Giáo Án Ôn Tập Ngữ Văn 8

--- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Để Học Tốt Ngữ Văn 8: Đọc Hiểu Tác Phẩm “trong Lòng Mẹ”
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn ( Từ 7 Đến 10 Câu) Kể Lại Một Việc Tốt Em Đã Làm Để Bảo Vệ Môi Trường.
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn ( Từ 7 Đến 10 Câu) Kể Lại Một Việc Tốt Em Đã Làm Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Soạn Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • I – Giới thiệu

    Quãng đời ấu thơ là quãng đời ngọt ngào và nhiều kỷ niệm nhất của con người. Đó là những năm tháng tràn đầy hạnh phúc trong tình thương của cha mẹ và những người thân. Song không phải ai cũng có một thời thơ với những kỷ niệm ngọt ngào như vậy. Nhà văn Nguyên Hồng của chúng ta đã phải nếm trải một tuổi thơ đầy cay đắng, uất hận và buồn tủi, đói khổ, lam lũ Quãng đời thơ ấu ấy được nhà văn ghi lại đầy cảm động qua những trang tự truyện đầm đìa nước mắt và sự căm giận trong “Những ngày thơ ấu”. Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết năm 20 tuổi gồm 9 chương thấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu sắc đã làm rung động bao tâm hồn bạn đọc vì “Nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. Chương 4 của cuốn hồi ký này là đoạn trích ” Trong lòng mẹ”

    Bµi 2: V¨n b¶n " Trong lßng mÑ" I - Giới thiệu Quãng đời ấu thơ là quãng đời ngọt ngào và nhiều kỷ niệm nhất của con người. Đó là những năm tháng tràn đầy hạnh phúc trong tình thương của cha mẹ và những người thân. Song không phải ai cũng có một thời thơ với những kỷ niệm ngọt ngào như vậy. Nhà văn Nguyên Hồng của chúng ta đã phải nếm trải một tuổi thơ đầy cay đắng, uất hận và buồn tủi, đói khổ, lam lũ Quãng đời thơ ấu ấy được nhà văn ghi lại đầy cảm động qua những trang tự truyện đầm đìa nước mắt và sự căm giận trong "Những ngày thơ ấu". Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết năm 20 tuổi gồm 9 chương thấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu sắc đã làm rung động bao tâm hồn bạn đọc vì "Nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại". Chương 4 của cuốn hồi ký này là đoạn trích " Trong lòng mẹ" II - Vài nét về tác giả, tác phẩm 1) Tác giả: Nguyên Hồng (1918 - 1982) ở Nam định. - Mồ côi bố vì bố bị ho lao nên mất sớm, nghà nghèo, người mẹ trẻ nghèo khổ bị khinh rẻ phải tha phương cầu thực. NH phải thôi học khi vừa đậu xong tiểu học và bắt đầu cuộc đời đói khổ, lam lũ, lang thang đầu đường xó chợ, chung đụng với đủ các hạng trẻ em nghèo đói, du đãng trong xã hội cũ. - Lớn lên lại bị đày đoạ, tù tội, lại thêm cảnh đói khổ do thất nghiệp kéo dài, NH tưởng như là sẽ chết đau đớn ở cái tuổi 16. Nhưng anh nghĩ, dù có chết đi cũng phải để lại cho cõi đời mà anh yêu mến một cái gì vừa tinh khiết, trong sáng, vừa tha thiết yêu thương nhất của tâm hồn. Và anh bắt đầu viết - viết suốt ngày suốt đêm, viết một cách đau khổ say mê, bất chấp "cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng. (Với anh, viết văn là một lẽ sống) - Ngay từ những trang viết đầu tay, ông đã hướng ngòi bút của mình vào những người nghèo khổ, bất hạnh. Và ông thuỷ chung với con đường văn học đó trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Với trái tim nhân đạo dào dạt thắm thiết, NH đã nói lên thật cảm động số phận đầy đau khổ ở các thành phố lớn như Hà nội, Hải Phòng, Nam định Truyện ngắn của ông chứa chan tinh thần nhân đạo sâu sắc. - Trong số những người cùng khổ đó, ông quan tâm và thể hiện thành công những nhân vật phụ nữ và nhi đồng. - Đó là những người phụ nữ lao động nghèo khổ, cần cù tần tảo mà cả cuộc đời chỉ là vất vả, lo nuôi chồng con. Họ còn bị những lề thói khắc nghiệt của XH cũ vùi dập, đầy đoạ. Nhưng đó cũng là những người phụ nữ có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý như yêu thương chồng con tha thiết, sống ân tình, thuỷ chung, đồng thời có trái tim khao khát hạnh phúc và biết yêu một cách sôi nổi.. Trong đời sống văn học đương thời thì NH là một trong ít nhà văn có quan điểm tiến bộ về vấn đề phụ nữ trong lĩnh vực tình yêu hôn nhân. Nhà văn dứt khoát bênh vực người phụ nữ - Từ cuộc đời của mình, giống như nhà văn nga Gorki, NH đã viết nhiều và cảm động về những trẻ em nghèo,về những nỗi khổ nhiều mặt trong cảnh sống lầm than của chúng, và nhất là về những nỗi đau trong trái tim nhạy cảm dễ tổn thương của tuổi thơ. Đồng thời nhà văn hầu như bao giờ cũng phát hiện và miêu tả những nét đẹp trong sáng, cảm động trong những tâm hồn non trẻ đó. 2. Tác phẩm: - Tác phẩm viết năm 1938 và đến năm 1940 thì được in trọn vẹn thành sách. Đó là một tập hồi ký gồm 9 chương ghi lại một cách trung thực những năm tháng tuổi thơ cay đắng của tác giả. Đó là một tuổi thơ có quá ít những kỷ niệm êm đềm, ngọt ngào, mà chủ yếu là những kỷ niệm đau buồn, tủi cực của một "đứa bé côi cút, cùng khổ" sinh ra trong một gia đình sa sút, bất hoà, sớm phải sống lêu lổng, bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng và thái độ dửng dưng một cách tàn nhẫn của xã hội. - "Trong lòng mẹ" là chương 4 của tập hồi ký 3.Tóm tắt: - Gần đến ngày giỗ đầu bố, mẹ của bé Hồng ở Thanh Hoá vẫn chưa về. Một hôm người cô gọi bé Hồng đến bên cười hỏi là bé Hồng có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ không... Biết những rắp tâm tanh bẩn của người cô, bé Hồng đã từ chối và nói cuối năm thế nào mẹ cũng về. Cô lại cười nói. Cô hứa cho tiền tàu vào thăm mẹ và thăm em bé. Nước mắt bé Hồng ròng ròng rớt xuống, thương me vô cùng. Người cô nói với em các chuyệ về người mẹ ở Thanh Hoá : mặt mày xanh bủng, người gầy rạc... ngồi cho con bú bên rổ bóng đèn, thấy người quen thì vội quay đi, lấy nón che... Bé Hồng vừa khóc vừa căm tức những cổ tục muốn vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi. Cô nghiêm nghị đổi giọng bảo bé Hồng đánh giấy cho mẹ về để rằm tháng Tám " giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày " - Bé Hồng chẳng phải viết thư cho mẹ đến ngày giỗ đầu của bố, mẹ về một mình, mua cho bé Hồng và em Quế bao nhiêu là quà. Chiều tan học ở trường ra, thoáng thấy một người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ, bé chạy theo và gọi : " Mợ ơi ! Mợ ơi ! Xe chạy chậm lại, mẹ cầm nón vẫy lại. Con nức nở, mẹ sụt sùi khóc. Em thấy mẹ vẫn tươi sáng, nước da mịn, gò má màu hồng. Miệng xinh xắn nhai trầu thơm tho. Bé Hồng ngả đầu vào cánh tay mẹ. Mẹ xoa đầu con và dỗ : " Con nín đi ! Mợ đã về với các con rồi mà ". 4. Gi¸ trÞ vÒ néi dung & NT: - VB ®­îc trÝch tõ ch­¬ng 4 tËp håi kÝ, kÓ vÒ tuæi th¬ cay ®¾ng cña chÝnh t¸c gi¶. C¶ 1 qu·ng ®êi c¬ cùc (må c"i cha, kh"ng ®­îc sèng víi mÑ mµ sèng víi ng­êi c" ®éc ¸c) ®­îc t¸i hiÖn l¹i sinh ®éng. T×nh mÉu tö thiªng liªng, t/y tha thiÕt ®èi víi mÑ ®· gióp chó bÐ v­ît qua giäng l­ìi xóc xiÓm, ®éc ¸c cña ng­êi c" cïng nh÷ng d­ luËn kh"ng mÊy tèt ®Ñp vÒ ng­êi mÑ téi nghiÖp. §o¹n t¶ c¶nh ®oµn tô gi÷a 2 mÑ con lµ 1 ®o¹n v¨n them ®Ém t×nh c¶m vµ thÓ hiÖn s©u s¾c tinh thÇn nh©n ®¹o. - VB ®em ®Õn cho ng­êi ®äc 1 høng thó ®Æc biÖt bëi sù kÕt hîp nhuÇn nhuyÔn gi÷a kÓ vµ béc lé c¶m xóc, c¸c h×nh ¶nh thÓ hiÖn t©m tr¹ng, c¸c so s¸nh Ên t­îng, giµu xóc c¶m. Mçi tr¹ng huèng, mçi s¾c th¸i khæ ®au vµ hp cña n/v chÝnh (chó bÐ Hång) võa g©y xóc ®éng m¹nh mÏ võa cã ý nghÜa lay thøc nh÷ng t/c nh©n v¨n. Ng­êi ®äc d­êng nh­ håi hép cïng m¹ch v¨n vµ con ch÷, cïng ghª rîn h×nh ¶nh ng­êi c" th©m ®éc, cïng ®au xãt 1 ng­êi ch¸u ®¸ng th­¬ng, vµ nh­ còng chia sÎ hp bµng hoµng trong tiÕng khãc nøc në cña chó bÐ Hång lóc gÆp mÑ. Giäng v¨n khi thong th¶ l¹nh lïng, khi tha thiÕt r¹o rùc, gi¶n dÞ mµ l"i cuèn bëi c¸ch kÓ líp lang vµ ng"n ng÷ giµu h×nh ¶nh, t¹o nªn nh÷ng chi tiÕt sèng ®éng ®Æc s¾c, thÊm ®Ém t×nh ng­êi. 5. §Æc ®iÓm nh©n vËt: + Bµ c": ThiÕu lßng nh©n ¸i ®é l­îng, hay cã nh÷ng thµnh kiÕn dµnh cho chÞ d©u go¸ bôa trÎ trung. LÝ do bµ c" khinh mÞªt ruång rÉy mÑ Hång: go¸ chång, nî nµn cïng tóng, bá con c¸i ®i tha ph­¬ng cÇu thùc''. Cã b¶n chÊt l¹nh lïng ®éc ¸c, th©m hiÓm. Lµ h×nh ¶nh mang ý nghÜa tè c¸o h¹ng ng­êi sèng tµn nhÉn, kh" hÐo c¶ t×nh m¸u mò, ruét rµ trong c¸i x· héi thùc d©n nöa phong kiÕn lóc bÊy giê.(DÜ nhiªn, tÝnhc¸ch tµn nhÉn ®ã lµ s¶n phÈm cña nh÷ng ®Þnh kiÕn ®èi víi phô n÷ trong x· héi cò) + BÐ Hång: Lªn 3 tuæi c"i cha, ng­êi mÑ v× cïng tóng qu¸ ph¶i tha ph­¬ng cÇu thùc. CËu bÐ ph¶i xa mÑ sèng víi hä hµng bªn néi. Nh­ng cËu kh"ng hÒ ®­îc ai yªu th­¬ng. CËu ph¶i sèng trong sù ghÎ l¹nh vµ cay nghiÖt cña nh÷ng ng­êi th©n thÝch. Xa mÑ nh­ng cËu lu"n nhí mÑ, yªu mÑ, khao kh¸t ngµy gÆp mÑ. Cµng nhËn ra sù th©m ®éc cña ng­êi c", Hång cµng ®au ®ín uÊt hËn vµ cµng d©ng trµo c¶m xóc yªu th­¬ng m·nh liÖt ®èi víi ng­êi mÑ bÊt h¹nh cña m×nh. III - Phân tích chương "trong lòng mẹ" 1.Sự kiện 1: Tình cảnh đáng thương và nỗi đau của bé Hồng Qua đoạn 1 và qua lời tự thuật của nhân vật "tôi", ta thấy chú bé Hồng có tình cảnh đáng thương như thế nào ? * Tình cảnh đáng thương của Hồng - Hồng mồ côi cha gần 1năm - Mẹ Hồng do bị mọi người hắt hủi, khinh ghét, xa lánh nên phải đi vào Thanh Hoá tha phương kiếm sống. Người mẹ khốn khổ ấy một phần vì túng bấn, một phần khác vì chưa hết tang chồng mà lại có con, nên không thể sống nổi với cái xã hội đầy những thành kiến, hủ tục độc ác, đã phải bỏ nhà đi xa. Song nỗi đau khổ sâu xa không chỉ dừng lại ở sự thiếu tình thương mà Hồng còn phải chịu những nỗi đau khác nữa do người khác xúc xiểm một cách độc ác về mẹ chú. Nỗi đau ấy được thể hiện rõ nhất trong cuộc đối thoại giữa bé Hồng và bà cô của bé. Em hãy lược thuật lại cuộc đối thoại giữa bà cô với bé Hồng? Qua đoạn đối thoại, em thấy chú bé Hồng phải chịu thêm những nỗi đau như thế nào ? Hãy phân tích tâm trạng đau đớn ấy của Hồng ? - Cuộc trò chuyện với bà cô là kỷ niệm không thể quên về một nỗi đau uất nghẹn mà tuổi thơ NH đã phải trải qua. Đã xa mẹ, nhớ mẹ, bé Hồng lại luôn luôn phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ. Những lời nói cay nghiệt của bà cô chính là những nhát dao cứa sâu vào trái tim thơ trẻ của chú bé. + Đầu tiên, bà cô gợi ý cho bé Hồng vào thăm mẹ. Nỗi nhớ mẹ của đứa tre từng nhiều phen "rớt nước mắt" vì "thiếu thốn một tình thương ấp ủ" lại được khơi dậy. Chú bé "im lặng cúi đầu không đáp." "chú bé nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói rất kịch" của bà ta. + Rồi bà cô giục bé Hồng vào Thanh hoá để đòi mẹ "may sắm và thăm em bé". Bà ta cố ngân dài từ "em bé" thật ngọt. Đấy là những tiếng đầy dụng ý xấu xa. Thấy mẹ bị xúc phạm, Hồng không thể tiếp tục ghìm nén nỗi tủi cực. Chú bé từ chỗ "im lặng cúi đầu" đến "nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và ở cổ. Một trạng thái tình cảm phức tạp vừa đau đớn, vừa uất nghẹn nảy sinh trong tâm hồn thơ trẻ, khiến bé Hồng "cười dài trong tiếng khóc". Bé Hồng cười vì hiểu thấu tâm địa độc hiểm của bà cô, khinh bỉ thái độ lèo lá, giả dối, độc ác, nhẫn tâm của bà. Em "Khóc" vì thương nhớ mẹ, tiếng khóc uất ức, căm ghét những hủ tục phong kiến đã chôn vùi, đày đoạ bao số phận người phụ nữ. Nỗi đau đớn tủi cực và cả nỗi căm giận buộc phải nén lại của chú bé sâu sắc biết chừng nào. §Ò 6: ChÊt tr÷ t×nh thÊm ®­îm "Trong lßng mÑ" * ChÊt tr÷ t×nh thÓ hiÖn ë t×nh huèng vµ néi dung t¸c phÈm: - §ã lµ hoµn c¶nh ®¸ng th­¬ng cña chó bÐ Hång , ®ã lµ c©u chuyÖn ng­êi mÑ ©m thÇm nhiÒu ®¾ng cay, nhiÒu thµnh kiÕn cæ hñ, l¸c hËu, tµn ¸c ®ã lµ sù yªu th­¬ng vµ tin cËy cña chó bÐ Hång dµnh cho mÑ . - ChÊt tr÷ t×nh cßn thÓ hiÖn ë dßng c¶m xóc phong phó cña chó bÐ Hång . Trong dßng c¶m xóc ®ã ng­êi ®äc b¾t gÆp niÒm xãt xa tñi nhôc lßng c¨m giËn s©u s¾c quyÕt liÖt , t×nh yªu th­¬ng nång nµn, m·nh liÖt .. *C¸ch thÓ hiÖn cña t¸c gi¶ còng gãp phÇn t¹o nªn chÊt håi kÝ. §ã lµ: - Sù kÕt hîp nhuÇn nhuyÔn gi÷a kÓ, t¶ vµ biÓu c¶m - C¸c h/¶nh thÓ hiÖn t©m tr¹ng, c¸c ss ®Òu g©y Ên t­înh, giµu søc biÓu c¶m - Lêi v¨n nhiÒu khi mª say nh­ ®­îc viÕt trong dßng ch¶y c¶m xóc m¬n man, d¹t dµo. §Ò 7: ThÕ nµo lµ håi kÝ? V× sao cã thÓ xÕp T"i ®i häc vµ Nh÷ng ngµy th¬ Êu lµ håi kÝ tù truyÖn ? - Håi kÝ lµ mét thÓ kÝ, ë ®ã ng­êi viÕt kÓ l¹i nh÷ng c©u chuyÖn, nh÷ng ®iÒu m×nh ®· chøng kiÕn hoÆc ®· tr¶i qua - T"i ®i häc vµ Nh÷ng ngµy th¬ Êu ®Òu lµhåi kÝ tù truyÖn v× hai t¸c gi¶ ®· kÓ l¹i thêi th¬ Êu cña m×nh mét c¸ch ch©n thùc vµ xóc ®éng. §Ò 8: RÊt kÞch nghÜa lµ thÕ nµo? ChØ râ vµ ph©n tÝch nh÷ng biÓu hiÖn nµy trong ®o¹n trÝch? - RÊt kÞch nghÜa lµ rÊt gièng víi ng­êi ®ãng kÞch trªn s©n khÊu, ph¶i nhËp vai, ph¶i thuéc lêi tho¹i. Cã nghÜa lµ gi¶ dèi - Bµ c" cã vÎ bÒ ngoµi ngät ngµo nh­ng kh"ng hÒ cã ý ®Þnh tèt ®Ñp g× víi ®øa ch¸u mµ b¾t ®Çu mét trß ch¬i tai ¸c ®éc ®Þa víi ®øa ch¸u ruét nhá nhoi, c"i cót, ®¸ng th­¬ng cña m×nh . §ã lµ hµnh ®éng s¨m soi, ®éc ®Þa, hµnh h¹ nhôc m¹ ®øa ch¸u ng©y th¬ b"ng c¸ch xo¸y vµo nçi ®au, nçi khæ t©m cña nã. Ng­êi c" mang nÆng t­ t­ëng cæ hñ p/kiÕn cho nªn trë thµnh ng­êi l¹nh lïng , v" c¶m . §Ò 9: Ph©n tÝch nh÷ng so s¸nh hay trong ®o¹n trÝch? * So s¸nh 1: Gi¸ nh÷ng cæ tôc ®· ®µy ®o¹ mÑ t"i lµ mét vËt nh­ hßn ®¸ hay côc thuû tinh, ®Çu mÈu gç, t"i quyÕt vå ngay lÊy mµ c¾n, mµ nhai, mµ nghiÕn cho k× vôn n¸t míi th"i. - Lµ mét c©u v¨n biÓu c¶m dµi , nhÞp v¨n dån dËp víi liªn tiÕp nhiÒu ®éng tõ m¹nh - ThÓ hiÖn mét ý nghÜa t¸o tîn , bÊt cÇn ®Çy phÊn né ®ang trµo s"i nh­ mét c¬n d"ng tè trong lßng cËu bÐ . - T©m tr¹ng ®au ®ín, uÊt øc c¨m tøc ®Õn tét cïng . C¸c tõ c¾n, nhai, nghiÕn, n"m trong 1 tr­êng nghÜa ®Æc t¶ t©m tr¹ng uÊt øc cña nh©n vËt - Cµng c¨m giËn bao nhiªu cµng tin yªu, th­¬ng mÑ bÊy nhiªu - §Æc biÖt t×nh yªu th­¬ng vµ niÒm tin yªuvíi mÑ ®· khiÕn ng­êi con hiÕu th¶o Êy ®· suy nghÜ s©u s¾c h¬n. Tõ c¶nh ngé bi th­¬ng cña ng­êi mÑ, tõ nh÷ng lêi nãi kÝch ®éng cña ng­êi c", bÐ Hång nghÜ tíi nh÷ng cæ tôc, c¨m giËn c¸i x· héi ®Çy ®è kÞ vµ ®éc ¸c Êy víi nh÷ng ng­êi phô n÷ gÆp hoµn c¶nh Ðo le. BÐ Hång ®· truyÒn tíi ng­êi ®äc nh÷ng néi dung mang ý nghÜa x· héi b"ng mét c©u v¨n giµu c¶m xóc vµ h×nh ¶nh - Chóng ta c¶m th"ng víi nçi ®au ®ín xãt xa, nçi c¨m giËn tét cïng cña bÐ Hång ®ång thêi rÊt tr©n träng mét b¶n lÜnh cøng cái, mét tÊm lßng rÊt mùc yªu th­¬ng vµ tin t­ëng mÑ. VÎ ngoµi th× nhÉn nhôc nh­ng bªn trong th× s"i sôc mét niÒm c¨m giËn muèn gång lªn chèng tr¶ l¹i mäi sù xóc ph¹m. * So s¸nh 2. NÕu ng­êi quay l¹i Êy lµ ng­êi kh¸c th× kh¸c g× c¸i ¶o ¶nh cña mét dßng n­íc trong suèt ch¶y d­íi bãng r©m ®· hiÖn ra tr­íc con m¾t gÇn r¹n nøt cña ng­êi bé hµnh ng· gôc gi÷a sa m¹c. - Bãng d¸ng ng­êi mÑ xuÊt hiÖn tr­íc cÆp m¾t tr"ng ®îi mái mßn cña ®øa con gièng nh­ dßng suèi trong suèt ch¶y d­íi bãng r©m ®· hiÖn ra tr­íc con m¾t gÇn r¹n nøt cña ng­êi bé hµnh ng· gôc gi÷a sa m¹c. - So s¸nh nh"m diÔn t¶ nçi khao kh¸t gÆp mÑ m·nh liÖt vµ tét bËc. Nçi khao kh¸t t×nh mÑ ®ang ch¸y s"i trong t©m hån non nít cña ®øa trÎ må c"i . Còng nh­ ng­êi bé hµnh kia, nÕu ®ã kh"ng ph¶i lµ mÑ th× ®øa con téi nghiÖp Êy sÎ gôc ng·, quÞ xuèng kiÖt søc trong nçi kh¸t thÌm, trong sù tuyÖt väng ®Õn tét cïng. - C¸i hay vµ hÊp dÉn cña h×nh ¶nh so s¸nh lµ nh÷ng gi¶ thiÕt t¸c gi¶ tù ®Æt ra nh"m cùc t¶ nçi xóc ®éng cña t©m tr¹ng trong t×nh huèng cô thÓ. §©y lµ mét so s¸nh gi¶ ®Þnh, ®éc ®¸o, míi l¹ vµ phï hîp víi viÖc béc lé t©m tr¹ng tõ hi väng tét cïng ®Õn tuyÖt väng tét cïng . §Ò 10. Nguyªn Hång lµ nhµ v¨n cña phô n÷ vµ trÎ em * Më bµi: Giíi thiÖu chung vÒ t¸c gi¶ , dÉn d¾t vµo vÊn ®Ò. * Th©n bµi: a. Gi¶i thÝch nhËn ®Þnh : - Phô n÷ vµ nhi ®ång xuÊt hiÖn rÊt nhiÒu trong t¸c phÈm cña Nguyªn Hång. C¸c nh©n vËt Êy hiÖn lªn rÊt râ nÐt vµ sèng ®éng, ®Çy Ên t­îng trªn trang viÕt cña "ng. - H¬n n÷a nhµ v¨n ®· dµnh cho phô n÷ vµ nhi ®ång mét tÊm lßng chan chøa yªu th­¬ng vµ mét th¸i ®é n©ng niu tr©n träng ®Õn tét cïng b. Chøng minh nhËn ®Þnh: * Nguyªn Hång lµ nhµ v¨n cña phô n÷ : - Ng­êi phô n÷ trong trang viÕt cña "ng lµ nh÷ng ng­êi PNL§ nghÌo khæ, cÇn cï, tÇn t¶o c¶ cuéc ®êi nu"i chång, nu"i con. - Hä lµ nh÷ng ng­êi rÊt khæ së v× nh÷ng tËp tôc phong kiÕn cæ hñ l¹c hËu: bÞ Ðp duyªn, bÞ chång ®èi xö th" b¹o, tÖ b¹c, bÞ thµnh kiÕn nÆng nÒ v× nh÷ng cæ tôc l¹cc hËu ( cuéc h"n nh©n cña mÑ bÐ Hång kh"ng cã t×nh yªu, khi ch­a ®o¹n tang chång mµ ®i b­íc n÷a, chöa ®Î víi ng­êi kh¸c nªn bÞ hä hµng nhµ chång khinh miÖt, ruång rÉy). - ThÕ nh­ng hä cã vÎ ®Ñp t©m hån rÊt cao quÝ : yªu th­¬ng con hÕt mùc, cã tÊm lßng ©n nghÜa thuû chung. MÑ bÐ Hång vÉn trë vÒ lµm giæ cho chång khi bÞ hä hµng nhµ chång khinh miÖt. - T¸c gi¶ c¶m th"ng s©u s¾c víi nh÷ng ®au khæ, nh÷ng kh¸t väng h¹nh phóc thÇm kÝn cña ng­êi phô n÷ . T¸c gi¶ bµy tá mét quan ®iÓm tiÕn bé vÒ ng­êi phô n÷, tr­íc hÕt lµ trong lÜnh vùc h"n nh©n gia ®×nh (c¶m th"ng víi mÑ bÐ Hång ph¶i sèng kh" hÐo, kh"ng cã h¹nh phóc bªn ng­êi chång nghiÖn ngËp : c¶m th"ng víi tr¸i tim khao kh¸t t×nh yªu). - Nhµ v¨n th¼ng th¾n bªnh vùc cho nh÷ng ng­êi phô n÷ khi t×m ®Õn víi niÒm h¹nh phóc míi khi ch­a ®o¹n tang chång (muèn c¾n, nhai, nghiÕn nh÷ng hñ tôc). * Nguyªn Hång lµ nhµ v¨n cña trÎ em: - §ã lµ nh÷ng ®øa trÎ ngÌo víi nh÷ng nçi khæ nh÷ng mÆt trong c/s lÇm than cña chóng. §Æc biÖt lµ nh÷ng nçi ®au ®ín xãt xa trong tr¸i tim non nít, nh¹y c¶m, dÔ tçn th­¬ng (tuæi th¬ cay ®¾ng cña t¸c gi¶ ;12 tuæi må c"i cha, mÑ, sèng víi ng­êi c" cay nghiÖt, khæ ®au ®ãi rÐt, bÞ vøt ra lÒ ®­êng kiÕm sèng, ph¶i lµm ®ñ mäi nghÒ kiÕm sèng . §Æc biÖt ph¶i sèng trong sù cay nghiÖt cña hä hµng - Nhµ v¨n ®· ph¸t hiÖn vµ miªu t¶ ®­îc nÐt ®Ñp trong s¸ng c¶m ®éng trong t©m hån non trÎ Êy ; nhÉn nhôc chÞu ®ùng, gan gãc, cøng cái cã b¶n lÜnh, d¹t dµo mét t×nh th­¬ng mÑ Th"ng qua 2 tÇng líp nµy t¸c gi¶ lªn ¸n, tè c¸o x· héi cò, ®ßi quyÒn sèng, quyÒn h¹nh phóc cho hä. * KÕt luËn: Mét trong nh÷ng c¸i lµm nªn thµnh c"ng cña Nguyªn Hång lµ "ng ®· viÕt t¸c phÈm b"ng nh÷ng rung ®éng cùc ®iÓm cña mét t©m hån trÎ th¬ bÐ d¹i. ¤ng ®· viÕt vÒ tuæi th¬ cña chÝnh m×nh, vÒ bao sè phËn cùc khæ mµ "ng ®· gÆp trªn ®­êng ®êi §Ò 11: Qua nh©n vËt trÎ em trong ®o¹n trÝch "Trong lßng mÑ"cña Nguyªn Hång h·y ph©n tÝch ®Ó lµm s¸ng tá: "C"ng dông cña v¨n ch­¬ng lµ gióp cho t×nh c¶m vµ gîi lßng vÞ tha" (Hoµi Thanh) Yªu cÇu ®Ò 4: - Ph­¬ng ph¸p: BiÕt c¸ch lµm bµi v¨n nghÞ luËn, chøng minh thÓ hiÖn trong c¸c thao t¸c: t×m ý, chän ý, dùng ®o¹n, liªn kÕt ®o¹n bè côc v¨n b¶n ®Æc biÖt lµ c¸ch lùa chän ph©n tÝch dÉn chøng - Néi dung: Trªn c¬ së hiÓu biÕt vÒ ®o¹n trÝch "Trong lßng mÑ" cña Nguyªn Hång ph©n tÝch lµm s¸ng tá ý liÕn cña Hoµi Thanh vÒ c"ng dông cña v¨n ch­¬ng: "Gióp cho t×nh c¶m vµ gîi lßng vÞ tha". Häc sinh cã thÓ tr×nh bµy bè côc nhiÒu c¸ch kh¸c nh­ng cÇn tËp trung vµo c¸c vÊn ®Ò sau: + T×nh yªu th­¬ng con ng­êi: BÐ Hång cã t×nh yªu m·nh liÖt víi ng­êi mÑ ®¸ng th­¬ng + Giµu lßng vÞ tha: BÐ Hång bá qua nh÷ng lêi rÌm pha th©m ®éc cña bµ c" lóc nµo còng nghÜ tíi mÑ víi niÒm th"ng c¶m s©u s¾c, mong muèn ®­îc ®ãn nhËn t×nh yªu th­¬ng cña mÑ + Båi ®¾p thªm vÒ t©m hån t×nh c¶m VD: LuyÖn viÕt ®o¹n v¨n chøng minh: NiÒm h¹nh phóc v" bê khi ë trong lßng mÑ theo c¸ch: DiÔn dÞch vµ quy n¹p - B¾t buéc HS ghi nhí mét ®o¹n v¨n hay trong ®o¹n trÝch. * Nh÷ng ®iÒu cÇn l­u ý: Håi ký lµ mét thÓ lo¹i v¨n häc mµ ng­êi viÕt trung thµnh ghi l¹i nh÷ng g× ®· diÔn ra trong cuéc sèng cña m×nh, t"n träng sù thËt. §Æc ®iÓm cña håi ký lµ kh"ng thÓ h cÊu v× thÕ t¸c phÈm sÏ kh"ng hay, sÏ tÎ nh¹t nÕu nh÷ng g× diÔn ra trong cuéc ®êi cña nhµ v¨n kh"ng cã g× ®Æc s¾c. "Nh÷ng ngµy th¬ Êu" cña Nguyªn Hång lµ mét tËp håi ký ghi l¹i nh÷ng g× ®· diÔn ra thêi th¬ Êu cña chÝnh nhµ v¨n Nguyªn Hång. Ta cã thÓ c¶m nhËn ®­îc tÊt c¶ nh÷ng t×nh tiÕt, chi tiÕt trong c©u chuyÖn ®Òu rÊt thËt. Cã n­íc m¾t cña Nguyªn Hång thÊm qua tõng c©u ch÷. ë ch­¬ng IV cña t¸c phÈm, Nguyªn Hång ®· thÓ hiÖn rÊt thµnh c"ng nghÖ thuËt x©y dùng t©m lý nh©n vËt. Cïng mét lóc ë bÐ Hång diÔn ra nh÷ng t×nh c¶m rÊt tr¸i ng­îc nhau. Cã sù nhÊt qu¸n vÒ tÝnh c¸ch vµ th¸i ®é. Khi bµ c" thÓ hiÖn nghÖ thuËt xóc xiÓm vµ nãi xÊu vÒ ng­êi mÑ cña bÐ Hång ë mét møc ®é cao mµ mét ®øa bÐ b×nh th­êng rÊt dÔ dµng tin theo th× con ng­êi ®éc ¸c nµy ®· thÊt b¹i. BÐ Hång kh"ng nh÷ng kh"ng tin lêi bµ c" mµ cµng th­¬ng mÑ h¬n. Trong ®iÒu kiÖn lóc bÊy giê, mét ng­êi phô n÷ cha ®o¹n tang chång ®· mang thai víi ng­êi kh¸c, lµ mét ®iÒu tuyÖt ®èi cÊm kþ. Ai còng cã thÓ xa l¸nh thËm chÝ phØ nhæ, khinh th­êng. H¬n ai hÕt bÐ Hång hiÓu rÊt râ ®iÒu nµy. V× thÕ t×nh th­¬ng cña bÐ Hång ®èi víi mÑ kh"ng chØ lµ t×nh c¶m cña ®øa con xa mÑ, thiÕu v¾ng t×nh c¶m cña mÑ mµ cßn lµ th­¬ng ng­êi mÑ bÞ x· héi coi th­êng khinh rÎ. BÐ Hång lín kh"n h¬n rÊt nhiÒu so víi tuæi cña m×nh. §iÒu ®Æc biÖt lµ dï cã suy nghÜ chÝn ch¾n, tõng tr¶i nhng bÐ Hång vÉn lµ mét ®øa trÎ, vÉn cã sù ng©y th¬. V× thÕ, lµm nªn søc hÊp dÉn cña t¸c phÈm, ®iÒu ®Çu tiªn ph¶i nãi tíi c¶m xóc ch©n thµnh: - Nh÷ng t×nh tiÕt, chi tiÕt trong ch­¬ng IV cña t¸c phÈm "Nh÷ng ngµy th¬ Êu" diÔn ra hÕt søc ch©n thËt vµ c¶m ®éng. Cã thÓ nãi ë bÐ Hång nçi ®au xãt, niÒm bÊt h¹nh ®­îc ®Èy lªn ®Õn ®Ønh cao. NiÒm kh¸t khao ®­îc sèng trong vßng tay yªu th­¬ng cña ng­êi mÑ còng ë møc ®é cao nhÊt kh"ng g× so s¸nh b"ng. Cuèi cïng th× h¹nh phóc bÊt ngê ®Õn còng v" cïng lín, ®­îc diÔn t¶ thËt xóc ®éng. Cã thÓ biÓu diÔn nh÷ng cung bËc cña t×nh c¶m cña bÐ Hång b"ng s¬ ®å nh sau: + Nçi bÊt h¹nh (cha chÕt, mÑ ph¶i ®i kiÕm ¨n ë n¬i xa, bÞ mäi ng­êi khinh rÎ) + Nçi c¨m tøc nh÷ng cæ tôc, niÒm kh¸t khao gÆp mÑ + H¹nh phóc v" bê bÕn khi sèng trong vßng tay yªu th­¬ng cña mÑ * Ch÷ "t©m" vµ ch÷ "tµi" cña Nguyªn Hång: Nguyªn Hång lµ mét c©y bót nh©n ®¹o thèng thiÕt. ë ch­¬ng IV cña t¸c phÈm, nhµ v¨n kh"ng nh÷ng thÓ hiÖn s©u s¾c niÒm ®ång c¶m víi ng­êi mÑ mµ cßn kh¼ng ®Þnh nh÷ng phÈm chÊt tèt ®Ñp cao quý cña mÑ, khi mÑ l©m vµo nh÷ng t×nh c¶nh nghiÖt ng· nhÊt. §"ng sau c©u ch÷, ta ®äc ®­îc tÊm lßng tr¨n trë yªu th­¬ng con ng­êi ch©n thµnh, thÊm thÝa, ®Æc biÖt lµ t×nh yªu th­¬ng phô n÷ vµ trÎ em - nh÷ng ng­êi vèn chÞu nhiÒu thiÖt thßi, ®au khæ nhÊt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Lại 2 Trrong 4 Văn Bản Sau: Lão Hạc, Trong Lòng Mẹ, Tôi Đi Học, Tức Nước Vỡ Bờ (Không Chép Mạng Hay Vietjack, Lời Giải Hay Nha )
  • Soạn Bài Trong Lòng Mẹ (Trích Những Ngày Thơ Ấu) Siêu Ngắn
  • Đề Kiểm Tra Giữa Học Kì 1 Môn Văn Lớp 8 Phòng Gd&đt Duy Tiên 2021
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 8 Bài: Trong Lòng Mẹ
  • Hãy Đóng Vai Nhân Chú Bé Hồng Kể Lại Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Quan Hệ Ngữ Pháp Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Vốn Pháp Định Và Những Điều Doanh Nghiệp Cần Phải Biết 2021!
  • Cách Nhận Biết 6 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản
  • 7 Điều Quan Trọng Nhất Cuộc Đời Bạn Phải Luôn Nhớ
  • Hạnh Phúc: Điều Quan Trọng Nhất Trong Cuộc Sống
  • Trong Cuộc Sống, Điều Gì Là Quan Trọng Nhất?
  • 1. Có người sẽ nói ngay: Làm gì có cái gọi là quan hệ ngữ pháp (QHNP) trong văn bản. Điều này là dễ hiểu bởi vì nhiều công trình nghiên cứu ngữ pháp nghiêm túc đã khẳng định không có cái gọi là QHNP bên ngoài phạm vi câu.

