Top 8 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Việt Nam Cần Có Luật An Ninh Mạng Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Vì Sao Việt Nam Cần Có Luật An Ninh Mạng?

Tại kỳ họp này, công tác xây dựng pháp luật chiếm tới 2/3 thời gian. Kết thúc kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 8 dự án luật, trong đó có Luật An ninh mạng.

Luật An ninh mạng được các đại biểu Quốc hội lấy ý kiến cử tri từ tháng 3/2017.

Ngay tại kỳ họp, trước giờ biểu quyết, thông qua, một số điều còn có ý kiến khác nhau như Điều 10 và Điều 26 cũng được lấy ý kiến tại Quốc hội.

Trong thời gian diễn ra kỳ họp, các cơ quan soạn thảo Luật An ninh mạng và Quốc hội đã lắng nghe, tiếp thu nhiều ý kiến của các cơ quan, các nhà khoa học và người dân… chỉnh lý văn bản nên luật đã được Quốc hội thông qua với tỷ lệ cao (86,86% đại biểu tán thành).

Ngày 28/6/2018, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố Luật An ninh mạng cùng 6 luật khác vừa được Quốc hội thông qua.

Luật An ninh mạng sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2019.

Thế nhưng cho đến nay, nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây và nhiều website có máy chủ ở nước ngoài vẫn cố tình xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống.

Họ nói rằng: “Luật An ninh mạng mở đường cho một cuộc trấn áp mới!”; rằng “Luật An ninh mạng gây quan ngại về quyền con người và ảnh hưởng tới thương mại quốc gia”…

Sau khi Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua, từ thông tin mạng ở nước ngoài dẫn dắt, một số kẻ chống phá trong nước đã kích động người dân dẫn đến một số cuộc biểu tình gây rối ở một vài nơi.

Trong những cuộc biểu tình gây rối này, khẩu hiệu được in sẵn và tán phát từ trước.

Có thể nói, các thế lực thù địch đã có cả một kế hoạch khá chi tiết, bài bản nhằm xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống.

Vậy vì sao Việt Nam cần có Luật An ninh mạng?

Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không?

Mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ chống phá là gì?

Trước hết, vì sao Việt Nam cần phải có Luật An ninh mạng?

Khác với các thời kỳ lịch sử trước, bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ biên cương, bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển của đất nước, ngày nay, bảo vệ Tổ quốc còn phải bảo vệ không gian điện tử của Tổ quốc.

Thực tế cho thấy từ khi internet, mạng xã hội ra đời đến nay đã từng diễn ra việc lợi dụng internet, mạng xã hội để tập hợp lực lượng, kích động biểu tình, gây rối, kêu gọi lật đổ chính quyền.

Ngày nay, các thế lực thù địch đã có thêm một phương thức mới để chống phá nhà nước, đó là sử dụng internet, mạng xã hội để tấn công cơ quan, tổ chức, thậm chí còn có thể gây bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội.

Chẳng hạn, chúng sử dụng hacker (tin tặc) gây ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội.

Còn nhớ tháng 3/2017 xảy ra vụ việc tin tặc tấn công hàng loạt website sân bay trong nước, khiến cho nhiều chuyến bay bị gián đoạn, đảo lộn.

Internet, mạng xã hội từng là phương thức tán phát thông tin thất thiệt vì những mục tiêu hiểm độc, đê hèn, như:

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến khủng bố tinh thần-đe dọa đưa lên mạng những thông tin cá nhân, đời tư, khiến nhiều gia đình tan nát, cuộc sống bị xáo trộn, thậm chí không ít người còn tìm đến cái chết…

Tuy nhiên, điều nguy hiểm hơn là các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội để thực hiện kế hoạch lật đổ chế độ, Nhà nước bằng việc kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình “bất bạo động” gây bất ổn chính trị xã hội, gây ra hậu quả khôn lường.

