Top 11 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Nghị Quyết 58 Đối Với Thanh Hóa Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Athena4me.com

Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị: Thời Cơ, Vận Hội Mới Đến Với Thanh Hoá

(TTV) – Với sự quan tâm đặc biệt mà Đảng, Nhà nước dành cho Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa, ngày 5/8/2020, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 58 “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là dấu mốc lịch sử, có ý nghĩa hết sức quan trọng, mở ra cho Thanh Hóa thời cơ, vận hội mới rất nổi trội và khác biệt để phát triển nhanh và bền vững, trở thành một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh trở thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc.

Thanh Hóa là một địa phương có “rừng vàng, biển bạc”, giàu truyền thống văn hiến và con người cần cù, chịu khó, trong quá trình xây dựng và phát triển, tỉnh Thanh Hoá luôn đặt ra câu hỏi là làm thế nào để phát triển ngang tầm với các tỉnh lớn trong cả nước. Bằng sự quyết tâm cao của các thế hệ lãnh đạo, với sự đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, Thanh Hóa đã dần tìm được hướng đi cho mình để trở thành tỉnh đứng đầu các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo, dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế, tỉnh Thanh Hoá cũng nhận thấy rằng: Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, phụ thuộc nhiều vào tăng các yếu tố đầu vào, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Các lĩnh vực phát triển nhanh nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

Từ lời căn dặn của Bác Hồ trong lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa vào ngày 20/2/1947: “Tỉnh Thanh theo tôi, muốn trở thành một tỉnh kiểu mẫu, nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ còn thiếu sự điều khiển sắp đặt”, tỉnh Thanh Hoá thấy rằng, ngoài sự nỗ lực của cấp uỷ Đảng, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh, rất cần có sự định hướng, cơ chế, chính sách phù hợp. Và Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị được coi là đáp án chuẩn nhất cho sự “điều khiển, sắp đặt” đó.

Đây là một nghị quyết toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó mục tiêu đến năm 2030: Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp giá trị gia tăng cao; dịch vụ logistics.

Nghị quyết 58 cũng đặt ra mục tiêu đưa du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa thể thao của Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước, nhắm xây dựng Thanh Hoá thành một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; nơi người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước, các giá trị di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn, phát huy; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; các tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nghị Quyết 58 thực sự là kim chỉ nam, định hướng và dẫn dắt Thanh Hoá phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước và hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng. Và ngày 31/8, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ sẽ tổ chức Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị nhằm chuyển tải các nội dung quan trọng của Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, từ đó để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững các nội dung trong Nghị quyết; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, quyết tâm đưa Thanh Hoá phát triển thành tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước vào năm 2045./.

Ủy Ban Mttq Tỉnh Thanh Hóa Quán Triệt, Phổ Biến Nghị Quyết Số 58

Ngày 22 – 9, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến Nghị quyết số 58 – NQ/TW, ngày 5 – 8 – 2020 của Bộ Chính trị “về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và tập huấn nghiệp vụ công tác mặt trận năm 2020.

Lãnh đạo Ủy ban MTTQ tỉnh đã tập trung làm rõ sự cần thiết, cơ sở ban hành Nghị quyết, tình hình và nguyên nhân; quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu trong Nghị quyết số 58 – NQ/TW của Bộ Chính trị. Đồng thời quán triệt những nội dung chủ yếu trong Kế hoạch hành động của Tỉnh ủy, của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh và của cấp ủy cùng cấp thực hiện Nghị quyết số 58 – NQ/TW của Bộ Chính trị.

Trong Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 58 – NQ/TW, Ủy ban MTTQ tỉnh tập trung vào 5 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm: Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; thống nhất ý chí và hành động, sớm đưa Nghị quyết số 58 vào cuộc sống.

Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của Nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đã xác định.

Phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội; nâng cao vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại Nhân dân, tăng cường tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tốt đẹp về vùng đất và con người xứ Thanh với bạn bè trong nước và quốc tế; tuyên truyền, vận động đồng bào Thanh Hóa đang sinh sống và làm việc ở tỉnh ngoài, nước ngoài hướng về xây dựng quê hương, đất nước.

Tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam các cấp và Ban công tác mặt trận ở khu dân cư, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tại hội nghị, các đại biểu còn được tập huấn những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam; hướng dẫn thực hiện Điều lệ MTTQ Việt Nam khóa IX và triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm công tác quý 4 năm 2020 và năm 2021.

