Đề Xuất 5/2022 # Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Vào Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay # Top Like

Xem 16,929

Cập nhật nội dung chi tiết về Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Vào Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 16,929 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 4: Quy Luật Giá Trị
  • Ngang Giá Sức Mua Và Quy Luật Một Giá
  • Quy Luật Một Giá Và Thuyết Ngang Giá Sức Mua
  • Luật Đấu Giá Tài Sản 2022, Luật Số 01/2016/qh14 2022
  • Luật Đấu Giá Tài Sản Hiện Nay
  • 2

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ

    CỦA

    QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    1.1. NỘI DUNG CUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA

    QUY LUẬT GIÁ TRỊ

    1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất cuả sản xuất và trao đổi

    hàng hoá. Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy

    luật giá trị.

    1.1.2 Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông

    hàng

    hoá. Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên

    cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, cụ thể là:

    – Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợp với hao phí lao

    động xã hội cần thiết. Vì trong nền sản xuất hàng hóa, vấn đề đặc biệt quan

    trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không. Để có thể bán được thì

    hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù

    hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được. Mức hao phí càng

    3

    thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh, thu được nhiều lợi nhuận,

    ngược lại sẽ bị thua lỗ, phá sản…

    – Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần

    thiết, tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, hai hàng hoá có giá trị sử

    dụng khác nhau, nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang

    nhau.

    Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan, đảm bảo sự công bằng, hợp lí, bình

    đẳng giữa những người sản xuất hàng hoá.

    Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải

    tuân

    theo yêu cầu hay đòi hỏi của nó thông qua ” mệnh lệnh” của giá cả thị trường.

    Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế, nhất

    là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị.

    Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị, C.Mác gọi đó là vẻ đẹp của

    quy luật giá trị. Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục, giá cả thị trường lên

    xuống quanh trục đó. Đối với mỗi hàng hoá, giá cả của nó có thể cao thấp khác

    nhau, nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định, tổng giá cả phù hợp

    với tổng giá trị của nó.

    Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự

    hoạt động của quy luật giá trị.

    1.1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị

    hàng hoá.

    Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư

    bản thành quy luật giá cả sản xuất ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh

    tranh) và thành quy luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc

    quyền). Nó tiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

    hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta.

    Ta xét mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với

    giá trị hàng hoá:

    4

    ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó. Tổng số lợi nhuận mà các

    nhà tư bản thu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân

    sáng tạo ra.

    – Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị. Giá trị giá cả sản xuất giảm

    theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên.

    Giá cả độc quyền:

    Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả

    hàng hoá lên trên giá cả sản xuất và giá trị . Giá cả độc quyền bằng chi phí sản

    xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận

    bình quân.

    Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả

    sản xuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản

    độc quyền

    mua của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền.

    Giá cả độc quyền không xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá, nghĩa là

    giá cả

    độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư

    do xã

    hội sản xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà

    những người bán (công nhân, người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ…) mất

    đi. Nhìn vào phạm vi toàn xã hội, toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả

    không

    độc quyền về đại thể bằng toàn bộ giá trị.

    1.2. VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ

    TRƯỜNG .

    1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Thực chất điều tiết sản xuất cuả quy luật giá trị là điều chỉnh tự phát các

    yếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất, sức lao động và tiền vốn từ ngành này

    sang ngành

    6

    khác, từ nơi này sang nơi khác. Nó làm cho sản xuất hàng hoá của ngành này,

    nơi

    này được phát triển mở rộng, ngành khác nơi khác bị thu hẹp, thông qua sự

    biến

    động giá cả thị trường. Từ đó tạo ra những tỷ lệ cân đối tạm thời giữa các

    ngành, các vùng của một nền kinh tế hàng hoá nhất định.

    Quy luật canh tranh thể hiện ở chỗ: cung và cầu thường xuyên muốn ăn

    khớp với nhau, nhưng từ trước đến nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà

    thường xuyên tách nhau ra và đối lập với nhau. Cung luôn bám sát cầu, nhưng

    từ trước đến nay không lúc nào thoả mãn được một cách chính xác.

    Chính vì thế thị trường xảy ra các trường hợp sau đây:

    – Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá, trường hợp này xảy

    ra

    một cách ngẫu nhiên và rất hiếm.

    – Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lãi

    cao.

