Top 17 # Xem Nhiều Nhất Vi Phạm Luật Cư Trú / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Athena4me.com

Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Về Cư Trú / 2023

Xử lý vi phạm hành chính về cư trú: Xử lý vi phạm hành chính về cư trú được căn cứ theo điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP…………

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ CƯ TRÚ

Xử lý vi phạm hành chính về cư trú theo quy định pháp luật?

Khoản 1 Điều 2 Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012 quy định:

Xử lý vi phạm hành chính về cư trú được căn cứ theo điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

1. Xử lý vi phạm hành chính về cư trú với mức phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng;

2. Xử lý vi phạm hành chính về cư trú với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú;

Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú;

Tổ chức kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú.

2. Xử lý vi phạm hành chính về cư trú với mức phạt từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

Làm giả sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú;

Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giả;

Cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó;

Cá nhân, chủ hộ gia đình cho người khác nhập hộ khẩu vào cùng một chỗ ở của mình nhưng không bảo đảm diện tích tối thiểu trên đầu người theo quy định;

Ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu;

Sử dụng hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật để nhập hộ khẩu;

Không khai báo tạm trú cho người nước ngoài thuê nhà để ở.

4. Hình thức xử phạt bổ sung với vi phạm hành chính về cư trú.

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi:

Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

Làm giả sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú;

Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giả

5. Biện pháp khắc phục hậu quả với hành vi vi phạm hành chính về cư trú.

Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú

+ Buộc hủy bỏ thông tin, tài liệu sai sự thật đối với hành vi làm giả sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú;

+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó;

+ Buộc hủy bỏ hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật để nhập hộ khẩu với hành vi:

Ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu;

Sử dụng hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật để nhập hộ khẩu;

Thủ tục cấp sổ hộ khẩu theo quy định hiện nay

Các hành vi bị nghiêm cấm về cư trú

Để được tư vấn chi tiết về Xử lý vi phạm hành chính về cư trú, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hành chính 24/7: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn.

Luật Cư Trú Mới Nhất Hiện Nay / 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 11 tháng 7 năm 2013

LUẬT CƯ TRÚ

Luật cư trú số 81/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, được sửa đổi, bổ sung bởi:

Luật số 36/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về cư trú. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú; quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú.

Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống.

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Điều 4. Nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

Bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, không gây phiền hà; việc quản lý cư trú phải bảo đảm hiệu quả.

Mọi thay đổi về cư trú phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại một nơi.

Điều 5. Bảo đảm điều kiện thực hiện quyền tự do cư trú và hoạt động quản lý cư trú

Nhà nước bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân phải bị xử lý nghiêm minh.

Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân.

Nhà nước bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho hoạt động đăng ký, quản lý cư trú.

Điều 6. Trách nhiệm quản lý nhà nước về cư trú

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cư trú trong phạm vi cả nước.

Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cư trú.

Nếu bạn thắc mắc các vấn đề ly hôn nhanh hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ Văn Phòng Luật Sư Quang Liêm số 559 Bình Thới, phường 10, quận 11, TP. Hồ Chí Minh hoặc bằng điện thoại là: 0961 668 968 (Zalo, Viber), Email: luatsuliem@gmail.com để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp giúp bạn giải quyết: Hợp pháp, nhanh gọn, và tiết kiệm chi phí cho bạn.

Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Cư Trú 2013 / 2023

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

Xem có chú thích thay đổi nội dung

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CƯ TRÚ Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú số 81/2006/QH11.

Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú:

1. Sửa đổi, bổ sung Khoản 8 Điều 8 và bổ sung khoản 10 và khoản 11 vào Điều 8 như sau:

“10. Giải quyết cho đăng ký cư trú khi biết rõ người được cấp đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó”

“11. Đồng ý cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó”.

2. Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương: 1. Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên; 2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con; b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc về ở với anh, chị, em ruột; c) Người khuyết tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ; d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ; đ) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột; e) Ông bà nội, ngoại về ở với cháu ruột; 3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp; 4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình; 5. Trường hợp quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân, tổ chức thì phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố; b) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân; c) Được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản; 6. Việc đăng ký thường trú vào nội thành thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Thủ đô.”

