Top 15 # Xem Nhiều Nhất Ý Thức Pháp Luật Là Gì / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Athena4me.com

Ý Thức Pháp Luật Là Gì? / 2023

Khi nhắc đến việc chấp hành pháp luật thì chúng ta không thể không nhắc tới ý thức pháp luật. Vậy ý thức pháp luật là gì?, phân loại và đặc điểm ý thức pháp luật như thế nào?, vai trò của ý thức pháp luật ra sao?

Ý thức pháp luật là toàn bộ những tri thức, quan điểm, quan niệm, học thuyết về pháp luật biểu hiện qua sự nhận thức, tình cảm, thái độ của con người với pháp luật, ý Thức pháp luật bao gồm 2 bộ phận phân theo cấu trúc là tâm lý pháp luật và tư tưởng về pháp luật.

Phân loại ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật xét về cấu trúc sẽ được chia làm 2 bộ phận là tâm lý pháp luật, tư tưởng pháp luật

– Tâm lý pháp luật là toàn bộ những trạng thái về tâm lý từ con người bao gồm cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với pháp luật của mỗi con người hoặc nhóm người nào đó dưới sự tác động từ pháp luật

– Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng , học thuyết pháp lý của một giai cấp nào đó, được những nhà tư tưởng đại diện về giai cấp để hệ thống hóa và nâng lên thành lý luận

Ý thức pháp luật chia làm các loại:

– Ý thức pháp luật cá nhân

– ý thức pháp luật giai cấp

– Ý thức pháp luật xã hội

Đặc điểm của ý thức pháp luật

Ngoài khái niệm về ý thức pháp luật là gì? thì những đặc điểm điển hình về ý thức pháp luật cũng đang được quan tâm, cụ thể như sau:

– Ý thức pháp luật sẽ lạc hậu hơn với sự tồn tại của xã hội phát triển

– Một số điểm của ý thức pháp luật cụ thể là tư tưởng về pháp luật có sự phát triển hơn so với thời điểm ở thời gian đó trong xã hội

– Ý thức pháp luật có thể là nguyên nhân hoặc trực tiếp phản ánh sự tồn tại của pháp luật và tiếp nối, kế thừa của các thế hệ trước đó.

– Ý thức pháp luật có tính giai cấp, đối với mỗi nước sẽ có hệ thống pháp luật khác nhau nhưng đều có hình thái về ý thức của pháp luật.

Tóm lại ý thức pháp luật là một trong những yếu tố có thể là động lực để thúc đẩy phát triển hoặc cũng có thể là sự kìm hãm đối với các sự vật hoặc hiện tượng nào đó

Ngoài khái niệm về ý thức pháp luật là gì? thì ý thức pháp luật có vai trò quan trọng như sau:

– Việc nâng cao ý thức pháp luật giúp cho hình thành lối sống tuân thủ pháp luật một cách chủ động nhất từ các công dân ngược lại ý thức pháp luật thấp thì việc thực thi cũng như chấp hành pháp luật sẽ có hạn chế.

– Khi chủ thể đã có những hiểu biết về pháp luật nâng cao ý thức về pháp luật tốt sẽ giúp cho người dân bảo vệ quyền lợi của chính bản thân khi bị những xâm hại phát sinh

– Ý thức pháp luật tốt sẽ góp phần vào việc duy trì những trật tự xã hội từ đó hạn chế các mặt tiêu cực, tăng khả năng phát triển kinh tế, đời sống ấm lo, bảo vệ quyền lợi cho chính người dân

– ý thức pháp luật được nâng cao đồng nghĩa với việc góp phần nâng cao dân trí, từ đó việc quản lý nhà nước cũng được củng cố hướng tới một xã hội phát triển toàn diện

Như vậy ý thức pháp luật phụ thuộc vào chính bản thân mỗi con người, ngoài ra còn có sự tác động của những yếu tố xung quanh như môi trường sống, con người xung quanh,… Ý thức pháp luật tác động qua lại đối với sự quản lý, xây dựng pháp luật và bảo vệ quyền lợi của mỗi chúng ta.

Tác giả

Phạm Kim Oanh

Bà Oanh hiện đang làm việc tại Bộ phận Sở hữu trí tuệ của Công ty Hoàng Phi phụ trách các vấn đề Đăng ký xác lập quyền cho khách hàng trong lĩnh vực sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đây là một trong những dịch vụ khó, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của người tư vấn.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Ý Thức Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Và Cơ Cấu Của Ý Thức Pháp Luật? / 2023

Ý thức pháp luật là gì? Phân tích khái niệm, đặc điểm và cơ cấu của ý thức pháp luật?

Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm, tâm trạng, thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các chủ thể.

Tương tự như các hình thái ý thức xã hội khác (ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo…), ý thức pháp luật được thể hiện ở từng cá nhân, từng nhóm, từng cộng đồng xã hội. Ý thức pháp luật luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố như nền tảng kinh tế, kết cấu xã hội, tương quan so sánh lực lượng giữa các lực lượng xã hội, quan điểm, tư tưởng của lực lượng cầm quyền, xu thế thời đại…

2 – Đặc điểm của ý thức pháp luật

– Ý thức pháp luật là tiền đề, là cơ sở để tạo nên pháp luật, để xây dựng các giá trị, chuẩn mực pháp lý đối với xã hội. Cụ thể: Phải trên cơ sở ý thức pháp luật, hiểu biết về vai trò, tầm quan trọng của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền xây dựng pháp luật mới xác định được trong thực tế có cần ban hành pháp luật để điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nào đó hay không, nếu có thì với khả năng và yêu cầu hiện hữu nên xây dựng loại văn bản quy phạm pháp luật nào, phạm vi điều chỉnh đến đâu, từ đó mới lập kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng loại văn bản đó.

– Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội nên nó chịu sự quyết định của tồn tại xã hội, song nó có tính độc lập tương đổi với tồn tại xã hội, điều đó được thể hiện ở những điểm sau:

+ Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, do vậy, các tàn dư tư tưởng cũ vẫn còn tồn tại trong xã hội hiện đại.

+ Ý thức pháp luật có tính tiên phòng, có thể đi trước sự phát triển của tồn tại xã hội.

Ví dụ: Nhờ có tư tưởng đổi mới, xây dựng nền kinh tế mở cửa mà làm xuất hiện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta.

+ Ý thức pháp luật có tính kế thừa, trong ý thức pháp luật ở xã hội ta hiện nay có kế thừa nhiều yếu tố tiến bộ của ý thức pháp luật trong các giai đoạn trước.

+ Ý thức pháp luật có tác động trở lại tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội khác: Ý thức chính trị, ý thức đạo đức…

3 – Cơ cấu của ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật có hai bộ phận cấu thành là tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.

a – Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, học thuyết, trường phái pháp lý.

– Tư tưởng pháp luật là bộ phận ở cấp độ lý luận có tính khái quát, tính hệ thống cao được hình thành một cách tự giác. Tư tưởng pháp luật phản ánh sâu sắc những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, đó là sự nhận thức lý luận về tồn tại xã hội.

– Tư tưởng pháp luật soi sáng cho tâm lý pháp luật, định hướng các hành vi pháp luật đối với các chủ thể. về mặt nội dung, tư tưởng pháp luật có thể có những nhân tố mang tính khoa học hoặc cũng có thể là phản khoa học. Tư tưởng pháp luật khoa học phản ánh đúng đắn các mối quan hệ vật chất của xã hội và quy luật phát triển khách quan của xã hội. Ngược lại, tư tưởng pháp luật phản khoa học cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội nhưng đó là sự phản ánh sai lầm, xuyên tạc và thiếu tính khách quan.

– Tư tưởng pháp luật được xây dựng trên một nền tảng tri thức pháp lý có tính kế thừa qua các giai đoạn phát triển. Tri thức pháp lý được hiểu là tổng thể sự hiểu biết khoa học về pháp luật bao gồm cả phương diện lý luận, thực tiễn và đời sống pháp lý. Tri thức pháp lý được hình thành thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học; thông qua quá trình đào tạo chuyên ngành; thông qua hoạt động thực tiễn…

b – Tâm lý pháp luật là tổng thể những tình cảm, tâm trạng, thói quen, xúc cảm đối với pháp luật

Tâm lý pháp luật là tổng thể những tình cảm, tâm trạng, thói quen, xúc cảm đối với pháp luật được hình thành ở từng người, từng nhóm người hoặc cả giai cấp dưới ảnh hưởng của pháp luật và sự tác động điều chỉnh của pháp luật.

Nói tóm lại, tâm lý pháp lý là tất cả các trạng thái tâm lý của con người (tình cảm, tâm trạng, xúc cảm) đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý.

– Tâm trạng, xúc cảm pháp luật thể hiện sự phẫn nộ hay sự thờ ơ trước hành vi vi phạm pháp luật; thể hiện sự xúc động, chua xót, thương cảm hay sự bàng quan, vô cảm trước cảnh mất mát, hư hỏng của trẻ em do cha mẹ ly hôn…

– Tâm lý pháp luật có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực:

+ Xúc cảm và niềm tin pháp lý được coi như cầu nối giữa cái bên ngoài (pháp luật, thực tiễn pháp lý…) với cái bên trong là nội tâm của chủ thể. Xúc cảm tích cực và niềm tin pháp luật đối lập với trạng thái thờ ơ, vô cảm, trống rỗng, thiếu niềm tin với pháp luật và đời sống pháp lý hiện thực. Nếu chủ thể có sự hiểu biết đầy đủ, có quá trình xúc cảm, niềm tin tích cực sẽ là nền tảng cho việc hình thành ý chí, tỏ rõ thái độ tích cực trong thực hiện hành vi.

+ Thái độ pháp lý thể hiện sự phản ứng trên cơ sở nhận thức của chủ thể đối với quy định của pháp luật hoặc các hiện tượng pháp lý khác. Thái độ pháp lý có thể biểu đạt trạng thái tích cực hoặc tiêu cực. Nếu nhận thức của chủ thể sai hoặc thiếu chính xác thì biểu hiện của thái độ pháp lý cũng không đúng, tiêu cực hoặc không phù hợp mức độ cần thiết. Nếu nhận thức của chủ thể sâu, rộng và đầy đủ nhưng vô cảm, bàng quan thì khó hình thành một thái độ pháp lý đúng đắn.

Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai cấp độ, hai phương thức khác nhau của ý thức pháp luật nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó tâm lý pháp luật góp phần tích cực vào việc xây dựng và củng cố tư tưởng pháp luật. Tư tưởng pháp luật làm cho tâm lý pháp luật thêm sâu sắc. Tư tưởng pháp luật soi sáng cho tâm lí pháp luật, định hướng các hành vi pháp luật đối với các chủ thể pháp luật.

Hình Thức Pháp Luật Là Gì? Những Nét Cơ Bản Về Hình Thức Pháp Luật / 2023

Hình thức pháp luật là gì? Những nét cơ bản về hình thức pháp luật. Hình thức pháp luật Việt Nam ta hiện nay?

*Định nghĩa hình thức Pháp luật:

Hình thức Pháp luật được hiểu là cách thức thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nó là dạng tồn tại, hình thức tồn tại thực tế của Pháp luật, đồng thời là ranh giới tồn tại của Pháp luật trong hệ thống các qui phạm xã hội khác.

*Nét cơ bản về hình thức Pháp luật:

Hình thức Pháp luật bao gồm hình thức bên trong (cấu trúc Pháp luật) và hình thức bên ngoài (nguồn của Pháp luật).

_ Qui phạm Pháp luật: là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, là cơ sở tế bào, là đơn vị nhỏ nhất và là biểu hiện cụ thể của Pháp luật. Qui phạm là công cụ tác động trực tiếp lên các quan hệ xã hội.

_ Chế định Pháp luật: là hệ thống các qui phạm Pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại trong cùng một ngành luật.

VD: Chế định hợp đồng kinh tế nằm trong ngành luật kinh tế, điều chỉnh các quan hệ ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.

_Ngành luật: là hệ thống các qui phạm Pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực xã hội cùng tính chất với nhau.

VD: Ngành luật hình sự: điều chỉnh những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và pp điều chỉnh nó là trừng phạtVì vậy người ta gọi ngành luật là tội phạm và hình phạt

_Hệ thống Pháp luật: là 1 chính thể thống nhất các bộ phận hợp thành (ngành luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật) mang những đặc điểm nội dung trên cơ sở những nguyên tắc thống nhất của pháp luật 1 quốc gia.

b)Hình thức bên ngoài: Là những cái biểu hiện bên ngoài của pháp luật, là biểu hiện dạng tồn tại trong thực tế của các qui phạm pháp luật. Nó gồm các dạng sau: – Tập quán pháp: Là những tập quán lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà nước thừa nhận, nâng lên thành qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện. Hình thức này tồn tại ở nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản. Ở Việt Nam không coi tập quán pháp là nguồn của pháp luật. – Tiền lệ pháp, án lệ: Là các quyết định, cách giải quyết của cơ quan hành chính hoặc các cơ quan xét xử được nhà nước thừa nhận làm khuôn mẫu để giải quyết cho những vụ việc tương tự về sau. Hình thức này được sử dụng rộng rãi trong nhà nước chủ no, phong kiến, tư sản, đặc biệt là những quốc gia theo hệ thống luật án lệ như Anh, Mỹ. Ở Việt Nam hiện nay tiền lệ pháp không được coi là nguồn của pháp luật.