    Những người đang sản xuất những loại hàng hoá này sẽ mở rộng quy mô sản

    xuất và sản xuất hết tốc lực; những người đang sản xuất hàng hoá khác, thu hẹp

    quy mô sản xuất của mình để chuyển sang sản loại hàng hoá này. Như vậy tư

    liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn được chuyển vào ngành này tăng lên, cung

    về loại hàng hoá này trên thị trường tăng lên.

    – Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, hàng hoá ế thừa, bán

    không

    chạy, có thể lỗ vốn. Tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất loại

    hàng

    hóa này phải thu hẹp quy mô sản xuất, chuyển sang sản xuất loại hàng hoá có

    giá cả thị trường cao hơn; làm cho tư liệu sản xuất, sức lao động và tiền vốn ở

    hàng hoá này giảm đi.

    Thực chất điều tiết lưu thông của quy luật giá trị là điều chỉnh một cách

    tự phát khối lượng hàng hoá từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra mặt

    7

    bằng giá cả xã hội. Giá trị hàng hoá mà thay đổi, thì những điều kiện làm cho

    tổng khối lượng hàng hoá có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi. Nếu giá trị thị

    trường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong những

    giới hạn nhất định, có thể thu hút những khối lượng hàng hoá lớn hơn. Nếu giá

    trị thị trường tăng lên thì nhu cầu xã hội về hàng hoá sẽ thu hẹp và khối lượng

    hàng hoá tiêu thụ cũng sẽ

    giảm xuống. Cho nên nếu cung cầu điều tiết giá cả thị trường hay nói đúng hơn

    điều tiết sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường thì trái lại

    chính

    giá trị thị trường điều tiết quan hệ cung cầu, hay cấu thành trung tâm, chung

    quanh

    trung tâm đó những sự thay đổi trong cung cầu làm cho những giá cả thị

    trường

    phải len xuống.

    Trong xã hội tư bản đương thời, mỗi nhà tư bản công nghiệp tự ý sản

    xuất ra

    cái mà mình muốn theo cách mình muốn, và với số lượng theo ý mình. Đối với

    họ

    số lượng mà xã hội cần là một lượng chưa biết, cái mà ngày hôm nay cung cấp

    không kịp thì ngày mai lại có thể cung cấp nhiều quá số yêu cầu.Tuy vậy người

    ta

    cung thoả mãn được nhu cầu một cách miễn cưỡng, sản xuất chung quy là căn

    cứ

    theo những vật phẩm người ta yêu cầu.

    1.2.2 Kích thích lực lượng sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động xã

    hội.

    Để tránh bị phá sản, giành được ưu thế trong cạnh tranh và thu hút được

    nhiều lãi, từng người sản xuất hàng hoá đều tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật, hợp

    lý hoá sản xuất, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất

    8

    để giảm hao phí lao động cá biệt của mình, giảm giá trị cá biệt của hàng hoá do

    mình sản xuất ra. Từ đó làm cho kỹ thuật của toàn xã hội càng phát triển lên

    trình độ cao

    hơn, năng suất càng tăng cao hơn.

    Như thế là chúng ta thấy phương thức sản xuất tư liệu sản xuất luôn bị

    biến đổi, dẫn đến sự phân công tỉ mỉ hơn dùng nhiều máy móc hơn, lao động

    trên một quy mô lớn đưa đến lao động trên một quy mô lớn hơn như thế nào.

    Đó là quy luật luôn hất sản xuất ra con đường cũ và luôn buộc sản xuất

    phải làm cho sức sản xuất của lao động khẩn trương hơn. Quy luật đó không gì

    khác mà là quy luật nhất định giữ cho giá cả hàng hoá nghang bằng với chi phí

    sản xuất của

    chính hàng hoá đó, trong giới hạn của những biến động chu kì của thương

    mại.

    Theo Mác thì trong sự vận động bên ngoài những tư bản, những quy luật

    bên

    trong của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bắt buộc của

    sự

    cạnh tranh, rằng dưới hình thức đó đối với những nhà tư bản những quy luật

    biểu

    hiện thành động cơ của những hoạt động của họ, rằng như vậy là muốn phân

    tích

    một cách khoa học sự cạnh tranh thì trước đó phải phân tích tính chất bên trong

    của tư bản, cũng như chỉ người nào hiểu biết sự vận động thực sự của các thiên

    thể tuy là các giác quan không thể thấy được, thì mới có thể hiểu được sự vận

    động

    bề ngoài của những thiên thể ấy.

