Top 16 # Xem Nhiều Nhất Xử Lý Quyết Định Hành Chính Trái Pháp Luật / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Xử Lý Văn Bản Hành Chính Trái Pháp Luật / 2023

Xử Lý Văn Bản Hành Chính Trái Pháp Luật, Quyết Định Hành Chính Trái Pháp Luật, Báo Cáo Giải Trình Thi Hành Pháp Luật Về Xứ Lý Vi Phạm Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Ban Hành Của Chính Phủ, Quy Phạm Và Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính, Đơn Yêu Cầu Hủy Kết Hôn Trái Pháp Luật, Xử Lý Văn Bản Trái Pháp Luật, 5600 Văn Bản Trái Pháp Luật, Dự Thảo Xử Lý Văn Bản Trái Pháp Luật, Quyết Định Trái Pháp Luật, Thủ Tục Hủy Bỏ Kết Quả Đăng Ký Thường Trú Trái Pháp Luật, Biểu Tình Trái Pháp Luật, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Quyết Định Hủy Thông Tư Trái Pháp Luật, Văn Bản Hướng Dẫn Tội Bắt Giữ Hoặc Giam Người Trái Pháp Luật, Xử Lý Tình Huống Vi Phạm Hành Chính Giết Mổ Gia Súc Trái Phép, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Nghị Định Kiểm Tra Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm , Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Số 80/2015/qh13, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2015, Dự Thảo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Tìm Hiểu Về Cưỡng Chế Hành Chính Và Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 1996, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Là Gì, Thủ Tục Hành Chính Bộ Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Sở Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Cấp Xã, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp, Văn Bản Hành Chính Bất Hợp Pháp, Văn Bản Pháp Luật Ban Hành, Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành, Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tờ Trình Về Dự án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Cấp Huyện, Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Lĩnh Vực Tư Pháp, Bộ Luật Dân Sự Pháp Hiện Hành, Báo Cáo Sơ Kết 3 Năm Thi Hành Luật Tố Tụng Hành Chính 2015, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Tăng Cường Quản Lý, Giáo Dục Chấp Hành Kỷ Luật; Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Vi Phạm Pháp Luật Và Vi Phạm K, Tăng Cường Quản Lý, Giáo Dục Chấp Hành Kỷ Luật; Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Vi Phạm Pháp Luật Và Vi Phạm K, Bài Tham Luận Về Quản Lý Rèn Luyện Kỷ Luật , Chấp Hành Pháp Luật Trong Quân Đội, Nghị Định Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Nghị Định 34 Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Hoạt Động Thi Hành Pháp Luật, Chỉ Thị 103/ct-bqp Chấp Hành Nghiêm Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Kế Toán Hiện Hành, Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính (luật Số 15/2012/qh13), Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Điều 1 Pháp Lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Điều 8 Pháp Lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Điều 6 Pháp Lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Mẫu Biểu Pháp Lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Điều 3 Pháp Lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Giám Định Tư Pháp, Báo Cáo Tình Hình Thi Hành Pháp Luật Năm 2019, Nghị Định Số 59 Theo Dõi Thi Hành Pháp Luật, Tờ Trình Của Chính Phủ Về Dự án Luật Tố Tụng Hành Chính, Dự Thảo Luật Sửa Đổi Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Văn Bản Pháp Luật Bộ Tài Chính, Văn Bản Pháp Luật Chính Phủ, Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Bất Hợp Pháp, Điều 3 Pháp Lệnh Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Đề án Đổi Mới Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Phải Chính Xác, Chính Sách Pháp Luật Là Gì, Chính Sách Pháp Luật Mới, Pháp Luật Kinh Tế Tài Chính 3, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Mẫu Số 5 Bảng Tổng Hợp Số Liệu áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính, Căn Cứ Xác Định Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Việt Nam, Quy Trình Ban Hành Luật, Pháp Lệnh Lý Luận Và Thực Tiễn, Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Và Biện Pháp Thi Hành Luật Khiếu Nại, Lịch Sử Các Học Thuyết Chính Trị Và Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Lịch Sử Các Học Thuyết Về Chính Trị Pháp Luật, Bộ Luật Dân Sự Pháp (1993), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Hệ Thống Pháp Luật Điều Chỉnh, Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Nghị Quyết Bãi Bỏ Nghị Quyết Trái Pháp Luật, Chi Thi 15 Ngay 7/7/2007 Cua Bo Chinh Tri Doi Voi Cong Tac Bao Ve Phap Luat, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen,

Xử Lý Văn Bản Hành Chính Trái Pháp Luật, Quyết Định Hành Chính Trái Pháp Luật, Báo Cáo Giải Trình Thi Hành Pháp Luật Về Xứ Lý Vi Phạm Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Ban Hành Của Chính Phủ, Quy Phạm Và Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính, Đơn Yêu Cầu Hủy Kết Hôn Trái Pháp Luật, Xử Lý Văn Bản Trái Pháp Luật, 5600 Văn Bản Trái Pháp Luật, Dự Thảo Xử Lý Văn Bản Trái Pháp Luật, Quyết Định Trái Pháp Luật, Thủ Tục Hủy Bỏ Kết Quả Đăng Ký Thường Trú Trái Pháp Luật, Biểu Tình Trái Pháp Luật, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Quyết Định Hủy Thông Tư Trái Pháp Luật, Văn Bản Hướng Dẫn Tội Bắt Giữ Hoặc Giam Người Trái Pháp Luật, Xử Lý Tình Huống Vi Phạm Hành Chính Giết Mổ Gia Súc Trái Phép, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Nghị Định Kiểm Tra Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm , Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Số 80/2015/qh13, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2015, Dự Thảo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Tìm Hiểu Về Cưỡng Chế Hành Chính Và Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 1996, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Là Gì, Thủ Tục Hành Chính Bộ Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Sở Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Cấp Xã, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp, Văn Bản Hành Chính Bất Hợp Pháp, Văn Bản Pháp Luật Ban Hành, Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành, Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tờ Trình Về Dự án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp Cấp Huyện, Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Tư Pháp, Thủ Tục Hành Chính Lĩnh Vực Tư Pháp, Bộ Luật Dân Sự Pháp Hiện Hành, Báo Cáo Sơ Kết 3 Năm Thi Hành Luật Tố Tụng Hành Chính 2015, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính,

