Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt

--- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bếp Lửa
  • Tóm Tắt Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “bếp Lửa” (Bằng Việt)
  • Ý Nghĩa nhan đề bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt được VnDoc sưu tầm và đăng tải. Hình ảnh bếp lửa không chỉ quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam thời xưa, mà còn là biểu tượng của một tình cảm rất đẹp và thiêng liêng – Tình bà cháu gợi lại những kỉ niệm về tuổi thơ sống bên bà. Mời các bạn cùng tham khảo

    Ý Nghĩa nhan đề bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    Bài 1

    Hình ảnh bếp lửa không chỉ quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam thời xưa, mà còn là biểu tượng của một tình cảm rất đẹp và thiêng liêng – Tình bà cháu gợi lại những kỉ niệm về tuổi thơ sống bên bà và suy ngẫm thấu hiểu về cuộc đời bà, lẽ sống giản dị mà cao quý của bà, người cháu gởi niềm nhớ mong về với bà. Hình ảnh người bà gắn liền với bếp lửa và bếp lửa gợi đến ngọn lửa với 1 ý nghĩa trừu tượng và khái quát.

    Bài 2

    Bếp lửa – cái tên mang đề tài của tác phẩm vừa hàm chứa chủ lý tưởng. Hình ảnh bếp lửa không chỉ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về tình cảm bà cháu, về tuổi thơ, bếp lửa còn có tính chất biểu tượng, mang ý nghĩ về cội nguồn, về người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa – ngọn lửa của nghĩa tình, của niềm tin cho các thế hệ nối tiếp và lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của người cháu đối vối bà và cũng là đối với quê hương, đất nước.

    Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    – Sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành Luật tại nước Nga

    – In trong tập “Hương cây – bếp lửa” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    “Năm ấy đói mòn đói mỏi” được nhắc đến là trong thời điểm Nạn đói năm 1945 đã khiến bao người phải chịu cảnh lầm than, phải chết đi. Năm ấy, Bằng Việt mới lên bốn tuổi. Sống trong hoàn cảnh ấy thì làm sao tránh được những cơ cực. Từ ghép “mòn mỏi” được chia tách ra, đan xen với từ đói đã gợi cái cảm giác nạn đói ấy vừa kéo dài và còn làm khô cạn sức người lẫn gia súc.

    Lời nhắc ấy là lời nhắc cháu đã mang theo từ bếp lửa của bà. Ngọn lửa ấy luôn cháy trong lòng cháu. “Chờn vờn”, “ấp iu” nhưng dai dẳng và bền bỉ dù là “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” vẫn không thể nào khiến nó bị lụi tàn hay che khuất.

    Tình bà cháu trong “Bếp lửa” của Bằng Việt là tình cảm thiêng liêng cảm động. Bà dành cho cháu những hi sinh thầm lặng của phần đời mong manh còn lại. Bà là mái ấm chở che, bao bọc tuổi thơ dại khờ, yếu đuối của cháu trước những mất mát, đau thương của cuộc sống. Và người cháu, những năm tháng cháu đi trong đời là những năm tháng cháu nhớ đến bà với lòng tin yêu và biết ơn sâu sắc. Ngọn lửa bà trao cho cháu đứa cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trường tồn, bất diệt.

    Một tác phẩm cũng nói về tình cảm bà cháu trong chương trình THCS là “Tiếng Gà Trưa” của tác giả Xuân Quỳnh.

    Tóm tắt nội dung bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    “Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước. Từ phương trời Tây, người cháu nhớ về bà, nhớ về bếp lửa quê hương trong cảm xúc ngậm ngùi ngày ấy, kẻ thù xâm chiếm, gây cảnh đau thương. Bố mẹ đi kháng chiến, người cháu ở cùng bà. Bà thay bố mẹ chăm sóc và dạy bảo cháu từng ngày. Nhớ nhất là hình ảnh bếp lửa do bà nhóm mỗi ngày. Từ bàn tay bà, bếp lửa đã cháy lên trong mọi hoàn cảnh, cháy lên xuyên suốt những tháng ngày tuổi thơ của người cháu. Bếp lửa là nguồn sưởi ấm, chở che, là nguồn sống, nguồn sẻ chia, trở thành kỷ niệm không bao giờ quên được. Bếp lửa chứa đựng tình bà cháu thiêng liêng, bất diệt. Nay người cháu đã xa bà, xa quê hương nhưng hình ảnh người bà hiền hậu, hình ảnh bếp lửa nồng ấm được thắp lên mỗi sớm mai từ đôi bàn tay bà mãi mãi trở thành kí ức không bao giờ quên.

    Giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa

    Giá trị nội dung:

    “Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp.

    – Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ, 9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.

    – Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành.

    – Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

    Ý nghĩa hình tượng “ngọn lửa”, “bếp lửa” trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    Bằng Việt rất thành công khi xây dựng hình tượng bếp lửa gắn chặt với hình ảnh người bà hiền hậu. Hình ảnh “ngọn lửa”, “bếp lửa” trong bài thơ mang ý nghĩa biểu trưng đặc sắc.

    Trước hết, hình ảnh bếp lửa vốn là hình ảnh thật của bếp lửa mà ngày ngày người bà nhen lửa nấu cơm. Bếp lửa ấy ăn sâu vào đời sống tinh thần của con người, gắn chặt với niềm tin tâm linh vững chắc: sự che chở và phù trợ cuộc sống con người của vị thần lửa.

    Nhưng bếp lửa lại trở thành hình ảnh tượng trưng, gợi lại tất cả những kỷ niệm ấm áp của hai bà cháu. Lửa thành ra ngọn lửa tình yêu, lửa niềm tin, ngọn lửa bất diệt của tình bà cháu, tình quê hương đất nước. Bếp lửa mà người bà ấp iu hay chính là tình yêu thương mà bà nâng niu dành tất cả cho cháu, từ việc dạy cháu làm, chăm cháu học, bảo cháu nghe. Bếp lửa cũng là nơi bà nhóm lên tình cảm, khát vọng cho người cháu. Nhóm lửa do đó cũng vừa có nghĩa thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng.

    Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp. Hình ảnh “bếp lửa”, “ngọn lửa” trải qua bao thời gian, bao biến đổi rồi cuối cùng đi về với lòng người, trở thành sức mạnh tinh thần chiến thắng nghịch cảnh, vươn tới những gì cao đẹp nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bếp Lửa, Ngữ Văn 9, Tập 1
  • Soạn Bài: Bếp Lửa (Siêu Ngắn Gọn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Bếp Lửa
  • Soạn Bài Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bếp Lửa Lớp 9 Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Lớp 9 Của Tác Giả Bằng Việt
  • Nội Dung Đoạn Thơ: Bếp Lửa ( Bằng Việt )
  • Nghị Luận Tác Phẩm Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ ‘bếp Lửa’ Của Bằng Việt
  • – Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng. Ông sinh năm 1941, quê huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

    – Ông bắt đầu ” cầm bút” từ những năm 60 của thế kỉ XX và tập trung khai thác ở hai mảng đề tài chính: cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mĩvẻ đẹp của con người giữa cuộc sống đời thường.

    – Bài thơ ” Bếp lửa ” ra đời năm 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành Luật tại Liên Xô và mới bắt đầu đến với thơ.

    Bếp lửa ” là một hình ảnh độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, nó vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng:

    + Bếp lửa gợi lên sự tảo tần, chăm sóc, yêu thương của người bà dành cho người cháu trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành và khôn lớn.

    + Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin, và hi vọng cho cháu vào một tương lai phía trước.

    + Bếp lửa còn là biểu tượng của gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn… đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Phần một: Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ.

    – Phần hai: Ba khổ tiếp: Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa.

    – Phần ba: Hai khổ tiếp: Suy ngẫm về bà và bếp lửa.

    – Phần bốn: Khổ thơ cuối: Nỗi nhớ về bà và bếp lửa.

    Dòng hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa.

    Để rồi, từ hình ảnh bếp lửa ấy, dòng kỉ niệm niệm về bà thức dậy và được tái hiện:

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    + Gợi đến bàn tay cần mẫn, khéo léo, chính xác của người nhóm lửa.

    + Gợi tấm lòng chi chút của người nhóm ngọn lửa.

    + Gợi bóng dáng của người bà, người mẹ tần tảo, thức khuya dậy sớm chăm sóc cho chồng, cho con.

    + Diễn tả dòng cảm xúc dâng tràn ùa về từ kí ức.

    + Miêu tả bếp lửa với ngọn lửa bốc cao, bập bùng, tỏa sáng, ẩn hiện giữa màn sương sớm.

    + Bếp lửa ấy mờ tỏa, chờn vờn trong kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà của nhà thơ.

    Một cách tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy dòng cảm xúc yêu thương mãnh liệt trong người cháu:

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Bộc lộ sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.

    – Chữ ” thương ” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, diễn tả cảm xúc đến rất tự nhiên và lan tỏa tâm hồn người cháu.

    Đó là kỉ niệm tuổi thơ với những năm tháng gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    + Câu thơ trĩu xuống, khiến lòng người như nao nao, nghẹn ngào khi nghĩ về kí ức tuổi thơ ấy.

    Trong những năm đói khổ ấy, cháu cùng bà nhóm lửa:

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

    – Khói bếp của bà chẳng làm no lòng cháu nhưng đã lưu giữ một kỉ niệm sống mãi không nguôi: mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại ” sống mũi còn cay “.

    Tác giả nhắc đi nhắc lại từ “khói”:mùi khói“, ” khói hun ” gợi một về một thời gian khó đã đi qua.

    – Cảm giác cay cay vì khói bếp và cái cay cay bởi nỗi xúc động của người cháu như hòa quyện, quá khứ và hiện tại như đồng hiện trên những dòng thơ.

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

    – Gợi khoảng thời gian tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, bao bọc của bà.

    – Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

    – Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà.

    – Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về, để báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cành.

    – Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc khoải điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Tiếng tu hú gợi nhớ, gợi thương:

    + Về tám năm kháng chiến chống Pháp ” mẹ cùng cha công tác bận không về ” bà vừa là cha, vừa là mẹ.

    + Về những năm tháng tuổi thơ, về một thời cháu cùng bà nhóm lửa, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà:

    “Cháu ở cùng bà, bà kể cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

    ++ Các từ “bà” – “cháu” được điệp lại bốn lần, đan xen vào nhau như gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương.

    Tình yêu, sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện thật chân thành, sâu sắc qua câu thơ:

    “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    + Gợi hình ảnh chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút khao khát được ấp ủ, che chở.

    + Đứa cháu được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đã chạnh lòng thương con tu hú. Và thương con tu hú bao nhiêu, tác giả lại biết ơn những ngày được bà yêu thương, chăm chút bấy nhiêu.

    Từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc, người bà càng sáng lên những phẩm chất cao đẹp:

    – Trước hiện thực khó khăn, ác liệt ấy, bà vẫn mạnh mẽ, kiên cường không kêu ca, phàn nàn. Điều đó được thể hiện qua lời dặn dò của bà với cháu:

    + Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến.

    Từ những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà, nhận được sự yêu thương, chăm sóc của bà bên bếp lửa quê hương, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.

    Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Và đến đây, tác giả đã dành một khổ thơ để nói lên những suy ngẫm về bếp lửa:

    – Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình, cụ thể, gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà.