    1.2.3 Phân hoá những người sản xuất thành người giàu, người nghèo.

    Trong xã hội những người sản xuất cá thể, đã có mầm mống của một

    phương thức sản xuất mới. Trong sự phân công tự phát, không có kế hoạch nào

    9

    thống trị xã hội, phương thức sản xuất ấy đã xác lập ra sự phân công, tổ chức

    theo kế hoạch, trong những công xưởng riêng lẻ; bên cạnh sản xuất của những

    người sản xuất cá thể nhỏ đã làm xuất hiện sản xuất xã hội. Sản phẩm của hai

    loại sản xuất đó cùng bán trên một thị trường, do đó giá cả ít ra cũng sấp xỉ

    nhau. Nhưng so với sự phân công tự phát thì tổ chức có kế hoạch đương nhiên

    mạnh hơn nhiều; sản phẩm của công xưởng dùng lao động xã hội là rẻ hơn so

    với sản phẩm của những người sản xuất nhỏ ,tản mạn. Sản xuất của những

    người sản xuất cá thể gặp thất bại từ nghành này đến nghành khác. Trong nền

    sản xuất hàng hoá, sự tác động của các quy luật kinh tế, nhất là quyluật giá trị

    tất yếu dẫn đến kết quả: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, nhiều

    vốn, có kiến thức và trình độ kinh doanh cao, trang bị kĩ thuật tốt sẽ phát tài,

    làm giàu. Ngược lại không có các điều kiện trên, hoặc gặp rủi ro sẽ mất vốn

    phá sản. Quy luật giá trị đã bình tuyển, đánh giá những người sản xuất kinh

    doanh.

    Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hoá những người sản xuất kinh doanh

    ra thành người giàu người nghèo. Người giàu trở thành ông chủ người nghèo

    dần trở thành người làm thuê. Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá đã chỉ

    ra là quá trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã

    hội phong kiến dần dần nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Sự phát triển chủ nghĩa tư bản, cùng sự bần cùng hoá của nhân dân là

    những

    hiện tượng ngẫu nhiên. Hai điều đó tất nhiên đi kèm với sự phát triển của nền

    kinh

    tế hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội. Vấn đề thị trường hoàn

    toàn bị

    gạt đi, vì thị trường chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công đó và của sản

    xuất

    hàng hoá. Người ta sẽ thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không những là

    10

    thể có mà còn là sự tất nhiên nữa,vì một khi kinh tế xã hội đã xây dựng trên sự

    phân công và trên hình thức hàng hoá của sản phẩm, thì sự tiến bộ về kỹ thuật

    không thể không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩa tư bản tăng cường và mở rộng

    thêm.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ

    GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở

    NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI

    2.1. KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN KINH

    TẾ

    THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.

    2.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường .

    11

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động

    theo cơ chế thị trường.

    2.1.2 Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH, những điều kiện chung để

    kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại. Do đó, sự tồn tại kinh tế hàng hóa,

    kinh tế thị trường ở nước ta là một tất yếu khách quan:

    – Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa

    vẫn

    còn tồn tại và ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở nước ta

    hiện nay. Phân công lao động xã hội phát triển thể hiện ở chỗ các ngành nghề ở

    nước ta ngày càng đa dạng, phong phú, chuyên môn hóa sâu. Tác động của

    phân công lao động:

     Góp phần phá vỡ tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế tự nhiên trước

    đây

    và thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn.

     Là cơ sở và là động lực để nâng cao năng suất lao động xã hội, nghĩa là

    làm

    cho nền kinh tế ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư dùng để trao đổi, mua

    bán. Do đó, làm cho trao đổi, mua bán hàng hóa ngày càng phát triển hơn.

    – Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế: Do tồn tại nhiều hình thức sở hữu,

    do

    đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng nên quan hệ kinh tế giữa

    họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa – tiền tệ.

    – Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ

    công hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất

    định, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng, mặt khác các

    đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật – công nghệ, về trình độ

    quản lý nên chi phí sản xuất và hiệu quả cũng khác nhau nên quan hệ kinh tế

    giữa họ phải thực hiện bằng quan hệ hàng hóa – tiền tệ.

