Đề Xuất 12/2022 # Vai Trò Của Luật Giáo Dục (Gd) 2005 Đối Với Quá Trình Quản Lí Nhà Nước Về Gd / 2023 # Top 12 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Vai Trò Của Luật Giáo Dục (Gd) 2005 Đối Với Quá Trình Quản Lí Nhà Nước Về Gd / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vai Trò Của Luật Giáo Dục (Gd) 2005 Đối Với Quá Trình Quản Lí Nhà Nước Về Gd / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hãy làm rõ vai trò của Luật Giáo dục (GD) 2005 đối với quá trình quản lí nhà nước về GD – ĐT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay ?

So sánh Luật GD năm 2005 có những đặc điểm khác nào so với Luật GD 1998?

By: Nhóm IV Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là tổng hòa chất lượng của tất cả những cơ cấu và thành tố tạo nên một hệ thống giáo dục, một hoạt động giáo dục, hay một sản phẩm giáo dục phù hợp với yêu cầu của mục tiêu giáo dục đã được xác định trước.Chất lượng đào tạo là tập hợp các phẩm chất, năng lực thể hiện ở sản phẩm đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo đã xác định và đáp ứng các yêu cầu thị trường lao động, của một giao đoạn phát triển kinh tế- xã hội nhất định của quốc gia.Chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dânMức độ đáp ứng của hệ thống phẩm chất và năng lực có được trong “sản phẩm ” đào tạo đối với những yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội nhất định.Mức độ phù hợp của cấu trúc và sự vận hành của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, cũng như của từng bộ phận trong hệ thống giáo dục đối với những mục tiêu nhiệm vụ chức năng của chúng.Thể hiện ở hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ.

Nền giáo dục của đất nước Việt Nam ta trong những năm gần đây đã có những tiến bộ và cải cách vượt bậc so với thời điểm mười năm về trước. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở nước ta lại là một điều rất đáng quan tâm.

Cần thiết ban hành Luật Giáo dục 2005Vai trò của Luật Giáo dục 2005

Nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dụcĐầu tư phát tiển giáo dục Mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dụcKhuyến khích đầu tư phát triển trường ngoài công lập Khẳng định vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và các cán bộ quản lý giáo dụcHoàn thiện quy định về hệ thống giáo dục quốc giaNâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dụcTăng cường quản lý nhà nước về giáo dục1.Khẳng định vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và các cán bộ quản lý giáo dục

Vai trò và trách nhiệm của nhà giáo trong đảm bảo chất lượng giáo dục “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục.Vai trò trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục ” Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò trong việc tổ chức, quản lý điều hành các hoạt động giáo dục. Trách nhiệm của giáo viên cũng như các nhà quản lý giáo dục 2.Hoàn thiện quy định về hệ thống giáo dục quốc gia

Luật quy định thống nhất việc bỏ thi tốt nghiệp tiểu học (đã được xác định tại Nghị quyết số 37/ 2004/QH11 của Quốc hội).Luật giáo dục năm 2005 bỏ quy định về kì thi tốt nghiệp THCS.Luật xác định rõ yêu cầu về chương trình giáo dục .Luật cũng đã bổ sung một số điều về chương trình giáo dục của từng cấp và trình độ đào tạo ( điều 29, 24, 35, 41). 3.Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Xác định rõ yêu cầu về chất lượng giáo dục, về điều kiện thành lập nhà trường, những tiêu chí cơ bản để một trường đại học hoặc viện nghiên cức được phép đào tạo trình độ tiến sĩ, tạo điều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang tích lũy tín chỉ, tăng tính cạng tranh của các cơ sở giáo dục.