Xử Lý Hành Vi Xâm Phạm Đời Tư Trái Pháp Luật / 2023

Xử lý hành vi xâm phạm đời tư trái pháp luật

Tôi và người yêu yêu nhau cũng được một thời gian, dạo gần đây chúng tôi thường xuyên cãi vã. Do chuyện này tôi rất chán nản và có tâm sự với mẹ và bạn thân của mình nhưng không hiểu tại sao người yêu tôi lại biết tất cả và còn mắng tôi. Nghi ngờ và qua kiểm tra tôi thấy người yêu tôi có cài máy nghe lén tron vỏ điện thoại của mình. Tôi rất bức xúc về chuyện này, mong được luật sư giải đáp. Tôi xin cảm ơn.

Người gửi: Dấu tên

Luật sư tư vấn

1. Căn cứ pháp lý

– Hiến pháp năm 2013

– Bộ luật hình sự năm 2015

2. Xử lý hành vi xâm phạm đời tư trái pháp luật

Tình huống bạn chia sẻ với chúng tôi có thể thấy hành vi này của người yêu bạn rơi vào hành vi xâm phạm bí mật đời tư cá nhân.

Về bí mật đời tư cá nhân hiện nay chưa có khái niệm nào nói chính xác về định nghĩa này nhưng cũng đã được nhắc tới quan Hiếp pháp 2013, Bộ luật dân sự 2005 hay Luật hình sự. cụ thể:

Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”

Cùng với đó căn cứ theo Điều 38 Bộ luật dân sự có quy định về quyền bí mật đời tư cá nhân:

” 1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2.Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. 3.Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Theo khoản 3 Điều 38 Bộ luật dân sự đã nêu trên hành vi nghe lén điện thoại do người yêu bạn thực hiện có thể coi là vi phạm đời tư cá nhân của bạn.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 159 Bộ luật hình sự quy định về Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác thì:

” 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.”

Hành vi của người yêu bạn là nghe lén cuộc điện thoại của bạn như vậy thuộc vào trường hợp theo điểm đ của khoản này như vậy sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi này vẫn còn tiếp diễn sau đó thì anh ta có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Tiểu Luận Xử Lý Quyết Định Hành Chính Ban Hành Trái Quy Định Trên Địa Bàn Huyện Quốc Oai / 2023

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU 1.1- Lý do lựa chọn đề tài Hiện nay, trong tiến trình xây dựng nền hành chính nhà nước, cải cách hành chính nói chung và cái cách thủ tục hành chính nói riêng có nhiều nội dung được đề cập trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, trong đã có vấn đề đáng quan tâm là làm sao để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, trách nhiệm khi ban hành quyết định hành chính giảm thiểu sai, trái pháp luật và quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật phải được tổ chức thực hiện đúng pháp luật. Quyết định hành chính là sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nhất là đối với các nhà quản lý, cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước – những người được nhà nước giao trọng trách thừa hành pháp luật, “cầm cân nảy mực”, được ban hành các quyết định hành chính trên cơ sở các quy định của pháp luật. Để ban hành các quyết định hành chính thì thông tin vừa là đối tượng, vừa là công cụ để nhà nước quản lý. Để bảo đảm quản lý tốt thì việc xử lý thông tin và hiểu biết về pháp luật là điều hết sức cần thiết cho việc ban hành quyết định hành chính, nếu không sẽ dẫn đến việc ban hành những quyết định sai lầm, dẫn đến hậu quả đáng tiếc như: ra những văn bản quản lý, những quyết định sai trái, gây oan ức cho mọi người, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây tốn kém về thời gian và công sức và nghiêm trọng hơn nó làm sai lệch mục đích quản lý, làm mất lòng tin ở quần chúng đối với Đảng và Nhà nước, từ đã dẫn tới hiện tượng coi thường kỷ cương phép nước. Thực tế hiện nay cho thấy, không ít cơ quan hành chính nhà nước, những cán bộ, công chức được nhà nước trao thẩm quyền đã lạm dụng

