Top 13 # Xem Nhiều Nhất Vi Phạm Luật Dân Sự / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

‘Vi Phạm Pháp Luật Dân Sự’! / 2023

Cán bộ và nhân dân ở xã Châu Hội đều khẳng định thửa đất có tranh chấp được bố chồng chị Hoàng Thị Thủy khai hoang. Ảnh: Nhật Lân

Vụ việc tranh chấp đất đai ở bản Lâm Hội, xã Châu Hội giữa nguyên đơn Hoàng Thị Thủy và bị đơn Phạm Văn Hải được Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đưa ra xét xử, có quyết định tại Bản án số 04/2018/DS-ST ngày 19/4/2018.

Xung quanh việc xét xử tranh chấp đất đai ở bản Lâm Hội, xã Châu Hội của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, Báo Nghệ An điện tử ngày 3/5/2018 đã phản ánh tại bài viết: “Đã đảm bảo khách quan khi xét xử tranh chấp đất ở xã Châu Hội (Quỳ Châu)?”. Ngay sau đó, Viện KSND tỉnh có quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án này.

Ngày 17/5/2018, Viện KSND tỉnh ban hành Quyết định số 955/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 04/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu. Tại đây, Viện KSND tỉnh khẳng định, Bản án dân sự sơ thẩm số 04 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã vi phạm pháp luật dân sự.

Theo Viện KSND tỉnh phân tích: Nguyên đơn Hoàng Thị Thủy khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết hai nội dung gồm: Buộc anh Phạm Văn Hải phải tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm gồm 1 ngôi nhà 3 gian xây dựng trên đất lấn chiếm; buộc anh Phạm Văn Hải trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Thủy đã trình bày nguồn gốc thửa đất là do bố chồng, ông Phạm Viết Thuận khai hoang từ năm 1967. Lời khai phù hợp với nhiều người làm chứng.

Trong khi đó, bị đơn Phạm Văn Hải khai thửa đất là của ông Phan Quốc Thiện đang giao vợ chồng bị đơn quản lý. Ông Phan Quốc Thiện trình bày thửa đất đang tranh chấp do ông khai hoang trong thời gian sinh sống ở Quỳ Châu. Khi Nhà nước có chủ trương kê đăng ký QSD đất, do ông đã chuyển về sinh sống tại TX. Hoàng Mai nên vợ chồng bị đơn Phạm Văn Hải trực tiếp kê khai.

Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh thửa đất có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Phan Quốc Thiện. Hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất đứng tên ông Phan Quốc Thiện nhưng là bản phô tô, không có công chứng, chứng thực, cũng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Tại biên bản xác minh ngày 6/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu tại UBND xã Châu Hội chỉ xác nhận ông Thiện là người kê khai đăng ký QSD đất, không xác nhận nguồn gốc đất do ông Thiện khai hoang. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án không yêu cầu các đương sự và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cung cấp hồ sơ quản lý thửa đất có tranh chấp qua các thời kỳ như bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê, hồ sơ kỹ thuật… Do đó, chưa có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp thuộc về ai.

Thửa đất có tranh chấp ở bản Lâm Hội có vị trí sát QL48. Ảnh: Nhật Lân

Bởi Bản án dân sự sơ thẩm số 04 “đã vi phạm pháp luật dân sự”, và bởi “những vi phạm này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được”, tại Quyết định số 955/QĐKNPT-VKS-DS Viện KSND tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu giải quyết lại theo thủ tục chung.

Những băn khoăn

Ông Lương Đệ – Viện trưởng Viện KSND huyện Quỳ Châu khi được hỏi đã trao đổi với PV Báo Nghệ An rằng: “Tòa có quyền tuyên xử, nguyên đơn Hoàng Thị Thủy có quyền kháng cáo, còn Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị…”. Chúng tôi hiểu rằng, vụ việc tranh chấp đất đai ở bản Lâm Hội, xã Châu Hội không dừng lại ở phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu mà sẽ được xét xử lại ở những phiên tòa cấp cao hơn.

Ban cán sự xóm Lâm Hội nói về lịch sử hình thành của thửa đất có tranh chấp. Ảnh: Nhật Lân

Nhưng điều đáng nói ở đây là từ việc tuyên xử của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, đã dẫn đến những bức xúc của không ít cán bộ, nhân dân xã Châu Hội; đã có một số người phản ứng khá tiêu cực, ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương cơ sở.

Thiết nghĩ, Tòa án là cơ quan thi hành pháp luật. Mỗi cán bộ của cơ quan Tòa án đều phải nêu cao tấm gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”. Tức là phải tôn thờ lẽ công bằng, công lý, không thiên lệch.

Với Bản án số 04 ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, như Viện KSND tỉnh đã chỉ ra là “đã vi phạm pháp luật dân sự”, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải xem xét về năng lực, trình độ chuyên môn và cái tâm của những người “cầm cân nảy mực” trong vụ việc này?.

Nhật Lân

Phân Biệt Vi Phạm Hành Chính, Vi Phạm Hình Sự Và Vi Phạm Dân Sự / 2023

Hệ thống pháp luật Việt Nam được chia thành rất nhiều ngành luật, mỗi một ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau bằng những quy phạm pháp luật của ngành luật đó.