    Theo Bloomfield, câu là một hình thức ngôn ngữ độc lập, không bị bao gồm vì bất cứ một kết cấu ngữ pháp nào trong một hình thức ngôn ngữ lớn hơn. (…) Câu là đơn vị lớn nhất của miêu tả ngữ pháp . Cố giáo sư Hoàng Tuệ cũng đã viết: Giá trị đơn vị văn bản được xác định chủ yếu theo nội dung. Quan hệ giữa những đơn vị này có thể có dấu hiệu (hiển ngôn) về ngữ pháp ( … ), song đó vẫn là chủ yếu quan hệ ngữ nghĩa (Cho nên, chớ bị lầm lẫn bởi các thuật ngữ Ph: Grammaire textuelle; A: Textual grammar; Ng: Grammatika teskta… đã được dịch thành ngữ pháp văn bản. ( … ) hoặc là quan hệ giữa các thành tố của cụm từ và quan hệ giữa các thành phần câu… . Theo W. Dressler, Trong thời đại của chúng ta, dư luận rộng rãi thừa nhận rằng đơn vị độc lập hơn cả và cao nhất của ngôn ngữ không phải là câu mà là văn bản. Từ đó xuất hiện sự cần thiết phải nghiên cứu cú pháp văn bản, tức là cú pháp của các đơn vị trên câu . Moskalskaja trong giáo trình của mình nói cụ thể hơn: Một số phạm trù trước đây được coi là những phạm trù ngữ pháp của từ hoặc câu, bây giờ, dưới ánh sáng mới, chúng sẽ hiện lên như những phạm trù văn bản . Vậy thì các QHNP giữa các vế của câu ghép đã biến đi đâu khi các vế câu được tách thành câu riêng?

    So sánh:

    (1) Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu rỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. (Tô Hoài) . Vậy cần được hiểu rộng như thế nào?

    Cách hiểu như trên đụng chạm trực tiếp tới cách hiểu lâu nay (dựa trên quan niệm của Sausure) nên không thể không nói lại vài điều về chuyện này. Trước hết, nhờ khả năng trừu tượng hóa rất cao, Saussure đã phân biệt và tạm thời cô lập ngôn ngữ và lời nói rồi sau đó lại nêu lên mối quan hệ giả định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau giữa chúng, đến mức không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được. Lí giải chính xác ấy ảnh hưởng rất to lớn trong ngôn ngữ học thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những hạt nhân hợp lí, tư tưởng của Saussure còn chứa đựng những điều cần xem lại. Giáo trình ngôn ngữ học đại cương viết: Nhưng ngôn ngữ (…) là gì? Đối với chúng tôi (…..). Nó vừa là một sản phẩm xã hội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này . Giáo trình cũng đặt trước chúng ta một câu hỏi để cùng tiếp tục suy nghĩ: Cần phải hình dung cái sản phẩm xã hội này như thế nào để cho ngôn ngữ hiện ra một cách thật tách bạch so với những cái khác? Giá ta có thể bao quát được cái tổng số những hình tượng hoạt động ngôn ngữ tích lũy lại ở tất cả các cá nhân, ta sẽ thấu được đến mối liên hệ xã hội gọi là ngôn ngữ

    Như thế, có thể cho rằng NHỮNG QUY ƯỚC ĐƯỢC TẬP THỂ XÃ HỘI CHẤP NHẬN (chữ dùng của Sausure) ngoài các quy tắc biến hình từ, cấu tạo từ, kết hợp các từ, ngữ để tạo câu còn là các quy tắc kết hợp các câu, các đơn vị trên câu để tạo nên ngôn phẩm. Các quy tắc này tồn tại trong các ngôn phẩm, phải trừu tượng hóa mới thấy được. Chúng là những quy tắc được tuân thủ trong hầu hết các văn bản cùng thể loại, đã được mọi người chấp nhận hoặc cho là phải và đang được tiếp tục chỉ ra. Không thể gạt chúng ra ngoài phần NGỮ được. Thực tế chứng tỏ rằng việc hiểu khác nhau về từ ngôn ngữ đã dẫn đến những quan niệm ngược hẳn nhau: đơn vị từ, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất; còn đơn vị câu, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ, khi thì được coi là kết cấu lớn nhất của các đơn vị ngôn ngữ và là đơn vị nhỏ nhất của lời nói (Xem các mục từ TỪ, CÂU trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb GD, 1997).

    Một khi nghĩa của từ ngữ pháp đã được hiểu rộng thì nghĩa của tổ hợp từ QHNP cũng sẽ thay đổi. Theo ngữ pháp học truyền thống, QHNP là quan hệ giữa các từ, cụm từ (hay ngữ, tiểu cú) trong quá trình kết hợp với nhau để tạo nên câu. Đó là quan hệ giữa các nghĩa ngữ pháp của các đơn vị trong lòng kết cấu ngữ pháp do các đơn vị ấy tạo nên. Ở đây, nghĩa ngữ pháp được hiểu là nghĩa chung, trừu tượng, được khái quát từ hàng loạt từ, ngữ, từ hàng loạt kiểu quan hệ giữa các từ, ngữ trong tổ chức câu. Nghĩa ngữ pháp thường được chia thành hai loại: nghĩa ngữ pháp tự thân là nghĩa nằm trong từ và nghĩa ngữ pháp quan hệ là nghĩa nằm ngoài từ, được thể hiện ra trong sự kết hợp của từ, ngữ với các từ, ngữ xung quanh. Loại trên là thuộc tính bản chất, loại dưới thuộc về chức năng. Trong văn bản, cũng có thể nêu lên: ý nghĩa ngữ pháp tự thân và ý nghĩa ngữ pháp quan hệ. Ý nghĩa ngữ pháp tự thân trong văn bản như các ý nghĩa tự nghĩa/không tự nghĩa của câu, cụm câu, đoạn văn. Chúng là ý nghĩa trừu tượng, được khái quát hóa từ bản thân hàng loạt ĐV và KCVB. Ý nghĩa ngữ pháp quan hệ trong văn bản cũng là ý nghĩa trừu tượng, được khái quát từ hàng loạt kiểu quan hệ thông báo giữa các thành tố với KCVB bậc trên liền kề do chúng tạo nên. Các ĐV và KCVB gồm: câu (hay phát ngôn), cụm câu (hay liên / lời / tiểu khúc), đoạn văn (hay tiểu đoạn), mục, tiết, chương, phần (1). Như vậy, QHNP (hiểu rộng) là quan hệ giữa các ý nghĩa ngữ pháp của các đơn vị ngữ pháp

    III. KẾT LUẬN

    Tóm lại, trong thực tế hành văn, người viết có thể viết rất nhiều cụm câu, đoạn văn thuộc các thể loại khác nhau làm nên tính phong phú, đa dạng của các loại câu trong văn bản xét về mặt cấu trúc thông báo. Do đó muốn chỉ ra chính xác mỗi câu trong cụm câu thuộc loại nào xét về mặt chức năng thông báo của chúng thì nhất thiết phải xuất phát từ nội dung từng câu và mối quan hệ giữa các ý của từng câu, gắn với đặc điểm thể loại của cụm câu. Trong nhà trường phổ thông, việc viết văn nghị luận được chú ý nhiều. Xét về mặt chức năng thông báo, một cụm câu nghị luận chính phụ, hợp nghĩa, có thể có tối đa sáu loại câu: câu chuyển ý, câu mở ý, câu chủ ý, câu luận ý, câu thuyết ý, câu kết ý. Tuy nhiên nếu cho rằng có thể chỉ dùng duy nhất lí thuyết ấy để phân loại câu về mặt thông báo trong mọi trường hợp thì dễ mắc sai lầm.(1)

    Vậy là, khi xem xét cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản về mặt thông báo, phải nắm chắc các mối quan hệ phong phú giữa các đơn vị và kết cấu văn bản; phải nắm chắc các tiêu chí phân loại và các hệ thống phân loại đơn vị và kết cấu văn bản. Riêng đối với việc dạy thực hành dựng đoạn, hệ thống phân loại dựa vào chức năng thông báo của từng thành tố trong kết cấu văn bản là có nhiều tác dụng hơn cả.