3. Khoản 1 Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau: “1. Người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp, khi chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới nếu có đủ điều kiện đăng ký thường trú thì trong thời hạn mười hai tháng có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú.”

4. Khoản 4 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau: “4. Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an. Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và có thời hạn tối đa là hai mươi bốn tháng. Trong thời hạn ba mươi ngày trước ngày hết thời hạn tạm trú, công dân đến cơ quan Công an nơi cấp sổ tạm trú để làm thủ tục gia hạn. Việc điều chỉnh thay đổi về sổ tạm trú được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật này. Sổ tạm trú bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Trường hợp đến tạm trú tại xã, phường, thị trấn khác thì phải đăng ký lại.”

5. Khoản 2 Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau: “2. Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.”

Điều 2 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013.

CHỦ TỊCH QUÔC HỘI

Nguyễn Sinh Hùng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú của Quốc hội, số 36/2013/QH13

Cơ quan ban hành:

Quốc hội

Số công báo:

Đã biết

Số hiệu:

36/2013/QH13

Ngày đăng công báo:

Đã biết

Loại văn bản:

Luật

Người ký:

Nguyễn Sinh Hùng

Ngày ban hành:

20/06/2013

Ngày hết hiệu lực:

Đang cập nhật

Áp dụng:

Đã biết

Tình trạng hiệu lực:

Đã biết

Lĩnh vực:

Hành chính , Tư pháp-Hộ tịch

Tạm trú 2 năm mới được đăng ký thường trú

Ngày 20/06/2013, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, số 36/2013/QH13, trong đó đáng chú ý là quy định về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương. Nếu như trước đây, Luật Cư trú số 81/2008/QH11 quy định một trong những trường hợp được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương là: Công dân có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên; thì Luật sửa đổi, bổ sung này đã điều chỉnh như sau: Công dân có chỗ ở hợp pháp, nếu đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ 01 năm trở lên; nếu đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố từ 02 năm trở lên. Bên cạnh đó, trong trường hợp công dân đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân, tổ chức, ngoài việc đáp ứng điều kiện được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản, thì còn phải đảm bảo diện tích bình quân của chỗ ở đó theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố và có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân. Một điều chỉnh đáng chú ý khác của Luật này là quy định đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú phải có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn (thay vì quy định người đến cư trú từ đủ 14 tuổi trở lên thì đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ mới cần thông báo). Đồng thời, Luật này cũng bổ sung thêm quy định về trường hợp chủ gia đình, nhà ở tập thể không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm đến thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014.

Từ ngày 01/7/2021, Luật này hết hiệu lực bởi Luật Cư trú 2020.

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

THE PRESIDENT

Order No. 09/2013/L-CTN of June 28, 2013, on the promulgation of law

THE PRESIDENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM

Pursuant to Articles 103 and 106 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam, which was amended and supplemented under Resolution No. 51/2001/QH10 of December 25, 2001, of the Xth National Assembly, the 10th session;

PROMULGATES:

the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Residence

which was passed on June 20, 2013, by the XIIIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 5 th session.-

President of the Socialist Republic of Vietnam TRUONG TAN SANG

Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Residence

(No. 36/2013/QH13)

Article 1. To amend and supplement a number of articles of the Law on Residence

1. To amend and supplement Clause 8, Article 8, and supplement Clauses 10 and 11 to Article 8 as follows:

“8. Hiring, leasing, forging, modifying or falsifying household registration books, temporary residence books or other papers related to residence; using forged residence papers; providing false information and documents on residence; falsifying conditions for registration of permanent residence.”

“10. Settling the registration of residence when clearly knowing that the person who is granted the registration of residence does not live in that domicile.

11. Allowing another person to register residence at one’s domicile for self-seeking purpose or in reality, the person registering residence does not live in that domicile.”

2. To amend and supplement Article 20 as follows:

“Article 20. Conditions for registration of permanent residence in centrally run cities

Citizens falling in one of the following cases may register their permanent residence in centrally run cities:

1. Having a lawful domicile; and having temporarily resided for at least one year in a centrally run city, if registering permanent residence in a rural district or town of such city, and having temporarily resided for at least two years in a centrally run city, if registering permanent residence in an urban district or a ward of such city;

2. Obtaining the consent of the person who possesses the household registration book to have their names entered in such book if falling into one of the following cases:

a/ Wife returns to live with her husband; husband returns to live with his wife; child returns to live with his/her father, mother; father, mother returns to live with his/her child;

b/ Person who is beyond the working age, has retired or left his/her job for loss of working capacity or quit his/her job returns to live with his/her sibling;

c/ Person who is disabled, loses working capacity or suffers a mental disease or another ailment which deprives him/her of the capacity to perceive or control his/her acts returns to live with his/her sibling, aunt, uncle or guardian;

d/ Minor whose parents are deceased or whose parents are incapable of nurturing him/her returns to live with his/her paternal grandparents, maternal grandparents, sibling, aunt, uncle or guardian;

dd/ Single adult returns to live with his/her paternal or maternal grandparents, sibling, aunt or uncle;

e/ Paternal or maternal grandparent returns to live with his/her grandchild.

3. Being transferred or recruited to work in an agency or organization, salaried from the state budget or working under a contract with an unspecified term and having a lawful domicile;

4. Having previously registered permanent residence in a centrally run city and now returning to live in this city at a lawful domicile;

5. For citizens specified in Clauses 1, 3 and 4 of this Article, if registering permanent residence at lawful domiciles that are leased, lent or allowed for free-of-charge stay by individuals or organizations, the following conditions must be fully met:

a/ Ensuring the average area condition set by the municipal People’s Council;

b/ Obtaining the certification by the commune, district or township People’s Committee of the average area condition;

c/ Possessing a written consent of the lessor or lender or the individual or organization allowing free-of-charge stay;

6. The registration of permanent residence in inner areas of Hanoi complies with Clause 4, Article 19 of the Law on the Capital City .”

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Luật Cư Trú: 8 Điểm Mới Người Dân Cần Biết / 2023

Khoản 3 Điều 11 Luật Cư trú 2006 quy định công dân có trách nhiệm nộp lệ phí đăng ký cư trú. Tại Mục B Phụ lục 1 Luật Phí và Lệ phí 2015, lệ phí đăng ký cư trú do Bộ Tài chính quy định đối với hoạt động do cơ quan trung ương cấp; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với hoạt động do cơ quan địa phương thực hiện.

Cụ thể, điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư 250/2016/TT-BTC quy định mức lệ phí đăng ký cư trú là khoản thu đối với người đăng ký cư trú với cơ quan đăng ký, quản lý cư trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

– Lệ phí đăng ký cư trú đối với việc đăng ký và quản lý cư trú gồm: Đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú cả hộ hoặc một người nhưng không cấp Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú; Cấp mới, cấp lại, cấp đổi Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú cho hộ gia đình, cho cá nhân; Điều chỉnh những thay đổi trong Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú; Gia hạn tạm trú.

– Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của địa phương mà quy định mức thu cho phù hợp, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc sau: Mức thu đối với việc đăng ký cư trú tại các quận của thành phố trực thuộc trung ương, hoặc phường nội thành của thành phố cao hơn mức thu đối với các khu vực khác.

– Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương;

– Thời gian tạm trú liên tục từ 01 năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã trực thuộc; từ 02 năm trở lên nếu đăng ký vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương;

– Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Thời hạn đăng ký thường trú là 12 tháng kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới. Ngoài ra, một số trường hợp sẽ không được chấp nhận đăng ký thường trú, bao gồm: Chỗ ở thuộc địa điểm cấm; Diện tích nhà nằm toàn bộ trên đất lấn chiếm trái phép; Chỗ ở tái định cư, đã có phương án bồi thường; Chỗ ở đang có tranh chấp; Chỗ ở bị kê biên, tịch thu; Nhà đã có quyết định phá dỡ của cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ Điều 6 Thông tư 35/2014/TT-BCA, hồ sơ bao gồm: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; Bản khai nhân khẩu (đối với trường hợp phải khai bản khai nhân khẩu); Giấy chuyển hộ khẩu (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú); Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp quy định tại Điều 6 Nghị định 31/2014/NĐ-CP …

Một số trường hợp cụ thể phải có thêm giấy tờ khác: Trẻ em đăng ký thường trú theo quy định tại Điều 13 Luật Cư trú 2006, khi đăng ký thường trú phải có giấy khai sinh; Giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương theo quy định tại Điều 7 Thông tư 35/2014/TT-BCA…

Nơi nộp hồ sơ đăng ký thường trú

Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã.

Ngoài những quy định chung kể trên, việc nhập hộ khẩu tại Hà Nội cần lưu ý tại Điều 19 Luật Thủ đô 2012 bổ sung trường hợp cho phép cá nhân đăng ký thường trú nếu đã tạm trú liên tục tại nội thành từ 03 năm trở lên, sở hữu nhà ở hoặc thuê nhà ở nội thành được chủ nhà chấp thuận cho đăng ký thường trú. Điều 1 Nghị quyết 21/2016/NQ-HĐND, diện tích nhà thuê, mượn, ở nhờ tối thiểu đạt 15m 2 sàn/đầu người theo quy định tại Nghị quyết 11/2013/NQ-HĐND sẽ được áp dụng đến hết năm 2020.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách Sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách Sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Chuyển hộ khẩu – Chuyển từ Sổ hộ khẩu này sang Sổ khác

Chuyển hộ khẩu là việc một người đang có tên trong Sổ hộ khẩu này, làm thủ tục xóa tên để chuyển sang một Sổ hộ khẩu khác, không có Sổ hộ khẩu mới nào ra đời. Việc này thường xảy ra khi chuyển nơi thường trú.

Theo quy định tài Điều 28 Luật Cư trú 2006, hồ sơ cấp giấy chuyển hộ khẩu bao gồm Sổ hộ khẩu và Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp giấy chuyển hộ khẩu cho công dân.

Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định các mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú, như sau:

– Phạt tiền từ 100.000 – 300.000 đồng: Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú;

– Phạt tiền từ 2 – 4 triệu đồng: Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú; Cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó…

Bản khai nhân khẩu (ký hiệu là HK01) được sử dụng để công dân từ 14 tuổi trở lên kê khai trong các trường hợp: Khi làm thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú; Đã đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú nhưng chưa khai Bản khai nhân khẩu lần nào. Điều 8 Thông tư 36/2014/TT-BCA hướng dẫn cách ghi bản khai nhân khẩu như sau:

– Mục “Trình độ học vấn”: Ghi rõ trình độ học vấn cao nhất (Tiến sỹ, Thạc sỹ, Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, tốt nghiệp phổ thông trung học, tốt nghiệp phổ thông cơ sở…; nếu không biết chữ thì ghi rõ “không biết chữ”);

– Mục “Trình độ chuyên môn”: Ghi rõ chuyên ngành được đào tạo hoặc trình độ tay nghề, bậc thợ, chuyên môn kỹ thuật khác được ghi trong văn bằng, chứng chỉ;

– Mục “Trình độ ngoại ngữ”: Ghi rõ tên văn bằng, chứng chỉ cao nhất được cấp (Anh A, Anh B hoặc Pháp A, Pháp B hoặc Nga A, Nga B …);

– Mục “Tóm tắt về bản thân (từ đủ 14 tuổi trở lên đến nay ở đâu, làm gì)”: Ghi rõ từng khoảng thời gian (từ tháng, năm nào đến tháng, năm nào) thay đổi về chỗ ở và nghề nghiệp, nơi làm việc;

– Mục “Tiền án, tiền sự”: Ghi rõ tội danh, hình phạt theo bản án số, ngày, tháng, năm của Tòa án; đã được xóa án tích hay chưa hoặc đang trong giai đoạn bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; đã hoặc đang chấp hành hình phạt; bị kết án phạt tù được hưởng án treo; hình phạt bổ sung; đã hoặc đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự hoặc bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng. Thời gian bị áp dụng biện pháp đó.

– Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng

– Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng.

Như vậy, việc khai báo tạm vắng khi đi khỏi địa phương chỉ áp dụng đối với những trường hợp nêu trên. Cá nhân đi công tác, học tập tại địa phương khác không cần khai báo tạm vắng tại địa phương mình mà phải đăng ký tạm trú với địa phương nơi chuyển đến.

Đối với những trường hợp khác phải khai báo tạm vắng, khi đến cơ quan công an thực hiện thủ tục khai báo, người khai báo tạm vắng phải mang theo Chứng minh nhân dân, điền thông tin vào Giấy khai báo tạm vắng. Hoàn thành thủ tục, người khai báo được cấp Phiếu khai báo tạm vắng có chữ ký xác nhận của đại diện cơ quan công an.

Thông thường, việc khai báo tạm vắng được giải quyết trong ngày. Trường hợp công an địa phương cần xác minh thêm thông tin, thời hạn có thể kéo dài hơn. Người đến khai báo tạm vắng không phải trả bất kỳ khoản phí, lệ phí nào. Theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP, trường hợp cá nhân, chủ hộ không thực hiện đúng quy định về đăng ký tạm vắng, sẽ bị xử phạt hành chính từ 100.000 – 300.000 đồng.

Các ký hiệu “KT” như trên bắt nguồn từ tên các mẫu trong bộ mẫu các giấy tờ về quản lý cư trú do Bộ Công an ban hành và sử dụng từ trước khi Luật Cư trú ra đời. Các sổ hộ khẩu với ký hiệu KT1, KT2 và KT3 có thể được hiểu như sau:

– KT1: Sổ hộ khẩu thường trú của công dân, xác định nơi thường trú lâu dài của công dân. Thông thường, địa chỉ ghi trong sổ trùng với địa chỉ ghi trên Chứng minh nhân dân của mỗi người;

– KT2: Sổ tạm trú dài hạn trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Công dân đăng ký tạm trú tại huyện, quận khác huyện, quận nơi thường trú, nhưng cùng tỉnh, thành phố.

– KT3: Được biết đến là Sổ tạm trú dài hạn ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với đăng ký thường trú. Công dân được cấp sổ KT3 là người thường trú tại một tỉnh thành, nhưng đăng ký tạm trú dài hạn ở một tỉnh, thành phố khác.

Theo Thông tư 35/2014/TT-BCA, thời hạn tạm trú được xác định theo đề nghị của công dân nhưng tối đa chỉ 24 tháng. Như vậy, đối với các Sổ tạm trú KT2 và KT3, giá trị tối đa là 24 tháng.

Lưu trú là việc cá nhân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình mà không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú như quy định tại Luật Cư trú 2006. Trách nhiệm thông báo lưu trú thuộc về gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, đơn vị cho người lưu trú tại đó.

Cũng theo quy định tại Luật Cư trú 2006, việc thông báo lưu trú phải được thực hiện trước 23 giờ và cũng có thể qua điện thoại. Nếu đến lưu trú sau 23 giờ, việc thông báo có thể được thực hiện vào sáng hôm sau. Cơ quan công an địa phương sẽ tiến hành ghi nhận thông tin thông báo vào sổ tiếp nhận lưu trú.

Hành vi vi phạm các quy định về thông báo lưu trú được quy định chi tiết tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP, bao gồm các mức xử phạt hành chính như sau:

– Phạt tiền từ 100.000 – 300.000 đồng: Chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú;

– Phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng: Chủ nhà, cơ sở kinh doanh lưu trú không quản lý tốt để xảy ra tình trạng người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực quản lý…

Không đăng ký tạm trú, chủ trọ hay người thuê trọ bị phạt? LuatVietnam