Đề Xuất 3/2023 # Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Sai: Ai Chịu Trách Nhiệm? # Top 8 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 3/2023 # Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Sai: Ai Chịu Trách Nhiệm? # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Sai: Ai Chịu Trách Nhiệm? mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu 1: Thưa Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Qua tổng hợp ngắn vừa rồi ông có suy nghĩ gì về những văn bản mang tính quy phạm pháp luật khi ban hành đã dẫn đến những phản ứng của dư luận xã hội sau đó phải thu hồi, huỷ bỏ hoặc phải mất nhiều thời gian để giải thích?

Luật sư trả lời:

Trước khi đưa ra những đánh giá cụ thể, chúng ta nên làm rõ 2 khái niệm cơ bản, đó là quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự chung, do nhà nước thừa nhận hoặc ban hành và đảm bảo thực hiện, có hiệu lực bắt buộc và nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật là các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Như vậy, với ý nghĩa là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cuộc sống hằng ngày, tạo ra các quy tắc xử sự, quy phạm pháp luật cũng như văn bản quy phạm pháp luật có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến những những đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh. Do đó khi văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật (bất hợp pháp), hoặc không phù hợp với điều kiện thực tiễn khi tiến hành áp dụng (bất hợp lý), ảnh hưởng đầu tiên phải kể đến là tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích cũng như nghĩa vụ đối với những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật đó. Rộng hơn, các quy phạm pháp luật không đảm bảo được tính hợp pháp cũng như tính hợp lý còn có thể gây phương hại đến trật tự quản lý xã hội của nhà nước.

Câu 2: Như vậy, có thể hiểu là, những văn bản có tính quy phạm pháp luật nào cũng có ảnh hưởng tới quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của văn bản đó, nhất là những văn bản có tính quy phạm pháp luật mà đối tượng điều chỉnh là mọi tầng lớp người dân trong xã hội, thưa Luật sư?

Luật sư trả lời:

Vâng như tôi cũng đã phân tích ở trên, quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, do đó bất cứ quy phạm nào đặt ra đều có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các đối tượng thuộc phạm vi mà quy phạm điều chỉnh. Những ảnh hưởng này có thể tốt, cũng có thể là xấu. Tuy nhiên, điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, các quy phạm pháp luật còn ảnh hưởng rất lớn đến trật tự xã hội của quốc gia, do đó, các quy phạm pháp luật khi đặt ra cần phải đảm bảo được tính hợp pháp cũng như tính hợp lý để phù hợp với sự phát triển của quốc gia.

Câu 3: Bộ GDĐT vừa công khai để lấy ý kiến dự thảo Quy chế công tác học sinh, sinh viên đối với các ngành đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng, trung cấp hệ chính quy, trong đó có nội dung “sinh viên sư phạm bán dâm đến… lần thứ 4 sẽ bị buộc thôi học “. Tuy nhiên, ngay trong đêm 29.10, trước những phản ứng của dư luận, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã rút lại văn bản này với lý do sơ suất, chưa cập nhật bản dự thảo phù hợp nhất khi đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của Bộ GD-ĐT để lấy ý kiến. Quan điểm của ông về việc này như thế nào?

Luật sư trả lời:

Trước hết, văn bản Bộ GDĐT đưa ra nêu trên chỉ là dự thảo, chưa được cơ quan có thẩm quyền thông qua và chưa có giá trị áp dụng như một văn bản quy phạm pháp luật, do đó, cũng không tránh khỏi những điểm bất hợp lý và sẽ cần phải được tiến hành thẩm định, xem xét dự thảo thông tư trước khi ký ban hành. Vì vậy, văn bản này chưa thể gây ra các ảnh hưởng, cũng như tác động đến xã hội được.

Tuy nhiên, quy định trên trong dự thảo của Bộ GDĐT thực sự không phù hợp. Theo pháp luật Việt Nam thì hoạt động mại dâm vẫn là bất hợp pháp, pháp luật không cho phép thương mại hóa mại dâm vì muốn giữ gìn truyền thống, thuần phong, mỹ tục.

Điều 4 của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 cũng quy định rõ:

“Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

Như vậy, đã cấm, thì ai hoạt động mại dâm cũng bị xử phạt hành chính hoặc hình sự, chứ không phân chia lần thứ nhất hay lần thứ hai. Do đó, theo tôi, Bộ cũng cần nghiêm túc thẩm định, xem xét các nội dung mình đưa ra trong dự thảo trước khi công bố lên cho công chúng và đặc biệt là trước khi ký ban hành.

