Top 20 # Xem Nhiều Nhất Vướng Mắc Luật Phá Sản / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Vướng Mắc Khi Áp Dụng Luật Phá Sản / 2023

Năm 2015, Luật Phá sản 2014 có hiệu lực đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho các doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và con nợ.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, trong quá trình thực tiễn thi hành, cộng đồng doanh nghiệp đã phản ánh nhiều vướng mắc của Luật cần cân nhắc và xem xét lại.

Căn cứ xác định tình trạng phá sản chưa rõ ràng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản thì “doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán là DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

Tuy nhiên, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – đơn vị đại diện cộng đồng DN cho rằng, căn cứ này vẫn chưa rõ ràng và chính xác để xác định một DN, HTX thực sự lâm vào tình trạng “mất khả năng thanh toán” và khó để phân biệt với tình huống “không chịu thanh toán”. Thực tế, có nhiều DN có đầy đủ khả năng thanh toán, nhưng do nhiều nguyên nhân không chịu thanh toán hoặc không thể thanh toán tại thời điểm bị đòi nợ.

“Căn cứ này có khả năng trở thành “công cụ” để cho các đối tác “đòi nợ” lẫn nhau. Điều này có thể dẫn tới hậu quả là DN bị đòi nợ bị thiệt hại về uy tín và thiệt hại trên thực tế” – VCCI nhấn mạnh.

Do đó, VCCI đề nghị tổng kết lại tình hình thực hiện Luật Phá sản về vấn đề này để xây dựng quy định về căn cứ xác định DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản phù hợp và hạn chế được tình trạng nêu ở trên.

Về thông báo mất khả năng thanh toán, khoản 1 Điều 6 Luật Phá sản quy định “cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện DN, HTX mất khả năng thanh toán có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản quy định tại Điều 5 của Luật này”.

Như vậy, các tổ chức tín dụng nếu biết được tình trạng mất khả năng thanh toán của khách hàng cũng không thể thông báo cho những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản. Do đó, VCCI kiến nghị điều chỉnh lại quy định này để phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Băn khoăn quy định về kiểm kê, định giá tài sản

Cũng theo quy định tại Luật Phá sản, DN, HTX mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của DN, HTX vắng mặt thì người được quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản chỉ định làm đại diện của DN, HTX thực hiện công việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản của DN, HTX (Điều 65).

Tuy nhiên trên thực tế, việc kiểm kê tài sản gặp rất nhiều khó khăn vì người đại diện của DN vắng mặt, người được quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản chỉ định thường là không chịu làm hoặc không biết về tình hình công ty nên thực hiện việc này rất khó khăn. Mặc dù pháp luật có quy định về chế tài xử lý đối với việc không hợp tác về việc kiểm kê tài sản, tuy nhiên chế tài này cũng không hiệu quả và khả thi.

“Do đó, cần có quy định có tính khả thi hơn để giải quyết đối với trường hợp DN, HTX không còn người có trách nhiệm tiến hành các công việc kiểm kê tài sản, cung cấp giao nộp thông tin hồ sơ kế toán tài sản” – một số DN kiến nghị.

Còn về trường hợp định giá lại tài sản, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (THADS) thì việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp: Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản…

Trong khi đó, pháp luật về phá sản quy định “việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”, nếu phát hiện quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, chấp hành viên yêu cầu quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 Nghị định 22/2015/NĐ-CP.

Như vậy, so với Luật THADS thì quy định tại Luật Phá sản đã thu hẹp lại trường hợp định giá lại tài sản. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của các chủ nợ. Theo đó, để đảm bảo tính thống nhất và quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ, cộng đồng DN đề nghị sửa đổi Luật Phá sản theo hướng tương thích với Luật THADS.