3.Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Các nhà làm luật đã thiết kế một điều riêng về chương trình giáo dục ở phần quy định chung, nêu những nguyên tắc và yêu cầu cơ bản về việc xây dựng, thực hiện chương trình giáo dục đã được quy định tại :Điều 6. Ngoài ra ở chương “Hệ thống giáo dục quốc dân “.Điều 24 “chương trình giáo dục mầm non” .Điều 29 “chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa “.Điều 35 “chương trình, giáo trình giáo dục nghề nghiệp “.Điều 41 “chương trình, giáo trình giáo dục đại học “. Luật 2005 quy đinh về kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) (điều 17- chương 1). Kiểm định chất lượng đào tạo là hoạt động nhằm mục đích bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo, do vậy phải trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các cơ sở giáo dục đại học. KĐCLGD nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục.

Kiểm định chất lượng GD là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. 4.Tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục

Luật GD 2005 bổ sung 2 nội dung quản lý NN về GD bao gồm : tổ chức quản lý việc đảm bảo chất lượng giáo dục, thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và các hoạt động giáo dục .Luật bổ sung quy định về những việc nhà giáo không được làm nhằm bảo vệ và nâng cao uy tín của nhà giáo cũng như thanh danh ngề dạy học (điều 75 chương IV – nhà giáo).Tăng cường quản lý nhà nước về giáo dụcTăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, xác định cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo ở trình độ nào thì thủ trưởng cơ sở đào tạo đó có trách nhiệm và thẩm quyền cấp văn bằng ở trình độ ấy.Quy định về điều kiện để cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ, khi đã được giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ thì thủ trưởng các cơ sở có quyền cấp bằng tiến sĩ (điều 42 chương II – hệ thống giáo dục quốc dân).Tăng cường quản lý nhà nước về giáo dụcNhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường cũng có sửa đổi : bổ sung về cơ sở vật chất, tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của các cơ quan có thẩm quyền.Luật bổ sung thêm vai trò và trách nhiệm của cán bộ QLGD (luật 1998 không có) để xác định vai trò của cán bộ QLGD trong các công tác tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục5.Nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dục

Điều 7- chương I bổ sung thêm quy địnhvề việc dạy tiếng dân tộc thiểu số. Là công cụ giúp con em đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tiếp thu các kiến thức trong nhà trường Hệ thống mạng lưới trường, lớp tiểu học phát triển rộng khắp ở tất cả các vùng dân tộc.Triển khai nội dung chuẩn bị tiếng Việt và tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS cấp mầm non, HS DTTS cấp tiểu học .Cung ứng sách giáo khoa cho năm học mới đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa.Luật bổ sung quy định về việc Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dành cho người tàn tật , khuyết tật .Luật cũng quy định chính sách ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để người học thuộc gia đình có thunhập thấp có điều kiện để học tập (Quy định ở điều 82, chương IV – Nhà giáo). Việc cử tuyển được giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu địa phương, có trách nhiệm đề xuất chỉ tiêucử tuyển, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển theo ngành nghề phù hợp6.Đầu tư phát tiển giáo dục

7.Mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục

Tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng hoạt động của các trường dân lập, tư thục.Luật Giáo dục năm 2005 quy định nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập, tư thục. Luật Giáo dục 2005 có thêm 1 mục mới tại chương III (gồm các §iều 65, 66, 67 và 68) quy định cụ thể về các chính sách đối với trường dân lập, tư thục bao gồm: nhiệm vụ và quyền hạn của trường dân lập, tư thục, chế độ tài chính quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhượng vốn, chính sách ưu đãi.So sánh điểm khác nhau Luật GD 1998 Các quan điểm cơ bản và chủ trương của Đảng trong các văn kiện về phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ mới cần thiết phải được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (sửa đổi). Những quan điểm và phương hướng cơ bản được xác định là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục (CLGD) toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD, thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, thực hiện công bằng trong giáo dục.

Sau khi Luật 1998 được ban hành, hoạt động giáo dục đã có những bước tiến bộ và phát triển, nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, bất cập.