Câu 4: Chương trình nhận được 1 cuộc gọi của thính giả, mời bộ phận kỹ thuật kết nối:

Xin chào chương trình tiêu điểm an ninh trật tự, tôi muốn hỏi vị khách mời là khi xây dựng một văn bản có tính quy phạm pháp luật, bắt buộc phải tuân thủ theo những quy tắc, quy định nào? Trước khi ban hành, cơ quan nào chịu trách nhiệm thẩm định tính quy phạm pháp luật?

Luật sư trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiệncác điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về việc thẩm định dự thảo, dự án văn bản quy phạm pháp luât, tùy thuộc vào loại văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, thẩm quyền thẩm định cũng sẽ khác nhau. Với các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủ.

Đối với dự thảo nghị định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ.

Đối với dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ.

Đối với dự thảo thông tư, ổ chức pháp chế thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo thông tư trước khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình, dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định.

Câu 5: Cũng từ ý này của thính giả, tôi muốn hỏi thêm khách mời, việc thẩm định tính quy phạm pháp luật của các văn bản có phân cấp không? Cơ quan thẩm định sẽ thẩm định ngay từ lúc xây dựng văn bản hay chỉ thẩm định khâu cuối cùng trước khi công bố và áp dụng thực hiện trong thực tiễn?

Luật sư trả lời:

Có thể thấy việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có sự phân cấp, phụ thuộc vào loại văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể, cơ quan soạn dự thảo, việc thẩm định dự thảo sẽ thuộc thẩm quyền của các cơ quan khác nhau.

Việc thẩm định chỉ là việc kiểm tra, xem xét ban đầu đối với các dự thảo, để một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn cần phải trải qua thêm nhiều giai đoạn khác như trình cơ quan có thẩm quyền, thẩm tra dự thảo, lấy ý kiến đóng góp tập thể…. Vì vậy, việc thẩm định sẽ được tiến hành ngay từ khi soạn thảo dự thảo văn bản.

Câu 6: Chúng tôi lại tiếp tục nhận được 1 ý kiến của thính giả gọi đến, mời kỹ thuật kết nối:

Xin chào biên tập viên, chào khách mời. Cho tôi hỏi là văn bản có tính quy phạm pháp luật trước khi ban hành phải có sự thẩm tra, thẩm duyệt của cơ quan chuyên trách nhưng tại sao thực tế vẫn xảy ra những sai sót về quy phạm pháp luật như vậy?

Luật sư trả lời:

Việc xảy ra những sai sót như vậy có thể do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan.

Về nguyên nhân khách quan, như ta đã biết, các quy phạm pháp luật nhằm để điều chỉnh các quan hệ xã hội, mà các quan hệ xã hội trong cuộc sống diễn ra đôi khi rất phức tạp, luôn luôn thay đổi, luôn luôn biến động. Mà quy phạm pháp luật đặt ra tại một thời điểm nhất định, để thay đổi đôi khi tốn rất nhiều thời gian, do đó có những trường hợp tại thời điểm xây dựng dự thảo, quy định đó là phù hợp, nhưng khi được ban hành, đời sống xã hội có sự thay đổi, quy phạm đó lại trở nên thiếu hợp lý, mà không phải lúc nào con người ta cũng có thể lường trước được những sự thay đổi này để có thể hoàn thiện dự thảo ngay từ đầu.

Về nguyên nhân chủ quan, do bản thân những người có trách nhiệm xây dựng các quy phạm pháp luật cũng chưa có đủ kiến thức, năng lực để có cái nhìn bao quát đối với đời sống xã hội. Tư duy làm luật ở nước ta hiện nay chỉ dừng ở mức thấy sai đâu thì sửa, hổng đâu thì vá, do đó các quy phạm pháp luật đặt ra thường không có tính dự báo, không đáp ứng được sự thay đổi hàng ngày của các quan hệ xã hội.

Câu 7: Xin cảm ơn khách mời, thêm một thính giả muốn kết nối

Tôi là một người dân, tôi thấy là những văn bản pháp luật là để giúp người dân chúng tôi hiểu rõ hơn quy định của pháp luật và để làm theo những quy định đó. Vậy ban hành văn bản sai thì người đứng đầu cơ quan đó, là cái người ký văn bản, phải chịu hình thức kỷ luật gì? hay chỉ xin lỗi và đổ cho lỗi đánh máy là xong?

Luật sư trả lời:

Để có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với một cá nhân, cần phải xác định xem có hành vi vi phạm quy định pháp luật hay không. Trường hợp có cơ sở xác định được có sự vi phạm pháp luật về các trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật sẽ có những chế tài dành cho những chủ thể có hành vi vi phạm. Chẳng hạn như khi cán bộ có hành vi lạm quyền trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản pháp luật nhằm tư lợi cho bản thân, cán bộ này tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỉ luật, thậm chí có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Câu 8: Vâng, đó là những ý kiến bức xúc của người dân với 2 văn bản dự thảo do Bộ Giáo dục đào tạo mới đưa ra. Không phải chỉ có bộ GD ĐT mới có những văn bản gây hiểu lầm mà trước đó Bộ Tài nguyên môi trường cũng có thông tư 33 về việc ghi tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ, hay Bộ GTVT buổi sáng ban hành Thông tư 45 quy định thẻ Đảng, thẻ nhà báo, giấy phép lái xe không được làm thủ tục lên máy bay thì đến buổi chiều phải ra quyết định thu hồi. Vậy xin hỏi khách mời, nếu văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành mà bị phát hiện là sai pháp luật thì sẽ bị xử lý ra sao theo quy đinh của pháp luật? Nếu văn bản đó gây ảnh hưởng xấu, tiêu cực tới đời sống xã hội?

Luật sư trả lời:

Việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được quy định tương đối rõ ràng tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Theo đó:

– Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

– Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất.

– Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

– Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm – pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

– Hội đồng nhân dân bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trái với nghị quyết của mình, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

– Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

– Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

– Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản do mình ban hành trái pháp luật.

– Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản do mình ban hành trái pháp luật.

Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật sẽ cần phải được chủ thể có thẩm quyền xem xét, đình chỉ hoặc bãi bỏ.

26 Văn Bản Trái Pháp Luật Do Bộ Trưởng, Thủ Trưởng Cơ Quan Ngang Bộ Ký: Ai Chịu Trách Nhiệm?

Trong năm 2017, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp đã kiểm tra, phát hiện và kết luận 26 văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ký, ban hành trái pháp luật. Vậy đối với những văn bản này, ai phải chịu trách nhiệm?

Trao đổi với phóng viên báo Lao Động, luật sư Ngô Quí Linh, Đoàn Luật sư TPHCM cho rằng, theo quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã ban hành 26 văn bản trái pháp luật phải chịu trách nhiệm đối việc ban hành văn bản trái pháp luật của mình.

Theo luật sư Ngô Quí Linh, cũng trên cơ sở Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, việc xác định trách nhiệm cá nhân, cần phải xem xét toàn diện để có thể xử lý triệt để tất cả các tập thể, cá nhân có sai phạm.

Cũng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy pham pháp luật có thể được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc của cá nhân có thẩm quyền.

Vì vậy, cần phải xem xét cụ thể đối với từng văn bản được ban hành trái pháp luật để xác định trách nhiệm thuộc về tập thể cơ quan có thẩm quyền hay của cá nhân có thẩm quyền ban hành.

Đối với 26 văn bản được bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ký, ban hành trái pháp luật cũng phải xem xét trách nhiệm với những văn bản này thuộc cá nhân bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ hay trách nhiệm tập thể.

Luật sư Ngô Quí Linh dẫn ví dụ: Văn bản do UBND tỉnh/thành phố ban hành thì quy trách nhiệm cho UBND tỉnh/thành phố. Nếu văn bản do Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố ban hành thì quy trách nhiệm cá nhân đối với vị chủ tịch.

Trước tình trạng mỗi năm số văn bản được ban hành trái pháp luật lên tới hàng nghìn, luật sư Ngô Quí Linh cho rằng, phải xem xét toàn bộ quá trình từ giai đoạn trình dự án, dự thảo văn bản, cho đến quá trình tham gia góp ý kiến và quá trình thẩm định dự thảo văn bản, ban hành văn bản.

Vì theo Luật sư Ngô Quí Linh, trong tất cả các giai đoạn của toàn bộ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, người có thẩm quyền tham gia đều có quyền lợi và trách nhiệm của mình.

“Không thể có chuyện khi có quyền lợi thì được hưởng, khi có sai phạm thì không bị quy trách nhiệm”, luật sư Ngô Quí Linh nhấn mạnh.

Trước đó, Bộ Tư pháp đã có báo cáo số 169/BC-BTP gửi Thủ tướng Chính phủ về việc đánh giá hậu quá, tác hại của việc ban hành văn bản trái pháp luật.

Đáng chú ý, chỉ tính riêng trong năm 2017, có tới 5.639 văn bản trái pháp luật được các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương ban hành.

Trong số này, có 157 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền, gồm 26 văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và 131 văn bản của HĐND và UBND cấp tỉnh.

Ông Đồng Ngọc Ba – Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp, so với năm 2016, tổng số văn bản được kiểm tra theo thẩm quyền năm 2017 tăng 45% và số văn bản phát hiện trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền tăng 20,5%.

Bộ Tn&Amp;Mt: Rà Soát Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Thuộc Trách Nhiệm Của Bộ

(TN&MT) – Chiều 1/7, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thị Phương Hoa tham dự và nghe báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Triển khai thực hiện Quyết định số 209/QĐ-TTg ngày 07/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật và nhiệm vụ rà soát của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật, Bộ TN&MT đã triển khai công tác rà soát văn bản thuộc trách nhiệm của Bộ.