Vì vậy, Nhà nước Việt Nam cần có chế tài nghiêm minh đối với tội phạm mạng là điều hết sức cần thiết.

Thứ hai, Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không?

Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều. Nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng là:

(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

(2) Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; …

(3) Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng… bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng…” (Điều 4).

Luật An ninh mạng chỉ quy định các chế tài đối với việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi chống Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đó là những hoạt động: (1) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

(2) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…;

(3) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội… xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

(4) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc…;

(5) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội…

(6) Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi” (Điều 8).

Luật An ninh mạng có vi phạm các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay không và các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook sẽ rời khỏi Việt Nam?

Theo Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các hiệp định WTO và CPTPP đều có điều khoản ngoại lệ về an ninh.

Theo đó, Việt Nam có quyền yêu cầu các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, internet và các dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu quan trọng của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam-đặt máy chủ ảo tại Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp.

Được biết, cho đến nay đã có hơn 18 quốc gia thành viên của WTO (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Australia, Đức, Pháp) có quy định bắt buộc các doanh nghiệp mạng phải lưu trữ dữ liệu trong lãnh thổ nước mình.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hiện nay, Google và Facebook đang lưu trữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt ở Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore.

Luật An ninh mạng có hiệu lực thì các doanh nghiệp này phải chuyển lưu trữ dữ liệu về Việt Nam là hoàn toàn khả thi.

Còn các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook đã có mặt tại Việt Nam thì sao?

Việt Nam hiện là một thị trường lớn của họ. Hơn nữa, cung cấp các dịch vụ mạng hiện nay cũng là một thị trường mà các quốc gia có thể lựa chọn theo quan điểm của mình.

Với Việt Nam, bảo vệ, bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng luôn được đặt lên hàng đầu.

Đây là điều mà Google và Facebook chắc chắn phải cân nhắc.

Gần đây, ngày 5/7, khi mạng xã hội facebook ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào vùng biển của Trung Quốc đã nhận được sự phản ứng mạnh mẽ của cư dân mạng Việt Nam và của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Cuối cùng, mạng xã hội lớn nhất thế giới này đã phải sửa sai và xin lỗi Việt Nam.

Xét về quyền và lợi ích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, Luật An ninh mạng hoàn toàn không hạn chế về quyền và lợi ích của nhóm đối tượng trên, vì chế tài của Luật An ninh mạng chỉ áp dụng đối với những hành vi phạm tội (thông qua lợi dụng internet, mạng xã hội-Điều 8).

Mặt khác, Luật An ninh mạng còn bảo vệ người dân và doanh nghiệp luôn có một môi trường thông tin chân thực, lành mạnh, thoát khỏi tình trạng bị ô nhiễm như đối với không khí, nước uống và thực phẩm sạch cho tinh thần.

Thứ ba, mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ xấu là gì?

Khác với Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin mạng…, Luật An ninh mạng đã có những quy định cụ thể nhằm loại bỏ thông tin xấu độc, độc hại ngay tại gốc, từ những trang mạng mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước Việt Nam.

Đồng thời, Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học xử lý những kẻ lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước và làm tổn hại đến cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp của Việt Nam.

Căn cứ vào luật này, các cơ quan chức năng có quyền yêu cầu các nhà mạng phải cung cấp đầy đủ thông tin của những tài khoản tán phát thông tin độc hại… và đây là nỗi lo lớn của những kẻ xấu.

Đã Có Luật An Toàn Thông Tin, Việt Nam Có Cần Luật An Ninh Mạng?

Theo thống kê, chỉ riêng 5 tháng đầu năm 2018, đã xảy ra hơn 4000 sự cố tấn công mạng vào Việt Nam.