    12

    – Trong quan hệ kinh tế đối ngoại trong điều kiện phân công lao động

    quốc tế

    mỗi quốc gia riêng biệt là chủ sở hữu đối với mỗi hàng hóa đưa ra trao đổi trên

    thị trường, sự trao đổi này phải trên nguyên tắc ngang giá.

    Với 4 lý do trên, kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu. Đại

    hội Đảng lần thứ IX khẳng định mô hình nền kinh tế ở nước ta trong thời kỳ

    quá độ là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị

    trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự lựa

    chọn đó là xuất phát từ những lợi ích của việc phát triển kinh tế – xã hội đem

    lại cho nước ta.

    2.2. MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH

    HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA.

    Nước ta với tư cách là nước phát triển muộn về kinh tế thị trường, lại

    diễn ra trong bối cảnh khoa học kỹ thuật khá phát triển ở các nước. Việt nam

    lúc đó vừa thoát khỏi chiến tranh dành lại độc lập dân tộc.

    Nền kinh tế hàng hòa kém phát triển, chưa có nền kinh tế phát triển,

    đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế chuyển biến từ nền kinh tế hàng hóa

    kém phát triển mang tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa phát

    triển từ thấp đến cao. Và nền kinh tế này còn phát triển tự phát nhưng có sự

    điều tiết của Đảng Cộng Sản lãnh đạo theo hướng củng cố và phát triển chế độ

    công hữu XHCN. Giảm hản phần kế hoạch pháp lệch, kế hoạch trực tiếp thay

    thế bằng kế hoạch định hướng .

    Trong quá trình thực hiện cần nắm bắt “cơ hội”, vượt qua “thách thức”

    rút ngắn khoảng cách lạc hậu, giữ vững định hướng XHCN đã chọn. Do nước

    ta đang cách khá xa so với các nước trên thế giới vì vậy mà không thể phát

    triển theo quy mô kinh tế thị trường cổ điển, mà nên chọn mô hình phát triển

    kinh tế thị trường rút ngắn, hiện đại là thích hợp. Tuy nhiên không hoàn toàn

    giống với các nước đi trước về mô hình này, nhất là về tính định hướng

    13

    XHCN. Mô hình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

    nước ta bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau:

    1) Phát triển trong sự hài hòa giữa quy luật phát triển tuần tự với quy luật

    phát

    triển nhảy vọt

    2) Phát triển cùng lúc ba trình độ phát triển của hình thái kinh tế hàng hóa,

    đó

    là kinh tế hàng hóa đơn giản, kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị

    trường hỗn hợp (hiện đại). Tất nhiên, trong từng thời điểm,tính trội của mỗi

    trình độ là khác nhau.

    3) Phát triển trong sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dan tộc và sức mạnh

    thời

    đại, coi trọng việc kết hợp vai trò thúc đẩy sự ra đời các nhân tố của kinh tế thị

    trường và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước XHCN trong quá trình chuyển

    sang kinh tế thị trường hiện đại

    Ba hình thức nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đặc

    trưng thứ ba có vai trò quyết định.

    2.3. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CŨNG NHƯ TÁC ĐỘNG CỦA QUY

    LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

    HIỆN NAY.

    Hiện nay nước ta đang hội nhập theo nền kinh tế Thế giới với chính sách

    mở cửa hợp tác với các nước. Ngay từ đầu, Đảng ta đã đưa ra quan điểm rõ

    ràng “Một nền kinh tế phát triển theo mô hình nền kinh tế nhiều thành phần,

    theo định hướng xã hội chủ nghĩa và dưới sự quản lý của nhà nước”. Trong quá

    trình phát triển nền kinh tế nước ta chiụ tác động của nhiều nhân tố khách

    quan, một trong những nhân tố khách quan chủ yếu là quy luật giá trị. Đó là

    một quy luật kinh tế căn bản nó tác động vào nền kinh tế như một tất yếu

    khách quan, ở đâu có hàng hoá và sản xuất hàng hoá thì quy luật giá trị còn tồn

    tại và phát sinh tác dụng, thông qua đó ta thấy vai trò to lớn của quy luật giá trị

    14

    nó duy trì và mở rộng sản xuất của xí nghiệp và của xã hội. Việc phân phối thu

    nhập quốc dân và theo đó đạt những cân đối cần thiết của nền kinh tế theo hình

    thức giá trị, mặt khác nó còn kích thích sản xuất dựa vào hao phí lao động xã

    hội cần thiết, đồng thời tính toán kinh tế để bố trí lực lượng sản xuất trong cả

    nước nhằm thực hiện tốt yêu cầu của quy luật phát triển kinh tế có kế hoạch.

    Với những vai trò đó quy luật giá trị tác động mạnh trong phân phối xã hội chủ

    nghĩa: Phân phối theo lao động thông qua giá cả, tiền tệ… nó có tác động đẩy

    nhanh hoặc kìm hãm tốc độ thực hiện kế hoạch lưu thông, hoàn thiện hoặc phá

    vỡ kế hoạch đó.

    Nhưng trong đó nhân tố giá cả là yếu tố biểu hiện cơ bản của quy luật

    gía trị. Trong thực trạng nước ta hiện nay nó đang biểu hiện nhiều mặt tích cực,

    kích thích lưu thông nâng cao hiệu quả sản xuất, nhưng bên cạnh nó những

    biểu hiện nhiều mặt tiêu cực… Hạn chế rất lớn đối với sự phát triển của nước ta

    hiện nay vì vậy cần phải nghiên cứu kỹ quy luật giá trị để có những hiểu biết

    thêm về những biểu hiện mới của nó từ đó có những chính sách và hướng đi rõ

    ràng cụ thể để nước ta ngày càng phát triển đi lên.Với các đặc trưng của mô

    hình này như đã nói ở trên, các quy luật kinh tế được phép huy tác dụng của nó

    trong đó quy luật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế.

    2.3.1 Trong lĩnh vực sản xuất

    Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức

    là thực hiện sự trao đổi hàng hóa thông qua thị trường, sản phẩm phải thành

    hàng hóa. Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị – sản xuất và trao đổi

    hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:

    – Xét ở tầm vĩ mô: mỗi cá nhân khi sản xuất các sản phẩm đều cố gắng

    làm

    cho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội.

    – Xét ở tầm vĩ mô: mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao

    động, chất lượng sản phẩm, giảm thì gian lao động xã hội cần thiết.

    Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong xã sản xuất giá trị cá biệt của

    từng xí nghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hộ, do đó quy luật giá trị

    15

    dùng làm cơ sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trogn sản xuất

    kinh doanh. Các cấp quản lí kinh tế cũng như các ngành sản xuất, các đơn vị

    sản xuất ở cớ sở, khi đặt kế hoạch hay thực hiện hoạch kinh tế đều phải tính

    dến giá thành, quan hệ cung cầu, để định lượng, kết cấu hàng hóa,…

    Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị

    mà chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của CNXH và quy luật phát

    triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên quy luật giá trị

    không phải không có ảnh hưởng đến sản xuất. Những vật phẩm tiêu dùng cần

    thiết để bù đắp vào sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, đều được

    sản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng hóa và chịu sản xuất sự tác động của

    quy luật giá trị. Trong những thành phần kinh tế khác nhau, tác động của quy

    luật giá trị có những điểm không giống nhau. Vì thế các xí nghiệp của chúng ta

    không thể và không được bỏ qua quy luật giá trị.

    Do vậy, nhà nước đua ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình

    độ chuyên môn. Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến máy móc, mẫu mã,

    nâng cao tay nghề lao động. Nếu không, quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai

    trò đào thải của nó: loại bỉ những cái kém hiệu quả, kích thích các cá nhân,

    ngành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả. Tất yếu điều đó dẫn tới sự phát

    triển của lực lượng sản xuất mà trong đó đội ngũ lao động có táy nghề chuyên

    môn ngày càng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến. Và cùng với nó,

    sự xã hội hóa, chuyên môn hóa lực lượng sản xuất cũng được phát triển. Đây là

    những vận dụng đúng đắn của nhà nước.

    2.3.1.1 Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế

    Việc chuyển từ chế độ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị

    trường thì cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho, cấp phát, bảo hộ trong

    hoạt động đáng bởi các chi tiêu sản xuất mà nhà nước đưa ra và phải tự nghiên

    cứu để tìm ra thị trường phù hợp với các sản phẩm của mình; thực hiện sự

    phân đoạn thị trường để xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì.

    16

    Mặt khác, cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao

    dịch trên sàn giao dịch chứng khoán , thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA.

    WTO; mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của

    mình để có thể đứng vững khi bão táp của quá trình hội nhập quốc tế hội nhập

    đến. Sức cạnh tranh được nâng cao ở đây là nói đến sức canh tranh giữa các

    doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước

    ngoài , giữa các cá nhân trong nước và các nhân nước ngoài.

    2.3.1.2 Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường việt nam.

    Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến một hệ quả tất yếu là làm cho nền kinh tế

    năng động lên. Vì trong cạnh tranh, mỗi người sẽ tìm cho mình một con

    đường đi mới trong một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tạo nên sự sản xuấ hiệu

    quả nhất. Các con đường đó sẽ vô vàn khác nhau, luôn tạo ra những lĩnh vực

    sản xuất mới. Và hơn nữa, cạnh tranh năng động sẽ làm cho sản phẩm hàng

    hóa đa dạng về mẫu mã, nhiều chất lượng. Bởi vì, sự đào thải của quy luật giá

    trị sẽ ngày càng làm cho sản phẩm hoàn thiện hơn, mang lại nhiều lợi ích cho

    người tiêu dùng.

    Sự năng động thể hiện ở sự phát triển nhiều thành phần kinh tế. Vì, việc

    phát triển nhiều thành phần kinh tế có tác dụng thu hút nguồn nhân lực vào các

    thành phần kinh tế, phát huy nội lực, tận dụng nội lực để sản xuất ra nhiều

    hàng hóa thu lợi nhuận hay nâng cao trình độ sản xuất một ngành, một lĩnh

    vực nhất định.

    2.3.1.3 Thúc đẩy quá trình hội nhập quốc.

    Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, siêu lợi nhuận, sự đầu tư trong nước

    và đầu tư ra nước ngoài ngày càng phát triển, hay nói cách khác là thúc đẩy

    quá trình hội nhập quốc tế.

    Mỗi nước đều có những ưu thế, lợi thế riêng. Do thời gian và trình độ

    xuất phát điểm của nền kinh tế khác nhau nên có nước cần vốn thì nước thừa

    vốn. Do tốc độ phát triển khác nhau nên có nước phát triển có nước lạc hậu; do

    17

    sự phân bố tài nguyên khác nhau nên mỗi nước lại có điều kiện sản xuất khác

    nhau và tạo ra một lợi thế so sánh trên thương trường. Điều này thúc đẩy sự

    chuyên môn hóa, hiệu tác sản xuất để có chi phí sẽ làm cho giá cả thấp, và do

    đó thắng trên thương trường.

    Ngoài ra, quy luật giá trị tác động có tác dụng giáo dục những cán bộ

    lãnh đạo kinh tế tiến hành sản xuất hợp lý, tôn trọng kỉ luật, học hỏi tiềm lực

    của sản xuất, tính toán chính xác, nắm bắt tình hình thực hiện của sản xuất, biết

    tìm cách lực lượng dự trữ tiềm tàng giấu kín trong sản xuất.

    Tuy nhiên vẫn còn các cán bộ lãnh đạo, các nhà chuyên môn về công tác

    kế hoạch đều hiểu không thấu đáo tác dụng của quy luật giá trị, không nghiên

    cứu và không biết chú ý đến tác dụng đó trong khi tính toán. Là nguyên nhân

    vì sao chính sách nước ta còn hay mơ hồ.

    2.3.2 Trong lĩnh vực lưu thông.

    Phân phối và lưu thông trong xã hội chủ nghĩa có sự tác động khách

    quan của quy luật giá trị. Việc vận dụng quy luật lưu thông, phân phối được thể

    hiện ở những mặt sau.

    2.3.2.1 Hình thành giá cả

    Giá cả là một phạm trù phức tạp, sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là

    một tất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta đã vận

    dụng quy luật giá trị vào những mục đích nhất định, đã phải tính đến những

    nhiệm vụ kinh tế, chính trị trước mắt và lâu dài, căn cứ vào nhiều quy luật kinh

    tế xã hội chủ nghĩa.

    Hình thành giá cả là hình thức vận dụng quy luật giá trị tập trung nhất.

    Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị, cho nên khi xác định giá cả

    phải đảm bảo yêu cầu khách quan là lấy giá trị cơ sở, phản ánh đầy đủ những

    hao phí về vật tư và lao động để sản xuất hàng hóa. Giá cả phải bù đắp chi phí

    sản xuất hợp lý, tức là bù đắp giá thành sản xuất, đồng thời bảo đảm một mức

    lãi thích đáng để tái sản xuất mở rộng. Đó là nguyên tắc chung áp dụng phổ

    18

    biến cho mọi quan hệ trao đổi, quan hệ giữa các xí nghiệp quốc doanh nghiệp

    với nhau, cũng như nhà nước với nông dân.

    2.3.2.2 Nguồn hàng lưu thông.

    Trong nền kinh tế XHCN, việc cung cấp hàng hóa cho thị trường thực

    hiện một cách có kế hoạch. Đối với những mặt hàng có quan hệ lớn đến quốc

    tế dân sinh, nếu cung cầu không cân đối thì nhà nước dùng biện pháp đẩy

    mạnh sản xuất, tăng cường thu mua, cung cầu theo định lượng, theo tiêu chuẩn

    mà không thay đổi giá cả. Chính thông qua hệ thống giá cả quy luật có ảnh

    hưởng nhất định đến việc lưu thông của một hàng hóa nào đó. Giá mua cao sẽ

    khơi thêm nguồn hàng, gái bán hạ sẽ thúc đẩy mạnh việc tiêu thụ, và ngược lại.

    Do đó mà nhà nước ta đã vận dụng vào việc định giá cả sát giá trị, xoay

    quanh gái trị để kích thích cải tiến kĩ thuật tăng cường quản lí. Không những

    thế nhà nước ta còn chủ động tách giá cả khỏi giá trị với từng loại hàng hóa

    trong từng thời kì nhất định, lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị để

    điều tiết một phần sả xuất và lưu thông , điều chỉnh cung cầu cà phân phố. Giá

    cả được coi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạch hóa sự tiêu dùng

    của xã hội.

    Ví dụ như là giá cả của sản phẩm công nghiệp nặng lại đặt thấp hơn giá

    trị để khuyến khích sự đầu tư phát triển, áp dụng kĩ thuật vào sản xuất.

    Tuy nhiên sự điều chỉnh này ở nước ta không phải bao giờ cũng phát huy tác

    dụng tích cực, nhiều khi những chính sách này lại làm cho giá cả bất ổn, tạo

    điều kiện cho hàng hóa nước ngoài tràn vào nước do giá cả hợp lý hơn.

    Kinh tế thị trường tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá hàng hóa, theo

    đuổi hiệu quả phân phối tối ưu của các nguồn. Thước đo giá trị chú trọng hiệu

    quả kinh tế thị trường; một khi mở rộng, vận dụng vào lĩnh vực đời sống xã hội

    và quan hệ con người, không tránh khỏi sản sinh những quan hệ khác nhau gắn

    bó đạo đức con người đó chuẩn mực giá trị coi trọng tình nghĩa, xem thường

    lợi ích hay coi trọng lợi ích, xem thường tình nghĩa . “do vậy, ở nước ta, phát

    triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý

    19

    của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải chú ý sự chuyển đổi

    quan niệm sao cho phù hợp với đạo đức dân tộc truyền thống và hiện đại. thể

    hiện rõ nhất ở nước ta hiện nay là nạn nhân hàng giả, trốn thuế, buôn lậu…..”

    2.3.3 Tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

    hiện nay

    Áp dụng Quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội

    chủ nghĩa, chúng ta thấy được những thế mạnh của nó khi tác động vào hoạt

    động sản xuất, kinh doanh, đó là:

    2.3.3.1 Quy luật giá trị góp phần điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:

    Trong sản xuất, nếu như một mặt hàng nào đó có giả cả cao hơn giá trị,

    hàng hoá bán chạy và lợi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản

    xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người sản

    xuất hàng hoá khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư

    liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được

    mở rộng. Còn nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ

    vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này

    hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao

    động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên. Trường hợp còn

    lại, mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thỡ người sản xuất có thể tiếp tục sản

    xuất mặt hàng này. Như vậy, quy luật giá trị đó tự động điều tiết tỷ lệ phân

    chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp

    ứng nhu cầu của xã hội. Tốc động điều tiết lưu thông hàng hoá của quy luật giá

    trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả

    cao, và do đó, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất

    định.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Luật Giá Trị Và Sự Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Ở Việt Nam
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Quy Luật Giá Trị Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 3: Quy Luật Giá Trị Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Tiết 1)
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 3: Quy Luật Giá Trị Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11: Quy Luật Giá Trị Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Vào Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100