quyền hạn mà nhà nước giao cho để ban hành những quyết định hành chính vượt quá thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật. Từ những kiến thức lý luận và thực tiễn trong quá trình công tác và những nhận thức qua khoá học Bồi dưỡng tiêu chuẩn ngạch chuyên viên tại Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, Em mạnh dạn vận dụng những kiến thức đã học vào việc nghiên cứu và phân tích tiểu luận với tình huống: “Xử lý Quyết định hành chính ban hành trái quy định trên địa bàn huyện Quốc Oai “. Hy vọng rằng với những ý kiến đề xuất của mình sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng đối với việc ban hành và thực hiện quyết định hành chính cũng như nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của các nhà lãnh đạo quản lý, các cấp, các ngành trong việc điều hành, thực thi quyền lực nhà nước. Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, với những kiến thức đã được tiếp thu qua lớp bồi dưỡng tiêu chẩn chuyên viên chính đã tiếp thu được những vấn đề cơ bản trong quản lý nhà nước, đặc biệt là việc ban hành các văn bản, vận dụng vào thực tiễn công việc, cụ thể là giải quyết các tình huống, các vụ việc xảy ra trong quá t rình công tác. Cùng với sự nhận thức được tầm quan trọng của việc ban hành quyết định hành chính và xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, với mong muốn là mình có thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, từ đó góp một phần công sức nhỏ bé vào việc xây dựng nền hành chính nhà nước, cải cách một bước nền hành chính nhà nước – một nhiệm vụ quan trọng và hết sức phức tạp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà yêu cầu về cải cách hành chính đang được đặt ra mạnh mẽ. 1.2- Mục tiêu của đề tài: Đề tài đặt mục tiêu cao nhất vào việc nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc ban hành quyết định hành chính.

2

3

PHẦN II: NỘI DUNG 2.1- MÔ TẢ TÌNH HUỐNG Ngày 20/6/2013 Bà Nguyễn Thị Hoa tốt nghiệp trường Đại học Tài chính Kế toán. Cũng vào thời gian này, được biết UBND huyện Quốc Oai -Hà Nội có thông báo tuyển dụng công chức kế toán, làm việc tại Tổ kế toán tài của Phòng K. Vị trí này đúng với chuyên ngành mà mình đã được đào tạo nên bà Hoa đã nộp hồ sơ thi tuyển. Sau khi tham gia kỳ thi tuyển, bà nhận được thông báo là đã trúng tuyển và có quyết định tuyển dụng của Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội. Mọi việc bắt đầu từ đây. khi vào cơ quan làm việc, bà Hoa đã viết một bản cam kết trước công đoàn của cơ quan Phòng K với nội dung “Chấp hành mọi nội quy, quy chế của cơ quan, và nghiêm túc thực hiện mọi sự phân công của tổ chức và yêu cầu công tác của cơ quan trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thực hiện nghiêm túc kỷ luật lao động”. Trong quá trình công tác, cùng với việc luôn luôn có ý thức học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp thì đồng thời bà Hoa luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao, cộng với sự thông minh nhanh nhẹn vốn có nên bà Hoa luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được Thủ trưởng cơ quan và đồng nghiệp đánh giá cao và tín nhiệm. Sau khi vào cơ quan được khoảng 5 tháng thì bà Hoa xây dựng gia đình và sinh con vào ngày 18/12/2014. Trong thời gian làm việc tại Phòng K huyện Quốc Oai – Hà Nội bà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội đã đãng bảo hiểm xã hội đầy đủ, vì vậy khi sinh con và làm thủ tục xuất viện thì bệnh viện đã cấp đầy đủ cho bà các loại giấy tờ: Giấy chứng sinh, giấy ra viện, chứng nhận nghỉ thai sản được hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của nhà nước. Các loại giấy tờ nói trên đã được chuyển giao cho bộ phận kế toán của cơ quan mà bà đang

4

làm việc, kế toán đã lập danh sách theo mẫu và chuyển cho bảo hiểm xã hội huyện để làm chế độ thai sản cho bà theo quy định của pháp luật. Bảo hiểm xã hội huyện căn cứ vào Khoản 1 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội số: 58/2014/QH13 của Quốc hội ngày 20/11/2014. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản khi sinh con được quy định như sau: “Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng” Căn cứ vào các loại giấy tờ cơ quan mà bà Hoa đã lập, sau khi kiểm tra và xét duyệt, Bảo hiểm xã hội huyện đã thanh toán chế độ trợ cấp thai sản đối với bà theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thời gian bà Hoa nghỉ chế độ bảo hiểm công việc của Phòng K bị đảo lộn, số liệu cung cấp và đối chiếu không kịp thời, báo cáo gửi cấp trên luôn chậm trễ, làm ảnh hưởng tới mọi hoạt động của phòng K. Khi bà nghỉ công việc của bà không có người làm thay mà mọi người trong tổ mỗi người kiêm nhiệm một ít vì vậy tiến độ công việc luôn bị chậm, không đáp ứng yêu cầu và cấp trên đã không ít lần phê bình vì sự chậm trễ đó. Vì vậy ngày 22/04/2015, Trưởng phòng K đã có thông báo và yêu cầu bà Hoa tới cơ quan làm việc – dù thời điểm này bà mới chỉ nghỉ sinh con được 04 tháng và theo quy định thì bà còn tiêu chuẩn nghỉ sinh con 02 tháng nữa. Nội dung thông báo nêu rõ: “Do công tác của bà không có người làm thay nên bà phải đi làm nếu không Trưởng phòng K sẽ buộc thôi việc để tuyển người khác”. Biết rằng mình đang được nghỉ thai sản

5

và được hưởng theo chế độ bảo hiểm xã hội nhưng bà vẫn đi làm bởi bà phải tuân thủ theo mệnh lệnh hành chính trưởng phòng đã đưa ra và bà cũng sợ bị buộc thôi việc. Bà Hoa đi làm từ ngày 25/04/2015 đến ngày 26/05/2015 do sức khoẻ của bà không tốt nên bà Hoa nghỉ không đi làm được. Từ ngày 27/05/2015 đến ngày 05 tháng 06 năm 2010 bà Hoa nghỉ không đến cơ quan làm việc, thấy bà Hoa lại tiếp tục nghỉ không có người đi làm, Trưởng phòng K đã gửi thông báo cho bà đến làm việc lần 2 vào ngày 08 tháng 6 năm 2015. Cũng vì lý do sức khoẻ cả mẹ lẫn con, bà không thể đi làm được theo yêu cầu của Trưởng phòng K, và chuyện gì xảy ra như ta đã biết bà Hoa bị buộc thôi việc theo quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của Uỷ ban nhân dân huyện. Khi nhận được quyết định bà Hoa đã có phản ứng quyết liệt và yêu cầu ông Trưởng phòng K cùng Hội đồng kỷ luật xem xét lại. 2.2- Xác định mục tiêu xử lý tình huống 2.2.1. Mục tiêu đặt ra cần đạt được sau khi giải quyết tình huống này Để có thể giải quyết tình huống này thấu tình đạt lý, đúng quy định của pháp luật chúng ta cần phân tích cụ thể các tình tiết của vụ việc dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành quy định về vấn đề này như: Luật Bảo hiểm xã hội. Để đảm bảo được điều này chúng ta cần làm rõ một số điểm sau: – Xem xét việc ra quyết định buộc thôi việc của Bà Nguyễn Thị Hoa của Trưởng phòng K đã đảm bảo đúng quy định và thẩm quyền chưa? – Căn cứ pháp lý để ra quyết định của UBND huyện đảm bảo đúng chưa? Quyết định đã đã gây ra hậu quả về kinh tế – xã hội với bà Hoa và cơ quan như thế nào?

6

– Đưa ra phương án giải quyết tình huống là yêu cầu Trưởng phòng K và hội đồng kỷ luật phải thu hồi quyết định kỷ luật của bà Hoa, trả lại quyền lợi, sự công bằng cho bà Hoa và đảm bảo đúng kỷ cương pháp luật. Đồng thời, làm cho công luận có nhận thức đúng đắn, tích cực vào đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. – Mục tiêu chung khi xử lý tình huống là nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. – Những biện pháp, cách thức xử lý của cơ quan Nhà nước phải bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. – Giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. 2.2.2. Cơ sở lý luận và pháp lý. Căn cứ vào tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, việc ban hành quyết định hành chính cần đảm bảo các yếu tố tổng hợp. – Đúng đường lối của Đảng. – Phù hợp với pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa – Đúng thẩm quyền do pháp luật quy định. – Đảm bảo sự thích hợp, hợp lý với sự phát triển của xã hội, tính khả thi, kịp thời và nhất quán. – Căn cứ vào Bộ luật lao động số: 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012; – Căn cứ vào Luật bảo hiểm xã hội số: 58/2014/QH13 của Quốc hội ngày 20/11/2014; – Căn cứ vào Luật cán bộ công chức ngày 01/1/2010, – Căn cứ Quyết định số 103/2009/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 của UBND thành phố ban hành Quy định về quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương, tiền công, cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng trong các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội;

7

– Căn cứ vào quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của Uỷ ban nhân dân huyện về việc buộc thôi việc. 2.3- Phân tích tình huống Ông Trưởng phòng K đã đề nghị đưa bà Hoa ra Hội đồng kỷ luật để xét kỷ luật. Sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng kỷ luật, UBND huyện đã ra quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của Uỷ ban nhân dân huyện về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa. Hết thời gian nghỉ thai sản, bà Hoa đến cơ quan làm việc, bà nhận được quyết định buộc bà thôi việc. Khi đó người bạn của bà Hoa biết được câu chuyện của bà và đã cho bà biết quyết định buộc thôi việc của UBND huyện là trái với quy định của pháp luật. Người bạn của bà đã khuyên bà đến gặp Trưởng phòng K để yêu cầu ông tham mưu UBND huyện huỷ bỏ quyết định thôi việc của bà nhưng ông Trưởng phòng K không đồng ý và trả lời rằng ông tham mưu để UBND huyện ra quyết định đó là đúng thẩm quyền. Căn cứ Quyết định số 103/2009/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 của UBND thành phố ban hành Quy định về quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương, tiền công, cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng trong các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội; Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 20/5/1998 về việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận, huyện, theo đã: “UBND huyện có quyền quyết định tuyển dụng công chức, viên chức trong cơ quan theo chỉ tiêu biên chế được duyệt, nếu công chức, viên chức vi phạm kỷ luật hoặc nghỉ việc mà không được sự đồng ý của cơ quan thì UBND có quyền ra quyết định buộc thôi việc” (Điều 4). Chúng ta đã biết mọi quyết định hành chính được ban hành đều không được trái với luật và văn bản của cấp trên. Qua tình huống trên ta

8

thấy Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai đã vận dụng quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 20/5/1998 buộc thôi việc bà Hoa là sai, thiếu cơ sở pháp lý, hoàn toàn trái với quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này. Trong trường hợp này, bà Hoa đang trong thời gian nghỉ thai sản, hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật đối với lao động nữ. Cụ thể, tại khoản 5, điều 9 Pháp lệnh cán bộ công chức quy định đối với công chức là nữ còn được hưởng các quyền lợi được quy định tại khoản 2 Điều 109, các điều 111, 113, 114, 115, 116 và 117 của Bộ luật lao động. 1. Người lao động nghỉ trước và sau khi sinh con cộng lại là 06 tháng do Chính phủ quy định. 2. Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 điều này, nếu có nhu cầu người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động. Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được 4 tháng sau khi sinh con và có giấy chứng nhận đảm bảo sức khỏe của cơ quan y tế, chứng nhận việc trở lại đi làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước. Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn phải tiếp tục được hưởng chế độ trợ cấp thai sản ngoài tiền lương của những ngày làm việc (Điều 40 của Luật bảo hiểm xã hội) Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc bà Hoa là trái với quy định các điều 34 và 40 của Bộ luật lao động. Việc đưa ra quyết định sai trái này đã gây hậu quả hết sức nghiêm trọng trong việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước.

9

Như chúng ta đã biết, Uỷ ban nhân dân huyện là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Uỷ ban nhân dân huyện có nhiệm vụ tổ chức, chăm lo đời sống cho toàn thể dân cư sống trên lãnh thổ, đảm bảo thi hành pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên lãnh thổ. Việc bà Hoa cam kết trước công đoàn: “Chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy chế của cơ quan, nhận và chấp nhận hành sự phân công và yêu cầu công tác của cơ quan trong bất kỳ hoàn cảnh nào”. Điều cam kết này không đủ giá trị pháp lý làm căn cứ để buộc bà Hoa thôi việc, mà chỉ làm căn cứ để xét thi đua khen thưởng của bà Hoa. Điều đáng buồn ở đây là Thủ trưởng cơ quan – người đảm bảo, bảo vệ quyền lợi cho tất cả công chức, viên chức trong cơ quan, tuy nhiên chính Trưởng phòng lại làm mất quyền lợi của cán bộ công chức trong đơn vị mình, đặc biệt đối tượng lao động lại là Nữ, và ra quyết định vừa không có tình lại không có lý. Nhưng một Trưởng phòng lẽ nào lại không biết một sự việc lại liên quan đến nhiều văn bản của Nhà nước, mặt khác ông không hiểu được nguyên tắc quản lý Nhà nước theo pháp luật? Hay ông không nắm được Luật hơn nữa là một Trưởng phòng lẽ nào ông lại không có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp. Việc đưa ra quyết định trên của ông đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Từ đã dẫn đến hiện tượng coi thường kỷ cương pháp luật, gây mất lòng tin về sự công bằng trong quản lý, hạn chế việc thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa và trực tiếp ảnh hưởng đến uy tín của Trưởng phòng, mặt khác mất đi một công chức giỏi phục vụ cơ quan.

10

Còn cá nhân người lao động là bà Hoa mất việc làm, đời sống gia đình không được đảm bảo, ảnh hưởng tới sinh hoạt và phát triển của một gia đình. 2.3.1. Nguyên nhân xảy ra tình huống Nguyên nhân dẫn đến tình huống trên chính là quyết định số 70/QĐ UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, ban hành không chặt chẽ quy định quyền hạn cho Trưởng phòng chuyên môn được quyền ra quyết định thôi việc nhưng lại không trừ các trường hợp mà luật quy định được ưu tiên như đối với cán bộ là lao động nữ. Còn Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai do không nắm được những nguyên tắc quản lý nhà nước, thiếu sự hiểu biết pháp luật, vận dụng một cách máy móc vì vậy đã ra Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa là sai pháp luật, dẫn đến tính khả thi kém. Bên cạnh đó bà Hoa cũng thiếu hiểu biết về pháp luật cho nên bà cũng không biết được rằng việc Trưởng phòng K buộc bà thôi việc là việc làm trái pháp luật. Đến khi biết quyết định của Trưởng phòng là sai thì lại không biết trình tự phải giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình. Lẽ ra bà phải làm đơn trình bày hoàn cảnh và nêu rõ lý do dẫn đến việc phải nghỉ làm trong cả 2 lần cơ quan yêu cầu đi làm và nêu rõ những căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình gửi Hội đồng xét kỷ luật và tổ chức công đoàn cơ quan để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân nhưng bà đã không làm như vậy mà đến phòng Trưởng phòng phản ứng gay gắt. Còn Hội đồng xét kỷ luật – là nơi đáng lẽ thấu hiểu pháp luật nhưng trước thái độ phản ứng gay gắt của bà Hoa, Hội đồng lại không có ý kiến gì và cũng không phân tích được sự việc, không có sự tham mưu cho

11

Trưởng phòng. Đây không phải là trường hợp đặc biệt trong tình hình hiện nay. Thực tế do thiếu hiểu biết về pháp luật và kiến thức quản lý nhà nước nên đã không ít cơ quan (kể cả ở trung ương lẫn địa phương, cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân) đã có những sai phạm trong việc ban hành và thực hiện các quyết định hành chính, sai phạm trong việc phản kháng lại các quyết định của cấp trên. Ví dụ, trong trường hợp thủ trưởng cơ quan quyết định, thay vì gặp trực tiếp người có thẩm quyền để trao đổi và tìm hướng giải quyết cũng như yêu cầu có sự giải thích thì lại nóng nảy, có thái độ phản ứng gay gắt gây mất trật tự tại cơ quan. 2.3.2- Hậu quả Trong trường hợp này, biết rằng quyết định của Trưởng phòng K huyện Quốc Oai buộc bà Hoa thôi việc là sai, không phù hợp với pháp luật hiện hành quyết định trên đã gây hậu quả nghiêm trọng: Làm thiệt hại về kinh tế, đời sống của bà Hoa. Nếu như mất việc thì bà Hoa sẽ không có thu nhập cuộc sống của bà sẽ không được đảm bảo. Hậu quả tiếp theo là nó làm giảm việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, lại do chính những cơ quan Nhà nước thực hiện không đảm bảo đúng những qui định của pháp luật, cùng với cách giải quyết không dứt khoát sẽ ảnh hưởng xấu đến chế độ, chính sách pháp luật về quyền hạn của người lao động. Do vậy dù ít hay nhiều đã làm giảm lòng tin của nhân dân 2.4- Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống Để giải quyết tình huống xảy ra tại phòng K thuộc huyện Quốc Oai có 3 phương án giải quyết như sau: 2.4.1. Phương án 1

