương sự;

4. Lời khai của người làm chứng;

5. Kết luận giám định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

7. Tập quán;

8. Kết quả định giá tài sản;

9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

(Điều kiện được coi là chứng cứ) (Điều 83 – BLTTDS 2015)

– Các tài liệu đọc được nội dung nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Do đó các tài liệu đọc được mà không phải là bản chính hoặc bản sao không được công chứng chứng thực theo quy định của Luật thì tài liệu đó không được công nhận là chứng cứ.

– Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;

– Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định;

– Tập quán được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận;

– Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp.

Việc quy định chứng cứ chặt chẽ, rõ ràng như vậy là để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết của Toà án được đúng đắn khách quan và để khắc phục tình trạng ngụy tạo tài liệu, chứng cứ giả.

Như vậy, pháp luật đã quy định khá rõ về điều kiện để băng ghi âm trở thành chứng cứ. Nếu không đáp ứng được điều kiện nêu trên thì tòa không thể coi băng ghi âm là chứng cứ chứng minh để xác định sự thật khách quan của vụ án mà chỉ coi là tài liệu tham khảo.

Nghĩa vụ chứng minh trong án dân sự thuộc về người có yêu cầu:

Trong thực tiễn xét xử, nếu các bên đương sự đều thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, thừa nhận nội dung trao đổi trong băng ghi âm là đúng sự thật thì tòa án công nhận là chứng cứ.

Trong vụ việc dân sự nếu đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, là hợp pháp. Đương sự tự chịu trách hậu quả về việc không có chứng cứ và chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.

Chẳng hạn bên cung cấp băng ghi âm cho tòa có nghĩa vụ chứng minh giọng nói trong băng ghi âm là của bên kia, bên kia thì có quyền không cung cấp mẫu giọng nói để giám định vì không có nghĩa vụ phải chứng minh. Luật cũng không có quy định buộc họ phải có nghĩa vụ hợp tác với bên cung cấp băng ghi âm khi họ không muốn. Chỉ khi nào họ có yêu cầu phản tố (ví dụ yêu cầu bên cung cấp băng ghi âm phải xin lỗi vì đã dùng băng ghi âm vu khống…) thì họ mới phải có nghĩa vụ chứng minh rằng giọng nói trong băng ghi âm không phải của mình.

Nội Dung Hóa Đơn Điện Tử Ghi Thế Nào Là Hợp Lệ?

(Chinhphu.vn) – Bà Phạm Thị Thức (Phú Yên) hỏi, nhà cung cấp đề nghị xuất hóa đơn với nội dung hàng hóa xuất theo hợp đồng đã ký thì đơn vị bà có được xuất hóa đơn điện tử theo nội dung trên hay không?

Đơn vị bà Thức có số hóa đơn chuyển đổi từ hóa đơn điện tử nhiều hơn một trang hóa đơn và trên phần đầu của trang sau của hóa đơn có hiển thị cùng số hóa đơn như của trang đầu; cùng tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo dòng ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiếp theo trang trước – trang X/Y” ( trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó). Vậy, bà có cần làm văn bản đề nghị cơ quan thuế chấp thuận hay không? Đơn vị có nhận hóa đơn đầu vào là hóa đơn điện tử nhưng tiêu thức người bán hàng chỉ có ký điện tử mà không có ngày tháng năm ký. Vậy hóa đơn này có hợp lệ không?

Về vấn đề này, Cục Thuế tỉnh Phú Yên có ý kiến như sau:

Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:

Tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 3: “1. Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằngphương tiện điện tử. Hóa đơn điện tử phải đáp ứng các nội dung quy định tại Điều 6 Thông tư này.

… 3. Hóa đơn điện tử có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

a) Có sự bảo đảm đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong hóa đơn điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là hóa đơn điện tử.

Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị hóa đơn điện tử.

b) Thông tin chứa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết”.

Tại Điểm d Khoản 1 Điều 6 quy định: “Điều 6. Nội dung của hoá đơn điện tử

1. Hóa đơn điện tử phải có các nội dung sau:

… d) Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hoá, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ”.

Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 12 quy định: “Điều 12. Chuyển từ hoá đơn điện tử sang hoá đơn giấy

1. Nguyên tắc chuyển đổi

Người bán hàng hóa được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hoá hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi một (01) lần. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều này và phải có chữ ký người đại diện theo pháp luật của người bán, dấu của người bán.

Người mua, người bán được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy phục vụ lưu trữ chứng từ kế toán phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều này.