Phan Nga

Một Số Ý Kiến Góp Ý Đối Với Nghị Quyết 01/2003/Nq

NGUYỄN NHƯ BÍCH – Nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Theo quy định tại Điều 2 và Điều 17 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật. Trong những năm vừa qua Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, lao động… giúp cho Tòa án nhân dân các cấp áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử; do đó, chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp không ngừng được nâng cao.

Tuy nhiên, việc hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng còn có trường hợp chưa được kịp thời khi có đạo luật mới được ban hành hoặc được sửa đổi, bổ sung; hoặc có trường hợp chưa chính xác theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu một số ý kiến góp ý đối với Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Một là: Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành thay thế cho Bộ luật dân sự năm 1995 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, nhưng cho đến nay vẫn có hai Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình được ban hành từ trước năm 2005 đang được TAND các cấp áp dụng (đó là các Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 và số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004),mặc dù tại hai Nghị quyết này các điều luật được hướng dẫn áp dụng hoặc được viện dẫn đều là các điều luật của Bộ luật dân sự năm 1995.

Sở dĩ có tình trạng này là vì nội dung hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại hai Nghị quyết nêu trên không trái với các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự năm 2005 và vẫn có hiệu lực thi hành (vì Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chưa ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ đối với hai Nghị quyết nêu trên và hai Nghị quyết nêu trên cũng không bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền – như quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008).

Tuy nhiên, việc Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực đã gần 9 năm mà Hội đồng Thẩm phán TAND vẫn chưa ban hành các Nghị quyết mới về hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho hai Nghị quyết nêu trên là không phù hợp với các quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005; cụ thể là:

– Theo quy định tại điểm a và điểm b Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 thì ” Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực và đang được thực hiện, nếu có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005; nếu có nội dung và hình thức khác với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 hoặc giao dịch đã được thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết”.

Như vậy, đối với các giao dịch dân sự được xác lập sau ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực (tức là sau ngày 01/01/2006) mà có tranh chấp xảy ra, thì về nguyên tắc, không thể áp dụng các văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết.

– Theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 thì Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới… cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

Như vậy, lẽ ra Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao phải sớm ban hành các Nghị quyết mới về hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để thay thế cho hai Nghị quyết nêu trên, hoặc ban hành Nghị quyết mới sửa đổi, bổ sung đối với hai Nghị quyết nêu trên cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 (cho dù chỉ là sửa đổi các điều luật của Bộ luật dân sự năm 1995, mà hai Nghị quyết nêu trên viện dẫn, thành các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự năm 2005).

Hai là: Về giải quyết hậu quả của hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu, tại điểm c.1 tiểu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có hướng dẫn về việc xác định thiệt hại như sau: “… Trong trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở không có đặt cọc và các bên không có thỏa thuận khác về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại quy định tại điều 379 Bộ luật dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng, thì thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giữa giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có”.

Mặc dù trong trường hợp này Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không hướng dẫn cụ thể là nếu thiệt hại không bao gồm khoản tiền chênh lệch giữa giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất… thì hậu quả c a hợp đồng vô hiệu được giải quyết như thế nào; nhưng căn cứ theo suy luận logic từ nội dung của hướng dẫn nêu trên, phải hiểu và chỉ có thể hiểu là: trong trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở và các bên có thỏa thuận khác về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 379 Bộ luật dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng, thìcác bên phải thực hiện đúng theo các điều khoản về đặt cọc, về phạt vi phạm hợp đồng và về bồi thường thiệt hại… mà các bên đã thỏa thuận. Và như vậy thì nội dung hướng dẫn nêu trên của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không đúng với quy định của Bộ luật dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; bởi vì:

– Theo quy định tại khoản 1 điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập (và tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật dân sự năm 1995 cũng quy định “g iao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập”) và hệ quả tất yếu của quy định này là: nếu giao dịch dân sự vô hiệu thì mọi điều khoản do các bên thỏa thuận đều vô hiệu ngay từ thời điểm giao dịch được xác lập.

– Trong khi đó, theo hướng dẫn nêu trên của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì mặc dù hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu nhưng một số điều khoản (về đặt cọc, về phạt vi phạm hợp đồng và về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng) mà các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng, lại vẫn có hiệu lực và vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

(Tương tự như hướng dẫn nêu trên, tại điểm c.3 tiểu mục 2.3 mục 3 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng có hướng dẫn về xác định thiệt hại của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu không đúng theo quy định của Bộ luật dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu).