    – Từ hình ảnh ” bếp lửa” hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến ” ngọn lửa” vô hình ” lòng bà luôn ủ sẵn” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

    + Bếp lửa bà nhóm lên không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài, mà còn bằng chính ngọn lửa từ trong lòng bà – ngọn lửa của tình yêu thương, niềm tin vô cùng ” dai dẳng “, bền bỉ và bất diệt.

    + Ngọn lửa bền bỉ và dất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính là nhóm niềm vui, niềm tin, niềm yêu thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài.

    + Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa -ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng. Để rồi mỗi khi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

    Cụm từ chỉ thời gianđời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láy tượng hìnhlận đận” và hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời đầy những lận đận, gian nan, vất vả của bà.

    – Thời gian có thể trôi, mọi sự có thể biến đổi, song chỉ duy nhất một sự bất biến: Suốt cả một cuộc đời lận đận, vất vả, bà vẫn ” giữ thói quen dậy sớm ” để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên niềm tin, tình yêu thương cho cháu.

    Bà không chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu ” ấp iu nồng đượm ” đối với con cháu:

    + ” Nhóm bếp lửa”, “nhóm nồi xôi gạo ” là hình ảnh tả thực công việc của bà.

    + ” Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Bà đã khơi dậy trong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ.

    Nỗi nhớ bà và bếp lửa gợi lên từ một thực tại, người cháu năm xưa giờ đã lớn khôn, trưởng thành, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những chân trời rộng lớn:

    – Dòng thơ đầu được ngắt thành hai câu để gợi sự chảy trôi của thời gian (từ bốn tuổi, tám tuổi đến trưởng thành); gợi sự biến đổi của không gian (từ căn bếp của bà đến những khoảng trời rộng lớn).

    + Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời, đã tìm được bao niềm vui mới.

    + Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    – Bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt đã khẳng định, ngợi ca tình cảm bà cháu bình dị, gần gũi mà thiêng liêng.

    – Qua những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và bếp lửa, đã bộc lộ những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Hệ thống hình ảnh vừa chân thực lại vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

    – Cảm xúc mãnh liệt, chân thành và đậm chất triết lí sâu xa.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    … Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ …

    (Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr143)

    a. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

    b. Trong các từ nhóm trên, từ nào được dùng với nghĩa gốc, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhóm trong đoạn thơ.

    c. Nêu hiệu quả nghệ thuật của điệp từ nhóm trong đoạn thơ trên.

    Câu 2. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Câu 3. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Hình Ảnh Người Bà Trong Bếp Lửa
  • Cảm Nhận Về Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Bếp Lửa
  • Nhân Vật Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt Đã Để Lại Cho Em Những Tình Cảm Như Thế Nào? Hãy Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em.
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Tác Giả Bằng Việt
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Bài Thơ “bếp Lửa” Của Bằng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Hay
  • Cảm Nhận Về Tình Bà Cháu Trong Bài Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Cảm Nhận Của Em Về Tình Bà Cháu Và Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “bếp Lửa”
  • Cảm nhận ý nghĩa bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Bằng Việt sinh năm 1941, quê tỉnh Hà Tây. Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ. Thơ Bằng Việt sâu trầm, tinh tế, bình dị dễ làm lay động lòng người. Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963 khi tác giả rời xa quê hương học ngành luật ở Nga. Từ xa tổ quốc, nhà thơ bồi hồi nhớ về những kỉ niệm thời ấu thơ, nhớ về quê hương vẫn còn đang trong cuộc chiến đau thương mất mát. Đặc biệt hình ảnh bế lửa nồng đượm và người bà hiền hậu đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

    Mở đầu bài thơ hiện lên hình ảnh bếp lửa ấm áp trong làn sương lạnh chốn đồng quê:

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ. Đoạn thơ làm hiện hình lên trong tâm trí người đọc hình ảnh bếp lửa quen thuộc, gần gũi của chốn đồng quê Việt Nam bình dị hiền hòa. Một bếp lửa nhỏ lẩn khuất trong sương trong gió nhưng luôn nồng đượm và ấm áp. Trong mái lá nhà tranh, e ấp trong lũy tre làng từng đêm từng ngày bếp lửa tắt rồi lại được nhóm lên.

    Mấy ai là người Việt Nam mà không nhớ đến hình ảnh ấy. Bằng Việt đã lọc bỏ hết mọi yếu tố xung quanh để cho bếp lửa trở thành hình ảnh trung tâm, gây chú ý sâu sắc đối với người đọc. Ánh sáng và hơi ấm dường như tỏa khắp không gian, ấm vào cả lòng người.

    Bếp lửa ấy không yên lặng mà nó luôn vận động. Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn của ngọn lửa trong kí ức. Ngọn lửa hắt hiu, chờn vờn theo gió, ấp iu biết bao nồng đượm, biết bao tình cảm mến yêu của con người. Hai từ láy “ấp iu” gợi nhớ đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chăm chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp hằng ngày.

    Từ đôi bàn tay cằn cỗi bà, ngọn lửa đã cháy lên. Rất tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương vốn đã rất nồng ấm trong tim người cháu: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

    Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị. Đằng sau sự giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà. Ngọn lửa ấy đã trải qua bao nắng mưa gió rét để bùng cháy lên mỗi sớm, mỗi chiều. Ngọn lửa ấy cháy lên cùng với niềm vui, ánh sáng và niềm tin vững chắc vào cuộc sống dù đang còn biết bao gian khổ, nguy nan.

    Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

    Từ hình ảnh bếp lửa trong tâm tưởng, nhà thơ tìm về với kí ức tuổi thơ những ngày sống cùng bà. Nhà thơ nhớ rất rõ từng giai đoạn thời gian bởi nó gắn với những kỉ niệm không thể nào quên. Hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh bếp lửa gắn với người bà. Cụm từ bếp lửa được lặp lại, khắc họa rõ nét và làm hiện hình bếp lửa ấm áp và xa vời trong kí ức, từ hình ảnh bếp lửa bà tư về với quá khứ xa xôi năm 4 tuổi:

    “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”

    Kỉ niệm tuổi thơ bên cạnh bà là cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn. Năm lên bốn tuổi, người cháu đã biết cùng bà nhóm lửa. Đó cũng là kỉ niệm xa xôi nhất trong kí ức mà người cháu còn nhớ được. Năm đó cũng là năm “đói mòn đói mỏi”. Cái đói khủng khiếp, cùng cực hiện rõ trong hình ảnh con ngựa ké xe:

    “Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy”

    Đó chính là năm 1945, năm nạn đói sảy ra trên toàn miền Bắc. Sau khi vừa thoát khỏi chiến tranh, nước ta lại rơi vào những khó khăn, thách thức ghê gớm: nền kinh tế kiệt quệ, thiên tai, hạn hán liên tiếp sảy ra khiến cho công việc sản xuất ngưng trệ, mất mùa liên miên. Toàn miền Bắc rơi vào nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử. Thêm vào đó dịch bệnh bùng phát khắp nơi. Trải qua giai đoạn đen tối đó có tới hơn 2 triệu người chết.

    Quả thật, may mắn cho những ai vượt qua được nạn đói ấy. Cho đến bây giờ, nhớ về thời điểm ấy, tác giả vẫn còn thấy cay cay trong đôi mắt. Cay bởi vì khói bếp. Cay vì bởi thường bà, thương dân tộc phải quần vũ trong con bỉ cực của đời người. Kí ức đau thương ấy, mùi khói quen thuộc ấy cho đến bây giờ như còn vương vấn đâu đây.

    Thời gian đi qua, đủ sức để làm nhạt phai tất cả. Nhưng, những kỉ niệm bên bà nhóm lửa trong suốt tám năm rong không thể nào phai mờ trong kí ức:

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế,

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa” cũng tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng của bà. Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, gian truân, cực nhọc nhưng đầy tình yêu thương. Cách dẫn thời gian dài đằng đẵng gợi lên những tháng năm lầm lụi trong cuộc sống đói nghèo. Bố mẹ đi kháng chiến, tám năm cháu ở cùng bà.

    Tám năm, người bà thay bố thay mẹ chăm sóc, dưỡng nuôi và bảo vệ người cháu trước bao hiểm nguy, trắc trở. Chính bà là người đã dạy dỗ cháu nên người. Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế để nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc. Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên.

    Từng ngày, từng ngày bếp lửa lại được nhóm lên cùng những bài học, những câu chuyện cùng lời nhắc nhở ân cần của bà. Bếp lửa như là dấu hiệu để mở đầu cho mọi hoạt động, dẫn dắt con người đi vào cuộc sống. Mỗi sớm bếp lửa cháy lên mở đầu ngày mới. Mỗi chiều bếp lửa lại cháy lên để khép lại một ngày và mở ra một miền sáng mới ấm áp và thân thương của sự đoàn tụ.

    Mỗi ngày, người cháu chứng kiến bà nhóm lửa. Từ những que củi vô tri, ngọn lửa ấm cháy lên như một phép màu. tưởng như dễ dàng nhưng không phải thế. những ngày mưa gió, củi ướt rơm ẩm, nhóm được bếp lửa quả thật gian nan biết chừng nào. Thế nên người cháu mỗi lần nhóm bếp lửa mà nghĩ về biết bao khó nhọc của bà.

    Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim tu hú được nhắc lại đến bốn lần tạo nên một sự ám ảnh lớn.

    Lần thư nhất, tiếng tu hú văng vẳng trên những cánh đồng xa, hiu hút trong sương mờ, khói xám: “Tu hú kêu trên những cánh đồng xa” Lần thứ hai, nó lặp lại ngay sau đó trong câu hỏi đầy mến yêu: “Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?” . Lần thứ ba, tiếng tu hú thê thiết đi sâu vào nỗi buồn sâu thăm thẳm: “Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”. Lần thứ tư trong lời tha thiết gọi mời của tác giả: Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà. Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    Trong không gian đồng quê tiêu điều, sơ xác, tiếng chim tu hú gợi nên một nỗi buồn bã và sợ hãi khôn cùng. trong bài thơ “Tiếng chim tu hú” của nữ sĩ Anh Thơ cũng gợi tả tiếng chim tu hú gắn liền với hình ảnh cha già, với những kỉ niệm về một thời thiếu nữ hoa niên tươi đẹp, tiếng chim tu hú len lỏi khắp bài thơ như một âm thanh u ẩn, buồn thương và tiếc nuối.

    Trong tâm lí con người, con chim tu hú luôn mang đến cho con người những điều không may mắn. Nó là đại diện của những gì xấu xa, ma quái, đầy chết chóc. Tiếng kêu u uất, đứt quãng, sầu bi của loài chim giấu mặt này luôn khiến cho người ta bất an, lo lắng. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hòa niệm, nhớ mong.

    Phải chăng đó chính là tiếng đồng vọng của đất trời để an ủi, sẻ chia với cuộc đời lam lũ của bà. Có lẽ, lúc ấy tác giả không hề biết điều đó, lắng nghe âm thanh tiếng chim như dấu hiệu duy nhất với niềm tin vào sự đồng cảm trong sự sống đầy khó khăn của mình. Bởi thiên nhiên luôn là bạn, luôn đồng tình và không bao giờ phản bội con người.

    Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò chuyện với bà trong tâm tưởng, cháu trò chuyện với chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. Hình ảnh của bà, hình ảnh của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh mông khiến cả bài thơ nhuốm phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.

    Những năm tháng thơ mộng và bình yên ấy mau chóng đi qua, đọng lại trong nhà thơ là miền kí ức đau thương của quê hương, làng xóm:

    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”.