– Văn bản pháp luật: Là hình thức pháp luật do cơ quan nhà nươc có thẩm quyển ban hành theo thủ tục, trình tự luật định trong đó có qui tắc xử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước.

*Hình thức pháp luật Việt Nam ta hiện nay

PL nước ta hiện nay phân chia ra làm caá ngành luật: 11 ngành. Có chế định pháp luật, ban hành PL. nhà nướcVN hiện nay rất quan tâm đến vấn đề xây dựng, sửa đổi, ban hành PL (được đề ra trong tất cả các kì họp QH)

Chỉ thừa nhận và ban hành PL từ 1 nguồn duy nhất đó là văn bản quy phạm PL, ko thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp.

Hình thức pháp luật là gì? Những nét cơ bản về hình thức pháp luật. Hình thức pháp luật Việt Nam ta hiện nay?

Thi Hành Pháp Luật Là Gì? Các Hình Thức Pháp Luật Bạn Cần Biết / 2023

Thể chế Nhà nước được duy trì và đảm bảo dựa trên các nguyên tắc của pháp luật. Vậy thi hành pháp luật là gì? Các hình thức thi hành pháp luật như thế nào?

Nếu bạn đang có cùng câu hỏi trên, đừng bỏ lỡ bài viết sau đây của Quản Lý Bất Động Sản.

I. Phân biệt các khái niệm trong thực hiện pháp luật

Thi hành pháp luật là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu cầu. Thi hanh pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện.

– Bản chất: Việc thi hành pháp luật có tính chủ động, tích cực, thực hiện pháp luật dưới hình thức hành vi hành động.

Thi hành pháp luật mang tính chủ động thực hiện điều luật pháp yêu cầu

– Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.

– Hình thức thể hiện: Thường thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc. Do đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động mang tính hợp pháp.

– Ví dụ: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập doanh nghiệp/thuế thu nhập cá nhân. Do đó, nếu không thuộc đối tượng được miễn thuế, chủ thể đóng đầy đủ khoản thuế được coi là đang thi hành pháp luật.

Tuân thủ pháp luật là chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật cấm. Tuân thủ pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện.

– Bản chất: Tuân thủ pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng hành vi không hành động.

– Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.

– Hình thức thể hiện: Thường thể hiện dưới dạng những quy định cấm đoán. Tức quy phạm không bắt buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định.

– Ví dụ: Pháp luật cấm hành vi mua bán dâm. Do đó, không thực hiện hành vi mua bán dâm được xem là tuân thủ pháp luật.

Áp dụng pháp luật là việc cán bộ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện.

– Bản chất: Đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được thể hiện dưới hình thức hành vi hành động và hành vi không hành động.

– Đối tượng thực hiện: Chỉ cán bộ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

– Hình thức thể hiện: Tất cả các loại quy phạm. Bởi Nhà nước quyền hạn và nghĩa vụ tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật.

Ví dụ: Khi bên A khởi kiện bên B, tòa án có trách nhiệm xem xét và thụ lý đơn khởi kiện của bên A.

Áp dụng pháp luật chỉ là việc làm của cán bộ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Sử dụng pháp luật là chủ thể pháp luật thực hiện điều mà pháp luật cho phép. Không mang tính bắt buộc thực hiện và phụ thuộc vào ý chí, sự lựa chọn của từng chủ thể.

– Bản chất: Đây có thể là hành vi hành động hoặc hành vi không hành động tùy vào quy định của pháp luật.

– Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.

– Hình thức thể hiện: Thường được thể hiện dưới những quy phạm trao quyền, tức pháp luật quy định về quyền hạn của các chủ thể.

Ví dụ: Khi bên A cho rằng mình bị xâm quyền và lợi ích hợp pháp bởi bên B. Bên A có quyền khởi kiện B ra tòa án, vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa án có thẩm quyền.

Khi đó, A được xem là đang sử dụng pháp luật.

Sử dụng pháp luật không mang tính bắt buộc, phụ thuộc vào ý chí chủ thể

II. Các hình thức pháp luật

Có 03 hình thức pháp luật phổ biến là:

– Pháp luật tập quán (tập quán pháp)

Là những tập quán được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước

– Án lệ pháp luật (án lệ pháp, tiền lệ pháp)

Là hình thức pháp luật hình thành từ hoạt động xét xử của Toà án. Các bản án sau khi được một Hội đồng Thẩm phán có thẩm quyền thừa nhận, sẽ trở thành khuôn mẫu áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau.

– Văn bản quy phạm pháp luật

Đây là hình thức thủ tục do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trình tự luật định có chứa các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Trình tự này được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cần thiết, cơ bản hoặc quan trọng.