Để thực hiện đúng một trong các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật (như quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008), theo chúng tôi, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới về hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thay thế cho hai Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 và số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, hoặc ban hành Nghị quyết mới sửa đổi, bổ sung đối với hai Nghị quyết này cho phù hợp quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Thanh Hóa Cho Ý Kiến Vào Kế Hoạch Nghiên Cứu, Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị

Ngày 27-8, dưới sự chủ trì của đồng chí Trịnh Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy để cho ý kiến vào Kế hoạch nghiên cứu, học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 58 – NQ/TW ngày 5-8-2020 của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và nhiều nội dung quan trọng khác.

Dự hội nghị có các đồng chí: Đỗ Trọng Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh; Nguyễn Đình Xứng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đại diện các Ban của Trung ương Đảng; các đồng chí Phó Chủ tịch HĐND, UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành cấp tỉnh.

Với sự quan tâm đặc biệt mà Đảng, Nhà nước dành cho Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa, ngày 5-8-2020, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 58-NQ/TW “Về xây dựng và phảt triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là dấu mốc lịch sử, có ý nghĩa rất quan trọng, mở ra cho Thanh Hóa thời cơ, vận hội mới rất nổi trội và khác biệt để phát triển nhanh và bền vững, trở thành một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh trở thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc. Để Nghị quyết thấm sâu, lan tỏa và nhanh chóng đi vào cuộc sống, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và ban hành Kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện với mục đích yêu cầu làm cho toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh nắm được đầy đủ sự cần thiết, cơ sở ban hành Nghị quyết; nắm vững các nội dung, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong Nghị quyết; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong Đảng bộ và toàn xã hội, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị… Sau hội nghị, phải tiến hành viết thu hoạch cá nhân và đưa vào nội dung thi đua, đánh giá, xếp loại cuối năm. Các cấp ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch học tập, quán triệt, tuyên truyền và kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết một cách thiết thực, hiệu quả, phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của cấp mình…

Phát biểu kết luận, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh thống nhất với nội dung đã được trình bày trong kế hoạch và đề nghị tiếp thu ý kiến góp ý của các đồng chí Thường trực, Thường vụ Tỉnh ủy cho ý kiến và hoàn chỉnh để ban hành.

Phát biểu kết luận, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Trịnh Văn Chiến đã cho ý kiến cụ thể vào từng phần trong dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 và đề nghị Tiểu ban nội dung hoàn chỉnh để làm cơ sở báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị.

Cũng tại hội nghị, các đồng chí Thường trực, Thường vụ Tỉnh ủy nghe và cho ý kiến vào quy hoạch Khu đô thị Đông Nam, TP Thanh Hóa. Theo đó, Khu quy hoạch đô thị Đông Nam, TP Thanh Hóa có tổng diện tích 1.500 ha trên địa bàn các xã, phường thuộc TP Thanh Hóa gồm: Phường Quảng Thành, xã Quảng Đông, xã Quảng Cát, xã Quảng Phú, xã Quảng Minh, xã Quảng Tâm (TP Thanh Hóa) và một phần xã Quảng Định (huyện Quảng Xương). Trên cơ sở quy hoạch chi tiết 1/2000 khu đô thị Đông Nam, TP Thanh Hóa được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 974/QĐ-UBND ngày 9-4-2012, căn cứ Kết luận 42 – KL/TU ngày 26-9-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Công ty CP Tập đoàn Mặt trời (Tập đoàn SunGroup) đã nghiên cứu phương án điều chỉnh quy hoạch theo ý tưởng phát triển không gian, cảnh quan đô thị theo hướng Công viên Sunfields là cộng đồng Smart Health mới tại Thanh Hóa.

Cũng tại hội nghị, các đồng chí Thường trực, Thường vụ Tỉnh ủy đã cho ý kiến vào Đề án sáp nhập Trường Trung cấp Phát thanh – Truyền hình, trường Trung cấp nghề Xây dựng vào trường Cao đẳng Công nghiệp Thanh Hóa và đổi tên thành trường Cao đẳng Công nghiệp, Xây dựng và Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa; Đề án sáp nhập Trường Cao đẳng nghề Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vào Trường Cao đẳng Nông lâm và đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông nghiệp Thanh Hóa; báo cáo đề nghị giữ nguyên trạng, không thực hiện sáp nhập 2 cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Thanh Hóa; báo cáo đề nghị giữ nguyên trạng, không thực hiện sáp nhập Trung tâm Bảo trợ xã hội và Trung tâm Chăm sóc, phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa; Quy chế phối hợp công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư giữa Ban Nội chính Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh ủy; Kế hoạch tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025.