Các ngành luật như hành chính, hình sự, dân sự đều là các ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng đều có các đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội khác nhau.

Sự vi phạm hành chính, hình sự, dân sự chính đều vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm pháp lý. Các hành vi vi phạm đều xâm hại đến quan hệ xã hội mà các ngành luật bảo vệ bằng hành động hoặc không hành động. Mỗi ngành luật đều đặt ra các nguyên tắc của nó và cụ thể bằng những quy phạm pháp luật, sự vi phạm chính là việc không làm đúng những quy định trong các quy phạm pháp luật, gây tổn hại cho cá nhân, tổ chức, xã hội.

Như vậy, để thấy sự khác nhau giữa các loại vi phạm hành chính, vi phạm hình sự và vi phạm dân sự thì chúng ta phải đem ra so sanh chúng về đối tượng điều chỉnh.

1. Sự khác nhau về đối tượng điều chỉnh

– Đây chính là các quan hệ pháp luật mà chủ thể đã có hành vi vi phạm.

+ Vi phạm hành chính là sự xâm phạm đến các quan hệ pháp luật hành chính phát sịnh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước với nội dung chính là chấp hành và điều hành. Những hành vi vi phạm được quy định chung trong Luật xử lý vi phạm hành chính.

+ Vi phạm dân sự là sự xâm phạm đến các quan hệ nhân thân và tài sản được quy định chung trong bộ luật Dân sự và quan hệ pháp luật dân sự khác được pháp luật bảo vệ, như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

2. Sự khác nhau về chế tài xử lý vi phạm.

Do mỗi ngành có các nguyên tắc điều chỉnh khác nhau nên khi có vi phạm thì chế tài cũng khác nhau.

+ Chế tài hành chính là bộ phận của quy phạm pháp luật hành chính xác định biện pháp xử lý của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hình thức xử phạt hành chính gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; Trục xuất.

+ Chế tài hình sự là bộ phận hợp thành của quy phạm pháp luật hình sự, xác định loại và giới hạn mức độ hình phạt có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự đó.

+ Chế tài dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự khi họ thực hiện, thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự.

Nhìn chung, các chế tài hành chính và hình sự mang tính bảo vệ lợi ích công, lợi ích của Nhà nước. Dựa vào mức độ nghiêm trọng thì chế tài hành chính áp dụng đối với các hành vi ít nghiêm trọng hơn chế tài hình sự, do đó các hình thức xử phạt hành chính cũng ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt áp dụng đối với tội phạm.

Mặt khác, đối với chế tài dân sự, nó được đặt ra để bảo vệ quyền và lợi ích mang tính tư giữa các chủ thể trong xã hội với nhau, là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho cam kết giữa các bên được thực hiện

Do đó, các chế tài dân sự thường là bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính.

Vi phạm hành chính nhiều lần thì có bị xử phạt hình sự không?

Không, nếu bạn vi phạm hành chính nhiều lần sẽ bị xử phạt một lần và áp dụng tình tiết tăng nặng để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm

Đánh nhau đã xử phạt hành chính có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có, tùy vào tỷ lệ thương tật và mức độ nghiêm trọng của hành vi bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Trộm điện thoại giá 1 triệu đồng sau đó trả lại thì bị xử phạt hành chính hay hình sự?

Trong trường hợp này, bị báo chị bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 1 đến 2 triệu đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi trộm cắp tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở nên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Vi phạm hành chính không bị xử phạt khi nào?

Hành vi vi phạm hành chính sẽ không bị xử phạt trong các trường hợp sau:– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết. Ví dụ đưa bệnh nhân cấp cứu tới bệnh viện vượt đèn đỏ– Thực hiện phòng vệ chính đáng– Thực hiện vi phạm hành chính khi bị yếu tố bất ngờ– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính khi bị bất khả kháng

Sự Khác Biệt Giữa Phạt Vi Phạm Trong Bộ Luật Dân Sự Và Luật Thương Mại / 2023

Tôi muốn hỏi theo quy định của pháp luật thi sự khác biệt giữa phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự và Luật Thương mại được thể hiện thế nào?

Xin chào luật sư! Tôi có thắc mắc như sau rất mong nhận được sự giáp đáp, giúp đỡ của luật sư. Tôi muốn hỏi sự khác biệt giữa phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Phạt vi phạm có sự khác nhau trong quy định của Bộ luật dân sự và Luật Thương mại như sau:

Đối với Bộ luật Dân sự, phạt vi phạm được đề cập chủ yếu với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trong khi đó, đối với Luật Thương mại nó được coi là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng.