    Như đã trình bày, cứ giữ nguyên cách hiểu thuật ngữ ngôn ngữ và ngữ pháp theo cách của F. de Saussure thì cũng được, nhưng mọi thuật ngữ khoa học đều có thể được quan niệm lại khi việc nghiên cứu đã có những bước chuyển. Cho nên, có thể theo gợi ý của cố giáo sư Hoàng Tuệ để mở rộng khái niệm ngữ pháp, khái niệm ngôn ngữ; từ đó nói tới khái niệm QHNP văn bản và các loại QHNP đẳng lập, chính phụ trong văn bản như những thuật ngữ thuộc phạm trù ngữ pháp học – bộ môn của ngôn ngữ học, khoa học nghiên cứu cả ngôn lẫn ngữ, cả hệ thống nguyên liệu tĩnh trạng lẫn hệ thống hành chức của nó. Các ĐV và KCVB trực tiếp làm chức năng giao tiếp nên quan hệ thông báo được quan tâm trước hết nhưng cũng không thể quên rằng các ĐV và KCVB có bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp – ngữ ý. Việc nhận rõ QHNP giữa các ĐV và KCVB trong văn bản có tác dụng thiết thực cho khâu biên tập xuất bản và khâu sửa đoạn văn và văn bản trong môn làm văn. Nó cũng tạo cơ sở lí luận cho việc khắc phục khuynh hướng sửa văn chỉ chăm chú sửa câu mắc lỗi và chỉ chú ý tới quan hệ logic và thông báo giữa các câu, đoạn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    (1) Các đơn vị này có thể coi là các đơn vị ngôn ngữ được hay không còn tùy thuộc vào nội hàm của khái niệm ngôn ngữ trong quan niệm của từng người. Có người gọi đó là các đơn vị của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt Sơ thảo ngữ pháp chức năng, KHXH, 1991), có người gọi đó là các đơn vị ngôn giao – giao tiếp bằng ngôn ngữ (Xem Hồ Lê, Quy luật ngôn ngữ, Quyển 2, Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, KHXH, 1996), có người khẳng định đó là các đơn vị ngôn ngữ. (Xem Lưu Vân Lăng, Hệ thống thành tố cú pháp với nòng cốt câu, Ngôn ngữsố 1-1995).

    Nguyễn Hữu Chỉnh Tạp chí NGÔN NGỮ số 6/2002 Sửa chữa và bổ sung năm 2007

    KCVB nhỏ nhất được Nguyễn Đức Dân gọi là CỤM CÂU, Lưu Vân Lăng gọi là LỜI (hay PHÁT NGÔN), Hồ Lê gọi là TIỂU KHÚC. KCVB bậc trên liền kề của cụm câu được Hồ Lê gọi là TIỂU ĐOẠN và nhiều người gọi là ĐOẠN VĂN.

    1. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, Tập hai, Nxb GD, 1996
    2. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đại cương ngôn ngữ học, Tập hai, Nxb GD, 1993
    3. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD, 1995
    4. Cao Xuân Hạo, TIẾNG VIỆT sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH, 1991
    5. John Lyons, Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, Vương Hữu Lễ dịch, Nxb GD, 1997
    6. Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên…Văn học 10, Tập một, Nxb GD, 1996
    7. Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Văn học 12, Tập một, Nxb GD, 1992
    8. O.I. Moskalskaja, Ngữ pháp văn bản, Trần Ngọc Thêm dịch, GD, 1996
    9. Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn, Ngôn ngữ học Khuynh hướng – Lĩnh vực – Khái niệm, Nxb KHXH, Tập II, 1986
    10. Ferdinand de Saussure – Giáo trình ngôn ngữ học đại cương – Nxb KHXH, 1973
    11. Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, KHXH, H.1985
    12. Lê Đức Trọng, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993
    13. Hoàng Tuệ – Ngôn ngữ – số 9/2000
    14. Encyclopaedia Universalis, Corpus 13, Ed. à Paris, 1996.

    (1) Hoàng Như Mai…, Văn học 12, Tập 1, Nxb GD, trang 9

    (1) Hồ Tĩnh Tâm, Cô gái gọi mặt trời, Tuổi trẻ chủ nhật 28-9-2003

    (2) Lê Thúy Bảo Nhi, Hai chị em, Giải ba cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20, Tuổi trẻ chủ nhật số 36/2000

    (1) Lê Khả Phiêu, Trả lời phỏng vấn, Tuổi trẻ, Thứ năm 7 – 5 – 98

    (1) Chim Văn Bé – Giáo trình Làm văn – Tập 2 – Đại học Cần Thơ, 1992

    (1) Trần Đăng Xuyền và … – Giảng văn văn học Việt Nam – Nxb GD, 1999, tr. 542

    (1) Hà Huy Giáp, Diễn văn đọc tại cuộc mít tinh kỉ niệm lần 150 ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu

    (1) SGK và sách hướng dẫn giảng dạy cũng có những sai sót đáng tiếc. Để biết cụ thể xin xem ba bài báo: Bài tập ‘mẹo’ hay bài tập sai?; Sao lại hướng dẫn học sinh lớp 9 như thế? ( Ngôn ngữ và Đời sống số 5 và số 9/2003); Đôi điều bàn lại về lí thuyết trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 ( Ngôn ngữ số 1-2007)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hợp Đồng Có Giá Trị Pháp Lý Khi Nào?
  • Tư Cách Pháp Nhân Là Gì?
  • Thành Lập Tổ Chức Có Tư Cách Pháp Nhân
  • Tư Cách Pháp Nhân Là Gì? Ảnh Hưởng Gì Đến Thành Lập Doanh Nghiệp?
  • Hợp Đồng Ủy Quyền (Pháp Nhân Với Pháp Nhân)
  • Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tạo Khoảng Cách Giữa Các Dòng Và Đoạn Trong Ms Word 2003
  • Chi Tiết Cách Gửi Hàng Qua Bưu Điện Từ A
  • Giải Mật, Giảm Mật, Tăng Mật Tài Liệu, Vật Mang Bí Mật Nhà Nước Do Các Cơ Quan, Tổ Chức Soạn Thảo
  • Xét Xử Vụ Án Vn Pharma: Nhiều Văn Bản Được Giải Mật
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Là Gì? Vai Trò, Kỹ Năng Mềm Quan Trọng Trong Cuộc Sống
  • Soạn văn 8 bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản được soạn và biên tập từ đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn giỏi uy tín trên cả nước. Đảm bảo chính xác, ngắn gọn, súc tích giúp các em dễ hiểu, dễ soạn bài Bố cục của văn bản.

    Soạn bài xây dựng đoạn văn trong văn bản thuộc Bài 3 SGK Ngữ văn 8

    I. Thế nào là đoạn văn

    1. Văn bản Ngô Tất Tố và tác phẩm tắt đèn gồm có ba ý. Mỗi ý viết thành ba đoạn văn.

    2. Dấu hiệu hình thức cần dựa vào để nhận biết đoạn văn là phần văn bản tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống hàng.

    3. Khái quát các đặc điểm cơ bản của đoạn văn. Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, diễn đạt một nội dung nhất định (nội dung logic hay nội dung biểu cảm), được mở đầu bằng chỗ lùi đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn.

    II. Từ ngữ và câu trong đoạn văn

    a. Từ ngữ có tác dụng duy trì đối tượng trong đoạn văn thứ nhất là “Ngô Tất Tố”.

    2. Cách trình bày nội dung đoạn văn:

    a. Nội dung trình bày của đoạn văn có thể khác nhau. Ví dụ:

    III. Luyện tập

    Trả lời câu 1 (trang 36 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Văn bản Ai nhầm có thể chia thành hai ý. Mỗi ý được diễn đạt bằng một đoạn văn:

    Đoạn 1: Nói về ông thầy lười: Sao chép nhầm văn tế.

    Đoạn 2: Khi người ta trách thì cãi liều là “chết nhầm”.

    Trả lời câu 2 (trang 36 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Cách trình bày nội dung các đoạn văn.

    a. Diễn dịch

    b. Song hành

    c. Song hành

    Trả lời câu 3 (trang 37 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – đoạn văn theo cách diễn dịch:

    “Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đãi chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Hồ Chủ Tịch đã nói “Chúng ta có quyền tự hào về những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.

    – Chuyển đoạn văn thành văn quy nạp:

    “Chúng ta có thể tự hào về những trang sử vẻ vang từ thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,.. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta”.

    Trả lời câu 4 (trang 37 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Theo em nên vận dụng câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công” vào cuộc sống.

    – Một đoạn văn: Có một nhà thơ đã viết: “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Trong cuộc đời mỗi một con người, khi phấn đấu không mệt mỏi để đạt những thành tích về học tập, lao động, chúng ta thường vấp phải những thất bại, đắng cay: “Thi không ăn ớt, thế mà cay”. Thất bại ấy do nhiều nguyên nhân gây ra. Nếu ta tìm đúng được nguyên nhân, ta bước tiếp thì ta sẽ thành công. Nhiều khi để thành công phải có lòng kiên trì, nhẫn nại, khắc phục nhược điểm nhiều lần và nhiều khi thất bại không phải chỉ xảy ra một lần, vì như người ta nói “không cái dại nào giống cái dại nào”. Vận dụng câu tục ngữ này trong cuộc sống ta thấy ý nghĩa của câu tục ngữ là lời khuyên nhủ đầy tính thuyết phục và thực tiễn.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản Trang 50 Sgk Ngữ Văn 8 Tậ
  • Soạn Bài: Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Giáo Án Văn 8 Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản (Chi Tiết)
  • Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Nhằm Phát Triển Năng Lực Tạo Lập Văn Bản Miêu Tả Cho Học Sinh Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Từ Mượn Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 6 Bài Từ Mượn Ngắn Nhất Bapluoc.com
  • Soạn Bài Lớp 6: Sông Nước Cà Mau
  • Soạn Bài Nghĩa Của Từ
  • Soạn Bài : Nghĩa Của Từ
  • TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

    XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN

    NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN MIÊU TẢ

    CHO HỌC SINH LỚP 6

    Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn – Tiếng Việt

    Mã số: 60.14.01.11

    LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC

    Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hằng

    THÁI NGUYÊN – 2021

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả

    nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong công

    trình nào khác.

    Tác giả luận văn

    TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

    Xác nhận

    Xác nhận

    của Trưởng khoa chuyên môn

    của Người hướng dẫn khoa học

    TS. Nguyễn Thị Thu Hằng

    i

    LỜI CẢM ƠN

    Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, luận văn: “Xây dựng hệ thống bài

    tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho học sinh lớp 6″ của tôi đã

    hoàn thành. Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian và khả năng có hạn, luận văn

    của tôi còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các

    bạn.

    Đầu tiên, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS. Nguyễn Thị Thu

    Hằng – người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.

    Tiếp đó, tôi xin cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy, cô

    giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Thư viện trường và Trung tâm học liệu

    về tài liệu tham khảo để tôi hoàn thành luận văn của mình.

    Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và

    các thầy cô giáo cùng các em học sinh ba trường THCS Cao Xanh, THCS Trại Cau

    và THCS Lam Hạ đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này đúng thời

    gian quy định.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Người thực hiện luận văn

    Trần Thị Hương Giang

    iii

    2.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn

    bản miêu tả …………………………………………………………………………………………………….34

    2.1.1. Phù hợp với mục tiêu của môn học ………………………………………………………….34

    2.1.2. Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng và tính phong phú ……………………………..34

    2.1.3. Phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn …………………………………………………… 34

    2.1.4. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS……………………………………..35

    2.2. Giới thiệu mô hình hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản

    miêu tả………………………………………………………………………………………………………….. 35

    2.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh và

    nhận xét trong văn miêu tả………………………………………………………………………………. 37

    2.3.1. Hệ thống bài tập PTNL quan sát cho HS khi làm văn miêu tả …………………….. 37

    2.3.2. Hệ thống bài tập PTNL liên tưởng, tưởng tượng cho HS khi làm văn miêu

    tả…………………………………………………………………………………………………………………..43

    2.3.3. Hệ thống bài tập PTNL so sánh và nhận xét trong văn miêu tả ……………………47

    2.4. Hệ thống bài tập nhằm PTNL tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý cho bài văn

    miêu tả………………………………………………………………………………………………………….. 50

    2.4.1. Hệ thống bài tập PTNL phân tích, nhân diện, tìm hiểu đề ………………………….. 50

    2.4.2. Hệ thống bài tập PTNL tìm ý ………………………………………………………………….52

    2.4.3. Hệ thống bài tập PTNL lập dàn ý …………………………………………………………..544

    2.5. Hệ thống bài tập nhằm PTNL diễn đạt trong bài văn miêu tả ………………………… 56

    2.5.1. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết mở đoạn ………………………………………………56

    2.5.2. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết thân đoạn …………………………………………….59

    2.5.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết kết đoạn ………………………………………………64

    2.5.4. Hệ thống bài tập PTNL liên kết đoạn trong bài văn miêu tả ……………………….. 65

    2.6. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa lỗi trong bài văn miêu tả ………………69

    2.6.1. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về bố cục ………………69

    2.6.2. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về nội dung ……………69

    2.6.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về diễn đạt …………….70

    2.7. Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập nhằm PTNL TLVB miêu tả ……………70

    2.7.1.Vận dụng hệ thống bài tập trong dạy – học văn miêu tả ở phân môn TLV ……………70

    iv

    2.7.2. Vận dụng hệ thống bài tập nhằm PTNL TLVB miêu tả vào các phân môn

    khác của môn Ngữ văn …………………………………………………………………………………… 71

    Kết luận chương 2 …………………………………………………………………………………………..72

    Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ………………………………………………………..73

    3.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………………………………… 73

    3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ……………………………………………………………..73

    3.3. Phương pháp thực nghiệm …………………………………………………………………………74

    3.4. Nội dung thực nghiệm ……………………………………………………………………………… 76

    3.4.1. Thực nghiệm thăm dò …………………………………………………………………………….76

    3.4.2. Thực nghiệm dạy học (kiểm tra đánh giá) …………………………………………………79

    3.5. Kết quả thực nghiệm ………………………………………………………………………………… 91

    3.5.1. Kết quả thực nghiệm thăm dò ………………………………………………………………….92

    3.5.2. Kết quả thực nghiệm dạy học ………………………………………………………………….95

    3.6. Kết luận chung về thực nghiệm ………………………………………………………………….86

    3.6.1. Về thực nghiệm thăm dò …………………………………………………………………………86

    3.6.2. Về thực nghiệm dạy học …………………………………………………………………………86

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………..88

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………………100

    v

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    STT

    Từ, cụm từ

    Viết tắt

    1

    Giáo viên

    GV

    2

    Học sinh

    HS

    3

    Làm văn

    LV

    4

    Tiếng Việt

    TV

    5

    Tạo lập văn bản

    TLVB

    6

    Trung học cơ sở

    THCS

    7

    Trung học phổ thông

    THPT

    8

    Phát triển năng lực

    PTNL

    9

    Sách giáo khoa

    SGK

    10

    Sách giáo viên

    SGV

    iv

    DANH MỤC CÁC BẢNG

    Bảng 1.1. Kết quả khảo phỏng vấn GV về năng lực TLVB của HS lớp 6 ………………29

    Bảng 1.2. Kết quả khảo sát bài kiểm tra TLVB miêu tả của HS lớp 6………………..30

    Bảng 3.1. Kết quả các bài tập: Quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh và

    nhận xét. Tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý. ………………………………………….92

    Bảng 3.2. Kết quả các bài tập: Diễn đạt …………………………………………………………….93

    Bảng 3.3. Kết quả các bài tập: Phát hiện và sửa chữa lỗi ……………………………………..93

    Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm với các lớp đối chứng ……………..95

    Bảng 3.5. Kết quả điểm bài làm văn ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng. …………… 96

    v

    DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

    Sơ đồ 2.1. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm PTNL TLVB miêu tả cho HS lớp 6 ……………….. 36

    Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm với lớp đối chứng. …………………… 95

    Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả bài làm văn của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng………………… 96

    vi

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Trong cuộc sống có vô vàn sự vật hiện tượng mà không phải lúc nào ta

    cũng được tiếp xúc trực tiếp với chúng, nhưng chúng ta vẫn có thể hình dung ra sự

    vật, hiện tượng đó bằng cách miêu tả. Miêu tả càng sinh động, chân thực thì người

    đọc, người nghe càng dễ hình dung ra đối tượng. Văn miêu tả được dạy từ Tiểu học

    nhằm bước đầu hình thành kĩ năng miêu tả các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung

    quanh, đến bậc THCS việc dạy và học văn miêu tả được nâng cao giúp ta hình thành

    khái niệm và cách TLVB miêu tả. Văn miêu tả không chỉ chiếm vị trí quan trong

    trong phân môn Làm văn mà yếu tố miêu tả còn chiếm vị trí quan trọng trong đời

    sống.

    1.2. Khi dạy học văn miêu tả việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm PTNL

    TLVB miêu tả là hết sức quan trọng. Nghị quyết số 29 NQ/TW về “đổi mới căn bản,

    toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong

    điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đặc

    biệt chú trọng, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS. Khi tiến hành

    xây dựng lại nội dung chương trình môn Ngữ văn thì phần Làm văn cũng đã điều

    chỉnh về phương pháp cho phù hợp. Một trong những nội dung mới và những phương

    pháp phù hợp để phát huy năng lực – đặc biệt là năng lực TLVB cho HS đã được triển

    khai trong phần Làm văn được quan tâm để đáp ứng được nhu cầu giáo dục đề ra.

    1.3. Về mặt phương pháp dạy học, đã từ lâu các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý

    tới vấn đề xây dựng hệ thống bài tập. Các bài tập được tổ chức một cách hệ thống, có

    cơ sở khoa học, nhằm mục tiêu hình thành những năng lực, phẩm chất nhất định cho

    HS. Với phần văn miêu tả, lâu nay việc xây dựng hệ thống bài tập cho HS cũng đang

    được quan tâm. Nhưng những bài tập ấy một mặt chưa có tính hệ thống, mặt khác

    chưa tập trung rèn luyện phát triển đầy đủ các năng lực cần có để TLVB miêu tả. Dẫn

    đến chất lượng dạy và học văn miêu tả còn nhiều hạn chế.

    1.4. Thực tế các em đã quá quen với việc thực hành viết văn dạng văn bản mẫu

    và tái tạo văn bản tương tự mẫu ở bậc Tiểu học. Cho nên việc sáng tạo một văn bản

    nghệ thuật đối với các em học sinh lớp 6 là việc làm vô cùng khó khăn và ít có hứng

    thú. Hơn nữa sự say mê đọc tư liệu văn học của các em học sinh bây giờ quả là ít ỏi,

    1

    2

    – Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng (1996), “Văn miêu tả

    và kể chuyện”, NXB GD.

    Công trình này mới chỉ đề cập đến những nét chung nhất của một bài văn miêu

    tả, những vấn đề đưa ra vẫn còn là trừu tượng đối với GV và HS. Vì thế GV khó vận

    dụng vào quá trình dạy và học của HS.

    – Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử (chủ biên), (2000) có cuốn “Văn tường thuật,

    kể chuyện, miêu tả”, NXB ĐHQG Hà Nội.

    Cuốn sách này có giá trị nhưng chưa nêu được cách dạy và học văn miêu tả

    sao cho hợp lý PTNL TLVB cho HS.

    – Các sáng kiến kinh nghiệm như: sáng kiến kinh nghiệm của Nguyễn Thị

    Thủy với tên đền tài là “Rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 6 trường

    THCS Sốp Cộp”, luận văn của Nguyễn Thị Thùy Linh với tên đề tài “Một số biện

    pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4,5″, luận văn của Hà Thị Thu Huyền

    với tên đề tài “Biện pháp rèn kĩ năng diễn đạt trong văn miêu tả cho HS lớp 5”, GV.

    Tô Thị Mỹ Tuyền với chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học đã đưa ra đề tài “Rèn

    kĩ năng làm văn miêu tả cho HS lớp 6″….

    – Bộ GD&DT (2003), SGK Ngữ văn lớp 6, SGV Ngữ văn 6, NXB GDVN.

    Đây là hai cuốn sách mang tính chất công cụ của người giáo viên. Văn bản

    miêu tả được đưa vào tiểu học từ lớp 4 sau đó đến lớp 6 THCS. Các nhà biên soạn đã

    đưa vào SGK Ngữ văn 6 các bài như: Tìm hiểu chung về văn miêu tả, quan sát, tưởng

    tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả; Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so

    sánh và nhận xét trong văn miêu tả; phương pháp tả cảnh; phương pháp tả người;

    luyện nói về văn miêu tả… làm tiền đề cho việc dạy và học kiểu văn bản này.

    Các nhà biên soạn SGV định hướng cách dạy học những bài LV miêu tả cụ thể

    trong chương trình là chủ yếu, phương pháp dạy văn miêu tả vẫn còn mờ nhạt và sơ

    lược. Việc phân biệt văn bản miêu tả với một số dạng văn bản có trong chương trình

    như văn bản tự sự, thuyết minh, nghị luận nằm ở mức độ sơ lược, người biên soạn chưa

    đưa ra được tiêu chí để so sánh. Ngay cả phương pháp TLVB miêu tả SGV cũng chỉ dừng

    lại ở những nét cơ bản nhất chứ không đi vào cụ thể. Tuy nhiên, dù ở mức độ sơ giản,

    nhưng các nội dung về văn bản miêu tả được đề cập trong SGKvà SGV lớp 6 là những tư

    3

    4

    – Cũng trong thời kì này, còn có Nghiêm Toản cũng đã quan tâm đến hệ thống

    bài tập rèn luyện năng lực quan sát, tưởng tượng cho HS. Tuy nhiên, hệ thống bài

    trong sách “Việt luận” vẫn mang tính thực hành một chiều. Mục tiêu dạy học chủ yếu

    vẫn là rèn luyện năng lực viết một cách đơn thuần, chưa thật nhằm vào việc rèn luyện

    năng lực tạo lập văn bản cho HS. Có thể nói đầu tư của Nghiêm Toản có nhiều nét

    tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.

    – Từ CCGD (1985) đến nay, về sách tham khảo, phục vụ CT – CCGD các loại

    sách này chủ yếu là các bài văn mẫu. Đây thực chất là cách giải sẵn, có hoặc không

    có những bài tập ở dạng đề tập làm văn. Với phần văn miêu tả có nhiều sách biên tập

    sửa chữa chưa tốt, nhưng cũng có những cuốn sách biên soạn khá công phu, nghiêm

    túc. Nói chung, các bài văn mẫu đều tập trung minh họa cho những kiến thức và kĩ

    năng đã học.

    – Phạm Minh Diệu, Đỗ Ngọc Thống (chủ biên),(2003), “Văn miêu tả trong nhà

    trường phổ thông” , NXB GD, cuốn sách gồm 3 chương và phần phụ lục:

    Trong đó, chương 3: Giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thông theo

    yêu cầu của chương trình SGK mới. Đặc biệt tác giả còn giới thiệu hệ thống 95 bài

    tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp với các phương thức biểu đạt khác.

    Đây là cuốn sách giới thiệu về hệ thống bài tập làm văn miêu tả tương đối đầy

    đủ song vẫn chưa phải cuốn sách về hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn

    bản miêu tả.

    – Hệ thống kiến thức lý thuyết và bài tập được đưa vào SGK Ngữ văn. Tuy đã

    tương đối khái quát nhưng SGK chỉ đưa ra các đoạn văn miêu tả và yêu cầu học sinh

    trả lời mà chưa đưa ra cách để viết đoạn văn, tạo lập văn bản miêu tả. Bên cạnh đó,

    bài tập còn khá sơ lược, chưa thành một hệ thống để từ đó có thể rèn cho học sinh

    năng lực TLVB.