12

Không đồng ý hủy bỏ Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa có ý nghĩa là chấp nhận việc ban hành trái với pháp luật của quyết định này của quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Trước mắt là bảo vệ uy tín cho người ra quyết định quản lý và Hội đồng kỷ luật mặc dù Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai là sai như ở phần trên). Nếu chấp nhận quyết định thì không giải quyết được yêu cầu công luận, không giải quyết được mâu thuẫn của sự việc mà càng làm tăng thêm sự dị nghị, sự không tin tưởng vào pháp luật nói chung và người ra quyết định quản lý của công chức trong cơ quan nói riêng. Quyết định trên gây ra thiệt hại cả về kinh tế lẫn chính trị đối với bà Hoa nói riêng, đồng thời gây ra một tâm lý nặng nề, căng thẳng trong cơ quan làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác nói chung. Việc chấp hành Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc thôi việc bà Hoa sẽ làm mất uy tín của người và ra quyết định và sẽ gây hậu quả là mọi công dân sẽ coi thường pháp luật, gây mất lòng tin về sự công bằng trong quản lý, làm mất đi mất đi một công chức giỏi, nhiệt tình phục vụ cho cơ quan và hậu quả nghiêm trọng nhất là ảnh hưởng tới thể chất và trí tuệ của một cháu bé. 2.4.2. Phương án 2 Huỷ bỏ Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa. Thực hiện phương án này cũng có nghĩa là hủy bỏ quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Điều này sẽ làm mất uy tín của người ra quyết định nhưng sẽ lấy lại lòng tin

13

của công chức trong các cơ quan thuộc huyện Quốc Oai. Qua đó làm cho mọi người tôn trọng pháp luật và sẽ nghiêm chỉnh chấp hành theo pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật. Thực hiện phương án này nó cũng thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, nó mang bản chất của Nhà nước ta, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thực hiện phương án này cũng có nghĩa là chúng ta đã đơn giản hoá sự việc đến mức tối đa. Phương án này không những không giải quyết được tận gốc của vấn đề, tức là tất cả điều kiện, nguyên nhân, căn cứ dẫn đến quyết định sai trái trên của ông Trưởng phòng với việc quyết định thôi việc của bà Hoa bởi vì không làm rõ được trách nhiệm của người đưa ra quyết định cũng như những yếu kém về kiến thức quản lý Nhà nước của ông Trưởng phòng. Đối với vai trò của Hội đồng kỷ luật thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của công chức, mặc dù quyền lợi đã là đúng đắn, tiếng nói của tổ chức công đoàn, nữ công bị hạn chế . Đồng thời, không làm rõ được những mặt hạn chế, thiếu căn cứ pháp luật và sự chặt chẽ của quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. 2.4.3. Phương án 3 Giải quyết tình huống trên tại phòng K huyện Quốc Oai như sau: Bà Hoa viết đơn khiếu nại và gửi thủ trưởng cơ quan và các tổ chức hữu quan trình bày rõ sự việc và yêu cầu thủ trưởng cơ quan, hội đồng kỷ luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Thủ trưởng cơ quan, hội đồng kỷ luật thụ lý hồ sơ kết hợp với tổ chức công đoàn thụ nghiên cứu để đưa ra phương án giải quyết. Trong quá trình nghiên cứu và xem xét phải làm rõ được quyền lợi và nghĩa vụ mà bà Hoa được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành.

14

Sau khi lầm rõ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Trưởng phòng K có trách nhiệm tham mưu giúp UBND huyện Quốc Oai ra quyết định bãi bỏ Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa Kế toán phòng K của huyện Quốc Oai có trách nhiệm thanh toán chế độ cho bà Hoa theo quy định hiện hành. Ông Trưởng phòng vận dụng tinh thần của quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội là sai. Riêng trong trường hợp bà Hoa đang nghỉ chế độ thai sản mà chỉ vận dụng theo nội dung quyết định trên là chưa đảm bảo cơ sở pháp lý, trách nhiệm chính thuộc về Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai và một phần trách nhiệm của Hội đồng kỷ luật cơ quan. *Qua 3 phương án đã nêu tôi sẽ lựa chọn phương án 3 vì Phương án này đáp ứng được nhiều mục tiêu: Phương án này giải quyết được tận gốc vấn đề, làm rõ được trách nhiệm và thiếu sót thuộc về ai, đảm bảo giải quyết đúng người, đúng việc, kể cả việc quy trách nhiệm quản lý. Phương án này đảm bảo quyền lợi cho công chức đúng với chính sách và chế độ của Nhà nước. Đảm bảo các chính sách đối với người lao động, giải quyết được mâu thuẫn, dẹp tan được dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân. Nâng cao sự thiếu hiểu biết pháp luật công chức, đặc biệt là đối với người quản lý như ông Trưởng phòng K Huyện Quốc Oai. Để có uy quyền người lãnh đạo phải ban hành các quyết định hành chính vừa có lý lại vừa có tình. Giải quyết theo phương án 3 sẽ làm tăng thêm uy quyền của người lãnh đạo, tăng cường việc thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa.

15

2.5- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn Nguyên tắc quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi mọi hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước trong đã có hoạt động ra quyết định hành chính phải phù hợp với pháp luật và trình tự ban hành nghĩa là mọi quyết định ban hành hành chính được ban hành trên cơ sở hiến pháp, pháp luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và phải nhằm thực hiện hiến pháp, pháp luật. Mặt khác, quyết định hành chính phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, mọi quyết định hành chính trái với luật đều bị bãi bỏ. Trong tình huống trên ta biết quyết định của Trưởng phòng K huyện Quốc Oai đã vi phạm luật công chức và vi phạm vào điều luật quy định đối với lao động nữ của Bộ luật lao động. Nguyên nhân dẫn đến việc sai phạm trên là do quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng phòng đối với cán bộ công chức. Vì vậy khi bà Hoa khiếu nại với Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai yêu cầu Trưởng phòng phải huỷ bỏ quyết định buộc thôi việc. Nếu Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai không chấp nhận thì bà khiếu nại Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Trong trường hợp này, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội kiểm tra lại sự việc nếu thấy việc ban hành quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội chưa chặt chẽ để cấp dưới ra quyết định thi hành vi phạm pháp luật,Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội phải đình chỉ việc thi hành quyết định cũ và thay thế bằng một quyết định mới đồng thời ra văn bản yêu cầu Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai huỷ bỏ quyết định buộc thôi việc đối với bà Hoa. Trưởng phòng K – huyện Quốc Oai căn cứ vào quyết định thay thế của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội và văn bản đình chỉ để huỷ bỏ

16

17

bảo tính chính xác, đầy đủ các yếu tố về căn cứ pháp luật, cơ sở thực tiễn của quyết định. Tổ chức, cá nhân được giao trách nhiệm thẩm định phải xem xét, kiểm tra hồ sơ, căn cứ để phát hiện sai trái về nội dung, hình thức. Người có thẩm quyền ký quyết định là bước cuối kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ, căn cứ, cơ sở ban hành quyết định. Thực hiện tốt các bước nhiều nơi tỷ lệ thực hiện quyết định hành chính chưa cao; vẫn còn tình trạng quyết định hành chính chưa được thực hiện, thực hiện chậm, sai hoặc chưa đầy đủ các nội dung trong quyết định… từ đã dẫn đến khiếu kiện. Do vậy cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chấn chỉnh việc thực hiện quyết định hành chính, đồng thời phát hiện những sai, trái trong quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các quyết định đã. Thông qua theo dõi, giám sát, kiểm tra việc ban hành, thực hiện quyết định hành chính không chỉ ngăn ngừa, phát hiện quyết định hành chính trái pháp luật để sửa đổi, bổ sung, thu hồi, hủy bỏ; mà quan trọng hơn là có biện pháp xử lý nghiêm minh những cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành, thực hiện quyết định hành chính trái pháp luật. Thực hiện được những việc nêu trên sẽ giúp cho cơ qua n, tổ chức, người có thẩm quyền thấy được tính khả thi của quyết định hành chính trong thực tiễn; đồng thời, nắm được thực trạng tình hình của cơ quan, tổ chức thuộc quyền để có biện pháp chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, uốn nắn, sửa chữa kịp thời những sai, trái. Mặt khác, qua giám sát, kiểm tra việc ban hành, thực hiện quyết định hành chính giúp cho việc xem xét, đánh giá chất lượng thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người có thẩm quyền, trách nhiệm và cơ quan, tổ chức trong việc trực tiếp giải quyết công việc của công dân, cơ quan, tổ chức. Trong thời gian tới cần phải huy động cả hệ thống chính trị giám sát, kiểm tra thường xuyên việc ban hành, thực hiện quyết định hành chính, kể cả quyết định giải

18

quyết khiếu kiện hành chính đã có hiệu lực pháp luật thì chắc chắn sẽ gúp phần hạn chế được khiếu kiện hành chính phát sinh./. 3.2- Kiến nghị Qua tình huống trên ta thấy một quyết định hành chính sai sẽ dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Vậy để hạn chế xảy ra những tình huống tương tự như trên tôi có một số kiến nghị sau: 1. Để hạn chế những quyết định hành chính không phù hợp với nội dung và mục đích của Luật thì cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương, các cấp, các ngành phải nghiêm minh chấp hành pháp luật đồng thời phải tuyên truyền, giáo dục, tổ chức công tác tư vấn pháp luật cho nhân dân hiểu biết về pháp luật và thực hiện đúng. 2. Trước mắt các cấp, các ngành cần bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước cho cán bộ lãnh đạo, sau đó cũng cần bồi dưỡng cho tất cả cán bộ công chức mà chưa qua đào tạo quản lý nhà nước để mọi người nghiêm chỉnh thực hiện đúng quy trình trong việc quản lý nhà nước nhằm làm giảm bớt sự mất lộn xộn trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. 3. Đưa hiến pháp và pháp luật trở thành một công cụ quản lý sắc bén. Nền kinh tế ở nước ta hiện nay là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy nó đòi hỏi chúng ta phải có một hành lang pháp lý phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước, có một bộ máy quản lý nhà nước đủ trình độ, năng lực và sự cải cách về tổ chức cũng như phương thức điều hành thủ tục hành chính gọn nhẹ. 4. Đẩy mạnh kiểm tra, thực hiện các quyết định hành chính nhà nước, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật thì cơ quan chủ q uản phải tiến hành kiểm tra thường xuyên: Cấp trên kiểm tra cấp dưới, các cơ quan