” Chế tài phạt hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng. Do đó mà chỉ cần có hành vi vi phạm hợp đồng là có thể bị phạt vi phạm hợp đồng nếu các bên có thỏa thuân, dù hành vi vi phạm đã gây hậu quả hay chưa”

BLDS: Theo Bộ luật Dân sự ( BLDS) 2005 tại Điều 422, mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự thỏa thuận. Tự thỏa thuận ở đây có nghĩa là các bên được phép tự do ấn định mức phạt mà không bị khống chế bởi những quy định của pháp luật, thể hiện rõ nguyên tắc tự do thỏa thuận được ghi nhận trong pháp luật dân sự

Quy định về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và BTTH

Quy định trong BLDS: không có một điều luật độc lập quy định về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và BTTH mà chỉ được đề cập một phần nhỏ trong Điều 422 “Bộ luật dân sự 2015”:

“Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm” ( khoản 3 Điều 422)

Trong khi Luật Thương mại 2005 có quy định riêng về mối quan hệ này tại Điều 307:

“Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại

1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”

Năng Lực Hành Vi Dân Sự Của Cá Nhân Theo Bộ Luật Dân Sự 2022 / 2023

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là gì?

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” – Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS)

Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân.

Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Cùng với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là thuộc tính của cá nhân, tạo thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự.

Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Nếu pháp luật quy định năng lực pháp luật của mọi cá nhân là như nhau thì lại xác định năng lực hành vi của cá nhân không giống nhau. Những cá nhân khác nhau có nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lí trí của cá nhân đó, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của chính họ.

Căn cứ vào khả năng của cá nhân về nhận thức và điều khiển được hành vi và hậu quả của hành vi, pháp luật phân biệt mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Tuy nhiên khó có tiêu chí để xác định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân, do đó độ tuổi của cá nhân được xem là tiêu chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân.

Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định độ tuổi tối đa của những người có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ. Những người này có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện.

Những người từ đủ 18 tuổi trở lên được suy đoán là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Họ chỉ bị mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi khi có quyết định của toà án về việc hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì nữ từ 18 tuổi (17 tuổi 1 ngày) trở lên có quyền kết hôn nhưng theo quy định này thì nữ đủ tuổi kết hôn vẫn có thể chưa có đầy đủ năng lực hành vi.

Năng lực hành vi một phần

Người có năng lực hành vi một phần (không đầy đủ) là những người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định.

Điều 21 BLDS quy định về Người chưa thành niên, theo đó, người thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

– Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

– Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

Như vậy, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần. Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

Tuy pháp luật không quy định những giao dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày” và “phù hợp với lứa tuổi” nhưng có thể hiểu đó là những giao dịch có giá trị nhỏ, phục vụ những nhu cầu học tập, vui chơi trong cuộc sống được người đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện (mua dụng cụ học tập, ăn quà, vui chơi giải trí…).

Người đại diện của những cá nhân ở lứa tuổi này có thể yêu cầu tuyên bố những giao dịch do người chưa thành niên thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu và toà án xem xét trong những trường hợp cụ thể để chấp nhận yêu cầu đó theo quy định tại Điều 130 BLDS. Nếu những người đại diện không yêu cầu toà án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch này thì những giao dịch đó mặc nhiên được coi là có hiệu lực.

Những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần sự đồng ý của người đại diện. Trong trường hợp pháp luật có quy định về sự đồng ý của người đại diện thì áp dụng tương tự như trường hợp vị thành niên nói chung (như di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, việc định đoạt tài sản là nhà ở và đất đai…).

Không có năng lực hành vi

Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch của những người này đều do người đại diện xác lập và thực hiện. Họ chưa bao giờ có năng lực hành vi bởi chưa đủ ý chí cũng như lí trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành vi đó.

Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

Khái niệm “mất” thông thường được hiểu là đang tồn tại, đang có một hiện tượng, một sự vật nhưng sau đó không còn hiện tượng, sự vật đó nữa. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân cũng là thuộc tính nhân thân của cá nhân và đầy đủ khi cá nhân đến tuổi thành niên.

Thông thường, năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của cá nhân đó (chết hoặc toà án tuyên bố là đã chết). Tuy nhiên, người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với những trình tự, thủ tục nhất định.

Nếu cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được các hành vi của mình thì bị coi là mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS).

Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Năng lực hành vi của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ tục được quy định tại Điều 24 BLDS. Năng lực hành vi của người thành niên bị hạn chế khác với năng lực hành vi một phần của người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù về hình thức có vẻ giống nhau. Năng lực hành vi của người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc nhiên được công nhận là năng lực hành vi đầy đủ khi đạt độ tuổi nhất định còn việc hạn chế năng lực hành vi phải thông qua toà án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp dụng với những người nghiện ma túy và các chất kích thích dẫn đến hậu quả phá tán tài sản của gia đình.

Việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, tư cách chủ thể của những người này như những người có năng lực hành vi dân sự một phần.

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Đây là chủ thể mới được ghi nhận tại Điều 23 BLDS với các đặc điểm:

– Có các yếu tố về thể chất ( sự khuyết thiếu về cơ thể như cá nhân bị câm, mù, điếc hoặc bị tai nạn liệt người,…) hoặc các yếu tố về tinh thần (cú sốc tâm lí,.) mà không đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự

– Có kết luận giám định pháp y tâm thần

– Tòa án ra quyết định tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, chỉ định người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.

Nếu sau đó không còn các căn cứ nêu tren và có kết luận giám định pháp lí tâm thần là họ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi một cách bình thường thì tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.