    – Nguyễn Đình Chú – Nguyễn Phi – Trần Đình Sử – Nguyễn Minh Tuyết (đồng

    chủ biên), (CT 2000), có cuốn “Bài tập Ngữ Văn 6”,tập 2, cũng đã phần nào đưa ra

    được những bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho HS, một số bài tập đã hướng

    tới việc rèn luyện năng lực quan sát, tưởng tưởng tuy nhiên bài tập đó một nửa là

    5

    trong SGK, không có đầy đủ các năng lực TLVB và hướng dẫn cách thức TLVB

    miêu tả.

    Luận án Tiến sĩ của Phạm Minh Diệu với tên đề tài “Hệ thống bài tập rèn

    luyện năng lực quan sát, tưởng tượng trong dạy học văn miêu tả ở THCS”. Luận án

    này đã đề xuất một hệ thống bài tập khá đầy đủ và cách vận dụng hệ thống bài tập

    trong dạy học. Tuy nhiên, luận án này mới chỉ dừng lại ở năng lực quan sát và tưởng

    tương, chưa đề cập đến các năng lực khác cần có để TLVB miêu tả.

    Về hệ thống bài tập, trước CCGD (1985) các tài liệu đều lấy mục đích: “Thực

    hành – Tổng hợp” làm chính, sau CCGD nó được coi là một hệ thống những công

    việc nhằm giúp HS thông qua đó để phát hiện, ghi nhớ và sử dụng tri thức, cũng như

    rèn luyện các kĩ năng quan trọng và cần thiết.

    Các tài liệu, công trình nghiên cứu này dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng

    đều đề cập đến nội dung của văn bản miêu tả. Tuy nhiên phần lớn các công trình chưa

    thật đi sâu và cụ thể và đầy đủ vào vấn đề xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát

    triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho học sinh lớp 6. Vì vậy chúng tôi tiến

    hành nghiên cứu một cách chuyên sâu về đề tài này để góp phần cho việc dạy học

    làm văn được hiệu quả hơn.

    3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    3.1. Mục đích nghiên cứu

    Đề tài nghiên cứu việc xây dựng hệ thống bài tập và PTNL TLVB miêu tả

    nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn bản miêu tả. Giúp cho quá trình dạy và học

    cũng như khả năng khả năng viết văn miêu tả của HS tốt hơn.

    3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Xuất phát từ những lý do và mục đích đã nói ở trên, đề tài “Xây dựng hệ

    thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho HS lớp 6″ có

    những nhiệm vụ sau:

    – Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của xây dựng hệ thống bài tập.

    – Đề xuất cách phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho học sinh lớp 6.

    – Thực nghiệm sư phạm.

    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    6

    7

    8

    Chương 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

    HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PTNL TLVB MIÊU TẢ CHO HS LỚP 6

    1.1. Cơ sở lí luận.

    1.1.1. Văn miêu tả – khái niệm và một số đặc trưng cơ bản

    1.1.1.1. Khái niệm văn miêu tả

    Có rất nhiều quan niệm về văn miêu tả, vì thế để đi đến một cách hiểu chung

    nhất về văn miêu tả không phải là một công việc dễ dàng.

    Trong “Từ điển Tiếng Việt”: “miêu tả” được hiểu là: “Dùng ngôn ngữ hoặc

    một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được toàn

    thể sự vật, sự việc hoặc cả thế giới nội tâm của con người” . Cùng với quan niệm như vậy, Philippe Hamon nói về miêu

    tả: “Miêu tả là một thao tác tư duy mở rộng, theo thao tác này thay vì nêu một cách

    đơn giản một sự vật, một đối tượng nào đó, người viết làm cho nó trở nên nhìn thấy

    được bằng sự trình bày sinh động, linh hoạt các đặc tính và những hoàn cảnh đáng

    chú ý nhất của sự vật đó” .

    Để tiện cho việc nghiên cứu và học tập, đặc biệt là để phù hợp với việc dạy

    học văn miêu tả trong nhà trường THCS, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu về văn

    9

    miêu tả: “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc,

    người nghe bức tranh cụ thể, sinh động như nó vốn có trong đời sống nhằm tạo

    hiệu quả như thật về một cảnh, một người, một vật đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu

    sắc”.

    1.1.1.2. Một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả

    Trong cuộc sống hằng ngày, miêu tả rất cần thiết và là một hành động rất phổ biến

    nhằm đạt tới sự chính xác, khách quan. Còn trong văn bản nghệ thuật (văn miêu tả) có

    những đặc trưng riêng. Cụ thể hóa khái niệm về văn miêu tả được đề cập tới ở trên, chúng

    ta thấy văn miêu tả có một số đặc trưng cơ bản sau:

    a) Tính cụ thể sinh động.

    Theo Philippe Hamon: “Sự miêu tả phải thật sự sinh động để có thể gây ấn

    tượng cho độc giả” .

    Tính cụ thể và sinh động trong văn miêu tả cũng là sự hàm súc, là tả ít, gợi

    nhiều, tả làm sao để người đọc có một ấn tượng đặc biệt về thực tế của những hình

    ảnh, những vật, những con người được tả, từ đó mở rộng trường liên tưởng của họ.

    Cái tạo nên tính cụ thể, sinh động của văn miêu tả là những chi tiết “sống”, gây ấn

    tượng, mà nếu không có nó bài văn sẽ trở nên nhạt nhẽo vô vị. Những chi tiết sống

    động đó được lấy từ sự quan sát cuộc sống xung quanh, từ kinh nghiệm của bản thân

    người viết.

    Theo Nguyễn Trí một trong những nhược điểm của HS khi làm văn miêu tả là:

    “Miêu tả hời hợt, chung chung, không có một sắc thái riêng biệt nào của đối tượng”

    .

    Tính sáng tạo trong văn miêu tả chính là dấu ấn phong cách người viết, nó thể

    hiện ở từng sự vật, cảnh vật, nhân vật… trong mỗi đoạn văn, bài văn miêu tả. Do

    những lý do và điều kiện khác nhau mà mỗi nhà văn có “Lối vẽ và quan điểm riêng”,

    hình thành những bức tranh miêu tả riêng biệt. Ví dụ: Tô Hoài “say mê” miêu tả đặc

    biệt là cảnh thiên nhiên, phong tục, còn Nam Cao ít khi tả phong cảnh thiên nhiên,

    cảnh vật của Nam Cao gắn liền với việc bộc lộ tâm trạng nhân vật. Nguyễn Công

    Hoan lại chú trọng đến miêu tả ngoại hình nhân vật. Cái làm nên sự khác nhau đó

    chính là sự tài năng, là cá tính, là sự rung động sâu sắc cá tính trước cảnh , trước con

    người của mỗi nhà văn. Do đó, cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người viết lại

    nhìn nhận, cảm nhận chúng theo những cách hoàn toàn khác nhau.

    Rõ ràng ,văn miêu tả là một lại văn bản có tính nghệ thuật, đòi hỏi rất nhiều ở

    người viết khả năng sáng tạo. Dó đó, hệ thống bài tập nhằm PTNL viết văn miêu tả

    cho HS là một hệ thống mở, mở ra nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách cảm thụ cho

    HS. Các bài tập còn phải chú ý nhiều đến tính đa dạng để vừa có tác dụng hình thành

    cho HS cách nói, cách nghĩ, cách làm linh hoạt, vừa khắc phục được sự đơn điệu

    nhàm chán, tăng cường hứng thú học tập, giúp các em bộc lộ những cái riêng, cái mới

    khi làm văn miêu tả.

    c) Tính chân thực.

    11

    12

    Dủ miêu tả bất kì đối tượng nào và miêu tả bằng cách nào, người viết cũng

    phải tạo ra tính hấp dẫn, truyền cảm. Trong thực tế, ít có bài văn miêu tả chỉ đơn

    thuần nhằm mục đích tả mà thường là để gửi gắm suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của

    người viết với đối tượng được miêu tả. Dạy học văn miêu tả cũng cần chú ý tới những

    bài tập giúp HS bộc lộ cảm xúc khi miêu tả.

    Ta biết rằng, để tạo nên tính hấp dẫn, truyền cảm trong văn miêu tả không thể

    không nói tới việc lựa chọn và sử dụng phương tiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn

    miêu tả là ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đào

    Thản khẳng định: “Hơn bất cứ thứ chất liệu và phương tiện nghệ thuật nào, ngôn

    ngữ cho phép nhà nghệ sĩ sử dụng nó để thể hiện vẻ đẹp sống động, lung linh, muôn

    màu, muôn vẻ của thế giới tự nhiên, đời sống xã hội và nội tâm con người tùy theo

    chỗ đứng, cách nhìn, cách cảm khác nhau với đủ mọi quy mô, cung bậc”.

    – Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hoạt động để định

    nghĩa: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và

    vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết

    hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” . Mặc dù để chuẩn bị cho nội dung bài văn miêu tả,

    bên cạnh khả năng quan sát, HS còn phải huy động khả năng hồi tưởng, tưởng tượng.

    Nhưng “bất kì sự tưởng tượng nào dù phong phú và kì vĩ đến đâu cũng đều bắt đầu từ

    thực tế, gắn với đời sống thực tế. Muốn có sự từng trải và hiểu biết thực tế cần phải

    quan sát. Những trang văn miêu tả hay, có hồn và sống động là những trang văn của

    người biết quan sát, có tài quan sát và chịu khó quan sát” . Do đó “Năng lực quan sát

    là khả năng tri giác nhanh chóng và chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và

    đặc sắc của sự vật, hiện tượng, cho dù những điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ là

    thứ yếu” [44, tr.88].

    Riêng đối với HS lớp 6, việc PTNL quan sát có vai trò vô cùng quan trọng, bởi

    đối với HS lớp 6 vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn nghèo nàn, sơ lược, các em

    còn đang trong quá trình tìm hiểu thế giới xung quanh. Thông qua quan sát trực tiếp

    đối tượng miêu tả, các em sẽ tìm được các tài liệu chọn lọc được chi tiết cần thiết

    chuẩn bị các kiến thức phục vụ cho việc làm bài văn theo yêu cầu của đề bài đã cho;

    Nhờ quan sát mà bài làm của HS đảm bảo tính chân thức, tránh tình trạng miêu tả hời

    hợt, chung chung, không có một sắc thái riêng biệt nào, tránh được cả tình trạng sao

    chép từ bài văn mẫu (một trong những hiện tượng phổ biến trong bài văn miêu tả của

    HS THCS hiện nay); Bên cạnh đó, do được tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng miêu

    tả cô cùng phong phú, các em sẽ có hứng thú học văn miêu tả hơn, say mê học văn

    miêu tả hơn; Ngoài ra, qua việc quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, các em sẽ bước

    đầu hình thành cho mình phương pháp và năng lực quan sát – một năng lực cần thiết

    trong cuộc sống của các em.

    Việc PTNL quan sát trong dạy học văn miêu tả ở lớp 6 cần phải được tiến

    hành một cách hệ thống, đầy đủ, cụ thể thông qua các bài tập thích hợp nhằm rèn

    luyện một loạt các hành động như: Sử dụng các giác quan, xác định trình tự quan sát,

    lựa chọn các chi tiết đặc sắc… khi quan sát.

    – Năng lực liên tưởng, tưởng tượng trong văn miêu tả:

    Khi phân loại tưởng tượng, các nhà tâm lý học cho rằng: có loại tưởng tượng

    tích cực và tưởng tượng tiêu cực. Cũng có thể phân loại theo cách khác, dựa theo mức

    độ của hoạt động sáng tạo và mối quan hệ với trí nhớ, ta có: liên tưởng,tưởng tượng

    tái tạo và liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo. Từ đây, ta có thể xây dựng hai loại bài tập

    nhằm vào 2 mục đích: PTNL liên tưởng, tưởng tượng tái tạo và PTNL liên tưởng,

    tưởng tượng sáng tạo.

    – Năng lực so sánh và nhận xét trong văn miêu tả:

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Luyện Tập Tạo Lập Văn Bản Ngắn Gọn Hay Nhất
  • 1. Tạo Lập Văn Bản: Xuân Đến Thay Áo Mới Cho Đất Trời, Mang Niềm Vui Đi Khắp Nhân Gian .em Hãy Tả Cảnh Ngày Xuân Tại Khu Phố Hay Thôn Nơi Mình Đang Ở
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Lao Xao Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 6: Lợn Cưới, Áo Mới
  • Soạn Bài : Lợn Cưới, Áo Mới
  • Nghệ Thuật Ý Nghĩa Các Văn Bản Đã Học Ở Lớp 9 Bàn Về Đọc Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài)
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Những Trường Hợp Được Xem Là Con Chung Của Vợ Chồng
  • Văn Bản Thỏa Thuận Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng
  • Hiểu Tường Tận Về Hệ Thống Văn Bản Nội Bộ Trong Doanh Nghiệp
  • -dẫn dắt tự nhiên xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín đã làm tăng tình thuyết phục của văn bản.

    -lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể giàu hình ảnh

    Ý nghĩa văn bản:

    Tầm quan trọng ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chon sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả.

    CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THÊ KỈ MỚI

    1. Nghệ thuật

    – sử dụng nhiều thành ngữ , tục ngữ thích hợp làm cho câu văn vừa sinh đông , cụ thể , lại vừa ý vị , sâu sắc mà vẫn ngắn gọn .

    -Sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với đời sống bởi cách nói giản dị , trực tiếp , dể hiểu : lâp luận chặt chẽ , dẫn chứng tiêu biểu , thuyết phục .

    2. Ý nghĩa văn bản

    Những điểm mạnh , điểm yếu của con người Việt Nam : từ đó cần phát huy những điểm mạnh , khắc phục những hạn chế để xây dựng đất nước trong thế kỉ mới

    MÙA XUÂN NHO NHỎ

    *. Nghệ thuật: Viết theo thể thơ 5 chữ, nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng gần gũi với dân ca.-Kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị với những hình ẩnh giàu ý nghĩa biểu trưng khái quát

    -Sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sang, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, sử dụng từ xưng hô

    *.Ý nghĩa văn bản:

    Bài thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên thiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước cho cuộc đời

    NGHỆ THUẬT Ý NGHĨA CÁC VĂN BẢN ĐÃ HỌC Ở LỚP 9 BÀN VỀ ĐỌC SÁCH *. Nghệ thuật: Bố cục chặt che, hợp lí -dẫn dắt tự nhiên xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín đã làm tăng tình thuyết phục của văn bản. -lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể giàu hình ảnh… Ý nghĩa văn bản: Tầm quan trọng ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chon sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả. CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THÊ KỈ MỚI 1. Nghệ thuật – sử dụng nhiều thành ngữ , tục ngữ thích hợp làm cho câu văn vừa sinh đông , cụ thể , lại vừa ý vị , sâu sắc mà vẫn ngắn gọn . -Sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với đời sống bởi cách nói giản dị , trực tiếp , dể hiểu : lâp luận chặt chẽ , dẫn chứng tiêu biểu , thuyết phục . 2. Ý nghĩa văn bản Những điểm mạnh , điểm yếu của con người Việt Nam : từ đó cần phát huy những điểm mạnh , khắc phục những hạn chế để xây dựng đất nước trong thế kỉ mới MÙA XUÂN NHO NHỎ *. Nghệ thuật: Viết theo thể thơ 5 chữ, nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng gần gũi với dân ca.-Kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị với những hình ẩnh giàu ý nghĩa biểu trưng khái quát -Sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sang, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, sử dụng từ xưng hô… *.Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên thiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước cho cuộc đời VIẾNG LĂNG BÁC *. Nghệ thuật: Bài thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lăng, vừa tha thiết, đau xót tự hòa, phù hợp với nội dung cảm xúc. -Viết theo thể thơ tám chữ, có đôi chỗ biến thể, cách gieo vần và nhịp điệu thơ linh họat -Sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh, kết hợp cả hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩa khái quát và giá dtrị biểu cảm cao -Lựa chọn ngôn ngữ biểu cảm, sử dụng các ẩn dụ, điệp ngữ có hiệu quả nghệ thuật. *. Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện tâm trạng xúc động, tấm long thành kính, biết ơn sâu sắc của tác giả kh vào viếng lăng bác. SANG THU *.Nghệ thuật -Khắc hoạ được hình ảnh thơ đẹp ,gợi cảm, đặc sắc về thời điểm giao mùa hạ – thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. -Sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ ( bỗng , phả , hình như,…)phép nhân hoá (sương chùng chình , song được lúc dềnh dàng,…) phép ẩn dụ (sấm , hàng cây đứng tuổi). *.Ý nghĩa văn bản Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa. NÓI VỚI CON *.Nghệ thuật -Có giọng điệu thủ thỉ, tâm tình tha thiết, triều mến. -Xây dựng những hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát , mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. -Có bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhien. *Ý nghĩa văn bản Bìa thơ thể hiện tình yêu thương thắm thiết của cha mẹ dành cho con cái; tình yêu, niềm tự hào về quê hương , đất nước ĐỒNG CHÍ *… Nghệ thuật: Sử dụng ngôn ngữ bình dị, thấm được chất dân gian, thể hiện tình cảm chân thành. Sử dụg bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn một cách hài hòa, tạo nên hình ảnh thơ đẹp mang ý nghĩa biểu tượng. * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ ngợi ca tình cảm đồng chí cao đẹp giữa những người chiến sĩ trong thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ. BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TÁC PHẨM Nghệ thuật: Lựa cionj chi tiết độc đáo, có chi tiết phát hiện, hình ảnh mang đậm chất hiện thực -sử dụng ngôn ngữ đời sống, tạo nhịp điệu linh họat, thể hiện giọng ngang tàng trẻ trung, tinh nghịch * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ ca ngợi người chiến sĩ lái xe Trường Sơn dũng cảm, hiên ngang, tràn đấy niềm tin chiến tha81ngtrong thời kì chống giặc Mĩ xâm lược. ÁNH TRĂNG *.TÁC GIẢ và TÁC PHẨM::nguyễn Duy tên khai sinh là nguyễn duy nhuệ sinh năm 1948 quê ở tỉnh Thanh Hoá. Bài thơ Ánh trăng được sang tác năm 1978 không bao lâu sau khi đất nước thốngn nhất. bài thơ được in trong tập thơ ánh trăng. * Ý nghĩa văn bản : Ánh trăng khắc họa một khía cạnh trong vẻ đẹp của người lính sâu nặng tình nghĩa, chung thủy sau trước. LÀNG Ý nghĩa văn bản: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp LẶNG LẼ SA PA Ý nghĩa văn bản: ” Lặng lẽ Sa Pa” là câu chuyện về cuộc gặp gỡ với những con người trong một chuyến đi thực tế của nhân vật ông họa sĩ, qua đó, tác giả thể hiện niềm yêu mến đối với những con người có lẽ sống cao đẹp đang lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc CHIẾC LƯỢC NGÀ * Ý nghĩa văn bản: Là câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, Chiếc lược ngà cho ta hiểu thêm về những mất mát to lớn của chiến tranh mà nhân dân ta đã trải qua trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. MÂY VÀ SÓNG *.Nghệ thuật -Bố cục bài thơ thành 2 phần giống nhau ( thụât lại lời rủ rê – thuật lại lời từ chối và lí do từ chối – trò chơi do em bé sáng tạo ) – sự giống nhau nhưng không trùng lập về ý và lời. -Sáng tạo nên những hình ảnh thiên nhiên bay bổng, lung linh, kì ảo song vẫn rất sinh động và chân thực và gợi nhiều lien tưởng. *.Ý nghĩa văn bản Bài thơ ca ngợi ý nghãi thiêng liêng của tình mẫu tử CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG *Nghệ thuật: Khai thác vốn văn học dân gian, sáng tạo về nhân vật, sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố kì ảo…kết thúc có hậu. Y nghĩa văn bản: Với quan niệm cho rằng hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quáng và ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam CHỊ EM THUÝ KIỀU * Ý nghĩa văn bản: Chị em Thúy Kiều thể hiện tài năng nghệ thuật và cảm hứng nhân văn ngợi ca vẻ đẹp và tài năng con người của tác giả Nguyễn Du. CẢNH NGÀY XUÂN *Nghệ thuật:sử dụng ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh, diễn tả tinh tế tâm trạng nhân vật Miêu tả theo trình tự du xuân của hai chị em Thúy Kiều * Ý nghĩa văn bản : Cảnh ngày xuaa6n là đoạn trích miêu tả bức tranh mùa xuân tươi đẹp qua ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật giàu chất tạo hình của ND. KIÊÙ Ở LẦU NGƯNG BÍCH *…Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật: diễn biến tâm trạng được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại và tả cảnh ngụ tình. -lựa chon từ ngữ và các biệp pháp tu từ điệp ngữ, ẩn dụ, từ láy. *… Ý nghiã văn bản: Đoạn trích thể hiện tâm trạng cô đon, buồn tủi và tấm lòng thủy chung hiếu thảo của TK LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA 3. Tổng kết: *…Nghệ Thuật: miêu ta nhân vật chủ yếu thông qua cử chỉ, hàh động, lời nói. Sử dụng ngôn ngữ mộc mạc bình dị, gần với lời nói thông thường, mamg màu sắc Năm Bộ rõ nét, phù hợp với diễn biến tình tiết truyện. * Ý nghĩa văn bản :Đoạn trích ca ngợi phẩm chất cao đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga và khát vọng hành đạo cứu đời của tác giả. LỤC VÂN TIÊN GẠP NẠN * Ý nghĩa văn bản :Với đoạn trích này, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, qua đó thể hiện niềm tin của tác giả vào những điều bình dị mà tốt đẹp trong cuộc sống đời thường. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ *Nghệ thuật : Sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so snhs nhân hóa, phóng đại * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ thể hiện nguồn cảm hứng lãng mạn ngợi ca biển cả lớn lao, ngợi ca nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của những người lao động mới. BẾP LỬA * Nghệ thuật :xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa gần gũi, vừa gợi nhiều liên tưởng tưởng tượng, mamg ý nghĩa biểu tượng. Viết theo thể thơ tám chữphối hợp với giọng điẹu cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả , tự sự nghị luận và biểu cảm. Ý nghĩa văn bản : Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu, nhà thơ cho ta hiểu thêm về những người bà, những người mẹ, về nhân dân nghĩa tình. Giáo viên :Ngô Thị Thủy-ĐT :0919.167.997

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách (Chi Tiết)
  • Văn Bản Bàn Về Đọc Sách Của Chu Quang Tiềm
  • Thủ Thuật Biến Chữ Viết Tay Và Tài Liệu Trên Giấy Tờ Thành Văn Bản Máy Tính
  • Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Ôn Tập Chi Tiết Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Soạn Văn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Giả Mạo Văn Bản Của Văn Phòng Chính Phủ Để Lừa Đảo
  • Tổ Công Tác Của Thủ Tướng Làm Việc Với Các Bộ Về Nợ Đọng Văn Bản
  • 23 Tỉnh, Thành Đã Kết Nối Với Hệ Thống Quản Lý Văn Bản Của Vpcp
  • Vài Phân Tích Về Văn Bản Của Văn Phòng Thủ Tướng
  • Quy Định Về Viết Hoa Trong Văn Bản Chính Phủ.doc
  • Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 1

    I. TÌM HIỂU CHUNG

    1. Tác giả

    a) Cuộc đời:

    Lê hữu trác là người làn Liên Xá, huyện Đường Hòa, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương.

    Tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông ( nghĩa là ông già lười ở đất thượng Hồng ) Lười làm quan và biếng danh lợi

    Gia đình ông có truyền thống học hành và thi cử đỗ đạt làm quan.

    b) Sự nghiệp:

    Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học…

    Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

    2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

    Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu về sự phát triển của văn học Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

    Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn.

    3. Vị trí đoạn trích:

    Đoạn trích ghi lại thời điểm: sau khi ông vào kinh, đang tá túc ở tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì được mời vào phủ chía Trịnh xem bệnh cho thế tử Cán. Đây là lần đầu ông bước chân vào chốn này.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

    1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    a) Quang cảnh trong phủ chúa

    + Quang cảnh trong đây được miêu tả cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu có thể sánh bằng.

    + Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm.

    + Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

    + Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm, mà là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

    ( màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

    * Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành nhưng giờ đây vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

    b) Cung cách sinh hoạt

    -Cách nói năng:

    + Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

    +Trịnh Cán thì:Thánh thể(1lần)

    + Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tin đông đảo nhộn nhịp.

    + Phủ chúa ra vào phải có thẻ

    + Lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

    + Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

    c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

    + Tác giả dửng dưng trước những quyến rũ về vật chất, cảnh sống xa hoa bởi vì nó được xây bằng xương bằng máu của nhân dân.

    + Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và cả không khí tự do.

    Tóm lại:

    Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, chúng ta thấy được sự lộng quyền của nhà chúa đối với quyền tối thượng và cả nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng với gia đình, sự thật bù nhìn của tên vua Lê khi đó.

    2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

    a) Thế tử Cán:

    nơi thế tử ngự là chốn thâm nghiêm tối tắm, bao quanh đó là các vật dụng gấm góc, lụa là vàng ngọc…

    + Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

    + Không khí lạnh lẽo tù túng

    + Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chân tay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

    Những điều trên cho thấy cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực lại trống rỗng. Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – trịnh vào những năm cuối TK XVIII.

    b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

    + Đó là một người thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

    + Bên cạnh tài năng thì ông còn là thầy thuốc rất có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.

    3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

    + Cách quan sát rất tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tảnh cảnh người sinh động, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

    + Cách kể diễn biến câu chuyện và cả sự khéo léo, lôi cuốn người đọc.

    + Mang giá trị hiện thực sâu sắc

    III. Kết luận:

    Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích vào phủ chúa Trịnh đã giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua le Chúa Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích hầu như đã biến mất.

    Qua cách miêu tả người, tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngầm phê phán kín đáo về cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh, đồng thời thể hiện được tâm hồn cao thượng, khát khao một cuộc sống tự do không cần màng tới danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 12

    I. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU VĂN BẢN

    Câu 1: Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Thái độ của tác già?

    Trả lời:

    a) Bậc danh y tuổi cao, tài lớn dã nhìn thấy và ghi lại quang cảnh ở phủ chúa Trịnh Sâm. Đó là cành cực kỳ xa hoa, tráng lệ và nổi lên quyển uy tột bậc cùa nhà chúa.

    – Vào phủ chúa phải qua nhiều lần cửa và “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”… “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

    – Trong khuôn viên phủ chúa “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Bài thơ ghi lại suy nghĩ và cảm nhận của tác giả để minh chứng cho cảnh sống xa hoa, uy quyền của phủ chúa:

    Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt

    Cả trời Nam sang nhất là đây!

    + Nội cung được miêu tả gồm những chiếu gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt, cung nhân xúm xít, mặt phấn áo đỏ…

    + Ăn uống thì: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”.

    + Về nghi thức: Lê Hữu Trác phải qua nhiều thù tục mới dược vào thăm bệnh cho thế tử. Nào là phải qua nhiều cừa, phải chờ đợi khi có lệnh mới được vào. “Muốn vào phải có thẻ”, vào đến nơi, người thầy thuốc Lê Hữu Trác phải “lạy bốn lạy”. Tất cả những chi tiết trên cho người đọc nhận thấy phủ chúa Trịnh thật lộng lẫy, sang trọng, uy nghiêm. Lời lẽ nhắn tới chúa Trịnh và thế từ đểu phải hết sức cung kính (thánh thượng, ngự, yết kiến, hầu mạch…). Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không thấy mặt chúa mà chi làm theo mệnh lệnh cùa chúa do quan Chánh dường truyền dạt lại. Xem bệnh xong chi được viết tờ khải dể dâng lên chúa. Nghiêm đến nỗi tác giả phải “Nín thở đứng chờ ở xa”.

    – Đó là tài quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động giữa con người với cảnh vật. Thuật lại sự việc theo trình tự diễn ra một cách tự nhiên khiến ta có cảm giác, tác giả không hề thêm thắt, hư cấu mà cảnh vật, sự việc cứ hiện ra rõ mồn một. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Đằng sau bức tranh và con người ấy chứa đựng, dồn nén bao tâm sự của tác giả.

    b) Với tư cách cùa một người “… vốn con quan, sinh trường ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng dã từng biết. Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi”. Bước chân tới đây, tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ. Song qua ngòi bút sắc sảo ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe của tác giả, người đọc nhận ra thái độ của người cầm bút. Ôông sững sờ trước quang cảnh của phủ chúa “Khác gì ngư phủ dào nguyên thuở nào!” (một ngư phủ chèo thuyền theo dòng suối lạc vào động tiên). Việc được hưởng thụ giàu sang đang nàm trong tay nhưng rốt cuộc tác giả chẳng có thiết tha gì. Đây là đường vào nội cung thế tử “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Phải chăng thái độ gián tiếp của tác giả là tỏ ra không dồng tình với cuộc sống xa hoa, hưởng lạc thú quá mức của những người giữ trọng trách quốc gia? Cách tìm cuộc sống an nhàn nơi ấn dật rõ ràng là sự đối trọng gay gắt với cảnh sống của gia dinh chúa Trịnh Sâm và bọn quan lại dưới trướng. Thì ra tất cả những thứ sơn son thếp vàng, võng điều áo đỏ, sập vàng, gác tía, nhà cao cửa rộng, hương hoa thơm nức, đèn đuốc lấp lánh,… chỉ là phù phiếm, hình thức, che đậy những gì nhơ bẩn ỏ bên trong. Những thứ đó qua cái nhìn của một ông già áo vải, quê mùa, tự nó phơi bày tất cả. Điều đó giúp ta khẳng định Lê Hữu Trác không thiết tha gì với danh lợi, với quyền uy cao sang.

    c) Đó là sự thành công khi miêu tả con người. Từ quan truyền chí đến quan Chánh đường, từ người lính khiêng võng, cầm lọng đến các quan ngự y, từ những cô hầu gái đến những phi tần, mĩ nữ đểu hiện lên rất rõ. Nhưng rõ nhất là thế tử Cán.

    Câu 2: Chi tiết làm nổi bật giá trị hiện thực cùa tác phẩm?

    Trả lời

    – Lối vào chỗ ở của vị chúa nhỏ

    “Đi trong tối om, qua năm, sáu lần trướng gấm”

    – Nơi thế tử ngự; đạt sập vàng, cắm nến to trên giá đồng, bày ghế đồng sơn son thếp vàng, nệm gấm. Ngót nghét chục người đứng chầu chực sau tấm màn che ngang sân, cung nữ xúm xít. Đèn chiếu sáng làm nổi bật màu phấn và màu áo đỏ, hương hoa ngào ngạt.

    – Chỉ có một ấu chúa, thực chất chỉ là cậu bé lên 5 tuổi mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc. Tất cả, bao chặt lấy con người. Người thì đông nhưng tất cả đều im lặng khiến cho không khí trờ nên lạnh lẽo, băng giá. Bao trùm lên các mùi phấn son tuy ngào ngạt nhưng thiếu sinh khí. Một cậu bé bị quây tròn, bọc kín trong cái tổ kén vàng son.

    + Mặc áo đỏ, ngồi trên sập vàng

    + Biết khen người giữ phép tắc: “Ông này lạy khéo”

    + Cời áo thì: “Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò… nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức… mạch lại tế,… âm dương đều bị tổn hại…”

    – Thế tử Cán được miêu tả bằng con mắt nhìn của một vị lang y tài giỏi bắt mạch, chẩn đoán bệnh. Tác giả vừa tả, vừa nhận xét khách quan. Thế tử Cán được tái hiện lại thật đáng sợ: Tinh khí khô, mặt khô, toàn những đường nét của cơ thể đang chết. Hình ảnh thế từ Cán, chỉ qua vài nét miêu tả đã hiện rõ một cơ thể ốm yếu. Bấy nhiêu đã đủ rồi, nhưng chúng ta hãy đọc trong đơn thuốc của thế tử: “… sáu mạch tế, sác và vô lực, hữu quan yếu, hữu xích lại càng yếu hơn. Ấy là tì âm hư, vị hoả quá thịnh, không giữ được khí dương nên âm hoả đi càn. Vì vậy, bên ngoài thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phù bên trong thì trống”. Phải chăng cuộc sống vật chất quá đầy đủ, quá mức giàu sang, phú quý nhưng tất cả nội lực bên trong là tinh thần, ý chí, nghị lực, phẩm chất thì trống rỗng. Ngôn ngữ của y học, hình hài tính khí vẫn là của con người nhưng từng câu, từng chữ có lúc tạo nên nhịp điệu đối xứng: “Màn che – trướng phủ”, với điệp ngữ “quá no… quá ấm”. Nhà khoa học kiêm nghệ sĩ đã chỉ đúng cội nguồn căn bệnh của Trịnh Cán là cả tập đoàn phong kiến của xã hội Đàng ngoài ốm yếu không gì cứu vãn nổi.

    Cảu 3: Người thầy thuốc Lê Hữu Trác hiện lên như thế nào?

    Trả lời:

    – Khi khám bệnh cho thế tử Cán, thái dộ Lê Hữu Trác diễn biến rất phức tạp.

    + Một mặt tác giả chí ra căn bệnh cụ thể, nguyên nhân của nó, một mặt ngám phê phán: “Vì thế tử ờ trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ám nên tạng phù yếu đi”.

    + Ông rất hiểu căn bệnh cùa Trịnh Cán, đưa ra những cách chữa hợp lý, thuyết phục nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay, chúa sẽ tin dùng, bị công danh trói buộc: “Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa”. Để tránh được, cứ cầm chừng, dùng thuốc vỏ thưởng vô phạt. Song làm thế lại trái với y đức, trái với lương tâm, phụ lòng ông cha. Tâm trạng ấy giằng co, xung đột. Đây là ý nghĩ đáng quý: “Cha ông mình đời đời chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được”. Cuối cùng phẩm chất, lương tâm trung thực cùa người thầy thuốc đã thắng. Lê Hữu Trác đã gạt sang một bên sở thích của riêng mình đê’ làm tròn trách nhiệm. Khi dã quyết, tác giả chẳng đưa ra lí lẽ để giải thích. Điều đó chứng tỏ tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng, già dặn kinh nghiệm. Ống lấy việc trị bệnh cứu người làm mục đích chính, y dức ấy ai hơn.

    – Quan sát tỉ mỉ.

    + Quang cảnh phù chúa.

    + Nơi thế tử Cán ở, cảnh vật dưới ngòi bút ký sự của tác già tự phơi bày.

    – Ghi chép trung thực, giúp người đọc thấy được cánh ấy có sự bài trí của giàu sang, quyền chức.

    + Từ việc ngồi chờ ờ phòng trà đến bữa cơm sáng.

    + Từ việc xem bệnh cho thế tử Cán đến ghi đơn thuốc.

    Tất cả không có một chút hư cấu, chi thấy hiện thực dời sống được bóc tách dần từng mảng. Người đọc không thể dừng lại ờ bất cứ chỗ nào. Cách ghi chép cũng như tài năng quan sát đã tạo được sự tinh tế, sắc sảo ở một vài chi tiết, gây ấn tượng khó quên.

    + Cách thế tử ngồi trên sập vàng chễm chệ, ban một lời khen khi một cụ già quỳ dưới đất lạy bốn lạy: “Ông này lạy khéo”.

    + Khi đi vào nơi thế tử để xem mạch, tác giả chú ý cả chi tiết bên trong cái màn là nơi “Thánh thượng đang ngự”(Chi chúa Trịnh Sâm). “Có mấy người cung nhãn đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo dỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Chi tiết này khắng dịnh việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra mổn một.

    Câu 4: Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự?

    Trả lời:

    – Đoạn văn trích Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác vừa mang đậm giá trị hiện thực, vừa thể hiện phẩm chất của một thầy thuốc giàu tài năng mang bản lĩnh vô vi, thích sống gần gũi chan hoà với thiên nhiên, ghẻ lạnh với danh vọng, suốt đời chăm lo giữ gìn y đức của mình.

    – Với tài năng quan sát sự vật, sự việc cùng với cách kể hấp dẫn. Lê Hữu Trác đã góp phần khẳng định vai trò, tác dụng của thể ký đối với hiện thực đời sống.

    II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    Bài tập: So sánh đoạn trích: Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác (Thượng kinh kí sự) với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ (Vũ trung tuỳ bút)?

    Trả lời:

    Nhân việc được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, ghi lại quang cảnh và cuộc sống cực kì xa hoa của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ

    Kể lại những thú vui ham chơi của Trịnh Sâm: đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ờ các li cung, xây dựng núi non. chậu hoa cảnh, vơ vét, chiếm đoạt của cải tiền bạc của nhân dân với nhũng tệ nạn nhũng nhiễu của bọn hoạn quan một cách thô bạo và trắng trợn.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 3

    I.TÌM HIỂU CHUNG

    1.Tác giả

    a) Cuộc đời:

    + Người làng Liên Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương

    Gia đình có truyền thống hoc hành và thư cử đỗ đạt làm quan.

    b) Sự nghiệp:

    Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học…

    Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

    2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

    Là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu sự phát triển của văn học ( Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

    Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho Thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn..

    3.Vị trí đoạn trích:

    Đoạn trích ghi lại thời điểm: Sau khi ông vào kinh, đang tá túc tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì ông được mời vào phủ chúa Trịnh để xem bệnh cho Thế tử Cán. Đây là lần đầu tiên ông bước chân vào chốn thâm nghiêm này.

    II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

    1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    a) Quang cảnh trong phủ chúa

    Cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu sánh bằng:

    – Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm

    – Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

    – Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm với những trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

    (màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

    * Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành mà vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

    b) Cung cách sinh hoạt

    – Cách nói năng:

    + Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

    +Trịnh Cán thì:Thánh thể (1lần)

    + Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tinđông đảo nhộn nhịp.

    + Phủ chúa ra vào phải có thẻ; lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

    + Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

    c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

    Tác giả dửng dưng trước những những quyến rũ vật chất,cảnh sống xa hoa bởi nó được xây bằng xương máu của nhân dân…

    + Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khíi tự do…

    Tóm lại:

    Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, ta thấy: Sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình; sự thật bù nhìn của vua Lê khi ấy…

    2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

    a) Thế tử Cán:

    Nơi thế tử ngự là nơi thâm nghiêm tối tăm ; bao quanh là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc…

    + Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

    + Không khí lạnh lẽo tù túng

    + Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chântay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

    Cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực trống rỗng.Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu muc6 ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh Những năm cuối TK XVIII.

    b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

    +Tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

    + Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ…

    3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

    + Cách quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh tả người sinh động, không bỏ sót chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

    + Cách kể diễn biến câu chuyện và sự việc khéo léo,lôi cuốn người đọc.

    Giá trị hiện thực sâu sắc

    III. Kết luận:

    * Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích Vào phủ chúa trịnh giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua Lê chúa,Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích này hầu như đã biến mất.

    * Qua cách miêu tả người tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngẩm phê phán kín đáo cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh đồng thời thể hiện tâm hồn cao thượng, khát khao cuộc sống tự do không màng danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 4

    1. Vài nét về tác giả Lê Hữu Trác

    – Lê Hữu Trác tên hiệu là hải thượng lãn ông, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học hành thi đậu cao, ông cũng là một thầy thuốc giỏi.

    2. Tác phẩm.

    – Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

    3. Quang cảnh, cách thức sinh hoạt trong phủ chúa.

    – Quang cảnh:

    + Khung cảnh trong phủ chúa nhộn nhịp xa hoa, với những tiếng chim hót những cánh hoa, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau, cảnh vật xung quanh phủ chúa thật xa hoa lộng lẫy, nó mang một vẻ đẹp tran hoàng những cảnh vật ngoài xã hội lại đối lập với cảnh vật trong phủ chúa, bên trong đồ vật trong phủ chúa thì được to son thiếc vàng làm tôn lên vẻ đẹp lộng lẫy,hét sức xa hoa, không khí ở phủ chúa thật ngột ngạt, nó khiến cho tác giả bị xiết chặt vào cái sung túc nhưng lại dựa trên sự đau khổ của nhân dân lao động, những khung cảnh đó làm cho tác giả ngột ngạt ông như đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác, ông cảm thấy khó thở và căm phẫn trước sự sa hoa của bọn bạo chúa.

    – Cung cách sinh hoạt:

    + Trong phủ chúa Trịnh chỉ có những kinh thánh và những lời cầu khẩn dạ thưa của vua quan và đầy tớ, chúa trịnh là một người sống rất xa hóa trong cách sinh hoạt của hắn luôn có những phi tần luôn trầu trực, và thúc trực quanh hắn, thế tử thì luôn có đến bẩy tám người thầy thuốc tục trực…. một cuộc sống xa hoa ở phủ chúa đã bộc lộ ra một chế độ ăn chơi xa đọa không lo cho cuộc sống của nhân dân.

    Người đọc khi đọc xong dường như đều có cảm xúc khi thấy một khung cảnh xa hoa nơi phủ chúa và cả những phong thái sinh hoạt xa hoa, sự xa hoa ở phủ chúa là sự cực khổ của nhân dân, mỗi sự cực khổ của nhân dân là một phần xa hoa sung túc ở phủ chúa, bóc lột sức lao động của nhân dân vào việc ăn chơi trác táng.. một chế độ thật đáng lên án sâu sắc.

    + Cảnh xa hoa tráng lệ ở phủ chúa trịnh khác hẳn và đối lập với cuộc sống đời thường bên ngoài mỗi chúng ta, nhân dân lúc ấy giờ đang lâm vào nạn đói, sưu thuế tăng cao nộp vào cho triều đình để ăn chơi, mỗi cuộc chơi của phủ chúa là những giọt mồ hôi công sức và cả máu của người dân. Nơi đây bọn chúng biến thành nơi để xa hoa chơi, những con người ở đây đều biến chất lúc nào cũng chỉ thích ăn chơi rồi bỏ mặc cuộc sống đói khổ của nhân dân ngoài xã hội, người dân đói lăn lóc ra nhưng bên trong này thì ăn chơi chát tang thật đáng lên án cái bọn hại dân bán nước này.

    Nghi lễ ở phủ chúa thể hiện một khuôn phép một lối sống của một bậc quyền sang có chúc có quyền và nó đã phản ánh một chế độ độc tài thối nát. Nhưng nghi thức rườm rà, thủ tục làm cho khác ngoài đời nơi đây trở thành nơi ăn chơi nhảy múa của bọn hôn quân bạo chúa. Nó tạo nên một không khí bị ép chặt ngột ngạt, chúng muốn biến nơi đây thành thiên dường để trác tang.

    Cái nhìn của tác giả và ngôn ngữ được tác giả thể hiện: những ngôn ngữ mỉa mai, giọng điệu đầy chất châm biếm khi đối diện với khung cảnh đó tác giả dường như choáng ngợp trước quang cảnh nguy nga lộng lẫy ở phủ chúa, đối diện với cuộc sống của nhân dân, không có cơm ăn áo mặc, nhân dân rơi vào lầm than nghèo đói… Lê Hữu Trác là một nhà nho coi thường danh lợi, ông đã lấy cái cá nhân cái cao cả để phản anh một chế độ thối nát xa hoa ăn chơi hưởng lạc.

    Người thầy thuốc nhìn thầy cảnh vật ở phủ chúa không phải vì tiền bạc của cải mà chữa bệnh cho thế tử ông đã gạt bỏ đi những định kiến cá nhân để làm tròn trách nhiệm của một vị thầy thuốc, lấy chữa trị cứu người làm nền tảng…qua đó chúng ta cũng đánh giá được phẩm chất cao quý của người thầy thuốc, đã cứu chữa để giúp tính mạng của con người…

    Thái độ kê đơn thuốc của tác giả: căn bệnh của thái tử là căn bệnh của người giàu nhưng vì lương y của một vị thày thuốc mà ông đã cứu giúp, ông đã bỏ đi cái hiềm khích cá nhân để cứu sống mạng người, ông không chỉ là một người thầy thuốc giỏi mà ông còn là một người có tấm lòng bao dung nhân hậu.

    6. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng trong bài.

    Nghệ thuật: tác giả đã dùng vốn hiểu biết và tài năng của mình để ghi chép lại toàn bộ cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, ghi lại những hình ảnh, sự vật đặc biệt quan trọng để qua đó tố cáo chế độ độc tài thối nát, lối kể chuyện sâu sắc của tác giả đã làm cho người đọc hứng thú với diễn biến câu chuyện. Cả bài là một cuộc sống xa hoa tác giả dã rất thành công trong việc ghi dấu ân đặc biệt bởi những chi tiết rất đặc sắc để lột tả được một cuộc sống xa hoa của phủ chúa, những quan cách và những thủ tục rườm già, mang nặng quyền thế.

    Những chi tiết được tác giả miêu tả rất hiện thực qua đó phản ánh một lớp người một tầng lớp thoái chất, phê phán một chế độ tàn ác.

    Vũ Hường tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Văn Bản: Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực : Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới
  • Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Dàn Ý Phân Tích Văn Bản Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • ✅ Văn Mẫu: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Đặc Sắc Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • Nguyễn Đình Huy và bà Trương Thị Thiệt. Ông sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh,

    phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm

    1888 tại Ba Tri, Bến Tre.

    Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những ngày gia biến và quốc biến hãi hùng, chính

    điều đó đã tác động đến nhận thức của ông

    Năm1833, Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) đã gửi Nguyễn Đình Chiểu

    cho một người bạn ở Huế để ăn học. Năm 1843 ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định lúc ông 21 tuổi,

    năm 1846, ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu năm 1849. Nhưng sau đó, mẹ ông mấ t, ông trở

    về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều, ông bị bệnh, đau mắt nặng rồi bị mù

    cả hai mắt. Về quê, chịu tang mẹ xong,ông lại bị một gia đình giàu có bội ước. Từ ấy, ông mở

    trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, sống giữa tình thương của mọi người. Về sau, có người học

    trò cảm nghĩa đã gả em gái của mình cho thầy. Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.

    Văn bản VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC Nguyễn Đình Chiểu 1.Tác giả: 1.1 Cuộc đời: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, con cụ Nguyễn Đình Huy và bà Trương Thị Thiệt. Ông sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888 tại Ba Tri, Bến Tre. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những ngày gia biến và quốc biến hãi hùng, chính điều đó đã tác động đến nhận thức của ông Năm1833, Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) đã gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học. Năm 1843 ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định lúc ông 21 tuổi, năm 1846, ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu năm 1849. Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều, ông bị bệnh, đau mắt nặng rồi bị mù cả hai mắt. Về quê, chịu tang mẹ xong,ông lại bị một gia đình giàu có bội ước. Từ ấy, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, sống giữa tình thương của mọi người. Về sau, có người học trò cảm nghĩa đã gả em gái của mình cho thầy. Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu. Năm 1859, khi Pháp nổ súng xâm chiếm Gia Định, ông đã đứng vững trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu. Nam Kì mất, ông ở lại Ba Tri, Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc. Vốn nhiệt tình yêu nước, ông liên hệ mật thiết với nhóm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là, Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định. Ông tích cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân. Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu co khí tiết, không chịu khuát phục. Năm Mậu Tí 1888, ngày 24-5 âm lịch, ông mất, thọ 66 tuổi. Cả nước đều thương tiếc kính trọng ông. 1.2 Sự nghiệp thơ văn: 1.2.1 Những tác phẩm chính: -Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên ở Nam Kì sáng tác chủ yếu bằng chữ nôm. -Cuộc đời sáng tác của ông chia làm hai giai đoạn: +Giai đoạn đầu: .Truyện Lục Vân Tiên .Dương Tử- Hà Mậu +Giai đoạn sau: .Ngư Tiều y thuật vấn đáp .Một số văn tế, thơ Nôm như: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Thơ điếu Trương Định, Thơ điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh.. Bằng ngòi bút, Nguyễn Đình Chiểu đã suốt đời chiến đấu không mệt mỏi cho đạo đức, chính nghĩa, cho độc lập tự do của dân tộc: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. (Dương Tử-Hà Mậu) 1.2.2 Nội dung thơ văn -Lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa - Lòng yêu nước thương dân 1.2.3 Nghệ thuật thơ văn Có đóng góp quan trọng, nhất là văn chương trữ tình đạo đức. Thơ văn của ông cũng đậm đà bản sắc Nam Bộ Lối thơ thiên về kể trong các truyện của ông cũng mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong văn học dân gian Nam Bộ. nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19 Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan điểm về văn chương riêng. Quan điểm "văn dĩ tải đạo" của ông khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà nho quan niệm Đạo là đạo của trời, còn Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế, đạo làm người đáng quý hơn nhiều. Đó là quan niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu. Quan điểm ấy tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và tinh thần nhân ái. 2. Tác phẩm 2.1 Văn tế: Là một loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ sự thương tiếc đối với người đã mất. Thường có hai nội dung cơ bản: kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất, và bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút vĩnh biệt. 2.2 Hình tượng người nông dân, nghĩa sĩ Hai câu đầu (phần lung khởi): mở đầu bài văn tế, tác giả đã cất lên một tiếng than lay động lòng người. Người nghĩa sĩ xuất hiện lên trong khung cảnh bão táp của thời đại: biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc là sự xâm lăng của thực dân và ý chí kiên cường bảo vệ tổ quốc của nên tính chất bi tráng của cuộc chiến đấu, đầy bi kịch nhưng cũng vô cùng vĩ đại. Nhân dân quyết định chết vì "ơn vua"- "nợ nước" đó là cái chết vì nghĩa lớn. Câu văn mang tư tưởng trung quân nhưng thực chất là tư tưởng yêu nước. Cái nghĩa ở đây là nghĩa lớn với đất nước. Vì vậy mà cái chết thành bất tử "thác coi như ngủ". a) Hình ảnh người nông dân trong cuộc sống bình thường. - Người nông dân chân thật, lam lũ với cuộc sống.( Câu 4 ) - Người nông dân tự ngàn đời vẫn là con người chất phát quê mùa: cuộc sống diễn ra trong lũy tre làng, với những công việc đồng áng. - Trong rất nhiều điều người nông dân chưa biết, tác giả chỉ nhấn mạnh đó là việc binh đao, trận mạc.( Câu 5 ) sau. b) Chuyển biến của người nông dân khi giặc xâm lược đất đai bờ cõi của cha ông. - Khi giặc đến, ban đầu người nông dân cũng hồi hộp lo sợ họ chỉ biết trông cậy vào triều đình. Bởi lẽ họ chưa biết giặc là ai chỉ biết đó là lũ người xấu xa và họ ghét. - Ngày một ngày hai nhìn thấy ke thù nghênh ngang trên đất nước mình họ cảm thấy nhức nhối. Cái "ghét" lúc trước đến nay đã trở thành lòng căm thù muốn giết chết chúng "muốn tới ăn gan-muốn ra cắn cổ". - Người nông dân nhận thức sâu sắc về chủ quyền của quốc gia và chính nghĩa của dân tộc, nhận thức được bản chất của kẻ thù xâm lược và ý thức trách nhiệm của bản thân với sự nghiệp cứu nước. " Một mối xa thơ đồ sộbán chó". - Tình cảm mãnh liệt nhận thức sâu sắc và tất cả nay đã biến thành hành động. Người dân tự nguyện đứng lên vì nghĩa đánh giặc " Nào đợi ai đòi ai bắt,tay bộ hổ". thường đến phi thường. Họ hiện ra trong hình tượng người nghĩa sĩ. c) Vẽ đẹp hào hùng của những nghĩa sĩ áo vải trong " Trận nghĩa đánh Tây". - Người nghĩa sĩ bước vào trận đánh trong hình ảnh người nông dân đi đánh giặc "Vốn chẳng phải quân cơ quân vệgươm đeo" đều không có. - Họ bước vào trận đánh như mang theo tất cả hơi thở của ruộng đồng, với những vật dụng bình thường thô sơ: tầm vong, lưỡi dao phay,...Nhưng tấm lòng mến nghĩa đã biến những dụng cụ thô sơ ấy thành thứ vũ khí lợi hại lập nên những chiến công lớn: đốt xong chỗ dạy đạo kia, chém - Hình tượng người anh hùng được khắc trên cái nền một trận tiến công đồn rất náo nhiệt đầy khí thế.Ngòi bút của tác giả đã hào hứng miêu tả trận đánh với nhiều biện pháp nghệ thuật : + Tạo hình ảnh đối lập giữa ta và địch. Mặc dù vũ khí thô sơ nhưng mang lại chiến thắng lớn " Hỏa maihai nọ" điệp từ cũng nằm giữa hai ý đối lập nhau càng có tác dụng nhấn mạnh. + Dùng các từ đặc biệt, rất nhiều động từ chỉ hành động mạnh ( Đánh, đốt , chém, đạp), dứt khoát ( đốt xong, chém đặng, trối kệ,), dùng từ đan chéo để tăng cường độ (đâm ngang- chém dọc,). + Câu văn trải dài ngắt thành nhiều vế, nhịp câu ngắn gọn, tác giả: ông đã ca ngợi bản chất cao quý vẫn tiềm ẩn sau những mảnh áo vải cuộc đời vất vả,lam lũ của người nông dân đó là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ tổ quốc. * Nghệ thuật miêu tả trận tấn công đồn: tác giả đã dựng lên một tượng đài nghệ thuật vừa hoành tráng lại mang nét mộc mạc chân chất của người dân Nam Bộ- nét đẹp của lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ tổ quốc. 2.3 Thái độ và tình cảm của tác giả a) Nỗi xót thương đối với người liệt sĩ: Nỗi xót thương có pha lẫn nhiều nỗi niềm. - Nỗi xót thương có sự tiếc hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành. (câu 16, 23) - Nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ. (câu 24) - Nỗi căm hờn những kẻ đã gây ra những cảnh éo le. (câu 20) - Hòa chung với tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước dân tộc. (câu 26)  Nhiều niềm cảm thương ấy cộng lại thành nỗi đau sâu nặng, không chỉ ở trong lòng người mà dường như còn bao trùm ở cây cỏ, sông núi, sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tôn Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai,..tất cả đều nhuốm màu tang tóc bi thương. b) Niềm cảm phục và tự hào: - Tác giả bày tỏ niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất, ngọn rau, bát cơm, manh áo của mình, chống lại kẻ thù hung hãn. (câu 18, 19) - Đối lập với lẽ sống cao đẹp của người nghĩa sĩ là lối sống tầm thường, ô nhục của những kẻ bán nước theo giặc. Tác giả không tiếc lời chửi rủa bọn người này. (Câu 21) - Tác giả ca ngợi những người nông dân Cần Giuộc đã lấy cái chết làm rạng danh một chân lí cao đẹp mọi thời đại "Thà chết vinh còn hơn sống nhục". (câu 22) - Tác giả ca ngợi, biểu dương công trạng của người liệt sĩ đời đời nhân dân ngưỡng mộ, Tổ quốc ghi công. (Câu 25, 27)  Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư của tác giả mà ông đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người liệt sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mả còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lược của thực dân. Nò không chỉ gợi nỗi đau mà còn kích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp tục sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Hai câu cuối: tác giả gạt đi màu sắc của tư tưởng trung quân, câu văn ca ngợi sự bất tử của những người nghĩa sĩ. Họ vẫn như đang còn sống, đang có mặt trong cuộc chiến đấu của nhân dân chống xâm lược. 3.Ý nghĩa của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc. Năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc. Năm 1861, vào đêm 14 tháng 2, nghĩa quân tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc trên đất Gia Định, gây tổn thất cho giặc, nhưng cuối cùng lại thất bại. Bài văn tế tuy được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, song chính là những tình cảm chân thực của Đồ Chiểu dành cho những người đã xả thân vì nghĩa lớn. Chủ đề của bài văn tế là ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần quả cảm của những người nghĩa sĩ- nông dân Cần Giuộc, từ đó khẳng đinh lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân vì nghĩa của con người Việt Nam, đồng thời thể hiện tấm lòng tác giả đối với những con người ấy. Tấm lòng yêu nước của Nguyển Đình Chiểu cũng ngời sáng như tấm gương nhửng người nghĩa sĩ. * Tổng kết: tác phẩm là tiếng khóc cao cả, thiêng liêng cho một thời kì lịch sử đau khổ của cả dân tộc, là bức tượng đài bi tráng về những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh vì tổ quốc. Bài văn là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính chất hiện thực, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, giàu sức biểu cảm. 4. Sơ đồ của tác phẩm Nhân dân là hình tượng nghệ thuật của bài thơ VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC Hình thức đối ngẫu Cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người nghệ sĩ Cần Giuộc Ca ngợi tấm gương hi sinh tự nguyện của những người yêu nước Khắc hoạ vẻ đẹp bên ngoài: bình dị, đời thường Vẻ đẹp bên trong: tinh thần xả thân vì nghĩa, dũng cảm, hiền lành, chất phác Hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghệ sĩ Thái độ cảm phục, niềm xót thương vô hạn của tác giả Thể hiện cách trang trọng nỗi đau, sự mất mát của cả dân tộc trước sự hi sinh anh dũng Lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân nghĩa sĩ Ca ngợi lòng yêu nước tinh thần quả cảm của ngững người nghĩa sĩ Thể hiện được tấm lòng của tác giả. Hình tượng người nghĩa sĩ là tượng đài nghệ thuật sừng sững. Lòng yêu nước, sẵn sang hy sinh của con người Việt Nam Tình cảm xót thương của nười đứng tế đối với linh hồn người đã khuất. Tổng kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chính Xác Và Đầy Đủ Nội Dung
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học?
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 45: Đọc
  • Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Văn Học Việt Nam
  • Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam (Siêu Ngắn)
  • Tác Phẩm Văn Học Và Quan Niệm Về Tác Phẩm Văn Học
  • Nâng Cao Kỹ Năng Đọc Diễn Cảm Cho Giáo Viên Dạy Văn Ở Thcs Nang Cao Ky Nang Doc Dien Cam Doc
  • Soạn bài Tổng quan văn học Việt Nam

    Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Sơ đồ các bộ phận và sự phát triển của văn học Việt Nam

    Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

    Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước. Nhìn tổng quát, văn học Việt Nam đã trải qua ba thời kì lớn:

    – Văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (văn học trung đại): hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á có giao lưu với nhiều nền văn hóa trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.

    – Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945.

    – Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX.

    Hai thời kì văn học sau (bao gồm : Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 và Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX) phát triển trong bối cảnh sự giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, tiếp thu tinh hoa văn học của nhiều nước trên thế giới, được gọi chung là văn học hiện đại.

    1. Văn học trung đại (VHTĐ)

    Văn học trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

    – Văn học chữ Hán :

    + Chính thức được hình thành vào thế kỉ X, khi dân tộc Việt Nam giành được chủ quyền từ tay thế lực đô hộ phương Bắc.

    + Là phương tiện để nhân dân ta tiếp nhận những học thuyết lớn của phương Đông và hệ thống thi pháp, thể loại của văn học cổ – trung đại Trung Quốc.

    + Nhiều tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

    + Tác phẩm tiêu biểu: Bình Ngô Đại cáo (Nguyễn Trãi), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), …

    – Văn học chữ Nôm:

    + Phát triển mạnh từ thế kỉ XV và đạt đỉnh cao vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.

    + Là kết quả của lịch sử phát triển văn hóa dân tộc; đồng thời là bằng chứng hùng hồn cho ý chí độc lập và chủ quyền quốc gia.

    + Giúp hình thành nên các thể loại văn học dân tộc; gắn với những truyền thống của văn học trung đại như lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo, tính hiện thực, tính dân tộc – dân chủ hóa, …

    + Tác phẩm tiêu biểu: Đỉnh cao của văn học viết bằng chữ Nôm là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ngoài ra còn có: Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn), …

    2. Văn học hiện đại (VHHĐ

    Văn học hiện đại đã có mầm mống từ cuối thế kỉ XIX, nhưng phải đến đầu những năm 30 của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới thực sự bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại. Văn học Việt Nam hiện đại được viết chủ yếu bằng chữ Quốc ngữ, với số lượng tác giả và tác phẩm đạt quy mô chưa từng có.

    – Văn học hiện đại mang một số đặc trưng nổi bật như sau:

    + Về tác giả: xuất hiện đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp, lấy việc viết văn, sáng tác thơ làm nghề nghiệp.

    + Về đời sống văn học: nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại, tác phẩm văn học đến đời sống nhanh hơn, mối quan hệ qua lại giữa tác giả với độc giả vì thế mật thiết hơn, đời sống văn học sôi nổi, năng động hơn.

    + Về thể loại: Các thể loại thơ mới, tiểu thuyết, kịch, … dần thay thế thể loại cũ và trở thành hệ thống.Một vài thể loại của văn học trung đại vẫn tiếp tục tồn tại song không giữ vai trò chủ đạo.

    + Về thi pháp: Hệ thống thi pháp mới dần thay thế lối viết sùng cổ, ước lệ, phi ngã của văn học trung đại. Lối viết hiện thực, đề cao cá tính, đề cao “cái tôi” cá nhân dần được khẳng định.

    – VHHĐ được chia thành 2 giai đoạn chính:

    + Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: Đây là giai đoạn được đánh giá một ngày bằng ba mươi năm, văn học có nhiều cách tân đổi mói với ba dòng văn học:

    Văn học hiện thực ghi lại không khí ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến .

    Văn học lãng mạn đề cao cái tôi cá nhân, đấu tranh cho hạnh phúc và quyền sống cá nhân.

    Văn học cách mạng phản ánh và tuyên truyền cách mạng, góp phần đắc lực vào công cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc.

    + Giai đoạn Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX: Đây là giai đoạn văn học có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng,tập trung phản ánh sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc xây dựng XHCN; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đi sâu vào những tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam trước những vấn đề mới mẻ của thời đại.

    Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

    Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm về chính trị, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam qua nhiều thời kì trong nhiều mối quan hệ đa dạng :

    – Con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên: Đây là một nội dung quan trọng, xuyên suốt trong văn học Việt Nam, thể hiện rõ qua ba giai đoạn phát triển của văn học dân tộc:

    + Văn học dân gian kể lại quá trình ông cha ta nhận thức, cải tạo, chinh phục thế giới tự nhiên; miêu tả thiên nhiên đầy tươi đẹp, thân thiết và gần gũi với đời sống của con người.

    + Văn học trung đại gắn vẻ đẹo của thiên nhiên với quan niệm thẩm mỹ của con người.

    + Văn học hiện đại miêu tả thiên nhiên gắn liền với những cảm xúc giản dị trong cuộc sống của con người: tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống; tình cảm lứa đôi.

    – Con người Việt Nam trong quan hệ quốc gia dân tộc:

    + Là phần nội dung quan trọng, phong phú và mang giá trị nhân văn sâu sắc, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam.

    + Được văn học đề cập đến ở nhiều khía cạnh như: tinh thần yêu nước, tình yêu làng xóm, yêu quê cha đất tổ, căm ghét các thế lực giày xéo quê hương, ý thức về quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh, khát vọng tự do, độc lập….

    + Tinh thần yêu nước là nội dung tiêu biểu, mang những giá trị quan trọng của văn học Việt Nam.

    – Con người Việt Nam trong quan hệ xã hội:

    + Thể hiện lòng nhân ái và mơ ước về một xã hội công bằng, tốt đẹp.

    + Lên tiếng tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dân bị áp bức trong xã hội có giai cấp đối kháng.

    + Là một tiền đề quan trọng cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo trong văn học dân tộc.

    – Con người Việt Nam và ý thức về bản thân:

    + Văn học đã ghi lại quá trình tìm kiếm, lựa chọn các giá trị để hình thành đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam.

    + Trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trung tâm của văn học (cộng đồng hoặc cá nhân) có những giá trị và cách phản ánh riêng.

    + Xu hướng chung của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như: nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, giàu đức hi sinh, …

    Nội dung chính

    Văn học Việt Nam có hai bộ phận lớn: văn học dân gian và văn học viết. Văn học viết Việt Nam gồm văn học trung đại và văn học hiện đại, phát triển qua ba thời kì, thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam.

    Học văn học dân tộc là để tự bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tình cảm, quan niệm thẩm mĩ và trau dồi tiếng mẹ đẻ.

    Bài giảng: Tổng quan văn học Việt Nam – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Luyện Văn Bản Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 10: Tổng Kết Phương Pháp Đọc
  • Tổng Kết Phương Pháp Đọc
  • Bài Tập Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học (Có Đáp Án).
  • Những Mẫu Slide Powerpoint Miễn Phí Tuyệt Đẹp Dành Cho Giáo Viên
  • Xây Dựng Các Câu Hỏi Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học Theo Hướng Phát Triển Năng Lực Trong Môn Tiếng Việt Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học Hoặc Văn Bản
  • Thuyết Minh Về Một Văn Bản Một Thể Loại Văn Học Đơn Giản
  • Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Soạn Bài: Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học
  • Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    TRẦN THỊ DUNG

    XÂY DỰNG CÁC CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    VĂN HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

    TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5

    LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

    HÀ NỘI – 2021

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    TRẦN THỊ DUNG

    XÂY DỰNG CÁC CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    VĂN HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

    TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5

    Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)

    Mã số: 60 14 01 01

    LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: chúng tôi Trần Thị Hiền Lƣơng

    HÀ NỘI – 2021

    Trần Thị Dung

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

    liệu, căn cứ, kết quả có trong luận văn là trung thực.

    Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.

    Tác giả luận văn

    Trần Thị Dung

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………. 1

    1. Lí do chọn đề tài ……………………………………………………………………………….. 1

    2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………. 3

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………… 4

    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………………….. 4

    5. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………. 5

    6. Giả thuyết khoa học ………………………………………………………………………….. 5

    CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY

    DỰNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG

    LỰC TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 ………………………………………….. 6

    1.1. Cơ sở lí luận ………………………………………………………………………………….. 6

    1.1.1. Khái niệm “đọc hiểu” và “câu hỏi đọc hiểu” …………………………………… 6

    1.1.2. Khái niệm năng lực và năng lực đọc hiểu ……………………………………… 10

    1.1.3. Chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 và nội dung, yêu cầu dạy học đọc

    hiểu …………………………………………………………………………………………………… 25

    1.1.4. Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học ………… 28

    1.2. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………………………………….. 34

    1.2.1. Chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 ……………………………………………… 34

    1.2.2. Tài liệu dạy học …………………………………………………………………………. 35

    1.2.3. Phương pháp dạy của giáo viên …………………………………………………… 42

    1.2.4. Phương pháp học của học sinh…………………………………………………….. 44

    Kết luận chương 1 ………………………………………………………………………………. 46

    CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN

    BẢN VĂN HỌC TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THEO HƢỚNG 49

    PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ………………………………………………………………. 49

    2.1. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu phát huy trải nghiệm, mở rộng kiến thức ……….. 50

    2.2. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu phát triển kĩ năng đọc hiểu………………………. 52

    2.2.1. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu chi tiết văn bản (từ ngữ, câu, đoạn, hình ảnh,

    nhân vật) ……………………………………………………………………………………………. 54

    2.2.2. Hiểu thông điệp văn bản …………………………………………………………….. 55

    2.2.3. Hiểu ý nghĩa, giá trị của tác phẩm ……………………………………………….. 55

    2.3. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu bồi dưỡng hứng thú đọc hiểu văn bản văn học

    …………………………………………………………………………………………………………. 56

    2.3.1. Câu hỏi bày tỏ cảm xúc về nhân vật, chi tiết, biện pháp nghệ thuật,…. 58

    2.3.2. Câu hỏi nhận biết tư tưởng, tình cảm của tác giả……………………………. 58

    2.3.3. Câu hỏi nêu quan điểm, đánh giá về văn bản ………………………………… 59

    Kết luận chương 2 ………………………………………………………………………………. 60

    CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ……………………………………….. 62

    3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………… 62

    3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm …………………………………………………….. 62

    3.2.1. Biên soạn tài liệu ……………………………………………………………………….. 62

    3.2.2. Tổ chức thực hiện, đánh giá việc thực hiện các tài liệu đã biên soạn

    trước, trong và sau khi thực nghiệm. …………………………………………………….. 62

    3.2.3. Tập hợp, phân tích và xử lí kết quả dạy học thực nghiệm để rút ra kết

    luận về hiệu quả của việc xây dựng câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học theo

    hướng phát triển năng lực trong môn Tiếng Việt lớp 5 ……………………………. 62

    3.3. Đối tượng thực nghiệm sư phạm…………………………………………………….. 62

    3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………… 62

    3.5. Tiến trình thực nghiệm sư phạm …………………………………………………….. 71

    3.5.1. Trao đổi với giáo viên trường được thực nghiệm về mục đích, nội dung

    dạy thử nghiệm; cùng thống nhất bài tập đọc, giáo án, hệ thống câu hỏi đọc

    hiểu để dạy thử nghiệm. ………………………………………………………………………. 71

    3.5.2. Tiến hành thực nghiệm sư phạm ………………………………………………….. 71

    3.5.3. Tập hợp, phân tích và xử lí kết quả thực nghiệm …………………………… 71

    3.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………….. 72

    3.7. Kết luận rút ra từ dạy học thử nghiệm …………………………………………….. 72

    KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………. 74

    TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 78

    PHỤ LỤC …………………………………………………………………………………………… 1

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    STT

    Từ, cụm từ

    Viết tắt

    1

    Đọc hiểu

    ĐH

    2

    Học sinh

    HS

    3

    Chương trình giáo dục phổ thông

    4

    Giáo viên

    GV

    5

    Năng lực

    NL

    6

    Văn bản

    VB

    CTGDPT

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    1.1. “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh (HS) hình thành những cơ

    sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,

    thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.”

    (Khoản 2, Điều 27, Mục 2, Luật Giáo dục). Những gì các em học được, hình

    thành được ở bậc tiểu học sẽ trở thành những trải nghiệm làm hành trang để

    các em tiếp tục học tập và phát triển trong những giai đoạn tiếp theo.