Ngoài ra, mỗi ngày, có khoảng gần 100.000 địa chỉ mạng của Việt Nam truy vấn hoặc kết nối đến mạng lưới máy tính ma. Việt Nam xếp thứ 17 trong nhóm các quốc gia có người dùng gặp các nguy cơ lây nhiễm cao khi online và xếp thứ 2/15 quốc gia có mức độ lây nhiễm mã độc máy tính cao nhất. Không chỉ vậy, Việt Nam cũng nằm trong Top 10 quốc gia bị kiểm soát bởi mạng máy tính ma với gần 637.400 máy tính bị kiểm soát.

Các vụ tấn công mạng đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn, không chỉ dừng lại ở việc đánh sập các website quan trọng, mà đã tấn công vào các giao dịch ngân hàng để lấy trộm tiền, hay các hệ thống máy tính của các sân bay khiến nhiều chuyến bay bị đình trệ.

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy không ít người sử dụng Internet cho rằng đây là một không gian ảo nên có phần dễ dãi chia sẻ thông tin trên mạng mà không kiểm chứng, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Đó có thể là các nội dung vi phạm bản quyền, thông tin sai lệch gây tổn hại tới danh dự, uy tín cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các nội dung lừa đảo khiến bạn bè bị lừa mất tiền. Tại Việt Nam, dù đã có nhiều chuyển biến về các văn bản quy phạm pháp luật về các hành vi trên môi trường mạng, nhưng chúng ta vẫn thấy có các trường hợp vi phạm thiếu chế tài xử phạt, chưa có khung pháp lý để điều chỉnh, hay các dữ liệu lưu trên trên hệ thống máy tính chưa được thừa nhận là bằng chứng pháp lý để xác định hành vi phạm pháp. Thực tế trên đòi hỏi việc phải ban hành Luật An ninh mạng.

Không chỉ là khung pháp lý cần thiết trong thời đại công nghệ 4.0, Luật An ninh mạng còn là yêu cầu cấp bách để đảm bảo một môi trường an toàn trước các hiểm hoạ thường trực trên không gian mạng, cả về kỹ thuật và nội dung thông tin.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW có phần trao đổi về vấn đề này trên kênh VTC10.

Một Số Điều Cần Biết Về Luật An Ninh Mạng Của Ch Lb Đức Và Luật An Ninh Mạng Việt Nam

(Báo Tinh Hoa) – Ở Việt Nam chả biết thế nào chứ bên Đức thì như thế này, khi login ngoài việc đồng ý các điều khoản ᴄủᴀ Facebook còn phải đồng ý chấp hành Luật về an ninh mạng ᴄủᴀ Đức chuyên về mạng xã hội, viết tắt là NetzDG. Trong NetzDG khái niệm rõ ràng những điều gì bạn ĐƯỢC PHÉP chia sẻ hoặc viết trên Facebook, điều gì BỊ CẤM. Theo đó những điều bị cấm bao gồm (Luật NetzDG trích dẫn các ʜàɴʜ ᴠɪ theo bộ luật hình sự Đức): – Điều 86: Phát tán tài liệu ᴄủᴀ các tổ chức phi chính phủ – Điều 86a: Sử dụng phù hiệu hoặc biểu tượng các tổ chức trái với Hiến pháp. – Điều 89a: Âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ An ninh quốc gia. – Điều 91: Hướng dẫn người khác sử dụng bạo lực đᴇ ᴅọᴀ An ninh quốc gia. – Điều 100a: Tội giả mạo thông tin gây ảɴʜ ʜưởɴɢ đến an ninh đối ngoại. – Điều 111: Công khai xúi dục ʜàɴʜ ᴠɪ phạm tội. – Điều 126: Gây rối trật tự công cộng bằng đᴇ ᴅọᴀ sử dụng ʜàɴʜ ᴠɪ phạm pháp. – Điều 129 tới 129b: Hình thành các tổ chức ᴛội ᴘhạm, ᴋʜủɴɢ ßố ở trong và ngoài nước; sưu tập về các tổ chức này. – Điều 130: Tội xúc giục (bạo lực, hận thù). – Điều 131: Diễn tả bạo lực (điều luật này nói về ʜàɴʜ ᴠɪ phân tán các văn hóa phẩm có nội dung bạo lực tàn bạo) – Điều 140: Tội trả tiền và đồng thuận cho một tội danh hình sự. – Điều 166: Tội nhục mạ tín ngưỡng, tôn giáo cũng như thế giới quan (tư tưởng). – Điều 184b cùng với 184d: Phân phối, mua lại và sở hữu nội dung kʜiêʋ Ɗâm ᴄủᴀ giới trẻ (184b) và Tạo nội dung kʜiêʋ Ɗâm có sẵn bằng Radio hoặc phương tiện ᴛʀᴜʏền thông; ᴛʀᴜʏ xuất nội dung kʜiêʋ Ɗâm trẻ em và thanh thiếu niên qua phương tiện ᴛʀᴜʏền thông (184d). – Điều 185, 186 và 187: Tội ҳúᴄ ᴘʜạᴍ, Tội phỉ báng và Tội vu khống. – Điều 201a: Xâm phạm các khu vực sinh sống cá nhân bằng cách chụp ảnh. – Điều 241: Tội đᴇ ᴅọᴀ. – Điều 269: Tạo bằng chứng giả. Và, tất cả những ai ᴠɪ ᴘʜạᴍ Luật NetzDG đều “Không được biện minh” ! (quy định tại Điều 3 Chương 1: ᴠɪ ᴘʜạᴍ)