    Hết đói khát lại đến giặc dã. Kẻ thù hung bạo luôn có ở xung quanh và sẵn sàng tấn công vào cuộc sống bất cứ lúc nào. Quân giặc đến, tất cả bị hủy hoại, bị đốt phá hòng dập tắt sự sống con người; hòng phá tan ước vọng hòa bình và muốn khất phục con người bằng sức mạnh của đạn bom. Tội ác của kẻ thù dã được Hoàng Cần khắc hoạ trong bài thơ Bên kia sông Đuông bằng lớp ngôn từ sắc lạnh, đầy căm phẫn:

    (Bên kia sông Đuống)

    Nhưng không gì có thể tiêu diệt được sức sống của con người. Họ đã không chết, họ đã không đầu hàng, họ vẫn mạnh mẽ vươn lên “dựng lại túp lều tranh” làm lại từ đầu từ đóng tro tàn đổ nát. Họ vẫn tin tưởng vào cách mạnh, tin tưởng vào cuộc chiến, tin tưởng vào tư thế tất thắng của dân tộc. Càng bị áp bức, họ càng vững vàng hơn:

    “Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”.

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực. Hiện thực cuộc sống được phản ánh khốc liệt trong câu thơ có vẻ nhẹ nhàng càng tô đậm thêm đức tính hi sinh của ba. Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh.

    Trên cái nền của sự tàn phá hủy diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ,kiên cường trước hiện thực ác liệt. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh: “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    Không biết điều gì đang sảy ra nhưng chắc chắn người cháu nhận ra một điều đó là bà đang cố nén lại đau thương, tỏ ra bình tĩnh và sáng suốt ngay trong hoàn cảnh điêu đứng nhất. bà đinh ninh dăn dò, lời dặn dò chắc nịch như nén lại niềm căm phẫn trước tội ác của kẻ thù tàn bạo, quyết tâm làm tốt trách nhiệm của người hậu phương luôn hướng về tiền tuyến.

    Người bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

    Hình ảnh của bà gọi nhớ đến người mẹ thành đồng bồng con đánh giặc năm nào:

    “Mẹ là nước chứa chan,

    Trôi giùm con phiền muộn

    Cho đời mãi trong lành

    Mẹ chìm dưới gian nan”.

    (Huyền thoại mẹ – Trịnh Công Sơn)

    Hình ảnh người bà gắn chặt với hình ảnh bếp lửa trong kí ức tuổi thơ của người cháu. Người cháu đã ghi nhớ rất rõ theo từng giai đoạn lịch sử. Đó là năm 4 tuổi, nạn khói khủng khiếp xảy ra, cháu đã cùng bà vượt qua giai đoạn khó khăn ấy. Năm 12 tuổi, 8 năm ròng cùng bà nhóm lên bếp lửa. Bố mẹ đi kháng chiến, người bà đã thay thế, chăm nom và dạy bảo.

    Càng lớn lên, cháu càng thương bà, bởi đã hiểu được những khó khăn vất vả của bà. Năm giặc về đốt làng, tất cả bị hủy diệt. Dù thế bà vẫn giữ im lặng, không làm ảnh hưởng đến chiến đấu, Bà chấp nhận hi sinh tất cả những gì mình có, để cùng dân tộc chống lại kẻ thù. Bếp lửa vẫn cháy xuyên suốt qua những năm tháng cam go, khốc liệt ấy. Hình ảnh bếp lửa dường như biến thành ngọn lửa của tình yêu và ngọn lửa hận thù.

    Đến đây, ý thơ bỗng giãn ra, miên man trong kí ức tuổi thơ tươi đẹp bên cạnh bà và bếp lửa. Giờ đây, bếp lửa và bà tuy hai mà một đã hòa quyện vào nhau thành nguồn sống mạnh mẽ, bất diệt

    “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… “

    Hình ảnh người bà chắt chiu ngọn lửa ấm một lần nữa lặp lại. Giờ đây, bếp lửa không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên từ ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt. Ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu. Và bằng tất cả tình yêu thương, người cháu tiếp nhận ngọn lửa ấy, tiếp tục duy trì và bùng cháy ở ngày mai.

    Đến đây, ngọn lửa từ bếp lửa đã hóa thân thành biểu tượng của sức mạnh tinh thần, ý chí chiến đấu và niềm tin vĩnh hằng vào nguồn cội sinh tồn. Lửa là nguồn sống của vạn vật, của con người. Từ bàn tay bà, ngọn lửa được truyền tơi muôn thế hệ mai sau.

    Bất chợt, nhà thơ trở về với những suy ngẫm riêng tư về người bà và bếp lửa:

    “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

    Bà đã dành cả cuộc đời lận đận của mình để giữ ấm bếp lửa. Mấy chục năm trời việc trở mình dậy sớm nhóm lên bếp mỗi sớm mai đã trở thành thói quen, thành nếp sống. Bà nhóm lên ngọn lửa để làm ra cho cháu những bữa cơm no, những niềm vui ấm áp. Từ bếp lửa của bà, những bữa cơm, bữa cháo cứ đều đặn bất chấp khó khăn. Bếp lửa của bà kết nối xóm làng.

    Nhờ bếp lửa ấy mà người cháu biết cách sống ân nghĩa, thủy chung, biết mở lòng ra với mọi người xung quanh, biết sẻ chia, gắn bó với mọi người xung quanh. một bếp lửa bình thường thôi mà ẩn giấu những điều phi thường. Bởi thế, nhà thơ cảm phục thôt lên:

    “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

    Kì lạ vì bếp lửa ấy đã cháy qua mấy mươi năm, bất chấp ngày mưa, ngày nắng, bất chấp giong bão, bất chấp sự hủy hoại của kẻ thù. Mấy mươi năm nó chưa bao giờ đứt đoạn và nó sẽ lại cháy lên rực rỡ hơn, mạnh mẽ hơn đến muôn đời sau.

    Thiêng liêng bởi vì nó gắn chặt với hình ảnh người bà đáng kính trong kí ức tuổi thơ. Nó cùng bà cháu đi qua thời gian. Nó xua tan bóng tối. Nó mang lại sự ấm no và hạnh phúc. Nó duy trì niềm tin tưởng và nguồn sống. Mặc khác trong đời sống tinh thần Việt Nam, bếp lửa gắn liền với thần lửa – vị thần bảo hộ của cuộc sống gia đình vốn rất được con người kính trọng và tôn vinh.

    Giờ đây, khi ở nơi xa tổ quốc kỉ niệm tuổi thơ cúa bồi hồi trong lòng tác giả, thổn thức không ngui. Dù nay đã có muôn ánh lửa nhưng người cháu vẫn không quên ngọn lửa quê hương được nhóm lên từ đôi bàn tay cằn cõi của người bà kính yêu. Kí ức xa xăm vẫn còn in đậm trong nỗi nhớ không thể nào quên”

    “Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…”

    Đã có rất nhiều bài thơ viết về hình ảnh bếp lửa nhưng đến nay không có bài thơ nào vượt qua được bài Bếp lửa của Bằng Việt. Thành công của Bằng Việt là đã khắc họa và hình tượng hóa hình ảnh bếp lửa, nâng nó lên thành một biểu tượng nghệ thuật có sức biểu cảm mạnh mẽ.

    Trong bài thơ có hai hình ảnh nổi bật, gắn bó mật thiết với nhau, vừa tách bạch, vừa nhòe lẫn trong nhau, tỏa sáng bên nhau. Đó là hình ảnh người bà và bếp lửa. Bà nhóm bếp lửa mỗi sáng, mỗi chiều và suốt cả cuộc đời trong từng cảnh ngộ, từ những ngày khó khăn gian khổ đến lúc bình yên.

    Bếp lửa còn là biểu hiện cụ thể và đầy gợi cảm về sự tảo tần, chăm sóc và yêu thương của người bà dành cho cháu con. Bếp lửa là tình bà ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với bao vất vả, cực nhọc đời bà. Ngày ngày bà nhóm bếp lửa là nhóm lên sự sống niềm vui, tình yêu thương, niềm tin, và hi vọng cho cháu con, cho mọi người.

    Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ Bếp lửa biểu hiện một triết lí sâu sắc, đọng lại trong ta biết bao cảm phục. Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằn
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bếp Lửa
  • Giáo Án Tích Hợp Liên Môn Ngữ Văn 9 Bài Bếp Lửa
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 9
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa
  • Đọc Hiểu Văn Bản “bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cảm Thụ Văn Bản Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt, 6 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, T
  • Soạn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Đọc Hiểu Văn Bản “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Nhà thơ Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng), sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    “Bằng Việt là một nhà thơ được bạn đọc biết đến từ phần thơ in chung với Lưu Quang Vũ trong tập Hương cây – Bếp lửa (1968). Nỗi nhớ quê hương đầu tiên thành thơ là dành cho bếp lửa:”Một bếp lửa chờn vờn sương sớm, một bếp lửa ấp iu nồng đượm” gắn với hình ảnh người bà và bên người bà là người cháu. Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuối đời gian khổ khó khăn. Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những kỷ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt nam. Bài thơ biều hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức toả sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời. Mạch triết luận thầm kín được khởi đầu từ Bếp lửa còn được tiếp nối trong nhiều bài thơ khác như Trở lại trái tim mình khi ông coi thủ đô Hà Nội như một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh. Cùng với Thư gửi người bạn xa đất nước, Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim, nhà thơ ghi lại được những trạng thái phong phú của một tâm hồn thanh niên rất mực mến yêu đất nước, con người, nêu bật được một thủ đô hào hoa, thanh lịch, trầm tĩnh và anh hùng. Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diễn đạt những suy tư về những danh nhân văn hoá nhân loại như Béttôven, Pauxtôpxki, Plixetxcaia. Người đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thương nhớ của một người cha ở nơi xa chăm chú theo dõi từng bước đi chập chững của đứa con, trong bài thơ Về Nghệ An thăm con với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức vang xa. Có thể nói với 20 bài thơ trong tập Hương cây – Bếp lửa, Bằng Việt đã khắc hoạ được một triết luận thầm kín của riêng mình. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ trẻ được bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ. Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi nghĩ suy, gây được một cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng. Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lưu lại trong ký ức người đọc” (Từ điển văn học, Sđd).

    2. Tác phẩm:

    – Các tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gương mặt những khoảng trời (thơ, 1973); Đất sau mưa (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời (thơ, 1983); Cát sáng (thơ, 1986); Bếp lửa – khoảng trời (thơ tuyển, 1988), Phía nửa mặt trăng chìm (thơ, 1986); Mozart (truyện danh nhân, 1978); Lọ lem (dịch thơ Eptusenkô); Hãy nói bằng ngôn ngữ của tình yêu (dịch thơ Ritsos).

    – Tác giả đã được nhận: Giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lại trái tim mình; Giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.

    – Bài thơ Bếp lửa được tác giả Bằng Việt sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở nước ngoài.