Việc sửa đổi Luật Giáo dục là bức xúc và cần thiếtLuật GD 2005

Quan điểm và nguyên tắc ban hành

Luật Giáo dục 2005 thể chế hóa đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng .Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ năm 2001 là căn cứ pháp lý cơ bản để sửa đổi Luật Giáo dục. Luật 2005 là Luật giáo dục (sửa đổi)Bố cục

Luật 2005 gồm 9 chương, 120 điều. So với Luật 1998, thì Luật 2005 bỏ bớt 03 điều, bổ sung 13 điều mới, sửa đổi 83 điều (trong đó có 68 điều được chỉnh lý về nội dung và 15 điều chỉnh lý về kỹ thuật).

Nội dunGChương I: Những quy định chung.Bổ sung thêm 03 điều mới:Điều 6: Chương trình giáo dục. Điều 16. Vai trò và trách nhiệm của cán bộ QLGD.Điều 17. Kiểm định chất lượng giáo dục. Nội dung mới đã được sửa đổi, bổ sung .Điều 4. Hệ thống GDQD.Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và CSGD khác.20. Theo Việc cấm các hành vi “thương mại hoá”.

Chương II: Hệ thống GDQDa. Mục 2. Giáo dục phổ thôngĐiều 26. Quy định giáo dục phổ thông, trong đó, quy định thống nhất việc bỏ thi tốt nghiệp tiểu học.Điều 29. CTGD phổ thông, sách giáo khoa.Điều 30. CSGD phổ thông.Điều 31. Xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học và cấp văn bằng tốt nghiệp THCS, THPT.b. Mục 3. Giáo dục nghề nghiệp

c. Mục 4. Giáo dục đại học.

Điều 38, quy định giáo dục đại học đào tạo 4 trình độ.Điều 41 quy định chương trình, giáo trình giáo dục đại học.Điều 42, 43. Tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của CSGD là yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý.

d. Mục 5. Giáo dục thường xuyên.

Điều 46. CSGD thường xuyên được bổ sung thêm trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức tại xã, phường, thị trấn.Điều 47 quy định văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên được cấp cho người học trên cơ sở học cùng một chương trình và cấp một loại loại văn bằng. Chương III. Nhà trường và CSGD khác

Điều 53. Hội đồng trường Luật 2005 bổ sung một điều mới quy định cụ thể nhiệm vụ của hội đồng trường đối với trường công lập, hội đồng quản trị đối với trường tư thục.Điều 16. Vai trò và trách nhiệm của cán bộ QLGD.Điều 48. Nhà trường trong hệ thống GDQD.Điều 58. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường Bổ sung.Điều 63. Trường dành cho người tàn tật, khuyết tậtChương IV. Nhà giáo

Điều 73. Quyền của nhà giáo.Điều 77. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo.Điều 78. Trường sư phạm. Điều 79. Nhà giáo của trường cao đẳng, trường đại học. Điều 82. Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ QLGD công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Chương V. Người học

Điều 84. Quyền của trẻ em và chính sách đối với trẻ em tại CSGD mầm non.Điều 88. Các hành vi người học không được làm.Điều 86. Quyền của người học.Điều 90. Chế độ cử tuyển. ChươngVI. Nhà trường gia đình và xã hội

Chương này của Luật 1998 có 5 điều, Luật 2005 có 6 điều. Như vậy, tăng thêm 01 điều so với Luật 1998. Điều 96. Ban đại diện cha mẹ học sinh, được bổ sung quy định cụ thể nhiệm vụ và tổ chức của ban đại diện cha mẹ học sinh, tránh tình trạng trong thực tế việc lợi dụng tổ chức ban đại diện cha mẹ học sinh trong các CSGD không đúng quy định.Chương VIII. Khen thưởng và xử lý vi phạmChương này về số điều không thay đổi. Có sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Điều 118 xử lý vi phạm. Bổ sung vào điểm a khoản 1 điều này hành vi tổ chức hoạt động giáo dục trái phép; bỏ đoạn đầu điểm h quy định hành vi sử dụng kinh phí giáo dục sai mục đích; bổ sung khoản 2 giao Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

Tóm lại, chủ trương phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá của Đảng đã được thể chế hoá khá cụ thể trong Luật Giáo dục 2005. Những quy định này cùng quy định về quản lý, về đầu tư, về nhà giáo, về người học v.v… đã thể hiện một tư duy mới, một quyết tâm mới của toàn ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung, đồng thời đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới giáo dục mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.Thank You !www.themegallery.com

Vai Trò Của Quyết Định Hành Chính Trong Quản Lí Hành Chính Nhà Nước / 2023

Quyết định hành chính là gì. Vai trò của quyết định hành chính trong quản lí hành chính nhà nước.

1. Quyết định hành chính

Tóm lại, quyết định hành chính có thể được hiểu như sau: “Quyết định hành chính là 1 loại quyết định pháp luật, do các chủ thể quản lí hành chính nhà nước ban hành theo thủ tục và dưới hình thức pháp luật quy định, thể hiện ý chí nhà nước dưới dạng là các quy tắc xử sự chung hoặc các mệnh lệnh hành chính cụ thể thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước của mình”.

2. Vai trò của quyết định hành chính trong quản lí hành chính nhà nước.

a. Quyết định hành chính đề ra những chủ trương, chính sách lớn trong quản lí hành chính nhà nước.

Quyết định hành chính có vai trò to lớn trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước,thông qua quyết định hành chính, các cơ quan hành chính nhà nước đề ra chủ trương.đường lối, nhiệm vụ, biện pháp lớn để quản lí hành chính nhà nước, nhiều quyết định hành chính quan trọng của chính phủ đã được đưa vào cuộc sống và có tác động tích cực. Có những quyết định có giá trị cụ thể hóa, chi tiết hóa các quyết định lập pháp, bởi các quyết định lập pháp ít nhiều mang tính chất khung tức là thường điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng.

b. Quyết định hành chính hướng dẫn, đảm bảo sự chấp hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết cụ thể hóa, chi tiết hóa Luật, thể chế chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Là bộ phận của quyết định pháp luật nói chung, quyết định hành chính chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lí của nhà nước, đó là phương tiện không thể thiếu của cơ quan quản lí hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lí. Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước ban hành để thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật, chuyển tải luật vào cuộc sống, góp phần tạo nên giá trị của luật quyết định hành chính có vai trò to lớn trong việc chuyển tải chủ trương chính sách lãnh đạo của Đảng vào quản lí hành chính nhà nước.

Quyết định hành chính có tính dưới luật, xuất phát từ vị trí là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước nên các quyết định hành chính do các chủ thể có thẩm quyền trong hệ thống hành chính nhà nước ban hành là những văn bản dưới luật nhằm thi hành luật, vì thế nên quyết định hành chính phải phù hợp với luật về nội dung cũng như mục đích, các quyết định hành chính không được trái với Quốc hội cũng như quyết định của Hội đồng nhân dân và quyết định của cơ quan hành chính cấp trên. Hơn nữa,quyết định hành chính đảm bảo về tính hợp lí, nó xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính nhà nước, tuyệt đối không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể ra quyết .

c. Quyết định hành chính điều tiết các vấn đề thực tiễn.

Các văn bản pháp quy đưa ra các quy định còn các văn bản hành chính cá biệt thì biến quyết định thành hiện thực và cũng tạo cơ sở pháp luật được thi hành trong thực tế, các văn bản này nhằm mục đích hướng đến việc cho các chủ thể pháp luật hành chính thực hiện được các quyền cũng như nghĩa vụ của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nó làm phát sinh,thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.

d. Quyết định hành chính góp phần ổn định trật tự xã hội,tạo cơ hội quản lí tốt và phát triển xã hội.