*Nguồn Luật NetzDG: https://www.gesetze-im-internet.de/netzdg/BJNR335210017.html

*Nguồn Luật Hình sự Đức: https://dejure.org/gesetze/StGB/1.html

Kết, khi đọc đến đây bạn cần hiểu rằng: Ở Đức bạn đưa bất cứ cái gì lên mạng xã hội cũng nên cân nhắc. Bởi vì trên mạng cũng như ngoài đời, bạn đừng nghĩ viết gì cũng được, ít nhất là ở Đức như vậy.

CÒN VỀ LUẬT AN NINH MẠNG Ở VIỆT NAM.

Như vậy, có thể thấy Luật An ninh mạng Việt Nam thiên về bảo vệ quyền lợi cho cá nhân, tổ chức (tư nhân) nhiều hơn là bảo vệ chế độ chính trị. Cũng theo đó, các vấn đề về đời tư, tác quyền, ᴛàɪ sảɴ… ᴄủᴀ người Dân giờ đã được Luật hóa trên không gian mạng, bất kỳ ai đăng tải hình ảnh (kể cả hình nhà ở), tác quyền, thông tin đời tư mà không phải là hình ảnh có sẵn trên mạng (do chủ nhân đăng tải trước đó) hoặc được chủ đồng ý cho phép đều sẽ bị хử ʟý trước ᴘʜáp luật (nếu có đơn kiện).

Trước đây những nhà cung cấp mạng xã hội (trong và ngoài nước) như Facebook, Google, Youtube đều mặc kệ những ʜàɴʜ ᴠɪ ᴠɪ ᴘʜạᴍ đó bởi lẽ Việt Nam không có luật, mà nếu những nhà cung cấp này làm ᴄʜặᴛ thì chả thể khai thác thị trường béo bở ở Việt Nam về dữ liệu thông tin được. Giờ thì họ không thể nhắm mắt làm ngơ như trước đây nữa… Và sau ngày 01/01/2019, thì các nhà mạng nước ngoài khi cung cấp dịch vụ ở Việt Nam sẽ phải khai báo, đóng thuế đầy đủ chứ không phải mỗi năm trốn hàng ngàn tỉ (đồng) tiền thuế như trước.

Người Việt Nam cũng cần phải “chịu trách nhiệm” trong mọi lời nói, ʜàɴʜ ᴠɪ ᴄủᴀ bản thân trên không gian mạng như người Đức!