Theo ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ TN&MT, trên cơ sở kết quả rà soát của các đơn vị thuộc Bộ, kết quả rà soát từ các nguồn khác: UBND các tỉnh, thành phố; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nguồn từ Bộ Tư pháp cung cấp (từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các Sở địa phương…), Vụ Pháp chế đã tổng hợp, lập Bảng kết quả rà soát và gửi các Thành viên Tổ rà soát của Bộ để hoàn thiện.

Bên cạnh đó, Vụ Pháp chế cũng đã dự thảo Báo cáo rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Bộ gửi Bộ Tư pháp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ (đồng thời phục vụ Đoàn kiểm tra của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay chưa có lịch kiểm tra cụ thể).

Về triển khai nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật, đến nay, Vụ Pháp chế đã nhận được kết quả rà soát của các đơn vị: Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, Cục Biến đổi khí hậu, Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường, Cục Viễn thám quốc gia, Vụ Khoa học và Công nghệ.

Để bảo đảm tiến độ theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Vụ Pháp chế đã rà soát và tổng hợp kết quả rà soát của các đơn vị nêu trên và dự thảo các Báo cáo rà soát đối với 03 nhóm rà soát văn bản mà Bộ có Thành viên tham gia. Cụ thể: Đối với Nhóm rà soát quy định pháp luật về kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, Vụ Pháp chế đã trình Thứ trưởng ký Báo cáo số 68/BC-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2020.

Đối với Nhóm rà soát quy định pháp luật về phê duyệt, triển khai, tổ chức thực hiện, chấm dứt dự án đầu tư, hiện, Vụ đang tổng hợp ý kiến của các đơn vị.

Đối với Nhóm rà soát quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, kinh doanh bất động sản, Vụ Pháp chế đã tổng hợp kết quả rà soát của hai Bộ Xây dựng và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và kết quả rà soát của các đơn vị thuộc Bộ, dự thảo Báo cáo rà soát quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, kinh doanh bất động sản trình Thứ trưởng xem xét, quyết định gửi các Thành viên Nhóm rà soát của Thủ tướng Chính phủ để xin ý kiến.

“Ngoài ra, các bộ, ngành còn gửi các văn bản xin ý kiến đối với kết quả rà soát văn bản của bộ, ngành và các nhóm rà soát chuyên sâu khác mà Bộ không phải là Thành viên. Đến nay, Vụ Pháp chế đang phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ tổng hợp, trình Thứ trưởng”, ông Nguyên Hồng Quang cho biết.

Bên cạnh đó, Các đơn vị chuyên môn như: Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai; Tổng cục Quản lý đất đai; Cục Quản lý tài nguyên nước… tự chịu trách nhiệm về việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của đơn vị. Sau đó gửi kết quả cho Vụ Pháp chế tổng hợp và báo cáo và trình lãnh đạo Bộ ký.

(TN&MT) – Bộ TN&MT vừa Ban hành Quyết định Phê duyệt Kế hoạch rà soát, hệ thống hóa, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường năm 2020.

Trách Nhiệm Hình Sự Là Gì? Quy Định Độ Tuổi Chịu Trách Nhiệm Hình Sự?

I. Trách nhiệm hình sự là gì?

1. Định nghĩa trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm. Là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.

Dưới góc độ của khoa học pháp lý, trách nhiệm hình sự có các đặc điểm cơ bản sau:

1. Trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”.

2. Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý. Là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện.

3. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định.

4. Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu Trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích.

2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 của Bộ luật hình sự:

“1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhận thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Việc quy định tại điều 2 có ý nghĩa rất lớn, bởi theo đó thì chỉ khi nào người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định như vậy giúp đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

– Về mặt khách quan: một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi là cách cư xử của con người ra thế giới khách quan được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội. Hành vi đó có thể gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội.

– Về mặt chủ quan: cơ sở của trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố “lỗi” của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Lỗi được dựa trên quan điểm chủ quan của người phạm tội.

– Về mặt khách thể: Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội phải xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành tội phạm hay không. Ngoài ra có các dấu hiệu không bắt buộc như: đối tượng của tội phạm, người bị hại.

– Về mặt chủ thể: chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sư, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Người đó phải đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điều 12 của Bộ luật hình sự.

II. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện nay, độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sử là người từ đủ 14 tuổi trở lên. Củ thể quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật). Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử). Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử). Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác). Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau:

Hotline:

038.595.3737

Email:

 luatsu@fblaw.vn

Fanpage: 

Công ty Luật FBLAW

Địa chỉ:

45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Trân trọng./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Sai: Ai Chịu Trách Nhiệm? trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!