    Bài thơ gợi lại những kỉ niệm sâu sắc của người cháu về người bà và tuổi ấu thơ được ở cùng bà.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm,… mà có biết bao nghĩa tình, mà sao tha thiết, lắng sâu đến thế! Thì ra, có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, là hiện hình của những tình cảm thiết tha, chân thành, không thể nào quên. Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thương yêu của bà. Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), như chính nhan đề của nó (cũng như nhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà trưa), “Bếp lửa” đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình bà cháu. “Bếp lửa” khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đượm buồn.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    Bài thơ đã bắt đầu như thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai lần như nhắc nhớ, như hơi thổi vào bếp lửa đang “ấp iu”, để nhịp hồi tưởng bắt đầu… Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thương ùa về:

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    (…)

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà “tám năm ròng”… Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày “đói mòn đói mỏi”, những ngày “bố đánh xe khô rạc ngựa gầy”, nhớ “khói hun nhèm mắt”, “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ… Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, “bà bảo cháu nghe”, “dạy cháu làm”, “chăm cháu học”. Nhớ “Năm giặc đốt làng”, cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư để bố yên tâm,… Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như thể vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hướng về bà. Hình ảnh người bà được khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi “cháu cùng bà nhóm lửa”, “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”, “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”, “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm – Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”,…

    Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (12 lần) trong suốt bài thơ. Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc, giãi dầu mưa nắng nhưng bà luôn dành cho cháu tình thương yêu, săn sóc, chở che ấm nồng như bếp lửa. Bà – bếp lửa là hai mà như một, hoà quyện, hun thấm, thiêng liêng. Bếp lửa gợi nhắc hình bóng thân thiết của bà, và nhớ đến bà là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy. Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông thường nữa. Bà nhen lửa là bà nhen lên:

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

    Bà nhóm lửa là bà:

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Từ ngọn lửa được nhen lên từ bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên, truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng lên như những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động rưng rưng, rần rật cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình.

    Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã được tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì “đã mấy chục năm rồi” mà bếp lửa của bà vẫn nồng đượm trong cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu “đến tận bây giờ”.

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…

    Bài thơ Bếp lửa được sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành Luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã ” Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh người bà với bếp lửa ở tận miền kí ức ấu thơ.

    Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thương yêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đư¬ng cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều người biết đến bếp lửa như ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhưng nó đã thành biểu tượng, sẽ còn mãi giá trị “khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam”(1). Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là như vậy.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt
  • Luật Xây Dựng Và Văn Bản Hướng Dẫn Công Trình Xây Dựng
  • Bài 8: Văn Bản: Bạn Đến Chơi Nhà
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7 Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Bếp Lửa – Bằng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • O’henry [Sách Văn Lớp 8
  • Soạn Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • I. Những nét chính về tác giả -tác phẩm

    1. Tác giả

    – Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng. Ông sinh năm 1941, quê huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

    – Ông bắt đầu “cầm bút” từ những năm 60 của thế kỉ XX và tập trung khai thác ở hai mảng đề tài chính: cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mĩvẻ đẹp của con người giữa cuộc sống đời thường.

    – Phong cách sáng tác: Thơ Bằng Việt mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình; ngôn từ điềm đạm; cấu tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.

    2. Tác phẩm

    a. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ “Bếp lửa” ra đời năm 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành Luật tại Liên Xô và mới bắt đầu đến với thơ.

    – Bài thơ in trong tập “Hương cây – Bếp lửa” năm 1968.

    b. Ý nghĩa nhan đề

    “Bếp lửa” là một hình ảnh độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, nó vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng:

    – Trước hết, đây là một bếp lửa thực, quen thuộc, gần gũi trong mỗi gia đình của người Việt. Đồng thời, nó là hình ảnh gắn với kỉ niệm ấu thơ về một người bà cụ thể, có thật của tác giả.

    – Bếp lửa là biểu tượng giàu ý nghĩa:

    + Bếp lửa gợi lên sự tảo tần, chăm sóc, yêu thương của người bà dành cho người cháu trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành và khôn lớn.

    + Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin, và hi vọng cho cháu vào một tương lai phía trước.

    + Bếp lửa còn là biểu tượng của gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn… đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    c. Bố cục: Bốn phần

    – Phần một: Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ.

    – Phần hai: Ba khổ tiếp: Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa.

    – Phần ba: Hai khổ tiếp: Suy ngẫm về bà và bếp lửa.

    – Phần bốn: Khổ thơ cuối: Nỗi nhớ về bà và bếp lửa.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ

    Dòng hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa.

    Để rồi, từ hình ảnh bếp lửa ấy, dòng kỉ niệm niệm về bà thức dậy và được tái hiện:

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

    Hình ảnh bếp lửa tả thực, nhỏ bé, gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình từ bao đời.

    Hình ảnh ẩn dụ “ấp iu nồng đượm”:

    + Gợi đến bàn tay cần mẫn, khéo léo, chính xác của người nhóm lửa.

    + Gợi tấm lòng chi chút của người nhóm ngọn lửa.

    Từ “bếp lửa” được điệp lại hai lần:

    + Gợi bóng dáng của người bà, người mẹ tần tảo, thức khuya dậy sớm chăm sóc cho chồng, cho con.

    + Diễn tả dòng cảm xúc dâng tràn ùa về từ kí ức.

    – Từ láy “chờn vờn”:

    + Miêu tả bếp lửa với ngọn lửa bốc cao, bập bùng, tỏa sáng, ẩn hiện giữa màn sương sớm.

    + Bếp lửa ấy mờ tỏa, chờn vờn trong kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà của nhà thơ.

    Một cách tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy dòng cảm xúc yêu thương mãnh liệt trong người cháu:

    “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    – Bộc lộ sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.

    – Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, diễn tả cảm xúc đến rất tự nhiên và lan tỏa tâm hồn người cháu.

    2. Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa

    a. Những kỉ niệm hồi lên bốn tuổi

    Đó là kỉ niệm tuổi thơ với những năm tháng gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

    – Từ láy “đói mòn đói mỏi”:

    + Miêu tả một hiện thực đau thương trong lịch sử: Năm 1945, do chính sách cai trị hà khắc của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã khiến hơn hai triệu đồng bào ta  chết đói.

    + Câu thơ trĩu xuống, khiến lòng người như nao nao, nghẹn ngào khi nghĩ về kí ức tuổi thơ ấy.

    Hình ảnh “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình khiến người cha phải bươn chải kiếm sống đủ nghề.

    Hình ảnh “đói mòn đói mỏi” và “khô rạc ngựa gầy” là những hình ảnh đậm chất hiện thực, đặc tả được sự xơ xác, tiều tụy của những con người trong cuộc mưu sinh.

    Trong những năm đói khổ ấy, cháu cùng bà nhóm lửa:

    “Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

    – Khói bếp của bà chẳng làm no lòng cháu nhưng đã lưu giữ một kỉ niệm sống mãi không nguôi: mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”.

    Tác giả nhắc đi nhắc lại từ “khói”: “mùi khói”, “khói hun” gợi một sự ám ảnh về một thời gian khó đã đi qua.

    – Cảm giác cay cay vì khói bếp và cái cay cay bởi nỗi xúc động của người cháu như hòa quyện, quá khứ và hiện tại như đồng hiện trên những dòng thơ.

    b. Những kỉ niệm hồi lên tám tuổi:

    Đó là những năm tháng cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà:

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

    – Gợi khoảng thời gian tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, bao bọc của bà.

    – Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

    – Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà.

    Đó là những năm tháng hồn nhiên, trong sáng và vô tư qua hình ảnh tâm tình với chim tu hú:

    “Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Tu hú kêu bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

    – Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về, để báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cành.

    – Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc khoải điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Tiếng tu hú gợi nhớ, gợi thương:

    + Về tám năm kháng chiến chống Pháp “mẹ cùng cha công tác bận không về” bà vừa là cha, vừa là mẹ.

    + Về những năm tháng tuổi thơ, về một thời cháu cùng bà nhóm lửa, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà:

    “Cháu ở cùng bà, bà kể cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

    ++ Các động từ: “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả sâu sắc tấm lòng bao la, sự chăm chút, nâng niu của bà đối với đứa cháu nhỏ.

    ++ Các từ “bà” – “cháu” được điệp lại bốn lần, đan xen vào nhau như gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương.

    Tình yêu, sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện thật chân thành, sâu sắc qua câu thơ:

    “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

    – Hình ảnh con chim tú hú xuất hiện tiếp tục ở cuối khổ thơ với câu hỏi tu từ là một sáng tạo độc đáo của Bằng Việt nhằm diễn tả nỗi lòng da diết của mình khi nhớ về tuổi thơ, về bà:

    “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    + Gợi hình ảnh chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút khao khát được ấp ủ, che chở.

    + Đứa cháu được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đã chạnh lòng thương con tu hú. Và thương con tu hú bao nhiêu, tác giả lại biết ơn những ngày được bà yêu thương, chăm chút bấy nhiêu.

    c. Những kỉ niệm thời bom đạn chiến tranh

    Từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc, người bà càng sáng lên những phẩm chất cao đẹp:

    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”

    – Hình ảnh “cháy tàn cháy rụi” gợi sự tàn phá, hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh.

    – Trước hiện thực khó khăn, ác liệt ấy, bà vẫn mạnh mẽ, kiên cường không kêu ca, phàn nàn. Điều đó được thể hiện qua lời dặn dò của bà với cháu:

    “Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    + Bà đã gồng mình, lặng lẽ gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác.

    + Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến.

    3. Những suy ngẫm về bà và bếp lửa

    Từ những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà, nhận được sự yêu thương, chăm sóc của bà bên bếp lửa quê hương, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.

    a. Những suy ngẫm về hình ảnh bếp lửa

    Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Và đến đây, tác giả đã dành một khổ thơ để nói lên những suy ngẫm về bếp lửa:

     “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

    – Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình, cụ thể, gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà.

    – Từ hình ảnh “bếp lửa” hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến “ngọn lửa” vô hình “lòng bà luôn ủ sẵn” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

    + Bếp lửa bà nhóm lên không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài, mà còn bằng chính ngọn lửa từ trong lòng bà – ngọn lửa của tình yêu thương, niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt.

    + Ngọn lửa bền bỉ và dất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính là nhóm niềm vui, niềm tin, niềm yêu thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài.

    + Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa   -ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Các động từ: “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của những người phụ nữ Việt Nam.

    Điệp ngữ – ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    b. Những suy ngẫm về bà và cuộc đời bà

    Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng. Để rồi mỗi khi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

    “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

    Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láy tượng hình “lận đận” và hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời đầy những lận đận, gian nan, vất vả của bà.

    – Thời gian có thể trôi, mọi sự có thể biến đổi, song chỉ duy nhất một sự bất biến: Suốt cả một cuộc đời lận đận, vất vả, bà vẫn “giữ thói quen dậy sớm” để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên niềm tin, tình yêu thương cho cháu.

    Bà không chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” đối với con cháu:

    “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

    Điệp từ “nhóm” được nhắc lại bốn lần, đan kết với những chi tiết tả thực mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng khác nhau:

    + “Nhóm bếp lửa”, “nhóm nồi xôi gạo” là hình ảnh tả thực công việc của bà.

    + “Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Bà đã khơi dậy trong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ.

    4. Nỗi nhớ bà và bếp lửa

    Nỗi nhớ bà và bếp lửa gợi lên từ một thực tại, người cháu năm xưa giờ đã lớn khôn, trưởng thành, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những chân trời rộng lớn:

    “Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

    – Dòng thơ đầu được ngắt thành hai câu để gợi sự chảy trôi của thời gian (từ bốn tuổi, tám tuổi đến trưởng thành); gợi sự biến đổi của không gian (từ căn bếp của bà đến những khoảng trời rộng lớn).

    Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ.

    Điệp từ “có” kết hợp với thủ pháp liệt kê:

    + Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời, đã tìm được bao niềm vui mới.

    + Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng,  kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    – Bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt đã khẳng định, ngợi ca tình cảm bà cháu bình dị, gần gũi mà thiêng liêng.