BBT Báo Tinh Hoa

Sự Cần Thiết Phải Có Luật An Ninh Mạng

Thứ hai, 29 Tháng 10 2018 18:24

1. Luật An ninh mạng thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, là cơ sở pháp lý bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

Luật An ninh mạng thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng về an ninh mạng được nêu tại một số văn bản như:

– Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-1-2012 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

– Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

– Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự trong tình hình mới, trong đó khẳng định vấn đề an ninh mạng đang là vấn đề rất phức tạp, cần được chú trọng giải quyết đồng bộ, hiệu quả.

– Chỉ thị số 28-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị số 15-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.

– Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị ban hành về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet.

– Nghị định 101/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm thực hiện và các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng để khủng bố…

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, thực trạng, tình hình diễn ra trên không gian mạng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, cụ thể:

Thứ nhất, phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động.

Thứ hai, phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các hoạt động tấn công mạng, khủng bố mạng, phòng, chống chiến tranh mạng khi hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin nước ta gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong khi đó, khủng bố mạng nổi lên như một thách thức toàn cầu, chiến tranh mạng là một trong những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia. Những vấn đề trên đòi hỏi phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, có phương án và sự chuẩn bị sẵn sàng để kịp thời xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra.

Thứ ba, phòng ngừa, ngăn chặn, loại bỏ tác nhân tiến hành hoạt động gián điệp mạng, sử dụng không gian mạng để chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật nhà nước, đặc biệt là hoạt động xâm nhập, tấn công vào hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đồng thời, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng đăng tải bí mật nhà nước trên mạng internet do chủ quan hoặc thiếu kiến thức an ninh mạng.

Thứ tư, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia và áp dụng các biện pháp cần thiết, tương xứng. Đây là hệ thống thông tin của các mục tiêu quan trọng quốc gia, cơ sở hạ tầng quan trọng quốc gia, cơ quan chứa đựng bí mật nhà nước, nếu bị tấn công, xâm nhập, phá hoại, chiếm đoạt thông tin có thể gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, gây rối loạn trật tự, an toàn xã hội nên cần có biện pháp bảo vệ chặt chẽ, tương xứng và ở mức độ cao hơn so với những mục tiêu cần bảo vệ ít quan trọng hơn. Việc bảo vệ những hệ thống thông tin này không chỉ bao gồm hoạt động kiểm tra, đánh giá quá trình vận hành, áp dụng các tiêu chuẩn an ninh mạng phù hợp, riêng biệt mà phải tiến hành hoạt động thẩm định ngay từ khi xây dựng hồ sơ thiết kế, vận hành hệ thống thông tin để sớm phát hiện, loại bỏ các nguy cơ đe dọa an ninh mạng.

Thứ sáu, quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, một số quốc gia trên thế giới đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng để áp dụng cho các mục tiêu, đối tượng và yêu cầu bảo vệ an ninh mạng cụ thể. Ở nước ta, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng được ban hành rộng rãi, được áp dụng chung cho toàn xã hội, mang tính phổ thông, đại chúng. Tuy nhiên, đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, ngoài những tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng, cần có những quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an ninh mạng ở mức độ cao hơn để đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Thứ bảy, triển khai công tác bảo vệ an ninh mạng trong hệ thống cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Hiện nay, hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước tồn tại nhiều lỗ hổng bảo mật không được khắc phục, nhận thức của cán bộ, nhân viên còn nhiều hạn chế, chưa nhận thức được mức độ cần thiết của công tác an ninh mạng. Trong khi đó, công nghệ thông tin đã được ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương, chính phủ điện tử và các hệ thống điều khiển, xử lý tự động đã xuất hiện ở mọi ngành, cấp, lĩnh vực. Hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước đang là đối tượng của hoạt động tấn công mạng, xâm nhập mạng, gián điệp mạng; tình trạng đăng tải thông tin, tài liệu bí mật nhà nước trên mạng internet vẫn còn tồn tại. Do đó, tình hình thực tiễn đã đặt ra yêu cầu triển khai công tác bảo vệ an ninh mạng và lực lượng an ninh mạng từ Trung ương đến địa phương.