    Trong Chương trình giáo dục Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học quan

    trọng vì nó là môn học công cụ, giúp các em học tập tốt các môn học khác.

    Môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học gồm có các phân môn: Tập đọc,

    Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn. Trong đó, Tập đọc được

    coi là phân môn đặc biệt quan trọng, giúp HS rèn luyện và phát triển kĩ năng

    đọc hiểu – một trong những kĩ năng cơ bản thể hiện năng lực sử dụng ngôn

    ngữ của mỗi người.

    Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với trẻ em khi bước vào

    trường Tiểu học. Đọc không chỉ là sự “đánh vần” theo đúng kí hiệu các chữ

    viết mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình nhận thức để có khả năng

    thông hiểu những gì được đọc. Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo

    các văn bản thì các em mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tư

    tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản và kiến thức của các

    môn học khác của nhà trường. Mặt khác, chính biết cách đọc hiểu văn bản mà

    học sinh dần dần có khả năng đọc rộng để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về

    cuộc sống từ đó hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách và tự học

    thường xuyên.

    Hoạt động đọc bao gồm cả mặt kĩ thuật và mặt thông hiểu nội dung.

    Trong đó, thông hiểu nội dung (đọc hiểu) chính là đích của hoạt động đọc. Vì

    vậy, có thể khẳng định đọc hiểu là một trong những yếu tố của năng lực ngôn

    ngữ và là một trong những năng lực cốt lõi cần hình thành cho học sinh.

    1.2. Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8 khoá

    XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Về đổi mới căn

    bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại

    hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập

    quốc tế, sau khi chỉ ra những hạn chế và yếu kém của giáo dục đã khẳng định

    quan điểm chỉ đạo: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến

    thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Cùng với việc

    khẳng định quan điểm đó, Nghị quyết cũng chỉ ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể

    đối với ngành giáo dục: Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện

    đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành,

    vận dụng kiến thức vào thực tiễn Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và

    học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận

    dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một

    chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự

    học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát

    triển năng lực.

    Thực hiện tinh thần của Nghị quyết 29, đổi mới mục tiêu, nội dung và

    phương pháp dạy học đang diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp, dạy học đọc hiểu

    thiết yếu phải đổi mới.

    1.3. Việc đổi mới dạy học đọc hiểu ở Tiểu học đặc biệt trong phân môn

    Tập đọc của môn Tiếng Việt lớp 5 có vai trò quan trọng vì lớp 5 là lớp cuối cấp

    Tiểu học, học sinh cần được chú trọng hình thành và phát triển các kĩ năng sử

    dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết). Chuẩn kiến thức và kĩ năng môn Tiếng

    Việt Tiểu học cũng nêu rõ học sinh lớp 5 bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của

    một số bài văn, bài thơ, màn kịch của Việt Nam và thế giới, cụ thể là nhận

    biết được các câu văn, hình ảnh, chi tiết có giá trị nghệ thuật trong các bài

    văn, bài thơ, màn kịch đã học. Lên cấp học Trung học cơ sở, các em được học

    môn Ngữ văn với mục tiêu chú trọng đến kĩ năng đọc và cảm thụ văn bản văn

    học. Để thực hiện được nhiệm vụ này yêu cầu các em phải được trang bị tốt

    những kiến thức về đọc hiểu ở cấp học Tiểu học đặc biệt trong môn Tiếng

    Việt lớp 5. Những câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học theo hướng phát triển

    năng lực (NL) trong môn Tiếng Việt giúp học sinh được phát huy trải nghiệm,

    mở rộng kiến thức, phát triển kĩ năng đọc hiểu và bồi dưỡng hứng thú đọc

    hiểu văn bản văn học. Chính vì thế việc xây dựng câu hỏi đọc hiểu văn bản

    văn học theo hướng phát triển năng lực trong môn Tiếng Việt lớp 5 rất cần

    thiết, góp phần hoàn thiện về kiến thức, năng lực và phẩm chất, là nền tảng

    giúp các em học tốt môn Ngữ văn ở cấp học cao hơn.

    Trong giờ Tập đọc lớp 5, đọc hiểu (ĐH) được dạy chủ yếu thông qua hoạt

    động tìm hiểu bài. Tuy nhiên, câu hỏi đọc hiểu văn bản (VB) văn học trong

    sách giáo khoa môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng

    chưa được xây dựng theo hướng phát triển năng lực để giúp học sinh phát huy

    trải nghiệm, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết.

    Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng các

    câu hỏi đọc-hiểu văn bản văn học theo hướng phát triển năng lực trong

    môn Tiếng Việt lớp 5″ với mong muốn thông qua việc nghiên cứu lí luận, khảo

    sát thực trạng, đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc

    dạy học đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 5.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Nghiên cứu đề tài “Xây dựng các câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học

    theo hướng phát triển năng lực trong môn Tiếng Việt lớp 5″, luận văn nhằm

    đề xuất cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học theo

    hướng phát triển năng lực trong môn Tiếng Việt lớp 5, góp phần nâng cao

    chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản văn học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo

    dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực.

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

    3.1. Xác định cơ sở lí luận của việc xây dựng câu hỏi đọc hiểu văn bản

    văn học trong môn Tiếng Việt lớp 5 theo hướng phát triển năng lực.

    3.2. Xác định cơ sở thực tiễn của dạy học đọc hiểu văn bản cho học sinh

    lớp 5 theo hướng phát triển năng lực.

    3.3. Đề xuất các câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học trong môn Tiếng Việt

    lớp 5 theo hướng phát triển năng lực.

    3.4. Tổ chức thực nghiệm khoa học để kiểm chứng tính khả thi của đề tài.

    4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

    4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

    Đề tài đi sâu nghiên cứu các câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học được trình

    bày trong môn Tiếng Việt lớp 5, đánh giá ưu điểm, tồn tại và đề xuất cách thức

    xây dựng câu hỏi đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực cho học sinh.

    4.2. Phạm vi nghiên cứu

    4.2.1. Phạm vi nội dung

    – Đề tài phân tích và lí giải vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản văn học cho

    học sinh lớp 5 thông qua chương trình Tiểu học và ngữ liệu dạy học Tập đọc

    trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 hiện hành.

    – Các câu hỏi đọc hiểu văn bản văn học được đề xuất trong luận văn

    hướng tới việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo hướng tiếp cận năng lực

    trong môn Tiếng Việt lớp 5.

    4.2.2. Phạm vi địa bàn khảo sát và thực nghiệm

    – Địa bàn khảo sát và thực nghiệm: Một số trường Tiểu học trên địa bàn

    tỉnh Hà Nam.

    CHƢƠNG 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

    CÂU HỎI ĐỌC HIỂU THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

    TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5

    1.1. Cơ sở lí luận

    1.1.1. Khái niệm “đọc hiểu” và “câu hỏi đọc hiểu”

    1.1.1.1. Khái niệm “đọc hiểu”

    Theo một số tài liệu nước ngoài, người ta quan niệm: “Đọc là quá trình phức

    tạp bao gồm sự kết hợp của các khả năng cảm nhận, tâm lí ngôn ngữ và nhận thức”

    (Adam, 1990); “Mục đích chính của việc đọc là thu nhận và kiến tạo ý nghĩa từ văn

    bản” (Sweet& Snow, 2002); “Đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp yêu cầu khả

    năng tích hợp thông tin trong văn bản với tri thức có trước của người đọc”

    (Anderson & Pearson, 1984); “Đọc hiểu là một quá trình tương tác xảy ra giữa một

    người đọc và một văn bản” (Rumelhart, 1994); “Đọc là một quá trình tương tác,

    trong quá trình đó, tri thức có trước về thế giới của người đọc tương tác với thông

    điệp được truyền đạt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng văn bản” (Smith,

    1995); Đọc hiểu là “quá trình tư duy có chủ tâm, trong suốt quá trình này, ý nghĩa

    được kiến tạo thông qua sự tương tác giữa văn bản và người đọc” (Durkin, 1993)…

    Trong các quan niệm trên, hai yếu tố “người đọc” và “văn bản” có mối quan

    hệ tương tác với nhau. Ở trong nước, tác giả Trần Đình Sử đã chỉ ra một số nội

    dung quan trọng về việc đọc: “Một, đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản,

    tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn

    ngữ thể loại của văn bản”; phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu

    cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản. Hai, đọc là quá trình

    giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa). Ba, đọc là

    quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá

    trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa và hiểu thế giới).

    Như thế đọc là một hoạt động văn hóa có tầm nhân loại và ý nghĩa giáo dục sâu

    sắc” .

    Tác giả Nguyễn Thanh Hùng – người nghiên cứu nhiều về ĐH, khi bàn về

    những khái niệm then chốt về ĐH, cho rằng “… đọc – hiểu là khái niệm bao trùm

    có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc – hiểu là một khái niệm

    khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ

    ra năng lực văn của người đọc” .

    Tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của “hiểu”: “Hiểu là phát hiện và nắm vững

    mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối

    quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu

    tức là phải trả lời được câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó

    là biết và làm trong đọc hiểu… Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn” . Với cách hiểu này, tác giả Đặng Thành Hưng xác

    định các thành phần cấu trúc của năng lực không chỉ gồm tri thức, kĩ năng,

    thái độ mà còn có yếu tố quan trọng nhất là kinh nghiệm thực tế trong công

    việc tương ứng.

    Chúng tôi bày tỏ sự nhất trí cao với quan niệm của tác giả Đặng Thành

    Hưng bởi trong dạy học, để trang bị cho học sinh tri thức, kĩ năng, thái độ bao

    giờ cũng bắt đầu từ kiến thức, kĩ năng (năng lực nền tảng) sẵn có của học sinh.

    1.1.2.2. Năng lực đọc hiểu

    Hiện nay, các ý kiến vẫn còn bàn cãi giữa hai khái niệm: “Năng lực đọc”

    hay “Kĩ năng đọc”. Theo chúng tôi, chúng tôi tạm quan niệm “Đọc hiểu là một

    năng lực”.

    – Về năng lực đọc hiểu:

    ĐHVB luôn là một nội dung trọng tâm của chương trình môn Ngữ văn ở

    trường phổ thông của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong thời kì từ đầu thế kỉ

    XX đến nay. Cùng với sự tiến bộ của khoa học giáo dục nói chung, khoa học dạy

    Ngữ văn nói riêng, nội dung ĐHVB luôn được đổi mới, phát triển theo thời gian.

    Khi Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) được biên soạn theo hướng tập

    trung vào nội dung, ĐHVB được coi là một kĩ năng then chốt trong nội dung CT

    môn học tiếng với tư cách là môn học ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc với tư cách là môn học

    ngoại ngữ. Gần đây, từ những thập niên 80 và 90 của thể kỉ XX, xu hướng biên

    soạn CTGD đã dựa trên những NL/ kết quả đầu ra, thì ĐHVB được coi là một NL

    chung cốt lõi thuộc NL sử dụng ngôn ngữ trong CTGDPT của nhiều nước trên thế

    giới. Bởi vì “Do đọc hiểu có chức năng phát triển ở người đọc khả năng vận dụng

    đọc vào giải quyết nhiệm vụ học tập và các vấn đề có trong cuộc sống nên đọc hiểu

    không chỉ là kĩ năng mà là một năng lực – năng lực đọc hiểu.

    Trong bài viết “Giải quyết vấn đề dạy đọc hiểu ở Tiểu học trong chiến

    lược dạy đọc ở trường phổ thông Việt Nam giai đoạn sau 2021″, tác giả

    Nguyễn Thị Hạnh cũng chỉ ra rằng: “Năng lực đọc hiểu thuộc cả hai loại

    năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên biệt” [5, 461]. Đó là những năng

    lực cần thiết mà một học sinh cần phải được hình thành và phát triển ở nhà

    trường phổ thông.

    Năng lực đọc hiểu được bắt đầu hình thành từ môn học Tiếng Việt, vì vậy nó

    là một năng lực chuyên biệt của môn học này. Năng lực đọc hiểu được phát triển và

    hoàn thiện ở mức độ ngày càng cao khi được dùng để giải quyết nhiệm vụ học tập

    của các môn học khác, giải quyết nhiệm vụ của cuộc sống, lúc này nó trở thành

    năng lực chung của mỗi học sinh, mỗi cá nhân. Điều đó có nghĩa là, đọc hiểu văn

    bản không chỉ là mối quan tâm của môn Tiếng Việt mà còn là vấn đề chung mà các

    môn học khác trong nhà trường phổ thông phải quan tâm. Bởi trong môn học nào,

    học sinh cũng cần đọc hiểu để học. Trong “Chương trình quốc gia ở Anh quốc”, khi

    đề cập đến “Ngôn ngữ và trình độ đọc viết”, các nhà khoa học sư phạm của nước

    Anh cũng đã cho rằng: “Giáo viên nên bồi dưỡng phát triển cho học sinh ngôn ngữ

    nói, đọc, viết và từ vựng như là những khía cạnh không thể tách rời của việc dạy

    học ở tất cả các môn học. Trong đó, môn Tiếng Anh sẽ chịu trách nhiệm chính.

    Với học sinh, việc hiểu biết về ngôn ngữ sẽ giúp họ đáp ứng được toàn bộ chương

    trình giáo dục phổ thông. Sử dụng thành thạo tiếng Anh là một nền tảng cần thiết

    cho sự thành công ở tất cả các môn học”. Nói về mục đích của việc học Tiếng Anh

    ở nhà trường phổ thông, CT của Anh quốc nhấn mạnh việc “dạy cho học sinh viết

    và nói thành thạo để họ có thể truyền đạt ý tưởng và cảm xúc với những người khác

    và thông qua việc đọc và nghe, những người khác có thể giao tiếp được với họ.

    Thông qua việc đọc, học sinh có cơ hội để phát triển văn hóa, tình cảm, trí tuệ, xã

    hội và tâm linh… Đọc cũng cho phép học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức vừa phát

    triển được trên nền tảng những gì họ đã biết”.

    Đây cũng là vấn đề mà Chuẩn chương trình bang California nói riêng,

    Chuẩn chương trình của các bang ở Hoa Kỳ, chương trình của Singapore cũng như

    nhiều nước trên thế giới đề cập đến (với mức độ đậm nhạt khác nhau). Chúng tôi sẽ

    đề cập cụ thể hơn vấn đề này ở Chương 2 của luận án.

    Như thế, đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông đã trở thành vấn đề

    mang tính quốc tế. Điều này còn thể hiện ở chỗ trong khoảng gần hai chục năm trở

    lại đây, ĐHVB đã trở thành một nội dung của nhiều đợt đánh giá kết quả giáo dục

    mang tính toàn cầu. Nhiều nước trên thế giới đã đăng kí tham gia các chương trình

    đánh giá HS quốc tế có uy tín như PISA, TIMSS, PIRLS, READ… Các chương

    trình này đều đưa ra những tiêu chí và cách thức đánh giá chung ở một số lĩnh vực

    để xác định thứ bậc của giáo dục mỗi nước trong bản đồ giáo dục của khu vực và

    thế giới. Việt Nam đã tham gia PISA vào năm 2012. Tham gia PISA, Việt Nam

    cũng phải tuân thủ quy định, cách thức tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực của học

    sinh, trong đó có năng lực đọc hiểu văn bản.

    Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Thị Hạnh có bài “Xây dựng chuẩn năng lực

    đọc hiểu cho môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2021 ở Việt

    Nam”. Trong bài viết này, tác giả đã đề xuất các yếu tố cấu thành năng lực đọc hiểu

    dựa theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quebec – Canada

    (2010) và tham khảo các chương trình của một số quốc gia trên thế giới như sau: “1.

    Yếu tố tri thức về văn bản, về chiến lược đọc Tri thức về văn bản là những hiểu biết

    về từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp có trong văn bản, là những hiểu biết về cấu trúc,

    thể loại của văn bản…

    Chiến lược đọc hiểu là một tiến trình thực hiện các hoạt động, hành động,

    thao tác đọc hiểu. Tiến trình đó bao gồm những hoạt động sau:

    – Ghi nhớ và nhận biết thông tin.

    – Hiểu thông tin, rút ra thông tin từ văn bản.

    – Phản hồi thông tin trong văn bản, vận dụng thông tin trong văn bản

    vào tình huống tương tự. Đánh giá thông tin trong văn bản.

    – Vận dụng thông tin trong văn bản vào giải quyết vấn đề ở những tình

    huống khác với những mục đích khác trong học tập, đời sống.

    – Yếu tố kĩ năng thực hiện các hoạt động, hành động, thao tác đọc hiểu

    Yếu tố kĩ năng thực hiện các hoạt động, hành động, thao tác đọc hiểu là khả

    năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều

    kiện cụ thể tiến hành đọc hiểu mỗi văn bản. Kĩ năng đọc hiểu bao gồm chuỗi các

    thao tác, hành vi của người đọc được sắp xếp theo một cấu trúc hay một trình tự

    nhất định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học (Văn Lớp 10)
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945 Đến Hết Thế Kỉ Xx (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 12: Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx
  • Ôn Tập Kiến Thức Văn Bản Học Kì 1
  • Tích Hợp Liên Môn Khoa Học Xã Hội Trong Dạy Học Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 10: Đọc
  • Giáo Án Tự Chọn Lớp 10
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Chuyên Đề Ôn Vào Lớp 10. Chủ Đề 1: Văn Học Dân Gian
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Dân Gian Lớp 10
  • Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 1/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 2/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 3/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    – Đối với học sinh:

    Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất ngày càng

    nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng ” mở “nên cũng tạo điều

    kiên,cơ hội cũng như môi trường thuận lợi cho học sinh phat huy tư duy sáng

    tạo.

    III. CÁC GIẢI PHÁP

    III. 1- TÓM TẮT NỘI DUNG GIẢI PHÁP.

    1.

    Chương một: Những vấn đề chung về dạy học tích hợp.

    2.

    Chương hai: Tích hợp liên môn khoa học xã hội trong giảng dạy văn

    học trung đại lớp 10.

    2.1. Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy văn

    học trung đại.

    2.2. Một số phương pháp tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy

    văn học trung đại.

    3.

    Chương ba: Thực nghiệm sư phạm.

    3.1. Dạy học dự án.

    3.2. Kết quả dạy học dự án.

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 4/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    III. 2- NỘI DUNG GIẢI PHÁP

    CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    VỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN

    1.1. Cơ sở lý luận:

    Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống

    nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tuợng.

    Các sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác

    nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của vật chất. Nhờ

    có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại

    trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những mối quan hệ xác

    định.

    Như vậy, giữa các bộ môn khoa học xã hội có quan hệ với nhau, giữa các

    bộ môn khoa học tự nhiên có quan hệ với nhauvà giữa các bộ môn khoa học xã

    hội với các bộ môn khoa học tự nhiên cũng có quan hệ với nhau, kiến thức của

    các môn có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau …

    1.2. Cơ sở thực tiễn

    Nhìn chung trên thế giới, nhiều nước có xu hướng tích hợp các môn học

    thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: Sinh học, Hóa học,Vật lý hoặc các môn

    thuộc lĩnh vực xã hội như: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân…để tạo thành

    môn học mới , với hình thức tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.

    Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong

    một số môn học của trường tiểu học.Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây

    dựng môn Tự nhiên – xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã

    được thiết kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5. Trong những năm gần đây, do

    yêu cầu của xã hội, nhiều nội dung mới đã được tích hợp vào môn học ở bậc

    THCS , đã được triển khai thí điểm và bước đầu đã thu được những thành công

    nhất định và đây cũng là nội dung của chương trình sách giáo khoa mới của Bộ

    GD-ĐT ban hành đồng bộ tới đây.

    1.3. Định nghĩa dạy học tích hợp liên môn

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 5/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 6/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề

    thực tiễn.

    1.4. Các yêu cầu khi dạy học liên môn trong môn Văn

    Quan niệm trong thời trung đại là “Văn – Sử – Triết bất phân” cho đến nay

    vẫn là một chiếc “chìa khóa vạn năng” để khai mở những vấn đề trong văn học

    từ thời trung đại đến hiện đại. Văn học là trọng tâm, nhưng cần được đặt vào nền

    tảng lịch sử của thời đại đó, đặt vào quan niệm triết học và nhân sinh của thời đó

    thể truyền thụ cũng như tiếp nhận.

    Việc học văn vẫn theo quan niệm “lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực

    hóa hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy

    học, tìm mọi cách để phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh.

    Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý đảm bảo

    giúp học sinh liên kết các kiến thức đã học, thông qua tổ chức hoạt động phù

    hợp. Cần thiết nhất là đặt HS vào trung tâm của quá trình dạy học, để HS trực

    tiếp tham gia vào tác phẩm, thức tỉnh ở các em khả năng nhận thức vấn đề, biến

    quá trình truyền dạy tri thức thành quá trình HS tự nhận thức. Muốn làm được

    vậy, phải chú trọng mối quan hệ giữa HS và SGK, buộc HS tự đọc, tự học, tự

    làm việc độc lập theo SGK và theo chỉ dẫn của GV.

    Một số yêu câu cụ thể đặt ra trong việc dạy học tích hợp liên môn trong

    môn Ngữ Văn là:

    – Biến giờ “giảng văn” thành giờ dạy kĩ năng đọc hiểu cho HS, hướng dẫn các

    em kĩ năng để đọc hiểu bất cứ văn bản nào tương tự.

    – Dạy học đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo quan điểm tích hợp: Yêu cầu

    GV phải có trình độ, hiểu biết để hướng dẫn HS đọc – hiểu bản chất sâu rộng

    của tác phẩm văn chương, nhưng cũng đồng thời không đi sâu vào khía cạnh

    triết học, tâm lí phức tạp. Với giờ học đọc hiểu, GV cần hướng học sinh thực sự

    cảm nhận được không khí thời đại của văn bản; cảm thụ cái hay, cái đẹp, sự tinh

    tế, độc đáo của tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng cho HS năng lực sử dụng tiếng Việt đúng

    và hay. Qua đó, GV còn phải giúp HS suy nghĩ đọc lập, có thái độ riêng trước

    những vấn đề văn học và đời sống, tránh lối nói, viết sáo rỗng, sao chép…

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 7/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 8/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    CHƯƠNG HAI: VẬN DỤNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN VÀO GIẢNG DẠY

    CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 10

    2.1. Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy văn học

    trung đại (VHTĐ).

    a, Cơ sở tích hợp liên môn:

    – Khi giảng dạy các tác phẩm văn chương trung đại, giáo viên phải dựng

    lại được không khí văn hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về

    văn hóa, văn học. Từ điểm xuất phát là chân trời hiện tại, GV phải giúp cho học

    sinh trở lại chân trời đầu tiên để học tập cách cảm, cách nghĩ của người xưa. Tác

    phẩm phải được đặt trong hoàn cảnh sinh thành ra nó, bởi lẽ sáng tạo văn học

    thường bắt nguồn từ một yếu tố có thực nào đó trong lịch sử. Tác phẩm Bình

    Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi phải đặt trong hoàn cảnh kháng chiến chống

    Minh, tiếp nhận Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu phải đặt trong hoàn

    cảnh chống Nguyên Mông xâm lược mới hiểu được giá trị của tác phẩm và đồng

    cảm với tác giả, hiểu được hào khí của thời đại, thế đứng của dân tộc. Cái bi, cái

    hùng trong Bình Ngô đại cáo, tiếng kêu đứt ruột trong Truyện Kiều, cái sâu lắng

    suy tư trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến… đều có nguồn gốc sâu xa từ

    bối cảnh văn hóa, lịch sử của thời đại. Vì thế Lịch sử là môn học không thể

    tách rời văn học, đặc biệt là Văn học trung đại.

    – Ngoài ra, kiến thức Địa lí cũng vô cùng cần thiết trong việc giảng dạy

    đọc – hiểu các văn bản văn học trung đại. Do khoảng cách thời gian nên các địa

    danh, đặc điểm lãnh thổ vốn được ghi lại trong các tác phẩm văn chương có thay

    đổi, điều này cho thấy sự cần thiết khi tích hợp địa lí trong trường THPT. Đặc

    biệt, địa lí vùng biển đảo Việt Nam hiện đại có thể tích hợp giảng dạy trong

    những tác phẩm văn chương về chống giặc ngoại xâm, về chủ quyền lãnh thổ

    của dân tộc (Ví dụ: Các tác phẩm thời Lí – Trần như Nam quốc sơn hà (Lí

    Thường Kiệt?); Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi); Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão)…)

    – Kiến thức liên môn Giáo dục công dân (GDCD) được sử dụng như một

    phần của giờ giảng văn, là công cụ đắc lực cho việc đọc hiểu của học sinh. Mỗi

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 9/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    tác phẩm văn học trung đại dù theo hệ quy chiếu văn hóa và lịch sử nào cũng sẽ

    để lại những bài học làm người có sức thuyết phục vượt thời gian. Chúng ta có

    thể thấy Bình Ngô đại cáo vẫn là bài học lớn về tinh thần ái quốc và trách nhiệm

    của công dân với đất nước, hay Truyện Kiều là minh chứng của tình thương,

    lòng nhân ái và sự sẻ chia. Chính vì thế, giảng dạy VHTĐ là đặt tác phẩm trong

    mối liên hệ thực tiễn cuộc sống hôm nay. Từ hiện tại, GV sẽ đưa HS về với chân

    trời đầu tiên để khám phá. Đơn cử cho việc tích hợp liên môn GDCD là chân lí

    khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt trong Bình

    Ngô đại cáo sẽ giúp HS học bài học GDCD về ý thức giữ gìn độc lập chủ quyền

    dân tộc trong thời điểm nhạy cảm hiện nay… Vấn đề đặt ra trong giảng dạy

    VHTĐ là đưa HS cùng với học văn thỏa mãn cả bài học GDCD, kĩ năng sống,

    tiếp cận với những vấn đề nhân sinh mà con người đang băn khoăn, trăn trở.

    – Tập trung hơn vào trách nhiệm của HS, thanh thiếu niên ngày nay với

    dân tộc, chúng ta thấy văn học trung đại có thể liên hệ với cả Giáo dục quốc

    phòng (GDQP). Những tác phẩm thuộc trào lưu yêu nước như Nam quốc sơn

    hà (Lí Thường Kiệt), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung)…

    đều mang tâm sự của những người công dân yêu nước và khát khao cống hiến

    cho độc lập, cho sự bền vững của dân tộc. Chính vì thế, bài học GDQP có thể

    tích hợp trong văn học, vừa thu hút sự hứng thú của HS với việc đọc hiểu văn

    bản VHTĐ, bồi dưỡng sự hiểu biết của HS trong các vấn đề dân tộc trọng đại.

    – Tuy nhiên, nếu quá tập trung vào giảng dạy kiến thức liên môn, GV rất

    dễ mắc phải sai lầm là sa đà vào kiến thức các môn học khác, bỏ qua nhiệm vụ

    cơ bản nhất của việc đọc hiểu VHTĐ, đó là thi pháp văn chương trung đại. Kiến

    thức về thi pháp văn học trung đại sẽ là chiếc chìa khóa giúp học sinh có thể giải

    mã các tác phẩm văn chương.

    Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại khác với văn

    học hiện đại. Việc tiếp nhận văn học trước đây thường chỉ quan tâm nội dung, ít

    quan tâm sự lựa chọn tổ chức không gian, thời gian. Vì vây, không khai thác

    được ý nghĩa thẩm mỹ của những yếu tố nghệ thuật này. Ngoài ra, tiếp nhận văn

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 10/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    học trung đại cũng cần chú ý thi pháp về kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, xem xét

    từng bình diện để thấy những giá trị truyền thống bền vững và những cách tân

    sáng tạo của nhà văn, nhà thơ.

    Đồng thời, giảng dạy văn học trung đại phải bám sát đặc trưng thể loại.

    Trong chương trình văn THPT, học sinh được tiếp xúc với nhiều thể loại văn học

    trung đại khác nhau như: Thơ Đường luật, cáo, phú, văn tế, truyện thơ, ngâm

    khúc, tiểu thuyết chương hồi. Hơn nữa, mỗi thể loại có một kết cấu riêng mang

    những đặc trưng riêng. Do đó dạy học văn học trung đại cần phải nắm vững đặc

    trưng của từng thể loại. Tiếp nhận thơ Đường phải thấy được cái hay của nghệ

    thuật đối câu, đối chữ, đối ý, đối lời. Bên cạnh đó là tính chất chặt chẽ của niêm,

    luật, tính cô đọng hàm súc, ý tại ngôn ngoại. Tiếp nhận một bài phú phải thấy

    được đặc trưng của thể loại này là sự phô bày, không hạn định số câu chữ, là sự

    độc đáo trong các biện pháp khoa trương, sử dụng nhiều điển cố, điển tích…

    Vậy tích hợp liên môn có thể ở chính bộ môn Ngữ Văn nữa. HS có thể được

    giảng dạy nhiều tác phẩm trong một tiết học, hay một chuyên đề, để làm rõ nội

    dung của văn bản cần tìm hiểu, từ đó khái quát nên đặc trưng thể loại.

    Tóm lại, việc hình thành tích và thực hiện tích hợp liên môn các môn

    KHXH bao gồm: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng trong

    giờ học đọc hiểu văn bản VHTĐ là thiết thực, khả thi, nhiều triển vọng trong

    việc hướng dẫn HS khám phá tác phẩm theo hướng phát triển năng lực cảm thụ

    và tư duy.

    b, Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong dạy học văn học

    trung đại lớp 10

    Sở dĩ chúng tôi tiến hành các nội dung tích hợp liên môn KHXH trong

    văn học trung đại lớp 10 (Ban Cơ bản) bởi vì SGK Ngữ Văn 10 có một khối

    lượng lớn các tác phẩm nằm trong hệ thống văn học trung đại, có nhiều đặc

    điểm chung về nội dung, thi pháp thể loại và được sắp xếp khá logic theo trình

    tự thời gian. Vậy nên, để dễ dàng hình dung về hệ thống nội dung tích hợp liên

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 11/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    Tác giả

    – Tác phẩm

    Mục tiêu cần đạt

    Kiến thức liên môn

    – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc

    chiến đấu chống ngoại xâm ở

    các thế kỉ X – XV và Bài 20.

    Xây dựng và phát triển văn hoá

    1

    – Cảm nhận được

    “hào khí Đông A” và

    khí phách anh hùng của

    vị tướng giỏi thời Trần

    trong cuộc kháng chiến

    chống quân Mông Nguyên

    – Thấy được những

    hình ảnh có sức diễn tả

    mạnh mẽ các bài thơ.

    trong các thế kỉ X – XV (Lớp

    10)

    – GDCD: Bài 14: Công dân với

    sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

    Tổ quốc. (Lớp 10).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với tổ quốc.

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    2

    Cảnh ngày hè

    (Bảo kính

    cảnh giới – bài

    43) – Nguyễn

    Trãi

    Việt Nam (lớp 10)

    – Cảm nhận được nét – Lịch sử: Bài 18. Công cuộc

    đặc sắc của cảnh ngày

    xây dựng và phát triển kinh tế

    hè và trong cách sử

    trong các thế kỉ X – XV và Bài

    dụng từ ngữ sinh động

    20. Xây dựng và phát triển văn

    của tác giả.

    – Thấy được ý thức

    của Nguyễn Trãi trong

    việc tìm tòi, sáng tạo

    một thể thơ có bản sắc

    riêng cho thơ ca Việt

    Nam.

    hoá trong các thế kỉ X – XV

    (nhấn mạnh chữ Nôm – dấu

    hiệu ngôn ngữ của dân tộc độc

    lập và tự chủ) (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng (Lớp 10)

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 12/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    3

    – Bước đầu hiểu được

    lối sống thanh cao của

    Nguyễn Bỉnh Khiêm ;

    – Thấy được nét đặc sắc

    về nghệ thuật của bài

    thơ : lời lẽ tự nhiên,

    giản dị mà ý vị.

    Việt Nam (lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII

    (lớp 10)

    – GDCD: Bài 10: Quan niệm về

    đạo đức (Lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII;

    4

    – Cảm nhận được

    niềm cảm thương mà

    Nguyễn Du dành cho tất

    cả những kiếp người tài

    hoa bạc mệnh và tâm sự

    khao khát tri âm ở hậu

    thế của nhà thơ ;

    – Thấy được nghệ

    thuật đặc sắc của thơ trữ

    tình Nguyễn Du.

    Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

    thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    với các phạm trù đạo đức(Lớp

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    tự do cơ bản (Lớp 12).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống, vấn đề bình đẳng giới

    5

    (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 17. Quá trình

    – Hiểu được quan

    niệm của một bậc đại sư hình thành và phát triển của nhà

    về vận nước, từ đó thấy

    nước phong kiến (từ thế kỉ X

    được tấm lòng đối với

    đến thế kỉ XV) (Lớp 10)

    đất nước của tác giả ;

    – Thấy được cách sử

    dụng từ ngữ và lối so

    sánh của bài thơ.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng (Lớp 10);

    Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

    (L12) – vô vi không chỉ là

    đường lối trị nước của các bậc

    quân vương, nó còn là một bài

    học về nhân cách.

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 13/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    Việt Nam (lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 20. Xây dựng và

    6

    7

    8

    9

    – Cảm nhận được sự

    nuối tiếc của kiếp người

    ngắn ngủi trước cõi đời.

    Từ đó ta thấy tinh thần

    lạc quan, sức sống

    mãnh liệt của con người

    thời đại, vượt qua quy

    luật của tạo hoá ;

    phát triển văn hoá trong các thế

    – Nắm được cách sử

    dụng từ ngữ, nghệ thuật

    xây dựng hình ảnh của

    bài thơ.

    cộng đồng (Lớp 10)

    – Cảm nhận được

    nỗi nhớ quê hương, xứ

    sở, lòng yêu đất nước,

    niềm tự hào dân tộc của

    nhà thơ ;

    – Thấy được hệ

    thống từ ngữ giản dị,

    hình ảnh gần gũi, quen

    thuộc.

    – Thấy được tình

    cảm thắm thiết của Lí

    Bạch.

    kỉ X – XV (Lớp 10) – chú trọng

    sự phát triển của Phật giáo

    trong thời Lí, Trần

    – GDCD: Bài 10: Quan niệm về

    đạo đức; Bài 13: Công dân với

    Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

    (L12) – sống lạc quan, biết

    vươn lên trong cuộc sống.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 14: Công dân

    với sự nghiệp xây dựng và bảo

    vệ tổ quốc. (Lớp 10)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: tình yêu quê hương, đất

    nước (Lớp 12)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    – Nắm được đặc

    điểm tình và cảnh hoà

    quyện trong một bài

    thơ.

    sống: Về tình bạn trong sáng,

    – Cảm nhận được

    lòng yêu nước, thương

    nhà sâu lắng của Đỗ

    Phủ trước cảnh chiều

    thu buồn nơi đất khách ;

    – Thấy được kết cấu

    chặt chẽ và tính chất cô

    đọng, hàm súc của bài

    thơ.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    sâu nặng của con người.

    cộng đồng (Lớp 10)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: lòng yêu nước, trách

    nhiệm của công dân với đất

    nước (Lớp 12)

    Trang 14/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    10

    11

    12

    + Khe chim

    kêu (Điểu

    minh giản)

    – Cảm nhận những

    suy tư sâu lắng đầy triết

    lí trước cảnh lầu Hoàng

    Hạc thể hiện nỗi buồn

    và nỗi lòng nhớ quê

    hương của tác giả ;

    – Nắm được nghệ

    thuật tả cảnh ngụ tình.

    – Thấy được diễn

    biến tâm trạng của

    người chinh phụ, qua đó

    lên án chiến tranh phi

    nghĩa, đề cao khát vọng

    sống của con người ;

    – Cảm nhận được tư

    tưởng nhân đạo hoà

    bình ;

    – Nhận ra được cấu

    tứ độc đáo của bài thơ

    – Cảm nhận vẻ đẹp tâm

    hồn tinh tế của nhà thơ

    trong đêm trăng thanh

    tĩnh ;

    – Thấy được tấm lòng

    yêu thiên nhiên, đất

    nước tươi đẹp ;

    – Thấy được mối quan

    hệ giữa động và tĩnh

    trong cách thể hiện của

    tác giả.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng (Lớp 10)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: lòng yêu nước, trách

    nhiệm của công dân với đất

    nước (Lớp 12)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    với các phạm trù đạo đức (Lớp

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    tự do cơ bản (Lớp 12).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống, vấn đề bình đẳng giới và

    vai trò của người phụ nữ trong

    xã hội (Lớp 12)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

    (Lớp 12)

    – Địa lí: Giới thiệu về Nhật

    Bản, tự nhiên và xã hội Nhật

    13

    – Thơ Hai – kư

    của Ba- sô

    – Bước đầu làm quen

    với thơ hai-cư, thể loại

    thơ truyền thống của

    Nhật Bản ;

    Bản.

    – Hiểu được ý nghĩa và

    cảm nhận được vẻ đẹp

    của những bài thơ haicư.

    với các phạm trù đạo đức (Lớp

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    10);

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Cách ứng xử, quan niệm

    sống. (Lớp 12)

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 15/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc

    chiến đấu chống ngoại xâm ở

    các thế kỉ X – XV và Bài 20.

    14

    Phú sông

    Bạch Đằng

    (Bạch Đằng

    giang phú)

    – Cảm nhận được

    niềm tự hào về truyền

    thống dân tộc và tư

    tưởng nhân văn của tác

    giả với việc đề cao vai

    trò, vị trí của con người

    trong lịch sử ;

    Xây dựng và phát triển văn hoá

    – Nắm được đặc

    điểm cơ bản của thể

    phú, đặc biệt là những

    nét đặc sắc của bài Phú

    sông Bạch Đằng.

    Tổ quốc. (Lớp 10).

    trong các thế kỉ X – XV (Lớp

    10)

    – GDCD: Bài 14: Công dân với

    sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với tổ quốc.

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    15

    Đại cáo bình

    Ngô (Bình

    Ngô đại cáo)

    – Nguyễn Trãi

    – Cảm nhận được

    lòng yêu nước và tinh

    thần tự hào dân tộc

    được thể hiện tập trung

    ở tư tưởng nhân nghĩa

    xuyên suốt bài cáo.

    Thấy rõ đây là yếu tố

    quyết định làm nên

    thắng lợi trong chiến

    tranh chống xâm lược ;

    – Nắm được những

    đặc trưng cơ bản của

    thể cáo và những sáng

    tạo đặc sắc của nghệ

    thuật trong áng văn ;

    – Nhận thức được vẻ

    đẹp của áng “thiên cổ

    hùng văn” với sự

    kết hợp hài hoà của sức

    mạnh lí lẽ và giá trị biểu

    cảm của hình tượng

    nghệ thuật.

    16

    – Hiền tài là

    – Thấy được quan niệm

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Việt Nam (lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc

    chiến đấu chống ngoại xâm ở

    các thế kỉ X – XV và Bài 20.

    Xây dựng và phát triển văn hoá

    trong các thế kỉ X – XV (Lớp

    10)

    – Địa lý: Vùng biển Việt Nam

    (lớp 12).

    – GDCD: Bài 14: Công dân với

    sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

    Tổ quốc. (Lớp 10).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với tổ quốc.

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    Việt Nam (lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 20. Xây dựng và

    Trang 16/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    17

    đúng đắn về vai trò của

    người hiền tài đối với

    vận mệnh đất nước và ý

    nghĩa của việc khắc bia

    biểu dương họ ;

    – Cảm nhận được lòng

    yêu đất nước và tự hào

    dân tộc ;

    – Hiểu được cách viết

    văn chính luận sắc sảo,

    lập luận, kết cấu chặt

    chẽ, thuyết phục người

    đọc, người nghe.

    phát triển văn hoá trong các thế

    – Hiểu được niềm tự

    hào sâu sắc và ý thức

    trách nhiệm của tác giả

    trong việc bảo tồn di

    sản văn học của dân

    tộc ; từ đó có thái độ

    trân trọng và yêu quý di

    sản văn hoá dân tộc ;

    – Nắm được nghệ

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    thuật lập luận của tác

    giả.

    18

    – Nhận thức được vẻ

    đẹp nhân cách của con

    người luôn trọng nghĩa

    nước hơn tình nhà qua

    ứng xử của các nhân vật

    lịch sử;

    – Thấy được đặc

    điểm của ngòi bút viết

    sử Ngô Sĩ Liên.

    kỉ X – XV (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 14: Công dân với

    sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

    Tổ quốc. (Lớp 10);

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với tổ quốc; Định

    hướng tạo nên người tài cho đất

    nước.

    cộng đồng (Lớp 10)

    Tích hợp: Niềm tự hào với văn

    hóa, văn học dân tộc.

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: lòng yêu nước, trách

    nhiệm của công dân với đất

    nước (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc

    chiến đấu chống ngoại xâm ở

    các thế kỉ X – XV và Bài 20.

    Xây dựng và phát triển văn hoá

    trong các thế kỉ X – XV (Lớp

    10)

    – GDCD: Bài 14: Công dân với

    sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

    Tổ quốc. (Lớp 10).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với tổ quốc.

    – GDQP: Bài 1: Truyền thống

    đánh giặc giữ nước của dân tộc

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 17/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    Việt Nam (lớp 10)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII

    19

    Chuyện

    chức phán sự

    đền Tản Viên

    (Tản Viên từ

    phán sự lục –

    trích Truyền kì

    mạn lục)

    – Thấy được tấm

    gương dũng cảm, trọng

    công lí, chống gian tà

    của Ngô Tử Văn và qua

    đó thấy được tinh thần

    yêu nước của người trí

    thức nước Việt ;

    – Thấy được nghệ

    thuật kể chuyện sinh

    động, hấp dẫn của tác

    giả.

    (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 10: Quan niệm về

    đạo đức; Bài 13: Công dân với

    cộng đồng. (Lớp 10); Bài 8:

    Pháp luật với sự phát triển của

    công dân (Lớp 12)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống: Trách nhiệm của người

    công dân với cộng đồng, Rèn

    luyện sự quyết tâm, cứng cỏi và

    tin tưởng vào công lí.

    20

    21

    – Hiểu được tính

    cách, phẩm chất của

    Trương Phi và ý nghĩa

    của vấn đề “trung thành

    hay phản bội” mà tác giả

    muốn đặt ra trong

    đoạn trích ;

    – Thấy được nghệ

    thuật khắc hoạ tính cách

    nhân vật và không khí

    chiến trận của tiểu

    thuyết chương hồi Tam

    quốc diễn nghĩa.

    – Cảm nhận được

    nỗi đau khổ của người

    chinh phụ phải sống

    trong cảnh cô đơn, chia

    lìa và hiểu được ý nghĩa

    đề cao hạnh phúc lứa

    đôi qua đoạn trích ;

    – Thấy được sự tài

    hoa, tinh tế trong nghệ

    thuật miêu tả nội tâm

    nhân vật.

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    – GDCD: Bài 10: Công dân với

    các phạm trù đạo đức(Lớp 10)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

    (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII;

    Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

    thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    với các phạm trù đạo đức(Lớp

    Trang 18/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    tự do cơ bản (Lớp 12).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống, vấn đề bình đẳng giới

    (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII;

    Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

    thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

    22

    – Trao duyên

    (trích Truyện

    Kiều)

    – Cảm nhận được

    tình yêu sâu nặng và bi

    kịch của Thuý Kiều

    trong đoạn trích ;

    – Nắm được nghệ

    thuật miêu tả nội tâm

    nhân vật tài tình của

    Nguyễn Du.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    với các phạm trù đạo đức(Lớp

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    tự do cơ bản (Lớp 12); Bài 12:

    Công dân với tình yêu, hôn

    nhân (L10)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống, vấn đề bình đẳng giới

    (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII;

    23

    – Chí khí

    anh hùng (trích

    Truyện Kiều)

    – Qua nhân vật Từ

    Hải hiểu được lí tưởng

    anh hùng của Nguyễn

    Du ;

    Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

    thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    – Thấy được những

    đặc sắc trong nghệ thuật với các phạm trù đạo đức(Lớp

    miêu tả nhân vật của tác

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    giả.

    tự do cơ bản (Lớp 12).

    Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

    24

    – Hiểu được tình

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    (L12)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    Trang 19/ 81

    Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2021

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII;

    Nỗi thương

    mình (trích

    Truyện Kiều)

    cảm, cảnh ngộ mà Thuý

    Kiều phải đương đầu và

    ý thức sâu sắc của nàng

    về phẩm giá ;

    – Thấy được đặc sắc

    Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

    nghệ thuật của đoạn

    với các phạm trù đạo đức(Lớp

    trích : vai trò của các

    10); Bài 6: Công dân với quyền

    phép tu từ, hình thái đối

    tự do cơ bản (Lớp 12).

    xứng.

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    sống, vấn đề tình thương, bình

    đẳng giới (Lớp 12)

    – Lịch sử: Bài 21. Những biến

    – Cảm nhận được vẻ

    đẹp của mối tình Kim Kiều và khát vọng hạnh

    phúc của đôi trai tài gái

    sắc ;

    25

    Thề nguyền

    (trích Truyện

    Kiều);

    – Thấy được tấm

    lòng đồng cảm của

    Nguyễn Du với con

    người ;

    – Thấy được nghệ

    thuật đặc sắc trong việc

    sử dụng từ ngữ, xây

    dựng hình ảnh.

    đổi của nhà nước phong kiến

    trong các thế kỉ XVI – XVIII.

    – GDCD: Bài 13: Công dân với

    cộng đồng; Bài 10: Công dân

    với các phạm trù đạo đức(Lớp

    10); Bài 12: Công dân với tình

    yêu, hôn nhân (L10); Bài 6:

    Công dân với quyền tự do cơ

    bản (Lớp 12)

    Tích hợp giáo dục kĩ năng

    sống, vấn đề bình đẳng giới

    (Lớp 12)

    GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

    Trang 20/ 81

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Kết Phần Văn Học Ngữ Văn Lớp 10
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam
  • Khái Quát Các Tác Giả Và Tác Phẩm Trong Chương Trình Thi Thpt Quốc Gia Môn Văn
  • Hệ Thống Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12
  • Tóm Tắt Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12
  • Tin tức online tv