Một Số Vướng Mắc Trong Thực Thi Luật Phá Sản Năm 2014 / 2023

Báo cáo kết quả triển khai thi hành LPS năm 2014 (tổng hợp hơn 23 báo cáo của các TAND cấp tỉnh) cho thấy: Năm 2017, số vụ việc yêu cầu phá sản được các tòa án thụ lý, giải quyết tăng mạnh với 439 vụ việc, trong đó có 45 quyết định tuyên bố phá sản. Con số này phản ánh thực tế LPS 2014 đã đi vào cuộc sống, từng bước khắc phục những vướng mắc, bất cập của LPS năm 2004. Tuy nhiên, trên thực tế, năm 2017, có 38.869 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 12.113. Năm 2018, có 27.126 DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 16.314. Điều này cho thấy, so với số DN, HTX chấm dứt hoạt động thì số vụ giải quyết thông qua thủ tục phá sản tại tòa án vẫn còn rất khiêm tốn. Thực trạng này một phần xuất phát từ việc các quy định của LPS 2014 chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, mặt khác cũng do thiếu cơ chế đồng bộ, khả thi để các quy định của luật có thể triển khai trong thực tiễn.

Luật Phá sản năm 2014 ít được áp dụng do còn một số vướng mắc trong thực thi.

Về những khó khăn, vướng mắc trong thi hành LPS năm 2014, theo ông Trần Văn Hà, Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (TAND tối cao) thì có 8 vấn đề chính: Một là, những quy định về đối tượng áp dụng luật, tiêu chí xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán; hai là thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thủ tục nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, cũng như thời hạn thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng cho các chủ nợ ở nước ngoài; ba là thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; bốn là những xử lý khoản nợ có tài sản bảo đảm; năm là các biện pháp bảo toàn tài sản; sáu là điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ và biểu quyết thông qua hội nghị chủ nợ; bảy là tuyên bố DN, HTX phá sản và cuối cùng là thủ tục thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản. Theo đó, có 4 nguyên nhân chủ quan, khách quan, như: Nhận thức pháp luật phá sản còn chưa đồng đều; nhiều quy định của LPS năm 2014 phản ánh những tư tưởng mới (khái niệm DN, HTX mất khả năng thanh toán), chế định mới (quản tài viên); một số quy định của LPS chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau; việc giải quyết vụ việc phá sản là loại việc khó, được đánh giá là “siêu vụ án” trong khi thực tiễn một số tòa án chưa có nhiều vụ việc phải giải quyết dẫn đến lúng túng.

Qua thực tế giải quyết phá sản tại tòa án, bà Đặng Thị Ngọc Ánh, Thư ký TAND quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) chia sẻ về một số vướng mắc, cụ thể như: Về thủ tục nộp đơn, hiện nay mới chỉ có chế tài xử phạt hành chính mà chưa có chế tài hình sự hay dân sự nào được áp dụng đối với các chủ thể có nghĩa vụ nhưng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Bởi vậy, các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn hầu như không thực hiện nghĩa vụ, còn các chủ thể có quyền nộp đơn có thể chưa hiểu biết nhiều về việc mình được bảo vệ thông qua thủ tục phá sản hoặc do tâm lý ngại kiện tụng, không tin tưởng vào phương pháp đòi nợ này nên ít thực hiện quyền nộp đơn. Về thụ lý đơn, khi thực hiện việc thu tạm ứng chi phí phá sản do không có cơ sở để tính khoản tiền tạm ứng chi phí quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản và tài khoản nộp tiền tạm ứng, điều này khiến cho trình tự giải quyết vụ án phá sản gặp rất nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Đồng thời, việc quy định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là khá ngắn. Bởi đối với những DN, HTX có quy mô lớn hoạt động trên nhiều lĩnh vực thì để xem xét toàn bộ hồ sơ, tài liệu, đặc biệt là báo cáo tài chính để kết luận DN, HTX có mất khả năng thanh toán hay không thì cần có thời gian dài hơn để xem xét toàn diện tình hình DN, HTX. Thêm nữa, theo LPS năm 2014, hội nghị chủ nợ có vai trò quan trọng trong việc quyết định cho DN, HTX được áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế việc tổ chức hội nghị chủ nợ thường không đơn giản do các chủ nợ có tâm lý muốn xé lẻ để đòi nợ riêng mà không muốn tập hợp lại vì mục đích chung để giúp DN, HTX được phục hồi hay các chủ nợ được thanh toán theo trình tự luật định…

Bài và ảnh: DƯƠNG SAO

Một Số Vướng Mắc Khi Áp Dụng Luật Phá Sản Năm 2014 Và Đề Xuất, Kiến Nghị / 2023

Luật (PS) cũng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ nợ cũng như lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệp mắc nợ. Đồng thời, pháp luật phá sản còn là công cụ răn đe, buộc các doanh nghiệp phải luôn tự hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển.

Tuy nhiên, khi áp dụng Luật vào thực tiễn mới bộc lộ những vướng mắc, bất cập cần được hoàn thiện.

1. Về việc từ chối tham gia giải quyết phá sản của Quản tài viên

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật PS năm 2014 thì: “Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản”.

Để hành nghề Quản tài viên thì các cá nhân phải đáp ứng các điều kiện cụ thể quy định tại Điều 12 Luật PS năm 2014[1]

Khoản 1 Điều 45 Luật PS năm 2014 quy định: “1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có trách nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản“.

Tác giả cho rằng, trong trường hợp nêu trên, để giúp cho việc giải quyết vụ phá sản được thuận lợi và mang lại hiệu quả cao, thì các Thẩm phán giải quyết vụ phá sản cần căn cứ vào danh sách các Quản tài viên do Sở Tư pháp của các địa phương cung cấp, trên cơ sở các căn cứ chỉ định Quản tài viên nêu tại khoản 2 Điều 45 Luật PS năm 2014 để lựa chọn ra một Quản tài viên có đầy đủ các yếu tố phù hợp tham gia vụ phá sản đó. Đồng thời, cần có sự trao đổi, thống nhất với Quản tài viên đó trước khi ra quyết định chỉ định Quản tài viên để không xảy ra các tình huống phát sinh như nêu ở trên.

Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp kể cả đã thực hiện các bước như tác giả phân tích ở trên, Quản tài viên đã nhận lời tham gia vụ phá sản. Nhưng khi có quyết định chỉ định thì Quản tài viên lại có ý kiến từ chối tham gia, bởi không có quy định nào của pháp luật cấm điều này. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

2. Về quy định mở tài khoản ngân hàng của Tòa án

Điều 16 Luật PS năm 2014 quy định về Quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, trong đó, tại điểm i khoản 1 có ghi nhận nghĩa vụ của Quản tài viên như sau: “Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng”. Điều này có nghĩa là, trong giai đoạn mở thủ tục phá sản tại Tòa án, sau khi có quyết định chỉ định Quản tài viên của Thẩm phán có thẩm quyền thì Quản tài viên được chỉ định đó phải gửi các khoản tiền thu được trong quá trình thực hiện việc quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán vào một tài khoản ngân hàng do Tòa án nhân dân có thẩm quyền mở. Với nội dung quy định này đã gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành ở các địa phương khác nhau. Cụ thể, có Tòa án tiến hành chỉ mở một tài khoản ngân hàng do Chánh án Tòa án nhân dân cấp đó làm chủ tài khoản và tất cả số tiền thu được từ các vụ phá sản khác nhau đều nộp chung vào đó. Cũng có Tòa án lại mở từng tài khoản ngân hàng riêng cho mỗi vụ phá sản và chủ tài khoản ngân hàng đó vẫn là Chánh án, hoặc có nơi thì mở từng tài khoản ngân hàng khác nhau cho mỗi vụ phá sản và chủ tài khoản đó chính là Thẩm phán được phân công giải quyết từng vụ phá sản cụ thể đó. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do luật không có quy định cụ thể, rõ ràng và hiện nay cũng chưa có văn bản cụ thể nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn về vấn đề này.

