Đề Xuất 12/2022 # Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 # Top 18 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Điều 156 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Khác với các trường hợp đình chỉ vụ án, ở đây, điều luật quy định về việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án nhằm bảo đảm cho quá trình tố tụng tiếp tục đi đúng hướng xác lập chân lý khách quan về vụ án, bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự đúng đắn và có hiệu quả; bảo đảm các quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng.

– Điều luật quy định chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục thay đổi quyết định khởi tố và bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và thẩm quyền của các chủ thể (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát) trong các trường hợp đó.

Căn cứ vào Khoản 1 của Điều luật, chỉ có Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Sở dĩ quy định như thế là vì những lý do sau đây:

+ Thứ nhất, không cần thiết để tất cả các chủ thể có quyền khởi tố vụ án có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố, bởi, theo những quy định tại Điều 164, Bộ luật tố tụng hình sự, Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển quyết định khởi tố vụ án đối với tội phạm ít nghiêm trọng, trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng. Vấn đề thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án không cần đặt ra. Trong trường hợp đó các chủ thể nói trên có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời hạn 20 ngày kể từ khi khởi tố.

Đối với các cơ quan khác, không phải là Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân mà luật cho phép tiến hành một số hoạt động điều tra thì chỉ được phép khởi tố, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hổ sơ vụ án cho cơ quan điểu tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể từ khi khởi tố. Vì vậy, tương tự như đối với trường hợp vừa nêu trên, không cần thiết phải quy định việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án cho các cơ quan này.

Việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án được tiến hành khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra.

Việc bổ sung quyết định khởi tố được tiến hành khi có căn cứ xác định còn có tội phạm khác mà trong quyết định khởi tố chưa được nêu ra.

Trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án,Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. Quyết định của Viện kiểm sát thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ làm thay đổi hướng điều tra hoặc đặt ra yêu cầu bổ sung kế hoạch điều tra của Cơ quan điều tra. Quy định của Điều luật đã góp phần bảo đảm kết quả của hoạt động điều tra.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự? / 2023

Cập nhật ngày: 17/08/2015

Câu hỏi: Những chủ thể có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự?

Trả lời: Điều 106 BLTTHS quy định về thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự như sau: “1. Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. 2. Trong trường hợp Cơ quan điều tra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra phải gửi cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.” Căn cứ quy định trên, chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mới có quyền quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Theo hướng dẫn ở Mục 8 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP hướng dẫn như sau: “8. Việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 106) 8.1. Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu để Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nếu Cơ quan điều tra không nhất trí và rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này không có căn cứ thì Viện kiểm sát căn cứ khoản 5 Điều 112 của BLTTHS ra quyết định hủy bỏ. Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. 8.2. Chỉ thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thay đổi tội danh. Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can vào tội nặng hơn trong cùng tội danh đã khởi tố. Ví dụ: Quyết định khởi tố vụ án trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự (tội phạm ít nghiêm trọng), qua điều tra xác định được hành vi trộm cắp của bị can phạm vào khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự (tội phạm nghiêm trọng) thì không phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự đó.”

Ban biên tập – Luật Trần Gia

Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự / 2023

Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

Hưỡng dẫn về khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trong tố tụng hình sự quy định tại tại Điều 9 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ trưởng Bộ Công an Bộ Quốc phòng ban hành, cụ thể như sau:

1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 183, Điều 442 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.

5. Viện kiểm sát quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi đã yêu cầu bằng văn bản nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trường hợp Viện kiểm sát khởi tố bị can thì việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát quyết định.

6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:

a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó;

b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

đ) Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.

7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát phát hiện thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Ban biên tập phản hồi thông tin đến bạn.

Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023

I. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

II. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh),136 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội), 138 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 139 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), 141 (Tội hiếp dâm), 143 (Tội cưỡng dâm), 155 (Tội làm nhục người khác), 156 (Tội vu khống) và 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

III. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

IV. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được  giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc  xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!