2. Điều kiện

Hóa đơn điện tử chuyển sang hóa đơn giấy phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Phản ánh toàn vẹn nội dung của hóa đơn điện tử gốc;

b) Có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy;

c) Có chữ ký và họ tên của người thực hiện chuyển từ hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy”.

Tại Khoản 2 Điều 14 quy định việc thực hiện: “2. Ngoài các nội dung hướng dẫn cụ thể tại Thông tư này, các nội dung khác được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính”.

1. Người bán hàng ghi liên tiếp nhiều số hóa đơn. Dòng ghi hàng hóa cuối cùng của số hóa đơn trước ghi cụm từ “tiếp số sau” và dòng ghi hàng hóa đầu số hóa đơn sau ghi cụm từ “tiếp số trước”. Các hóa đơn liệt kê đủ các mặt hàng theo thứ tự liên tục từ hóa đơn này đến hóa đơn khác. Thông tin người bán, thông tin người mua được ghi đầy đủ ở số hóa đơn đầu tiên. Chữ ký và dấu người bán (nếu có), chữ ký người mua, giá thanh toán, phụ thu, phí thu thêm, chiết khấu thương mại, thuế giá trị gia tăng được ghi trong hóa đơn cuối cùng và gạch chéo phần còn trống (nếu có).

Trường hợp cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn tự in, việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn, Cục Thuế xem xét từng trường hợp cụ thể để chấp thuận cho cơ sở kinh doanh được sử dụng hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu của trang sau của hóa đơn có hiển thị: Cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động); cùng tên, địa chỉ, MST của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiep theo trang truoc – trang X/Y” (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó)”.

Căn cứ quy định nêu trên, Công văn số 820/TCT-DNL ngày 13/3/2017 của Tổng cục Thuế hướng dẫn về hóa đơn điện tử, Cục Thuế hướng dẫn về nội dung ghi trên hóa đơn điện tử và ký và đóng dấu đối với hóa đơn chuyển đổi từ hóa đơn điện tử như sau:

– Nội dung hóa đơn điện tử:

– Hóa đơn chuyển đổi từ hóa đơn điện tử nhiều hơn một trang:

Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử ra giấy (việc chuyển đổi phải áp ứng nguyên tắc, điều kiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2  Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC), nếu số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn thì bà thực hiện tương tự trường hợp sử dụng hóa đơn tự in mà việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn, cụ thể:

Khi thể hiện hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu trang sau của hóa đơn có hiển thị: Cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động); cùng tên, địa chỉ, MST của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiep theo trang truoc – trang X/Y” (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó).

Hóa đơn điện tử không có ngày tháng năm là không hợp lệ

– Tiêu thức chữ ký điện tử không có ngày tháng năm ký: Căn cứ Nghị định 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số

Tại Khoản 5, Khoản 7 Điều 3 hướng dẫn: “Giải thích từ ngữ

5. “Ký số” là việc đưa khóa bí mật vào một chương trình phần mềm để tự động tạo và gắn chữ ký số vào thông điệp dữ liệu.

7. “Chứng thư số” là một dạng chứng thư điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp nhằm cung cấp thông tin định danh cho khóa công khai của một cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân là người ký chữ ký số bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng”.

Tại Khoản 4 Điều 5 quy định nội dung của chứng thư số: Chứng thư số do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của cơ quan, tổ chức cấp phải bao gồm các nội dung sau:

– Thời hạn có hiệu lực của chứng thư số

Tại Điều 30 quy định dịch vụ cấp dấu thời gian: “Điều 30. Dịch vụ cấp dấu thời gian

1. Dịch vụ cấp dấu thời gian là dịch vụ giá trị gia tăng để gắn thông tin về ngày, tháng, năm và thời gian vào thông điệp dữ liệu.

2. Dịch vụ cấp dấu thời gian được cung cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng. Việc cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian phải tuân theo các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng đối với dịch vụ cấp dấu thời gian.

3. Ngày, tháng, năm và thời gian được gắn vào thông điệp dữ liệu là ngày, tháng, năm và thời gian mà tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian nhận được thông điệp dữ liệu đó và được chứng thực bởi tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian.

4. Nguồn thời gian của các tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian phải tuân theo các quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp bà nhận hóa đơn điện tử từ người bán, tại tiêu thức “chữ ký số, chữ ký điện tử của người bán” không gắn ngày, tháng, năm thời gian được gắn vào thông điệp dữ liệu là không phù hợp với quy định tại Điều 3, Điều 5, Điều 30 Nghị định 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ thì hóa đơn điện tử nêu trên là không hợp lệ.

Đề nghị bà Phạm Thị Thức thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.

chúng tôi

Từ khóa: Hóa đơn điện tử

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!