Cũng như quy phạm pháp luật,tính cưỡng chế nhà nước là một trong những đặc điểm của quyết định hành chính,chính vì nó được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước cho nên so với các quy phạm khác,thì nó có một sức mạnh lớn, sức ảnh hưởng rộng khắp không chỉ với một chủ thể, một địa bàn nhỏ mà còn trong nhiều trường hợp với nhiều chủ thể khác nhau trong một khu vực hành chính hay trong cả nước, nhờ đó việc quản lí xã hội được hiệu quả hơn. Trong thực tế, những quyết định này mang tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức cho nên trong những hoàn cảnh nhất định họ phải làm theo nhằm đưa ra các chuẩn mực ứng xử và điều chỉnh các hành vi xử sự theo mong muốn thiết lập trật tự xã hội ổn định. Ngoài ra,các biện pháp chế tài của luật hành chính không chỉ mang tính chất trừng trị người vi phạm mà quan trọng hơn nó có tác dụng giáo dục, răn đe người vi phạm đồng thời ngăn chặn những hành vi mới xảy ra, chính nhờ đó mà mà trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

e.Quyết định hành chính có vai trò trong việc tổ chức và điều hành hoạt động của bộ máy hành chính

Bộ máy hành chính là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước,đồng thời có tính độc lập tương đối về tổ chức và hoạt động, nó nhằm đảm bảo cho chức năng nhiệm vụ của bộ máy hành chính sự độc lập thể hiện trong các bộ phận tổ chức và điều hành của bộ máy đó, việc tổ chức và điều hành này không chỉ được thực hiện bằng các biện pháp tổ chức trực tiếp mà còn bằng việc ban hành các quyết định hành chính ấn định chức năng nhiệm vụ quyền hạn cơ chế phối hợp hoạt động của các cơ quan trong bộ máy đó.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Vai Trò Quyết Định Của Nhà Quản Trị / 2023

Nhóm vai trò cuối cùng của nhà quản trị gồm 4 vai trò: vai trò doanh nhân, vai trò người giải quyết xáo trộn, vai trò người phân phối tài nguyên và vai trò nhà thương thuyết.

0 Vai trò doanh nhân: Xuất hiện khi nhà quản trị tìm cách cải tiến hoạt động của tổ chức. Việc này có thể được thực hiện bằng cách áp dụng một kỹ thuật mới vào một tình huống cụ thể, hoặc nâng cấp điều chỉnh một kỹ thuật đang áp dụng.

® Vai trò người giải quyết xáo trộn: Nhà quản trị là người phải kịp thời đối phó với những biến cố bất ngờ nảy sinh làm xáo trộn hoạt động bình thường của tổ chức như mâu thuẩn về quyền lợi, khách hàng thay đổi… nhằm đưa tổ chức sớm trở lại sự ổn định.

◉ Vai trò người phân phối tài nguyên: Khi tài nguyên khan hiếm mà lại có nhiều yêu cầu, nhà quản trị phải dùng đúng tài nguyên, phân phối các tài nguyên cho các bộ phận đảm bảo sự hợp lý và tính hiệu quả cao. Tài nguyên đó có thể là tiền bạc, thời gian, quyền hành, trang bị, hay con người. Thông thường, khi tài nguyên dồi dào, mọi nhà quản trị đều có thể thực hiện vai trò này một cách dễ dàng. Nhưng khi tài nguyên khan hiếm, quyết định của nhà quản trị trong vấn đề này sẽ khó khăn hơn, vì nó có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của một đơn vị hay thậm chí của toàn thể tổ chức.

® Vai trò đàm phán: Thay mặt cho tổ chức thương thuyết trong quá trình hoạt

động, trong các quan hệ với những đơn vị khác, với xã hội.

Mười vai trò này liên hệ mật thiết với nhau và bất cứ lúc nào trong hoạt động của mình, nhà quản trị có thể phải thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc, song tầm quan trọng của các vai trò thay đổi tuỳ theo cấp bậc của nhà quản trị trong tổ chức.

Với chức năng và vai trò của mình, nhà quản trị giữ phần quan trọng trong sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Và đó cũng là lý do chính của nhu cầu cấp bách phải đào tạo các nhà quản trị, vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước.

Dự Thảo Của Bộ Gd&Amp;Đt Đưa Ra 5 Biện Pháp Giúp Giáo Viên, Nhà Trường Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Học Sinh / 2023

Giáo viên và nhà trường có thể lựa chọn áp dụng 5 biện pháp để giáo dục kỉ luật tích cực phù hợp với từng học sinh. Cụ thể:

– Khuyên bảo, động viên; nhắc nhở, phê bình riêng đối với học sinh mắc khuyết điểm;

– Phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của học sinh để cùng thực hiện kế hoạch giáo dục, hỗ trợ học sinh sửa chữa khuyết điểm.

– Tổ chức tư vấn tâm lý cho học sinh mắc khuyết điểm đang gặp khó khăn tâm lý.

Tự khắc phục hậu quả do vi phạm của học sinh gây ra hoặc khắc phục hậu quả với sự giúp đỡ của bạn bè, giáo viên, cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của học sinh.

– Các biện pháp giáo dục khác phù hợp với mục đích, nguyên tắc kỉ luật học sinh.

Đối với các hình thức kỉ luật, học sinh mắc khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện, vi phạm nội quy nhà trường, các quy chế, quy định của ngành Giáo dục; tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhà trường xem xét thực hiện các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực quy định trên hoặc áp dụng các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách, Cảnh cáo, Tạm dừng học tập trên lớp để thực hiện kế hoạch giáo dục riêng với học sinh vi phạm.

Quy định này, không áp dụng các hình thức kỉ luật quy định trên đối với học sinh cấp tiểu học.

Học sinh vi phạm như thế nào thì bị khiển trách, cảnh cáo

Về kỷ luật Khiển trách, áp dụng đối với học sinh tái phạm nội quy, quy định của nhà trường, đã được thực hiện biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực nhưng chậm khắc phục, sửa chữa.

Vi phạm lần đầu nhưng mức độ nghiêm trọng như: Có lời nói và hành động vô lễ với giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường; gây gổ đánh nhau hoặc có hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn trường học và cộng đồng; tổ chức, lôi kéo người khác cùng vi phạm nội quy của nhà trường hoặc vi phạm các khuyết điểm khác có tính chất và mức độ tác hại tương đương.

Hình thức cảnh cáo, áp dụng đối với học sinh đã bị kỉ luật khiển trách nhưng không khắc phục, sửa chữa, mắc thêm khuyết điểm có tính chất tăng nặng, tái phạm khuyết điểm trong khoảng thời gian một học kỳ.

Vi phạm lần đầu nhưng mức độ rất nghiêm trọng như đánh nhau có tổ chức, có hung khí; tổ chức các hành vi gian lận trong học tập, thi, kiểm tra; lấy trộm tiền, đồ dùng, tư trang, cưỡng đoạt tài sản; cố ý phá hoại tài sản của nhà trường và người khác hoặc có những khuyết điểm khác có tính chất và mức độ tác hại tương đương nhưng chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lí theo quy định của pháp luật.

Vi phạm lần đầu nhưng ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng như đánh nhau có tổ chức, sử dụng hung khí, vũ khí gây thương tích nặng cho người khác; xâm phạm nhân phẩm, thân thể của giáo viên, cán bộ, nhân viên, học sinh khác của nhà trường hoặc có những hành vi vi phạm khác có tính chất và mức độ tác hại tương đương nhưng chưa đến mức bị các cơ quan có thẩm quyền xử lí theo quy định của pháp luật.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của học sinh, căn cứ đề xuất của Hội đồng kỉ luật học sinh của nhà trường, Hiệu trưởng nhà trường xem xét, quyết định thời hạn tạm dừng học tập trên lớp đối với học sinh tối đa là 02 (hai) tuần lễ để thực hiện kế hoạch giáo dục riêng đối với học sinh vi phạm.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vai Trò Của Luật Giáo Dục (Gd) 2005 Đối Với Quá Trình Quản Lí Nhà Nước Về Gd / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!