19

kiểm tra, thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân phải thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện các quyết định của nhà nước. – Đôn đốc thực hiện, bổ sung sửa đổi những quyết định không phù hợp. – Xử lý nghiêm minh cơ quan, người vi phạm sai lầm và có khuyết điểm. – Khen thưởng những người có công, kỷ luật những người vi phạm pháp luật. Có làm như vậy mới hạn chế được việc ban hành các quyết định sai trái trong các cơ quan quản lý nhà nước. 5. Cần phân định rõ thẩm quyền của mỗi cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho cơ quan thực hiện trách nhiệm một cách chủ động, tránh sự can thiệp trái thẩm quyền vào quyền hạn của các cơ quan khác, tránh tình trạng lạm quyền cũng như lẩn tránh trách nhiệm làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. 6. Cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình ban hành và tổ chức thực hiện quyết định hành chính nhà nước. Vì những lý do trên chúng ta là những công chức nhà nước cần hiểu biết pháp luật, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Có như vậy, kết hợp với quá trình cải cách hành chính chúng ta mới nâng cao được hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước để nhà nước ta trở thành một nhà nước của dân, do dân và vì dân.

20

Xử Lý Trách Nhiệm Người Ban Hành Văn Bản Trái Pháp Luật / 2023

Ông Đỗ Đức Hồng Hà. PV: Thưa ông, thời gian qua Bộ Tư pháp đã phát hiện 5.639 văn bản trái pháp luật. Theo ông nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đâu?

Ông Đỗ Đức Hồng Hà: Theo tôi, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nhận thức chưa đầy đủ của nhiều cơ quan về công tác xây dựng, kiểm tra văn bản. Việc xử lý trách nhiệm của người ban hành và người tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật chưa nghiêm. Chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp văn bản trái pháp luật gây thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp.

Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hiện nay vẫn còn một số vướng mắc bất cập; nhất là khắc phục hậu quả và xử lý trách nhiệm của cơ quan cũng như người ban hành văn bản vẫn còn hạn chế. Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm Điều 7 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trên thực tế chúng ta có thể xác định được thiệt hại do văn bản trái pháp luật gây ra để từ đó có thể xác định việc bồi thường?

– Thứ nhất, việc ban hành và thi hành văn bản trái luật làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch; trật tự, kỷ cương trong ban hành, thi hành văn bản quy phạm pháp luật; giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Thứ hai, việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây tốn kém thời gian, công sức, nguồn kinh phí, ngân sách của Nhà nước.

Thứ ba, tác động tiêu cực của các văn bản trái pháp luật sẽ còn nặng nề hơn trong bối cảnh pháp luật hiện nay chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp văn bản trái pháp luật gây thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp, từ đó làm gia tăng bức xúc trong dư luận.

Một số văn bản của địa phương có nội dung hạn chế quyền và cơ hội được làm việc của người lao động như: quy định điều kiện về hộ khẩu, phân biệt bằng cấp, giới hạn tuổi tác không đúng quy định.

Bên cạnh đó, một số văn bản của địa phương thậm chí còn đặt thêm nghĩa vụ hoặc cấm đoán người dân thực hiện các hành vi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp bảo hộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc xử lý một số văn bản trái pháp luật, nhất là việc khắc phục hậu quả, xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật còn hạn chế, chưa nghiêm. Quan điểm của ông về vấn đề này?

– Tôi đồng tình với ý kiến này. Theo tôi cần phải xem xét cụ thể đối với từng văn bản được ban hành trái pháp luật để xác định trách nhiệm thuộc về tập thể cơ quan có thẩm quyền hay của cá nhân có thẩm quyền ban hành.

Đối với 26 văn bản được bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ký, ban hành trái pháp luật cũng phải xem xét trách nhiệm với những văn bản này thuộc cá nhân bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ hay trách nhiệm tập thể.

Văn bản do UBND tỉnh,thành phố ban hành thì quy trách nhiệm cho UBND tỉnh, thành phố. Nếu văn bản do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố ban hành thì quy trách nhiệm cá nhân đối với vị chủ tịch.

Theo ông cần giải pháp nào để khắc phục tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật?

– Để khắc phục tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật, thời gian tới cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, kịp thời xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, tập trung xử lý triệt để các văn bản trái pháp luật đã được phát hiện, và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với người tham mưu, ban hành văn bản trái pháp luật.

Trong đó, ưu tiên kiểm tra các văn bản tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, môi trường đầu tư, kinh doanh, tiến tới hoàn thành việc kiểm tra ngay sau khi ban hành và trước thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản. Tăng cường xử lý văn bản trái pháp luật, nhất là những văn bản trái pháp luật xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, xã hội.

Về lâu dài, chúng ta phải xem xét toàn bộ quá trình từ giai đoạn trình dự án, dự thảo văn bản, cho đến quá trình tham gia góp ý kiến và quá trình thẩm định dự thảo văn bản, ban hành văn bản. Trong tất cả các giai đoạn của toàn bộ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, người có thẩm quyền tham gia đều có quyền lợi và trách nhiệm của mình. Không thể có chuyện khi có quyền lợi thì được hưởng, khi có sai phạm thì không bị quy trách nhiệm. Việc xem xét trách nhiệm của những cơ quan cá nhân ban hành văn bản trái pháp luật, chúng ta có chế tài.

Do đó, ngoài việc nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chúng ta cần củng cố, phát huy vai trò của tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan tư pháp địa phương.

Trân trọng cảm ơn ông!