Thứ tám, đặt nền móng và triển khai công tác nghiên cứu, dự báo, phát triển các giải pháp bảo đảm an ninh mạng. Hiện nay, công tác này chưa được chú trọng, nhà nước cũng chưa có định hướng quản lý, bảo đảm an ninh mạng đối với các xu hướng công nghệ có khả năng thay đổi tương lai như cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, một số quốc gia đã xây dựng nhiều đạo luật chuyên ngành của an ninh mạng, tập trung nâng cao năng lực dự báo, chia sẻ thông tin và tăng cường năng lực an ninh mạng.

Thứ mười, xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin, thông báo tình hình an ninh mạng để nâng cao nhận thức về an ninh mạng, chủ động phòng ngừa các nguy cơ an ninh mạng có thể xảy ra. Việc chia sẻ thông tin, thông báo tình hình an ninh mạng có thể được thực hiện bởi cơ quan chức năng để tổ chức, cá nhân nâng cao nhận thức, áp dụng biện pháp phòng tránh hoặc nghiên cứu, tham khảo.

2. Luật An ninh mạng là công cụ hữu hiệu phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh mạng, bảo vệ an ninh của các cơ quan, tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị

Một là, Luật An ninh mạng là công cụ hữu hiệu phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh mạng như: i) Nguy cơ các thế lực phản động thông qua không gian mạng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại tư tưởng, chuyển hóa chế độ chính trị nước ta. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, âm mưu này được triển khai dưới nhiều phương thức thức khác nhau. Không gian mạng trở thành môi trường lý tưởng cho âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại tư tưởng, chuyển hóa chế độ chính trị nước ta, thông qua các hoạt động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; liên lạc, móc nối, chỉ đạo và thành lập tổ chức hoạt động chống phá; sử dụng không gian mạng để kích động biểu tình, gây rối an ninh, chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta. ii) Nguy cơ đối mặt với các cuộc tấn công mạng trên quy mô lớn, cường độ cao. Mục tiêu tấn công mạng là hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia…), hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng…), hệ thống điều khiển tự động hóa (SCADA) của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh… Tấn công mạng có thể diễn ra theo kiểu tự phát, đơn lẻ, theo các chiến dịch với mục đích khống chế và thu thập thông tin, khủng bố, đe dọa và tán phát các thông điệp xấu, phá hủy cơ sở hạ tầng trọng yếu quốc gia,hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, thậm chí là phục vụ chiến tranh. iii) Nguy cơ mất kiểm soát về an ninh, an toàn thông tin mạng. Nguy cơ này chịu tác động trực tiếp từ bốn yếu tố: Sự phụ thuộc vào hạ tầng và dịch vụ công nghệ, thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, ý thức người dùng hạn chế và bất cập, hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về an ninh, an toàn thông tin mạng.

Thứ nhất, chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng giữa các bộ, ngành chức năng; tồn tại cách hiểu chưa rõ ràng giữa an ninh mạng và an toàn thông tin mạng. Cần thống nhất nhận thức rằng, an ninh mạng bao gồm hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an; hoạt động tác chiến trên không gian mạng theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng và bảo đảm an toàn thông tin mạng theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông. An toàn thông tin mạng là điều kiện cho bảo đảm an ninh mạng được thực thi có hiệu quả, bền vững.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tồn tại, vướng mắc nêu trên, trong đó nguyên nhân chủ yếu là từ sự vướng mắc, bất cập được biểu hiện thông qua hai vấn đề: i) Do chưa có sự nhận thức thống nhất về an ninh mạng nên hiện nay, Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng đều dựa trên cơ sở quy định của Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân và các văn bản dưới luật về bảo vệ an ninh quốc gia nói chung và nguyên tắc tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an nhân dân nói riêng; chưa có quy định cụ thể về an ninh mạng và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng an ninh mạng trong Công an nhân dân. ii) Qua rà soát hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (Anh, Mỹ, Nhật, Úc…) cho thấy, các quốc gia này không phân tách “cyber security” thành “an ninh mạng” và “an toàn thông tin mạng” như ở nước ta, mà thống nhất giao một đầu mối thực hiện chức năng quản lý nhà nước, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành để có sự phân công phù hợp. Hai vấn đề trên đã dẫn tới công tác bảo vệ an ninh mạng chưa được triển khai trên tất cả các lĩnh vực, đối tượng mà không gian mạng bao phủ và hiện đang có ảnh hưởng sâu sắc.

3. Luật An ninh mạng bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Luật An ninh mạng bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và bảo vệ Tổ quốc. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013 thì quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng(2). Luật An ninh mạng sẽ quy định các biện pháp nghiệp vụ an ninh mạng, trong đó có một số biện pháp có khả năng ảnh hưởng tới quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như giám sát an ninh mạng, hạn chế thông tin mạng… Do vậy, việc ban hành Luật An ninh mạng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp là cần thiết. Bên cạnh đó, việc ban hành Luật này cũng góp phần cụ thể hóa tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp về bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là quy định “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm” và “mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”.

Luật An ninh mạng bảo đảm sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Qua nghiên cứu cho thấy, hiện đã có nhiều quốc gia trên thế giới ban hành các văn bản luật về an ninh mạng, điển hình như: Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Anh, Úc, Cộng hòa Séc, Hàn Quốc… Riêng Mỹ đã ban hành tới 6 đạo luật chuyên ngành về các vấn đề về an ninh mạng là: Đạo luật Đánh giá Lực lượng An ninh mạng, Đạo luật Tăng cường An ninh mạng năm 2014, Đạo luật Bảo vệ An ninh mạng Quốc gia 2014, Đạo luật hiện đại hóa An ninh thông tin Liên bang năm 2014, Dự luật Chia sẻ thông tin An ninh mạng năm 2015, Dự luật Tăng cường Bảo vệ An ninh mạng Quốc gia năm 2015. Ngày 7-12-2015, Hội đồng và Nghị viện châu Âu đạt được sự thống nhất về các biện pháp thúc đẩy an ninh mạng tổng thể trong Liên minh châu Âu tại Chỉ thị An ninh thông tin và mạng (Network and Information Security) nhằm tăng cường các khả năng an ninh mạng của các quốc gia thành viên, tăng cường sự hợp tác của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực an ninh mạng. Việc xây dựng, ban hành Luật An ninh mạng sẽ bảo đảm công tác an ninh mạng của nước ta có sự phù hợp nhất định với thông lệ quốc tế và bảo đảm các điều kiện hội nhập quốc tế về an ninh mạng.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2018

(1) Chính phủ: Tờ trình số 397/TTr-CP ngày 26-9-2017 của Chính phủ về dự án Luật An ninh mạng.

(2) Quốc hội: Hiến pháp năm 2013.

Tài liệu tham khảo

1. Các văn bản luật về an ninh mạng, điển hình như: Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Anh, Úc, Cộng hòa Séc, Hàn Quốc…

2. Chỉ thị số 28-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị số 15-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.

3. Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị ban hành về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet.

4. Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự trong tình hình mới, trong đó khẳng định vấn đề an ninh mạng đang là vấn đề rất phức tạp, cần được chú trọng giải quyết đồng bộ, hiệu quả.

5. Chính phủ: Tờ trình số 397/TTr-CP ngày 26-9-2017 của Chính phủ về dự án Luật An ninh mạng.

6. Nghị định 101/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm thực hiện và các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng để khủng bố…

7. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-1-2012 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

8. Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

9. Quốc hội: Hiến pháp năm 2013.

PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

ThS Bùi Thị Long

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh