Top 8 # Xem Nhiều Nhất Xem Luật Giáo Dục 2005 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Athena4me.com

Luật Giáo Dục Năm 2005

QUỐC HỘINƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMKhoá XI, Kỳ họp thứ 7LUẬTGIÁO DỤCCăn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;Luật này quy định về giáo dục.CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi điều chỉnhLuật giáo dục quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục.Điều 2. Mục tiêu giáo dụcMục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.Điều 4. Hệ thống giáo dục quốc dân 1. Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.2. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.Điều 5. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học. 2. Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.Điều 6. Chương trình giáo dục1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất; kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.3. Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức tích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ mà người

Luật Giáo Dục Số 38/2005/Qh11 Ngày 14 Tháng 6 Năm 2005

Luật giáo dục quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân.

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Luật giáo dục quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục.

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục

1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Điều 4. Hệ thống giáo dục quốc dân

1. Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

2. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

Điều 5. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục

1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.

2. Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.

Điều 6. Chương trình giáo dục

1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.

2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất; kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

3. Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.

4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức tích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ mà người học tích luỹ được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên ở cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc thực hiện chương trình giáo dục theo hình thức tích luỹ tín chỉ, việc công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ.

Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả.

Điều 8. Văn bằng, chứng chỉ

1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc trình độ đào tạo theo quy định của Luật này.

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ.

2. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp.

Điều 9. Phát triển giáo dục

Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.

Điều 10. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân

Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.

Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.

1. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước.

2. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.

3. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.

Điều 12. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.

Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.

Điều 13. Đầu tư cho giáo dục

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.

Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.

Điều 14. Quản lý nhà nước về giáo dục

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.

Điều 15. Vai trò và trách nhiệm của nhà giáo

Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.

Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.

Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học.

Bài viết được thực hiện bởi Công ty Luật Dương Gia

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Thu Hồi Quyết Định Xem Xét Kỷ Luật 13 Công Chức

Theo đó, Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 đã được tổ chức đúng kế hoạch, cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, việc tổ chức chấm thi còn để xảy ra tiêu cực và gian lận tại Hội đồng thi tỉnh Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình.

Ngay sau khi phát hiện các dấu hiệu tiêu cực, sai phạm ở Hội đồng thi các tỉnh nói trên, Ban Chỉ đạo thi THPT quốc gia năm 2018, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị tham gia xử lý quyết liệt, tổ chức kiểm tra, rà soát, xác minh ở các địa phương có nghi vấn; đồng thời tổ chức chấm thẩm định bài thi tại một số địa phương khác theo quy định của quy chế; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để xử lý vụ việc trên tinh thần nghiêm túc, kiên quyết, kịp thời, xử lý nghiêm minhcác tổ chức, cá nhân vi phạm theo đúng quy chế thi và các quy định pháp luật hiện hành.

Đây chưa phải là các công chức bị kỷ luật, mà chỉ là một bước trong quy trình xem xét kỷ luật công chức theo quy định. Hội đồng kỷ luật của Bộ GDĐT sẽ xem xét, đánh giá công tâm, khách quan để tư vấn cho Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT xem xét, quyết định thấu tình, đạt lý.

Danh sách các công chức của Bộ GDĐT bị xem xét kỷ luật có ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng; ông Sái Công Hồng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng; ông Nguyễn Duy Kha, Trưởng phòng Quản lý thi, Cục Quản lý chất lượng; ông Hà Xuân Thành, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm khảo thí quốc gia, Cục Quản lý chất lượng; ông Nguyễn Sơn Hải, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin; ông Nguyễn Huy Bằng, Chánh Thanh tra; ông Tống Duy Hiến, Phó Chánh thanh tra; ông Trịnh Minh Trường, Phó Trưởng phòng thanh tra chuyên ngành; ông Lê Văn Vương, Phó Trưởng phòng thanh tra hành chính; bà Thẩm Thị Minh Hằng, Thanh tra viên; ông Nguyễn Ngọc Chính, Thanh tra viên; bà Lê Thị Kim Dung, Vụ trưởng vụ Pháp chế và ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng vụ Giáo dục trung học.

Sau đó, các cơ quan chức năng cũng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với gần 20 bị can với các tội danh khác nhau. Tới giờ, vụ án vẫn chưa được khép lại, theo thông tin mới nhất vào ngày 29/8, Tòa án Nhân dân tỉnh Sơn La vừa có quyết định đưa vụ án gian lận điểm thi THPT quốc gia 2018 tại tỉnh này ra xét xử sơ thẩm vào ngày 16/9.

Phương Anh

Cùng Nhau Tìm Hiểu Xem Ý Nghĩa Của Phổ Cập Giáo Dục Là Gì Nhé.

Để việc giáo dục được tốt, cần phải nghiên cứu và tìm hiểu phương pháp kỹ lưỡng, nhằm truyền đạt kiến thức tốt nhất. Bên cạnh đó việc không ngừng đổi mới cách thức giảng dạy là điều không thể thiếu.

Phổ cập giáo dục là gì?

Phổ cập giáo dục được phân chia làm nhiều cấp bậc khác nhau. (Ảnh: Internet)

Phổ cập giáo dục theo nhà nước Việt Nam ta là thực hiện chương trình học tập theo từng đối tượng cụ thể. Được chia ra làm nhiều cấp bậc như: cấp bậc mẫu giáo, cấp bậc tiểu học, cấp bậc trung học cơ sở,…

Mỗi cấp bậc đều có những quy định và được tìm hiểu nghiên cứu sao cho phù hợp với từng đối tượng. Từng cấp bậc được phổ cập tối thiểu trình độ học vấn theo quy định, đảm bảo mọi công dân đều được giáo dục.

Phổ cập giáo dục xóa mù chữ

Một đất nước nếu không có giáo dục sẽ không thể phát triển được, nó mang đến tương lai, hạnh phúc của mỗi cá nhân, đồng thời là nhân tố giúp đất nước có “nền móng” vững chắc trong tương lai.

Yếu tố đầu tiên trong xóa nạn mù chữ đó là mọi công dân Việt Nam phải biết đọc, biết viết. Mỗi cấp bậc sẽ tương ứng với chương trình học tập riêng, cụ thể như:

Phổ cập giáo dục mầm non. (Ảnh: Internet)

Giáo dục mầm non là sự mở đầu sơ khai để trẻ bước vào một giai đoạn mới trong cuộc đời. Việc giáo dục các em nhỏ là điều rất cần thiết, còn có cả chương trình nghiên cứu giáo dục em bé từ trong bụng mẹ gọi là “thai giáo”.

Trẻ em như một tờ giấy trắng, nên người hay không thì việc giáo dục từ thuở nhỏ nắm vai trò rất quan trọng. Việc phổ cập giáo dục mầm non sẽ giúp các em từng bước hoàn thiện, thay đổi nhân cách và ý thức ngay từ đầu.

Trong xã hội hiện đại, thế giới ngày một phát triển và đổi mới không ngừng. Việc giáo dục các em nhỏ rất được xem trọng và được nghiên cứu kỹ càng chuyên sâu. Các giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức sao cho phù hợp với tâm lý của trẻ. Phân chia nhiều nhóm và từng lứa tuổi để việc giáo dục các em được hoàn thiện hơn.

Ngoài ra các giáo viên được phổ cập chương trình dạy sao cho giúp các em nhỏ bộc lộ được khả năng tư duy, sáng tạo tiềm ẩn của bản thân, mang đến sự hứng thú cho trẻ trong việc tìm kiếm những điều mới mẻ ở thế giới xung quanh. Từ đó giúp trẻ cảm nhận thế giới, biết yêu thương, biết nghe lời, phân biệt đúng sai để tiếp bước trên con đường tìm hiểu sau này.

Phổ cập giáo dục tiểu học

Phổ cập giáo dục tiểu học. (Ảnh: Internet)

Phổ cập giáo dục tiểu học tiếp bước chương trình mà các trẻ được tìm hiểu và giáo dục ở mầm non. Giáo dục trẻ toàn diện về các mặt: đạo đức, trí tuệ, thể chất cùng các kỹ năng cơ bản phù hợp lứa tuổi.

Kỹ năng cơ bản: nghe, đọc, viết, tính toán

Hiểu biết cơ bản về xã hội, về tự nhiên

Thể chất: tạo những thói quen nhỏ hàng ngày

Thẩm mỹ: màu sắc, cắt, dán, thêu,…

Đạo đức: hình thành những hành vi nhỏ

Phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Giáo dục từng cấp bậc là thừa kế những kiến thức cấp dưới để nối tiếp hoàn thiện cho chương trình mới. Như vậy phổ cập giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh củng cố kiến thức cũ, từ đó đi sâu vào từng môn học.

Học sinh được học và tìm hiểu những vấn đề khó hơn của môn học. Những học vấn trung học cơ sở sẽ là nền tảng để các em được học và nghiên cứu chuyên sâu hơn ở các cấp bậc khác, chuyên môn hơn.

Chương trình giáo dục ở cấp 2 sẽ đi sâu vào từng môn học, khó ở mức độ “tầm trung”, là tiền đề để các em học sinh sẽ đi chuyên sâu kỹ hơn nếu lên các cấp bậc tiếp theo.

Khó “tầm trung” ở đây là nói về mức nghiên cứu từng môn học phù hợp ở độ tuổi của các em và sức hiểu ở lứa tuổi thiếu nhi sang thiếu niên. Nếu các em học ở cấp này không thấu hiểu các vấn đề ở từng môn học, thì lên cấp bậc tiếp theo các em sẽ không theo kịp bạn bè.

Khác xa với tiểu học chỉ học về cơ bản, vấn đề chính trong tình hình giáo dục trung học cơ sở ở đây chính là chương trình phổ cập cho toàn nước, cho mọi vùng miền. Mà mỗi vùng miền, môi trường sống hiện tại là yếu tố khách quan để các em tiếp thu kiến thức, làm sao để các em ở các môi trường khác nhau tiếp thu được hết kiến thức để nâng lên tầm cao hơn không phải là điều dễ dàng.

Phần mềm phổ cập giáo dục

Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ phổ cập giáo dục, giúp trẻ dễ hiểu, dễ hình dung và nâng cao khả năng học tập hơn. Trong đó phải kể đến một số phần mềm như:

Phần mềm hỗ trợ giáo dục. (Ảnh: Internet)

Phần mềm Mind Map: Phần mềm này giúp giáo viên xây dựng ý tưởng thông qua hình ảnh sơ đồ để học sinh dễ tiếp thu hơn. Đặc biệt Edraw Mind Map hỗ trợ tốt nhất để người sử dụng vẽ bản đồ tư duy.

Phần mềm Geometer’s Sketchpad: Phần mềm sở hữu giao diện cực dễ hiểu, giúp đỡ giáo viên tốt nhất trong việc dạy môn Toán. Với nhiều tính năng nổi trội được đánh giá rất tốt như vẽ đồ thị hàm số, có cả hiệu ứng âm thanh, hoạt hình,…

Phần mềm Yenka: Yenka giúp người dùng thể hiện hình ảnh mô phỏng, làm tư duy của người xem dễ hình dung hơn. Phần mềm này giúp giáo viên dễ giảng dạy, bài học trở nên sinh động, học sinh hứng thú hơn với môn học.

Phần mềm LectureMAKER: LectureMAKER giúp giáo viên tạo giáo án điện tử. Người dùng còn có thể xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và chèn thêm cả file powerpoint, file flash, website,…

Như vậy, tầm quan trọng của việc phổ cập giáo dục là không thể chối cãi. Mỗi cấp bậc là một chương trình giảng dạy riêng phù hợp từng lớp đối tượng, được phân chia và nghiên cứu bởi những người tri thức đi trước sao cho phù hợp với người Việt, đặc biệt kiến thức phải hòa nhập được với tri thức nhân loại.