    – Qua những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và bếp lửa, đã bộc lộ những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    2. Nghệ thuật

    – Hệ thống hình ảnh vừa chân thực lại vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

    – Cảm xúc mãnh liệt, chân thành và đậm chất triết lí sâu xa.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    … Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ …

    (Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr143)

    a. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

    b. Trong các từ nhóm trên, từ nào được dùng với nghĩa gốc, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhóm trong đoạn thơ.

    c. Nêu hiệu quả nghệ thuật của điệp từ nhóm trong đoạn thơ trên.

    Câu 2. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Câu 3. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Làm chủ kiến thức Ngữ văn – Luyện thi vào 10

    Tác giả: Phạm Trung Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Soạn Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Dễ Hiểu
  • Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ Dễ Hiểu Nhất
  • Soạn Bài: Làng – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Văn Bản Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Văn Bản “bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Câu Chuyện Về Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt Kể Lại Câu Chuyện
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Kỉ Niệm Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • 6 Bài Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Câu Chuyện Bếp Lửa Hay Nhất
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bếp Lửa Bằng Việt
  • Hồi ức về bếp lửa đã làm bớt đi cái lạnh lẽo của mùa đông xa quê. Nơi đó năm xưa bà vẫn tảo tần hôm sớm. Dáng bà còng lưng thổi bếp, thổi mãi cho đến khi bếp cháy và tỏa ra hơi ấm nồng nàn, hơi ấm của lửa tỏa ra khắp căn bếp nhỏ ấm tâm hồn của hai bà cháu

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

    Hình ảnh bếp lửa đã gợi lên tâm trí tôi, quá khứ hiện về như một cuộn phim quay chậm. Tuổi thơ được sống bên bà, cùng bà nhóm lửa. Lên bốn tuổi tôi đã quen mùi khói. Năm 1945, năm ấy nạn đói khủng khiếp xảy ra do chính sách cai trị của Pháp nên gia đình tôi đói mòn đói mỏi. Bố tôi đi đánh xe, khô rạc ngựa rầy. Bà đi đào những củ khoai, củ sắn rồi nướng cho tôi ăn. Mỗi khi đi đào khoai đào sắn cứ về nhà là chân tay bà lại lấm len bùn đất, tôi nhìn bà mà thương cho bà.

    Tám năm ròng sống cùng bà, tôi cùng bà nhóm lửa, nghe bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy tôi làm, bà chăm tôi học. Bà là người thầy đầu tiên trong cuộc đời tôi.

    Tuổi thơ tôi đã phải sống trong chiến tranh đầy bom đạn dữ dội. Năm ấy giặc đốt làng, làng xóm đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh. Bà dặn tôi gửi thư cho bố không được kể lung tung cứ bảo nhà vẫn được bình yên để cho bố mẹ yên tâm mà công tác.

    Hình ảnh bà tôi tần tảo sớm chiều cùng bếp lửa, mái tóc bà bạc phơ, lưng bà đã còng đi. Bếp lửa do tay bà nhóm lên tỏa hơi ấm khắp căn lều nhỏ, sưởi ấm cả lòng tôi. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm niềm vui, bà không những là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin, sự sống cho tôi.

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa?…”

    Giờ đây tôi đã trưởng thành, có những niềm vui mới, tình cảm mới, bến bờ mới nhưng tôi không thể nào quên bà ngồi bên bếp lửa thổi những ngọn lử niềm tin, ngọn lửa ấm áp. Dù có đi đâu về đâu con người ta vẫn nhớ về kỉ niệm thơ ấu của mình.

    Tôi nhớ bà quá! Bây giờ tôi chỉ ước được về ngày bên bà, ôm chặt bà. Cùng bà nhóm lửa lên mỗi sớm chiều, nghe bà kể lại chuyện những ngày ở Huế. Cùng bà ngồi ăn những củ khoai, củ sắn nóng hổi bên bếp lửa. Tình yêu thương, lòng biết ơn trong gia đình chính là cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước, con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bình Luận Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt.
  • Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “bếp Lửa”
  • Cảm Nhận Của Em Về Tình Bà Cháu Và Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Văn Bản “Bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Phạm Tiến Duật)
  • Bài Văn: Biểu Cảm Về Loài Cây Em Yêu: Cây Phượng
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Loài Cây Em Yêu
  • Cảm Nghĩ Về Người Thân (Ông, Bà, Cha, Mẹ, Anh, Chị, Bạn, Thầy, Cô…)
  • Hồi ức về bếp lửa đã làm bớt đi cái lạnh lẽo của mùa đông xa quê. Nơi đó năm xưa bà vẫn tảo tần hôm sớm. Dáng bà còng lưng thổi bếp, thổi mãi cho đến khi bếp cháy và tỏa ra hơi ấm nồng nàn, hơi ấm của lửa tỏa ra khắp căn bếp nhỏ ấm tâm hồn của hai bà cháu

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

    Hình ảnh bếp lửa đã gợi lên tâm trí tôi, quá khứ hiện về như một cuộn phim quay chậm. Tuổi thơ được sống bên bà, cùng bà nhóm lửa. Lên bốn tuổi tôi đã quen mùi khói. Năm 1945, năm ấy nạn đói khủng khiếp xảy ra do chính sách cai trị của Pháp nên gia đình tôi đói mòn đói mỏi. Bố tôi đi đánh xe, khô rạc ngựa rầy. Bà đi đào những củ khoai, củ sắn rồi nướng cho tôi ăn. Mỗi khi đi đào khoai đào sắn cứ về nhà là chân tay bà lại lấm len bùn đất, tôi nhìn bà mà thương cho bà.

    Tám năm ròng sống cùng bà, tôi cùng bà nhóm lửa, nghe bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy tôi làm, bà chăm tôi học. Bà là người thầy đầu tiên trong cuộc đời tôi.

    Tuổi thơ tôi đã phải sống trong chiến tranh đầy bom đạn dữ dội. Năm ấy giặc đốt làng, làng xóm đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh. Bà dặn tôi gửi thư cho bố không được kể lung tung cứ bảo nhà vẫn được bình yên để cho bố mẹ yên tâm mà công tác.

    Hình ảnh bà tôi tần tảo sớm chiều cùng bếp lửa, mái tóc bà bạc phơ, lưng bà đã còng đi. Bếp lửa do tay bà nhóm lên tỏa hơi ấm khắp căn lều nhỏ, sưởi ấm cả lòng tôi. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm niềm vui, bà không những là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin, sự sống cho tôi.

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa?…”

    Giờ đây tôi đã trưởng thành, có những niềm vui mới, tình cảm mới, bến bờ mới nhưng tôi không thể nào quên bà ngồi bên bếp lửa thổi những ngọn lử niềm tin, ngọn lửa ấm áp. Dù có đi đâu về đâu con người ta vẫn nhớ về kỉ niệm thơ ấu của mình.

    Tôi nhớ bà quá! Bây giờ tôi chỉ ước được về ngày bên bà, ôm chặt bà. Cùng bà nhóm lửa lên mỗi sớm chiều, nghe bà kể lại chuyện những ngày ở Huế. Cùng bà ngồi ăn những củ khoai, củ sắn nóng hổi bên bếp lửa. Tình yêu thương, lòng biết ơn trong gia đình chính là cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước, con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài: Bếp Lửa – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Đáp Án Môn El07
  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Liên Quan Đến Lĩnh Vực Bất Động Sản
  • Bộ Xây Dựng Trả Lời
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “bếp Lửa” (Bằng Việt)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Bếp Lửa Bằng Việt
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 9
  • Giáo Án Tích Hợp Liên Môn Ngữ Văn 9 Bài Bếp Lửa
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bếp Lửa
    • Văn bản: “Bếp lửa” của Bằng Việt

      • I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:
        • 1. Tác giả: Bằng Việt
        • 2. Tác phẩm:
      • II. Đọc – hiểu văn bản:
        • 1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.
        • 2. Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà.
        • 3. Những suy ngẫm của người cháu về bà và hình ảnh bếp lửa:
        • 4. Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết.
      • Câu hỏi ôn tập:
      • Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Văn bản: “Bếp lửa” của Bằng Việt

    I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Bằng Việt

    2. Tác phẩm:

    – Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp bà.

    – Bố cục bài thơ đi theo mạch cảm xúc: hồi tưởng → hiện tại, kỉ niệm → suy ngẫm. Lựa chọn bố cục như thế là thích hợp với việc khắc hoạ kỉ niệm tuổi thơ. Bố cục đó còn cho thấy hình ảnh của bà khắc sâu vào tâm khảm của người cháu, thành chỗ dựa tinh thần để người cháu trưởng thành

    + Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

    + Ba khổ thơ tiếp: ( Tiếp…đến…”niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà.

    + Khổ tiếp: ( Tiếp…đến…”bếp lửa!”): Suy ngẫm của người cháu về bà, về hình ảnh bếp lửa.

    + Khổ cuối: Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết.

    c. Nội dung:Bài thơ “bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

    – Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh”bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”,thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    + Từ láy”chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn của ngọn lửa trong kí ức.

    + Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Rất tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị. Đằng sau sự giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.

    – Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

    2. Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà.

    * Bốn khổ thơ tương ứng với ba kỉ niệm của khoảng thời thơ ấu của nhà thơ sống bên bà. Đó là những kỉ niệm bên bếp lửa và bên người bà kính yêu. Đoạn thơ thấm thía bởi sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự với trữ tình.

    a. Kỉ niệm tuổi thơ bên cạnh bà là cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn:

    – Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Hơn hai triệu người dân Việt Nam chết đói vì chính sách cai trị dã man của giặc Nhật, giặc Pháp. Người sống thì “dật dờ như những bóng ma”. Cái đói cơ hồ đã ám ảnh trong văn chương Việt Nam một thời, đói đến nỗi phải ăn đất sét (trong văn Ngô Tất Tố), những trăn trở về miếng ăn luôn dằn vặt trang viết của Nam Cao… Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”.

    – Hình ảnh “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” cũng phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình tác giả trong cái khốn khó chung của những người lao động.

    – “Đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy”- những chi tiết thơ đậm chất hiện thực đã tái hiện lại hình ảnh xóm làng xơ xác,tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh. Không trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những câu thơ chân thực đến thế!

    – Ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi khói bếp của bà – mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”. Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi và cái cay bởi xúc động của người cháu đã trưởng thành khi nhớ về bà hòa quyện.Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có sức ám ảnh, làm lay động cả thế chất và tâm hồn cháu.

    b. Nhớ về những kỉ niệm là nhớ về bếp lửa, nhớ về tình bà trong suốt tám năm bên bà:

    – “Tám năm ròng cháu sống cùng bà” – tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng của bà. Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

    – Kháng chiến bùng nổ, “Mẹ cùng cha công tác bận không về”,bà vừa là cha, lại vừa là mẹ: “bà bảo cháu nghe – Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Chính bà là người đã nuôi dưỡng, dạy dỗ cháu nên người. Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế để nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc. Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên.

    – Một loạt các từ ngữ “bà bảo”,”bà dạy”,”bà chăm” vừa diễn tả một cách sâu sắc tình thương bao la, sự chăm chút hết mình của người bà dành cho cháu, vừa thể hiện được lòng biết ơn của cháu đối với bà. Tình yêu và kính trọng bà của tác giả được thể hiện thật chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

    – Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về:

    – Đoạn thơ khiến ta chạnh nhớ về “tiếng chim tu hú” của nữ sĩ Anh Thơ: tiếng chim tu hú gắn liền với hình ảnh cha già với những kỉ niệm về một thời thiếu nữ hoa niên, tiếng chim tu hú len lỏi khắp bài thơ như một âm thanh u ẩn, không buồn mà tiếc. Còn ở đây, tiếng chim tu hú bước vào thơ Bằng Việt như một chi tiết để gợi nhắc nhà thơ về những kỉ niệm ấu thơ được sống bên bà.

    – Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam mỗi độ hè về, báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cây. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hòa niệm, nhớ mong. Phải chăng đó chính là tiếng đồng vọng của đất trời để an ủi, sẻ chia với cuộc đời lam lũ của bà? Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà – Kêu chi hòa trên những cánh đồng xa” mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao! Nó diễn tả nỗi lòng da diết của tác giả khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà.

    – Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò chuyện với bà trong tâm tưởng, cháu trò chuyện với chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. Hình ảnh của bà, hình ảnh của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh mông khiến cả bài thơ nhuốm phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.

    c. Hình ảnh người bà tảo tần, gian nan trong hoài niệm của người cháu:

    – Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá hủy diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu.Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trước hiện thực ác liệt.Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

    d. Hình ảnh người bà và những kỷ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa:

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”

    – Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

    – Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể ở câu trên, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà. Như thế, bếp lửa không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên từ ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt. Ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu.

    – Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian:”rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí,bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến. Điệp ngữ – ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.

    – Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    3. Những suy ngẫm của người cháu về bà và hình ảnh bếp lửa:

    Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa:

    – Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, nhòe lẫn, tỏa sáng bên nhau.

    – Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “Mấy chục năm”, từ láy tượng hình “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa”. Hình ảnh thơ diễn tả cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh, chịu thương,chịu khó của bà. Tình thương yêu tác giả dành cho bà được thể hiện trong từng câu chữ. Tình cảm ấy giản dị, chân thành mà thật sâu nặng thiết tha.

    – Suốt cuộc đời, bà luôn chăm chút cho cháu cả về vật chất và tinh thần để cháu lớn lên. Bà là người nhóm lửa, cũng là người luôn giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong gia đình.

    – Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng liêng, cao quý nhất của con người. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm lên:

    – Nhờ ngọn lửa thiêng liêng mà bà lòng bà luôn “ủ”, “nhen”, và “giữ” ấy, cháu biết cách sống ân nghĩa, thủy chung, biết mở lòng ra với mọi người xung quanh, biết sẻ chia, gắn bó với xóm làng. Người cháu yêu bà, nhờ hiểu bà mà thêm hiểu, thêm yêu dân tộc mình, nhân dân mình.

    – Hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

    4. Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết.

    – Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ. Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến những chân trời cao rộng có ” khói trăm tàu”,”lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả”.

    – Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau. Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời.

    Câu hỏi 2: Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu lại nhớ đến bà, và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa? Hình ảnh ấy mang ý nghĩa gì trong bài thơ này?

    – Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

    III. Tổng kết:

    1. Nội dung:

    Câu hỏi 3: Vì sao ở hai câu dưới tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa”? Ngọn lửa ở đây có ý nghĩa gì? Em hiểu những câu thơ trên như thế nào?

    “Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    2. Nghệ thuật:

    Câu hỏi 4: Cảm nhận của em về tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ. Tình cảm ấy được gắn liền với những tình cảm nào khác.

    – Quê hương (Tế Hanh)

    – Làng (Kim Lân)

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Câu hỏi 5: Hãy nêu nhận xét về hình ảnh tượng trưng của hình tượng “bếp lửa”

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngảCâu hỏi 6: Phân tích giá trị nghệ thuật của điệp từ “nhóm” trong khổ thơ sau: “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương khoa sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

    “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?” Tu hú kêu trên những cánh đồng xa”

    Nhưng vẫn chẳng lức nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…” “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Câu hỏi ôn tập:

    – Trong hồi tưởng của người cháu biết bao kỷ niệm thân thương đã được gợi lại:

    – Năm lên bốn tuổi là năm đói kém, nhọc nhằn (1945). Nạn đói năm ấy đã trở thành bóng đen ghê rợn ám ảnh cháu.

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,Theo chúng tôi

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…”

    – Tám năm ở cùng bà khi che mẹ bận công tác, bà dạy cháu học, dạy cháu làm, bà kể chuyện cháu nghe, chia sẻ với cháu nỗi vắng mẹ, cặm cụi nhóm lửa, nuôi nấng cháu.

    – Năm giặc đốt làng, đốt nhà, bà vẫn vững lòng dặn cháu giữ kín chuyện để bố mẹ yên tâm công tác, bà vẫn sớm chiều nhen nhóm ngọn lửa ủ ấm lòng cháu. Kỷ niệm nào về bà cũng thấm đậm yêu thương.

    – Bài thơ đan xen giữa kể là những đoạn tả sinh động, tả cảnh bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, tả cảnh đói mòn đói mỏi, cảnh làng cháy, đặc biệt là hình ảnh cặm cụi, tần tảo sớm hôm của bà… Lời kể và tả chứa chan tình yêu thương, lòng yêu ơn của người cháu nơi xa đối với bà.

    – Hình ảnh bếp lửa có suốt trong những vần thơ của bài thơ. Hình ảnh bếp lửa được nhắc tới 10 lần.

    – Vì hình ảnh bếp lửa đã trở thành biểu tượng do hằng ngày bà luôn nhóm lửa nấu vào mỗi sáng. Bà là người đã thắp sáng tình cảm, tình yêu thương khi nhóm bếp lửa lên, tác giả đã dựa vào đó để gửi gắm tình cảm cảm xúc của mình là tình cảm thiêng liêng giữa bà và cháu.

    – Bếp lửa là biểu hiện cụ thể và đầy gợi cảm về sự tảo tân, chăm sóc và tình yêu thương của bà dành cho cháu và những người thân. Bếp lửa là tình bà ấm áp, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với những gian khó đời bà. Ngày ngày bà nhóm bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu va mọi người.

    – Ở hai câu dưới, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa”. Vì nói đến “bếp lửa” là nói đến một vật hữu hình, cụ thể của mỗi gia đình. Còn hình ảnh “ngọn lửa” mang ý nghĩa khái quát, rộng lớn hơn.

    – Mỗi lần nhóm bếp lửa, ngọn lửa cháy sáng lên mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, yêu thương, niềm tin, tình yêu của bà với kháng chiến, với Đảng. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – truyền cho cháu những kỉ niệm ấm lòng, những niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng. Đây là lời yêu thương tha thiết của người cháu nơi xa đối với bà:

    – Tình cảm ấy vượt qua chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian, neo đậu mãi trong trái tim cháu. Tuổi thơ của cháu đã đi qua theo năm tháng, khoảng cách giữa bà và cháu cũng đã xa vời vợi nhưng cháu chẳng lúc nào quên nhắc nhở về bà. Tình yêu, lòng biết ơn của cháu đối với người bà cũng chính là lòng biết ơn đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Hình ảnh bếp lửa vốn là hình ảnh thật của bếp lửa mà ngày ngày người bà nhen lửa nấu cơm. Nhưng bếp lửa lại trở thành hình ảnh tượng trưng, gợi lại tất cả những kỉ niệm ấm áp của hai bà cháu. Lửa thành ra ngọn lửa tình yêu, lửa niềm tin, ngọn lửa bất diệt của tình bà cháu, tình quê hương đất nước.

    – Bếp lửa mà người bà ấp iu hay chính là tình yêu thương mà bà nâng niu dành tất cả cho cháu, từ việc dạy cháu làm, chăm cháu học, bảo cháu nghe. Bếp lửa cũng là nơi bà nhóm lên tình cảm, khát vọng cho người cháu. Nhóm lửa do đó cũng vừa có nghĩa thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng.

    – Điệp từ “nhóm” được nhắc lại 4 lần làm toả sáng hơn nét “kì lạ” và thiêng liêng bếp lửa. Bếp lửa của tình bà đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng liêng, kì lạ. Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều ý nghĩa: Từ bếp lửa của bà những gì được nhóm lên, khơi lên:

    Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 1960 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ Bằng Việt, cảm xúc tinh tế, có giọng điệu tâm tĩnh trầm lắng, giàu suy tư, triết luận. Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ xuất sắc của ông, được sán tác năm 1963, khi là sinh viên khoa pháp lí trường Đại học tổng hợp Ki-ép. Qua hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương đất nước.

    Có người nói người ta có thể tách con người ra khỉ quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người Thật vậy. Dù đi đâu, ở đâu, ai cũng nhớ về quê hương, nhớ về những kỉ niệm đã từng làm ấm lòng người, là điểm tựa tinh thần để vươn lên nghịch cảnh.

    Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng của người cháu về người bà và bếp lửa quê hương. Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà; cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà.

    Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong quá khứ như dòng sông, bến đò, cây đa… Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa:

    Ba tiếng “một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điêụ sâu lắng, hình ảnh quen thuộc trong mọi gia đình. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh của “chờn vờn sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”. Từ “ấp iu” vừa diễn tả công việc nhóm bếp, vừa gợi ra bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng của người nhóm bếp. Các chữ “ấp iu”, “nồng đượm”, “chờn vờn” rất hình tượng, gợi tả; Ấp iu: là một sáng tạo từ mới mẻ. Đó là sự kết hợp và biến thế của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu”. Bếp lửa ấm áp “nồng đượm” ấy còn mang tình thương chở che, ôm ấp, “ấp iu” của lòng bà.

    Hình ảnh bếp lửa, rất tự nhiên đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, người nhóm lửa, người nhóm bếp mỗi sớm mai – một hình ảnh xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn lay động:

    Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua “biết mấy nắng mưa”, nghèo khổ và vất vả. Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bếp lửa mà trong lòng đứa cháu đi xa trào dâng một cảm xúc thương bà mãnh liệt. Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, làm cho cảm xúc lan toả, thấm sâu vào hồn người.

    Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên). Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức, con ngựa gầy rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… Giọng thơ trĩu xuống, nao nao lòng người đọc. Tuy nhiên cái đói chỉ là cái cớ để nhà thơ nhớ về một tuổi thơ cay cực, thiếu thốn trăm bề:

    Ấn tượng nhất là mùi khói bếp. Lên bốn tuổi, mùi khói trở thành mùi của cuộc sống cơ cực, mùi của quê hương đói nghèo. Múi khói bếp làm hiện hình kí ức đau thương: “Khói hun nhèm mắt cháu. Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”. Hai câu thơ có giá trị biểu cảm cao. Hinh ảnh tả thực: khói nhiều cay, khét vì củi ướt vì sương nhiều và lạnh và vừa là hình ảnh tượng trưng: sự xúc động- nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương bà. Cảm xúc quá khứ hoà lẫn hiện tại và chắc hẳn cảm xúc quá khứ phải sâu sắc lắm mới có thể trỗi dậy mạnh mẽ thế. Cho dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai. Qua đó, nhà thơ khẳng định, tuổi thơ dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu thốn nghĩa tình.

    Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình lại nhớ về tiếng chim tu hú trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ – những kỉ niệm đầy ắp âm thanh, ánh sáng và những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương được nhắc tới trong đoạn thơ thứ ba.

    Tiếng chim tu hú là tiếng chim quen thuộc của đồng quê mỗi độ vào hè. Tiếng chim râm ran trong vườn lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài. Trong hiện thực đã tha thiết, tiếng chim trong nỗi nhớ như giục giã, khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong: “tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”. Nhà thơ đang kể chuyện về bà mà như tách hẳn ra để trò chuyện trực tiếp với bà: “bà còn nhớ không bà…?”

    Âm điệu tha thiết của câu thơ còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ, côi cút, vời vợi nhớ thương của hai bà cháu:

    Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu, vậy mà bây giờ cháu cũng đi xa, để bà một mình khó nhọc.Tiếng chim tu hú giờ đây trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ để gợi nhớ gợi thương. Cháu thương bà vất vả, lo toan, biết ngỏ cùng ai, chỉ có thể tâm tình với chim tu hú mà thôi. Như vậy, bếp lửa đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó lung linh hình ảnh người bà và có cả hình ảnh quê hương.

    Đặc biệt, hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nên cao lớn, vĩ đại khi Bằng Việt nhớ về những năm tháng đau thương, vất vả, giặc tàn phá xóm làng – hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. “Mẹ và cha công tác bận không về”, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan. Bên bếp lửa: “bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”, “bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”, bà dặn cháu đinh ninh:

    Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn. Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà – bà nội, bà ngoại – đã thay thế vai trò của người mẹ hiền. Sống trong những năm dài chiến tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng trước mọi tai hoạ, thử thách. Các từ ngữ như “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ. Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4 lần gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương. Được sống trong tình thương là hạnh phúc.

    Người cháu trong bài thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà. Vì thế cháu mới cảm thấy một cách thiết tha nồng hậu: “nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

    Tóm lại, làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự. Đây cũng là nét bút pháp quen thuộc của nhà thơ. Chính sự kết hợp nhuần nhị độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà thật gần gũi, những mảng kí ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thành, giản dị.

    Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu trở về hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời và lẽ sống của bà và cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn. Hình ảnh bà luôn gắn liền vời hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Có thể nói bà là “người nhóm lửa”, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và toả sáng trong mỗi gia đình.

    Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”:

    “Bếp lửa bà nhen sớm sớm chiều chiều” không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài mà đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt. Ngọn lửa là những kỉ niệm lòng, niêm tìn thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu. Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến.

    Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào. Tình thương, đức hi sinh, tính kiên trì nhẫn nại của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng lên ngọn lửa vĩnh cửu truyền cảm ấy. Như thế, hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Tám câu thơ tiếp theo là những suy nghĩ sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà kính yêu, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình. Cảnh nghèo nên bà suốt đời vất vả. Từ “lận đận” thể hiện tấm lòng đôn hậu và đức hi sinh của bà:

    Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà, đã trải qua nắng mưa “mấy chục năm rồi”. Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc, mà là bằng tất cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” của bà đối với con cháu. Điệp từ “nhóm” được nhắc đi nhắc lại 4 lần trong 4 câu thơ đan kết với những chi tiết rất thực… có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh buốt của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình yêu thương vô hạn của bà.

    Lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới mùa gặt là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy cả tâm tình tuổi nhỏ. Tình cảm của bà bao la giản dị như khoai sắn và cũng đậm đà như khoai sắn.Các từ ngữ “ấp iu nồng đượm”, “yêu thương”, “ngọt bùi”, “chung vui” thể hiện sự tinh luyện của một ngòi bút nghệ thuật, đã diễn tả thật hay tình thương, niềm vui, sự no ấm, hạnh phúc mà bà đã mang lại cho con cháu. Bà đã “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ, những khát vọng của đàn cháu nhỏ.

    Bếp lửa bà nhen đã nhóm lên ngọn lửa của tình thương ấm áp. Chính vì thế mà nhà thơ đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng: “ÔI! Kì lạ và thiêng liêng – Bếp lửa”. Như vậy, từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra cả một “niềm tin dai dẳng” về ngày mai, cháu hiểu được linh hồn của một dân tộc vất vả, gian lao mà tình nghĩa.

    Đứa cháu năm xưa giờ đã trưởng thành. Từ phương xa vọng ngóng về quê hương trong nõi nhớ và niềm tin mạnh mẽ:

    Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với những điều mới mẻ. Cháu đã được sống với những niềm vui rộng mở, nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, ngọn lửa trăm nhà, cháu vẫn không thể quên bếp lửa của bà, vẫn không nguôi nhớ thương bà…. Mỗi ngày đều tự hỏi: “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?, mỗi ngày đều nhớ về bà và bếp lửa của bà. Hình ảnh ấy đã trở thành kỉ niệm thiêng liêng làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên những bước đường đời.

    Bài thơ Bếp lửa chứa đựng một ý nghĩa triết lí thầm kín: những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình đài rộng của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương, và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Bếp Lửa
  • Tóm Tắt Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Bếp Lửa
  • Sơ Đồ Tư Duy Bếp Lửa
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bài Cảm Thụ Văn Bản Bếp Lửa Của Bằng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt, 6 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, T
  • Soạn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Đọc Hiểu Văn Bản “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Bản Biểu Cảm
  • Trường THCS Tô Hoàng

    Cảm thụ văn bản “Bếp lửa” của bằng việt

    Hệ thống câu hỏi Định hướng trả lời

    Câu 1: Em hãy đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ “Bếp lửa”.

    Câu 2:Hãy nêu cảm nhận của em về khổ thơ đầu của bài.

    Câu 3: Hãy phân tích khổ thơ: “Nhóm bếp lửa…. thiêng liêng bếp lửa” để thấy được đặc sắc nghệ thuật và cảm nghĩ của cháu về bà.

    1.Yêu cầu:

    Năm khổ thơ đầu đọc với giọng thiết tha, chậm rãi, sâu lắng thể hiện được nỗi nhớ và tình cảm của cháu về bà.

    Các câu thơ còn lại đọc nhanh hơn,tha thiết hơn.

    2.Định hướng:

    Hình ảnh bếp lửa gần gũi thân thương ấm áp và quen thuộc với làng quê Việt nam đồng thời gợi lại những tình cảm về bà cháu.

    Hình ảnh bếp lửa vừa là hình ảnh quen thuộc,động tác nhóm bếp của bà đồng thời vừa gợi sự nâng niu trân trọng của tác giả.

    3.Định hướng:

    Từ “nhóm”được điệp 5 lần

    Từ “nhóm” mang hai nghĩa:

    + Nghĩa đen:nhóm bếp, nhóm lửa.

    + Nghĩa bóng: khơi dậy tình cảm đối với bếp lửa, kỉ niệm của cháu về người bà thương yêu.

    Bếp lửa tay bà nhóm lên mỗi buổi sớm mai khơi dậy tình cảm gia đình, gợi lại tình cảm của tuổi ấu thơ, nhóm niềm yêu thương sưởi ấm cho cháu, nhóm dậy cả tuổi thơ của cháu, ngọn lửa ấy gợi lại cả tình yêu thiêng liêng.

    Câu thơ:”Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa” cho thấy tình yêu thiêng liêng nhất chính là bếp lửa,bếp lửa chính là quê hương, gắn với bà, bếp lửa và bà chính là quê hương của cháu. Chính vì vậy mà dù hiện tại đang sống ở xa quê hương với cuộc sống hiện đại nhưng tấm lòng của cháu luôn hướng về bà, hướng về bếp lửa thân quen, hướng về những kỉ niệm ấu thơcực nhọc mà êm ảđược ấp iu trong vòng tay của bà bởi bà chính là quê hương, nhớ về bà là nhớ về quê hương.

    Câu 4:Hãy nêu nhận xét của em về ý nghĩa tượng trưng của hình tượng bếp lửa.

    Câu5:Em có nhận xét như thế nào về mạch kể của bài thơ? Kể như vậy có tác dụng như thế nào?

    4. Định hướng:

    Hình ảnh bếp lửa là hình ảnh của bếp lửa mà ngày ngày người bà nhen lửa nấu cơm. Nhưng bếp lửa lại trở thành hình ảnh tượng trưng, gợi lại tất cả tình cảm ấm áp của hai bà cháu. Lửa thành ra ngọn lửa tình yêu, lửa niềm tin, ngọn lửa bất diệt của

    tình bà cháu,tình quê hương đất nước.Bếp lửa mà người bà ấp iu hay chính là tình yêu thương mà bà nâng niu dành tất cả cho cháu, từ việc dạy cháu làm, chăm cháu học, bảo cháu nghe. Bếp lửa cũng là nơi bà nhóm lên tình cảm, khát vọng cho người cháu. Nhóm lửa do đó cũng vừa có ý nghĩa thực vừa có ý nghĩa tượng trưng.

    5. Định hướng:

    Các sự việc được kể tiếp nối thành một chuỗi, tạo thành mạch chuyện trong bài thơ.Tác giả kể không nhiều nhưng khá rành rọt. Nhớ từng thời điểm rõ ràng từng quãng thời gian, từng cảnh ngộ gia đình trongnhững biến động chung của cuộc đời, của đất nước: “Lên bốn tuổi”, ” Tám năm ròng”, “Năm giặc đốt làng”, “Mấy chục nẳm rồi, đến tận bây giờ”….

    Lần theo những mốc thời gian ấy, các sự kiện được kể cứ tiếp nối tạo thành một cốt truyện cho cuộc trò truyện trong tâm tưởng với bà

    * Lưu ý : Với các câu hỏi trên giáo viên tổ chức cho học sinh viết các đoạn văn cảm thụ ( T- P – H, Diễn dịch, Qui nạp) và các kiểu câu dã học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản “bếp Lửa”
  • Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt
  • Luật Xây Dựng Và Văn Bản Hướng Dẫn Công Trình Xây Dựng
  • Bài 8: Văn Bản: Bạn Đến Chơi Nhà
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến
  • Bài Giảng Ngữ Văn 9 Tiết 56: Văn Bản Bếp Lửa (Bằng Việt)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 9
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ “bếp Lửa” Của Bằng Việt
  • Kiểm Tra Kiến Thức Lớp 9 (Văn Bản: ” Đồng Chí” Và ” Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”)
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • ? Em hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Bằng Việt?

    – Bằng Việt ( 1941)- Quê:Hà Tây.

    – Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.

    – Trải qua nhiều công việc : làm báo, đi chiến trường, biên tập, dịch thơ – truyện. Giữ các chức vụ quan trọng: Tổng thư kí hội văn học Hà Nội, uỷ viên BCH hội nhà văn Việt Nam, hiện là chủ tịch hội Liên hiệp văn học Hà Nội.

    Chµo mõng c¸c thµy c" gi¸ovÒ dù giê héi gi¶ng KiÓm tra bµi cò:Hai khổ thơ đầu của bài "Đoàn thuyền đánh cá" diễn tả điều gì ?A. Cảnh hoàng hôn trên biển cả.B. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên bãi biểnC. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơiD. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở vềEm hãy phân tích cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về ?BÕp löaTiÕt 56:V¨n b¶n:( B"ng ViÖt)BÕp löaI/ Tìm hiểu tác giả - tác phẩm:1. Tác giả:- Bằng Việt ( 1941)- Quê:Hà Tây.- Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.- Trải qua nhiều công việc : làm báo, đi chiến trường, biên tập, dịch thơ - truyện. Giữ các chức vụ quan trọng: Tổng thư kí hội văn học Hà Nội, uỷ viên BCH hội nhà văn Việt Nam, hiện là chủ tịch hội Liên hiệp văn học Hà Nội.? Em hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Bằng Việt?I/ Giới thiệu tác giả - tác phẩm:2. Tác phẩm:Bài thơ Bếp Lửa sáng tác 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập "Hương cây- Bếp lửa" (1968), Tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.Em hãy nêu hoàn cảnh ra đời và thời gian sáng tác bài thơ này?-Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm và mơ ước tuổi trẻ nên gần gũi với bạn đọc trẻ nhất là trong nhà trường.II. Đọc - Hiểu văn bản1. Đọc và tìm hiểu chú thích:Cách đọc :Đọc với giọng tình cảm chậm rãi và lắng đọng.Giải thích từ:Đinh ninh: nhắc lại cho người khác nắm chắc, nhớ chắc.Chiến khu: vùng căn cứ của lực lượng cách mạng hay lực lượng kháng chiến.Ấp iu: là sự kết hợp của 2 từ ấp ủ và nâng niu.TiÕt 56:V¨n b¶n:BÕp löa( B"ng ViÖt)+Khổ 1. Bếp lửa khơi nguồn kỉ niệm.+ Năm khổ tiếp: Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bàvà hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.+ Khổ 6. Suy nghĩ về bà và cuộc đời bà.+ Khổ cuối: Nỗi niềm thương nhớ bà của người cháu xa quê.II. Đọc hiểu văn bản2. Bố cục và thể loại.- Thể thơ: Tám chữ- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả.- Bố cục văn bản? Văn bản có thể chia làm mấy phần?II. Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu.? Em hãy khái quát ý nghĩa của ba câu thơ đầu ? Ba câu thơ đầu khơi nguồn dòng hồi tưởng của người cháu.3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu. ? Hình ảnh bếp lửa được hình dung trong trí nhớ của tác giả như thế nào ? II. Đọc - Hiểu văn bản(Khơi nguồn cảm xúc của cháu.)Một bếp lửa chờn vờn sương sớm.Một bếp lửa ấp iu nồng đượmNhững câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? BÕp löa( B"ng ViÖt)TiÕt 56:V¨n b¶n:I/ §äc, hiÓu chó thÝch:II/ §äc - hiÓu v¨n b¶n: 3.Phân tích. a. Khổ thơ đầuMét bÕp löa s­¬ng símMét bÕp löa nång ®­îmCh¸u th­¬ng bµTõ l¸y "chên vên" Gîi bµn tay kiªn nhÉn, khÐo lÐo cña ng­êi nhãm löaGîi tÊm lßng chi chót cña bµ dµnh cho con ch¸uGîi bÕp löa thùc bËp bïng trong s­¬ng símGîi c¸i mê nhoÌ cña bÕp löa trong kØ niÖmÊp iuchên vênÊp iubiÕt mÊy n¾ng m­achên vênÊp iubiÕt mÊy n¾ng m­aH×nh ¶nh Èn dô " biÕt mÊy n¾ng m­a"Gîi vÎ ®Ñp tÇn t¶o, chÞu th­¬ng chÞu khã cña bµNg­êi ch¸u th­¬ng bµ v" h¹n? Hình ảnh " Biết mấy nắng mưa" hay ở chỗ nào?" Biết mấy nắng mưa" là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả, lo toan của bà.Từ hình ảnh bếp lửa, liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa- đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở chúng tôi Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích: 3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu.Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cung chính từ đó, sức ấm và ánh sáng của bếp lửa cũng như của tình bà cháu cứ lan toả toàn bài thơII. Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích:b.Những khổ thơ tiếp theoII. Đọc - Hiểu văn bảnTrong dòng hồi tưởng của cháu, những kỉ niệm nào về bà và tình bà cháu được gợi lại ? Đó là những kỉ niệm hồi cháu lên 4 tuổi và những năm giặc càn quét.(Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà )? Ấn tượng sâu đậm trong lòng cháu hồi 4 tuổi là gì?* Năm cháu 4 tuổi.Năm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy3. Phân tích:? Hình ảnh nào? Chi tiết nào ám ảnh mãi trong tâm trí tác giả đến bây giờ nghĩ lại vẫn vô cùng xúc động?II. Đọc - Hiểu văn bảnĐói mòn đói mỏiGợi những năm gian khổ(trong k/c chống Pháp)- Cái đói kéo dài , làm mỏi mệt và kiệt sức mọi người. (Thành ngữ) Sâu đậm nhất trong kỉ niệm của cháu vẫn là mùi khói bếp. "khói hun nhèm mắt cháu"Khói nhiều, cay, khét vì củi ướt, vì sương nhiều và lạnh. Hình ảnh bếp lửa, ngọn khói,mùi khói cùng hình ảnh bà hiện ra trong nỗi nhớ thương ngậm ngùi của người cháu.II. Đọc - Hiểu văn bảnT¸m n¨m rßng ch¸u cïng bµ nhãm löaTu hó kªu trªn nh÷ng c¸nh ®ång xaKhi tu hó kªu, bµ cßn nhí kh"ng bµBµ hay kÓ chuyÖn nh÷ng ngµy ë HuÕTiÕng tu hó sao mµ tha thiÕt thÕ!MÑ cïng cha c"ng t¸c bËn kh"ng vÒCh¸u ë cïng bµ, bµ b¶o ch¸u ngheBµ d¹y ch¸u lµm, bµ ch¨m ch¸u häc.Nhãm bÕp löa nghÜ th­¬ng bµ khã nhäc,Tu hó ¬i! Ch¼ng ®Õn ë cïng bµKªu chi hoµi trªn nh÷ng c¸nh ®ång xa?* Trong tám năm ròngTrong hồi tưởng của cháu , Kỉ niệm nào khác nữa về bà được nhắc tới ?Tiếng chim tu hú vang vọng trên những cánh đồng chúng tôi Đọc - Hiểu văn bảnTiếng chim tu hú? Vì sao tiếng tu hú ám ảnh tâm trí người cháu đến thế?Tiếng tu hú là âm thanh quen thuộc ở đồng quê, người xa nhà nhớ quê là nhớ tiếng tu hú.Nhắc tới kỉ niệm trong tám năm này, tác giả còn nhắc tới những điều gì nữa về bà ?Tám năm đó, cháu ở cùng bà. Bà bảo cháu nghe, bà dậy cháu làm, bà chăm cháu họcbên ánh lửa hồng mà bà chăm chút.? Theo em,có nỗi niềm nào của người cháu vang vọng trong lời thơ: Tiếng tu hú báo mùa hè, râm ran trong vòm lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong thực tế đã da diết, trong nỗi nhớ lại càng da diết hơn...!Thể hiện nỗi nhớ quê, nhớ bà và đặc biệt là tình thương bà vô hạn của cháu.Yếu tố biểu cảm thật đậm nét .Bà sớm hôm chăm chút cho cháu.Với những dòng thơ tự sự nhưng chân tình và sâu sắc,đã tô đậm hình bà trong lòng người cháu xa quê !"Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa ?" Em có nhận xét gì về tác dụng của yếu tố biểu cảm và tự sự trong đoạn thơ này ?Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm bốn bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp nều tranhVẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:"Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, Cứ bảo ở nhà vẫn được bình yên ! "Rôi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhenMột ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵnMột ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng...* Trong những năm giặc càn.Trong thời gian này, hồi tưởng của cháu về bà và bếp lửa như thế nào ?? Đoạn thơ sử dụng lời dẫn. Đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?hãy chỉ ra lời dẫn đó?Đó là lời dẫn trực tiếp.? Đoạn thơ dẫn trực tiếp lời dặn cháu của bà nhằm mục đích gì? Không chỉ giúp ta hình dung rõ giọng nói, suy nghĩ, tình cảm của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất người bà - người mẹ Việt Nam yêu nước đầy lòng hy sinh.Đoạn thơ còn sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ? Điệp ngữ : " Một ngọn lửa"Vì sao ở đây tác giả lại dùng từ "ngọn lửa" mà không nhắc lại "bếp lửa" ? Ngọn lửa ở đây có ý nghĩa gì ?Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể tĩnh tại, tương đối khách quan. Theo mạch cảm xúc chuyển thành ngọn lửa trừu tượng hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Đó là ngọn lửa của tấm lòng ấm áp của tình yêu thương, ngọn lửa của niềm tin dai dẳng và bền chặt vào cuộc kháng chiến. Đến đây bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà cò là người truyền lửa - Ngọn lửa của niềm tin.Lận đận đời bà biết mấy nắng mưaMấy chục năm rồi, đến tận bây giờBà vẫn giữ thói quen dậy sớmNhóm bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vuiNhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏÔi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa!II. Đọc - Hiểu văn bảnC. Khổ 6(Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà).? Đoạn thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ?Sử dụng điệp ngữ.- Biết mấy nắng mưa- NhómHình ảnh bà như hiện lên càng đậm nét hơn trong cháuBà lận đậnQua nắng mưa Giữ thói quen dậy sớm.? Hình ảnh bếp lửa được bà nhóm lên trong đoạn này là gì ?Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương , khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xôi gạo mới sể chung vuiNhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.Em hãy nêu ý nghĩa của các hình ảnh trên ?Bà nhóm "nồi xôi gạo mới" là nhóm lên tình yêu thương san sẻ cho bà con xóm giềng thân thuộc."Nhóm tâm tình tuổi nhỏ" là nhóm lên vẻ đẹp tâm hồn, thắp sáng ước mơ cho cháu.Bà nhóm "niềm yêu thương khoai sắn" là nhóm lên tình yêu thương chi chút dành cho con cháu? Vì sao tác giả đi tới khẳng định ngợi ca: "Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !"?Vì bếp lửa giản dị bình thường phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam nhung bếp lửa cũng thật cao quý kỳ diệu và thiêng liêng vì nó gắn liền với bà - người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa, người tạo lên tuổi thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.Thảo luân .Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu nhớ đến bà, và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa ?Trong bài thơ có hai hình ảnh nổi bật, gắn bó mật thiết và trở đi trở lại nhiều lần, đó là bà và bếp lửa. Trong dòng hồi tưởng của cháu hai hình ảnh ấy luôn gắn bó.Vì bà luôn là người nhóm lên bếp lửa mỗi sáng, mỗi chiều và suốt cả cuộc đời bà, trong mọi cảnh ngộ, từ những ngày gian khó đến những lúc yên vui.Bếp lửa là biểu hiện đầy gợi cảm về sự tảo tần ,chăm sóc, yêu tương maà bà dành cho cháu.Bếp lửa là tình bà ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lủa gắn với cuộc đời bà,gắn với tình yêu thương chi chút bà dành cho con cháu và mọi người.Suy nghĩ về bà và cuộc đời bàBà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa.Hình ảnh bếp lửaHình ảnh quen thuộcKhơi nguồn cảm hứng Nhớ về bà và tình cảm của 2 bà cháuHồi tưởng kỷ niệm bên bàKN năm 4 tuổi,những năm đói khổ rồi những năm k/c của đất nước.Cháu ở xa không nguôi nhớ bàNội dung bài học.Qua tìm hiểu nội dung bài học em hãy nêu mạch cảm xúc của bài thơMạch cảm xúc của bài thơ :Hướng dẫn về nhàHọc thuộc lòng bài thơ.Nắm được cấu trúc của bài theo dòng hồi tương của tác giả.Soạn tiếp phần còn lại và xem trước bài thơ " Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ"để chuẩn bị cho tiết chúng tôi chân thành cảm ơnThầy cô và các em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngữ Văn 9 Văn Bản Bếp Lửa Bai 11 Bep Lua Nhung Ppt
  • 2 Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bai Thuyet Trinh Van Hoc Bep Lua Bang Viet
  • Phân Tích Bài Thơ ‘bếp Lửa’ Của Bằng Việt
  • Nghị Luận Tác Phẩm Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100