Với sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế thị trường sẽ làm cho số lượng các DN, HTX mới được hình thành ngày càng nhiều. Những DN, HTX đáp ứng được các đòi hỏi, yêu cầu của thị trường thì tồn tại, phát triển, còn những DN, HTX không đáp ứng được sẽ bị đào thải, loại bỏ ra khỏi đường ray kinh tế đó. Vì vậy, số lượng các vụ yêu câu giải quyết phá sản sẽ ngày càng nhiều. Do đó, việc áp dụng quy định nêu trên tại Tòa án nên theo hướng mỗi một vụ phá sản mở một tài khoản ngân hàng riêng và chủ tài khoản ngân hàng đó sẽ là Thẩm phán được giao giải quyết vụ phá sản đó. Việc mở tài khoản ngân hàng riêng sẽ đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và dễ dàng trong vấn đề quản lý tài chính, đặc biệt đối với những vụ phá sản doanh nghiệp lớn thì số tiền thu về khi giải quyết phá sản là rất lớn, nếu gộp chung số tiền thu được của các vụ phá sản vào một tài khoản thì sẽ rất khó quản lý. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, năng lực về tài chính kế toán của các Thẩm phán là khác nhau và thường không chuyên sâu, bên cạnh đó, ở mỗi Tòa án hiện nay thì thường chỉ có một hoặc một số cán bộ làm công tác kế toán, phụ trách chung công tác tài chính kế toán của cả cơ quan, nên việc bao quát và kiểm soát thêm các tài khoản này là rất khó khăn nếu như nhập chung tất cả vào một tài khoản. Với việc mở tài khoản ngân hàng và tài khoản đó do chính Thẩm phán được giao giải quyết vụ phá sản đó làm chủ tài khoản sẽ thuận lợi hơn trong quá trình thực thi. Bởi lẽ, nếu giao cho đồng chí Chánh án làm chủ tài khoản thì trong trường hợp cần chi một khoản tiền nào đó cho Quản tài viên theo quy định thì lại phải chờ đồng chí Chánh án đó ký thì mới thực hiện được, điều này làm giảm tính hiệu quả, kịp thời trong việc giải quyết thủ tục phá sản./.

[2] Điều 46. Thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Tháo Gỡ Vướng Mắc Luật Quy Hoạch / 2023

Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về triển khai Luật Quy hoạch ngày 15-7, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh Luật Quy hoạch là công cụ pháp lý rất quan trọng để các cấp, các ngành lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và thống nhất quản lý.

Chính vì vậy, từ thời điểm thông qua vào tháng 11-2017 đến nay, Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương đã tích cực triển khai thực hiện luật. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng còn nhiều khó khăn do khối lượng các quy hoạch phải lập rất lớn khi cùng lúc 63 tỉnh, TP đều phải lập quy hoạch, các ngành đều phải lập quy hoạch phát triển ngành và Chính phủ lập quy hoạch tổng thể quốc gia.

Theo lãnh đạo Chính phủ, việc thực hiện Luật Quy hoạch còn nhiều lúng túng, ngay cả ở trung ương, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cho giai đoạn tiếp theo. Trong đó, vướng mắc lớn nhất là trong quá trình triển khai thực hiện chuyển tiếp Luật Quy hoạch. “Không có quy hoạch thì không thu hút được nguồn lực, không tạo được môi trường thuận lợi cho đầu tư phát triển” – Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Làm rõ thêm về vướng mắc trong điều khoản chuyển tiếp (điều 59 Luật Quy hoạch), Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) Nguyễn Đức Trung cho biết do còn có cách hiểu khác nhau về các quy hoạch được thực hiện chuyển tiếp nên một số bộ, ngành và địa phương chưa làm tốt khi xác định các quy hoạch thuộc phạm vi áp dụng. Ông Trung nhấn mạnh việc chậm ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quy hoạch dẫn đến triển khai thực hiện của các bộ, ngành, địa phương còn nhiều lúng túng, nhất là việc triển khai lập các quy hoạch cho thời kỳ 2021-2030 chưa đáp ứng được tiến độ theo yêu cầu. Bên cạnh đó, việc bãi bỏ các quy hoạch sản phẩm còn chậm so với thời hạn 31-12-2018 tại Luật Quy hoạch, đã gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân và cản trở việc huy động nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển.