Bình Định Gửi Văn Bản Khẩn Vụ Gần Nửa Sở Y Tế Đi Lễ Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Hồ Sơ, Thủ Tục Đổi Thẻ Bảo Hiểm Y Tế
  • Văn Bản Hướng Dẫn Bảo Hiểm Y Tế
  • Nội Dung Công Tác Y Tế Trường Học Năm Học 2021
  • Văn Bản Hướng Dẫn Công Tác Y Tế Trường Học
  • Các Văn Bản Hướng Dẫn Về Bảo Hiểm Y Tế
  • Chiều 10-2, UBND tỉnh Bình Định có công văn hỏa tốc gửi báo Pháp luật chúng tôi thông tin về việc chỉ đạo xử lý vụ gần một nửa cán bộ, công chức Sở Y tế tỉnh này bỏ công sở ra Bắc dự lễ hội mà báo đã phản ánh.

    Công văn do ông Nguyễn Tuấn Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ký, viện dẫn tít tin đăng trên báo Pháp Luật chúng tôi “Gần một nửa cán bộ Sở Y tế Bình Định bỏ việc đi lễ hội”.

    Theo đó, chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu giám đốc Sở Y tế khẩn trương báo cáo giải trình về nội dung thông tin báo phản ánh; kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, có biện pháp xử lý đối với các tập thể, cá nhân sai phạm; trả lời cho các cơ quan báo chí và báo cáo kết quả cho chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 13-2.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu giám đốc Sở Y tế nghiêm túc triển khai thực hiện các chỉ đạo trên.

    Trao đổi thêm với PV, một lãnh đạo UBND tỉnh Bình Định cho biết quan điểm của lãnh đạo tỉnh là xử lý nghiêm vụ việc này do đã vi phạm chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về chấn chỉnh kỷ luật kỷ cương hành chính sau Tết Nguyên đán.

    Sáng cùng ngày, tổ công tác của UBND tỉnh đã đến Sở Y tế lập biên bản xung quanh việc 22 cán bộ, công chức của Sở bỏ cơ quan đi dự lễ hội ngoài Bắc trong ngày làm việc.

    Như Pháp Luật chúng tôi đã phản ánh, ngày 9-2 nhiều người dân đến Sở Y tế Bình Định liên hệ làm việc nhưng phần lớn các cán bộ có chức trách đều vắng mặt. Bức xúc trước sự việc này, người dân phản ánh với lãnh đạo UBND tỉnh.

    Chiều cùng ngày, một tổ công tác của UBND tỉnh gồm Sở Nội vụ, Thanh tra tỉnh tiến hành kiểm tra đột xuất, phát hiện có đến 22 cán bộ, công chức không có mặt tại Sở Y tế mà đang đi ra miền Bắc dự lễ hội.

    Tối cùng ngày, lãnh đạo UBND tỉnh gọi điện thoại yêu cầu đoàn Sở Y tế trở về ngay lập tức để có mặt làm việc từ sáng 10-2. Ngay trong tối 9-2, 15 cán bộ, công chức của Sở Y tế đã đi máy bay từ Hà Nội vào Đà Nẵng rồi đi ô tô về Bình Định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Y Tế Yêu Cầu Sở Y Tế Bình Định Báo Cáo Vụ Sản Phụ Chết Bất Thường
  • Doanh Nghiệp Kiện Sở Y Tế Vì Ban Hành Công Văn Vi Phạm Luật Cạnh Tranh
  • Làm Rõ Vụ Thịt Thối Tuồn Vào Trường Học
  • Vụ Trẻ Sơ Sinh Ở Bình Dương Tử Vong Bất Thường: Bộ Y Tế Yêu Cầu Làm Rõ
  • Luận Văn: Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Văn Bản Đi, Đến Tại Sở Y Tế
  • Tại Sao Các Công Ty Vẫn Lưu Trữ Mật Khẩu Ở Định Dạng Văn Bản Thuần Túy?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Có Hiểu Hết Về Tin Nhắn Sms Chưa?
  • Ý Nghĩa Của Công Tác Văn Thư Lưu Trữ
  • Microsoft Word: Cách Tạo Tiêu Đề Trang (Header) Và Chân Trang (Footer)
  • Cách Tạo Header, Footer Trên Word Cho Văn Bản Chuyên Nghiệp
  • Hướng Dẫn Tạo Header Và Footer Đẹp Trong Word 2010, Chèn Header Và Foo
  • Một số công ty gần đây đã phê duyệt việc lưu trữ mật khẩu ở định dạng văn bản thuần túy. Điều này tương đương với việc lưu mật khẩu trong Notepad và lưu dưới dạng tệp .txt. Mật khẩu nên được muối và băm để bảo mật. Tại sao điều đó không xảy ra vào năm 201

    9?

    Tại sao mật khẩu không nên được lưu trong văn bản thuần túy?

    designer491 / Shutterstock

    Khi một công ty lưu trữ mật khẩu ở định dạng văn bản đơn giản, bất kỳ ai cũng có thể đọc chúng với cơ sở dữ liệu mật khẩu hoặc bất kỳ tệp nào khác nơi lưu mật khẩu. Nếu một hacker có quyền truy cập vào tập tin, anh ta có thể thấy tất cả các mật khẩu.

    Lưu mật khẩu bằng ngôn ngữ đơn giản là một thực tế khủng khiếp. Các doanh nghiệp nên muối và mặc cả mật khẩu. Đây là một cách khác để nói, “Thêm dữ liệu bổ sung vào mật khẩu và sau đó mã hóa nó theo cách không thể hoàn tác.” Thông thường, điều này có nghĩa là ai đó đánh cắp mật khẩu từ cơ sở dữ liệu là vô ích. Khi bạn đăng nhập, công ty có thể xác minh rằng mật khẩu của bạn phù hợp với phiên bản được mã hóa được lưu trữ. Tuy nhiên, bạn không thể làm việc trong cơ sở dữ liệu “ngược” và xác định mật khẩu của mình.

    Tại sao các công ty lưu trữ mật khẩu bằng văn bản thuần túy? Thật không may, các công ty đôi khi không coi trọng an ninh. Hoặc họ chọn thỏa hiệp an toàn nhân danh sự tiện lợi. Trong các trường hợp khác, công ty sẽ làm tất cả khi lưu mật khẩu của bạn. Tuy nhiên, họ có thể thêm khả năng ghi nhật ký quá mức ghi lại mật khẩu ở định dạng văn bản thuần túy.

    Một số công ty có mật khẩu được lưu trữ không chính xác.

    Bạn có thể đã bị ảnh hưởng bởi các thực tiễn xấu vì Robinhood, Google, Facebook, GitHub, Twitter và các mật khẩu khác đã được lưu trữ trong văn bản thuần túy.

    Trong trường hợp của Google, công ty đã băm đầy đủ mật khẩu và mật khẩu muối cho hầu hết người dùng. Tuy nhiên, mật khẩu cho tài khoản G Suite Enterprise đã được lưu bằng văn bản thuần túy. Công ty cho biết nó vẫn còn phổ biến khi cung cấp cho các quản trị viên tên miền các công cụ khôi phục mật khẩu. Nếu Google đã lưu mật khẩu đúng cách, điều này sẽ không thể thực hiện được. Khôi phục mật khẩu chỉ hoạt động nếu mật khẩu đã được lưu chính xác.

    Khi Facebook cũng thừa nhận lưu trữ mật khẩu bằng văn bản thuần túy, nguyên nhân chính xác của sự cố không được chỉ định. Tuy nhiên, bạn có thể rút ra vấn đề từ bản cập nhật sau:

    … chúng tôi đã nhận thấy rằng nhật ký bổ sung của mật khẩu Instagram được lưu trữ ở định dạng có thể đọc được.

    Đôi khi một công ty sẽ làm mọi thứ ngay lần đầu tiên bạn lưu mật khẩu. Sau đó thêm các tính năng mới gây ra vấn đề. Ngoài Facebook, Robinhood, Github và Twitter đã vô tình đăng nhập mật khẩu văn bản gốc.

    Ghi nhật ký rất hữu ích để tìm kiếm các sự cố trong ứng dụng, phần cứng và thậm chí mã hệ thống. Tuy nhiên, nếu một công ty không kiểm tra kỹ tính năng ghi nhật ký này, nó có thể dẫn đến các vấn đề khác mà nó giải quyết.

    Trên Facebook và Robinhood, tính năng ghi nhật ký có thể được xem và ghi lại khi người dùng nhập tên người dùng và mật khẩu để đăng nhập tên người dùng và mật khẩu khi họ nhập. Những nhật ký này sau đó được lưu trữ ở nơi khác. Bất cứ ai có quyền truy cập vào các nhật ký này đều có mọi thứ anh ta cần để có một tài khoản.

    Trong những trường hợp hiếm hoi, một công ty như T-Mobile Australia có thể bỏ qua tầm quan trọng của bảo mật, đôi khi nhân danh sự tiện lợi. Trong một trao đổi Twitter đã bị xóa, một đại diện của T-Mobile nói với người dùng rằng công ty đang lưu mật khẩu bằng văn bản thuần túy. Bằng cách lưu trữ mật khẩu theo cách này, đại diện dịch vụ khách hàng có thể thấy bốn chữ cái đầu tiên của mật khẩu để phê duyệt. Khi những người dùng Twitter khác chỉ ra đầy đủ việc một người nào đó hack các máy chủ của công ty sẽ tệ đến mức nào, nhân viên trả lời:

    Điều gì xảy ra nếu điều này không xảy ra vì bảo mật của chúng tôi tốt đến mức đáng ngạc nhiên?

    Công ty đã xóa các tweet này và sau đó thông báo rằng tất cả mật khẩu sẽ sớm được xử lý và băm. Nhưng không lâu trước khi công ty vi phạm hệ thống của mình. Theo T-Mobile, mật khẩu bị đánh cắp đã được mã hóa, nhưng điều đó không tốt bằng việc lưu trữ mật khẩu.

    Đây là cách các công ty nên lưu trữ mật khẩu.

    Các doanh nghiệp không bao giờ nên lưu trữ mật khẩu văn bản gốc. Thay vào đó, mật khẩu nên được muối và sau đó băm. Điều quan trọng là phải biết muối là gì và phân biệt giữa mã hóa và băm.

    Salting thêm văn bản vào mật khẩu của bạn.

    Mật khẩu muối là một khái niệm đơn giản. Quá trình về cơ bản sẽ thêm văn bản bổ sung vào mật khẩu bạn chỉ định.

    Hãy tưởng tượng việc thêm số và chữ cái vào cuối mật khẩu thông thường của bạn. Thay vì sử dụng “mật khẩu” cho mật khẩu của bạn, bạn có thể nhập “password123” (không sử dụng bất kỳ mật khẩu nào trong số này). Salting là một khái niệm tương tự: trước khi hệ thống lấy mật khẩu của bạn, nó sẽ thêm văn bản bổ sung.

    Ngay cả khi tin tặc xâm nhập cơ sở dữ liệu và đánh cắp dữ liệu người dùng, việc xác định mật khẩu thực tế thậm chí còn khó khăn hơn. Tin tặc không biết phần nào là muối và phần nào là mật khẩu.

    Các doanh nghiệp không nên sử dụng lại dữ liệu mặn từ mật khẩu sang mật khẩu. Nếu không, nó có thể bị đánh cắp hoặc phá vỡ và do đó trở nên không thể sử dụng. Một biến thể phù hợp của dữ liệu muối cũng ngăn ngừa va chạm (nhiều hơn về sau).

    Mã hóa không phải là tùy chọn thích hợp cho mật khẩu.

    Bước tiếp theo trong việc lưu mật khẩu đúng cách là băm. Băm không nên nhầm lẫn với mã hóa.

    Nếu tin tặc đột nhập vào hệ thống có dữ liệu được mã hóa và quản lý để đánh cắp khóa mã hóa, mật khẩu của bạn có thể như sau Vâng, hãy là văn bản đơn giản.

    Băm chuyển đổi mật khẩu của bạn thành Gibberish.

    Băm mật khẩu biến mật khẩu của bạn thành một chuỗi các văn bản khó hiểu. Bất cứ ai nhìn vào một hàm băm sẽ thấy vô nghĩa. Nếu bạn đã sử dụng “Password123”, dữ liệu có thể được băm thành “873kldk # 49lkdfld # 1”. Một doanh nghiệp nên băm mật khẩu của bạn trước khi nó được lưu trữ ở đâu đó. Điều này sẽ không bao giờ ghi lại mật khẩu hiện tại của bạn.

    Kiểu băm này làm cho cách lưu trữ mật khẩu của bạn tốt hơn so với mã hóa. Trong khi bạn có thể giải mã dữ liệu được mã hóa, bạn không thể “giải mã” dữ liệu. Khi tin tặc xâm nhập vào cơ sở dữ liệu, anh ta không thể tìm thấy khóa để mở khóa dữ liệu băm.

    Thay vào đó, họ phải làm những gì một công ty làm khi họ gửi mật khẩu. Đoán mật khẩu (nếu tin tặc biết nên sử dụng loại muối nào), hãy hack nó và so sánh nó với hàm băm được lưu trong tệp cho khớp. Nếu bạn gửi mật khẩu của mình đến Google hoặc ngân hàng của bạn, hãy làm theo quy trình tương tự. Một số công ty, như Facebook, thậm chí có thể xem xét các “dự đoán” bổ sung để giải thích cho lỗi đánh máy.

    Tin tặc có thể phá vỡ con đường thông qua dữ liệu băm, nhưng đây thường là trò chơi kiểm tra mọi mật khẩu có thể và hy vọng có một trận đấu. Quá trình sẽ mất một chút thời gian, vì vậy bạn có thời gian để bảo vệ chính mình.

    Các biện pháp bảo vệ vi phạm dữ liệu

    Những gì bạn có thể làm Đừng ngăn cản các công ty xử lý mật khẩu của họ không đúng cách. Và thật không may, nó là phổ biến hơn nó nên được. Ngay cả khi các công ty lưu mật khẩu đúng cách, tin tặc có thể vi phạm hệ thống của công ty và đánh cắp dữ liệu bị hack.

    Với thực tế này, bạn không bao giờ nên sử dụng lại mật khẩu. Thay vào đó, bạn nên chỉ định một mật khẩu phức tạp, khác nhau cho mỗi dịch vụ bạn sử dụng. Ngay cả khi kẻ tấn công tìm thấy mật khẩu của bạn trên một trang web, anh ta không thể sử dụng nó để đăng nhập vào tài khoản của bạn trên các trang web khác. Mật khẩu phức tạp là vô cùng quan trọng vì mật khẩu của bạn càng dễ đoán, hacker càng sớm có thể phá vỡ quy trình băm. Nếu bạn làm cho mật khẩu phức tạp hơn, bạn sẽ có được thời gian để giảm thiểu thiệt hại.

    Sử dụng mật khẩu duy nhất cũng giảm thiểu thiệt hại này. Tin tặc có quyền truy cập nhiều nhất vào một tài khoản và bạn có thể thay đổi một mật khẩu dễ dàng hơn hàng chục. Mật khẩu phức tạp rất khó nhớ, vì vậy chúng tôi khuyên bạn nên quản lý mật khẩu. Trình quản lý mật khẩu tạo và lưu trữ mật khẩu cho bạn và bạn có thể tùy chỉnh chúng để phù hợp với quy tắc mật khẩu của hầu như bất kỳ trang web nào.

    Một số, như LastPass và 1Password, thậm chí cung cấp dịch vụ để kiểm tra xem mật khẩu hiện tại của bạn có bị xâm phạm hay không.

    Một tùy chọn tốt là cho phép xác thực hai lớp. Bằng cách này, bạn có thể ngăn chặn truy cập trái phép vào tài khoản của mình ngay cả khi tin tặc xâm phạm mật khẩu của bạn.

    Mặc dù bạn không thể ngăn công ty lạm dụng mật khẩu của mình, bạn có thể giảm thiểu thời gian chết bằng cách sao lưu đúng mật khẩu và tài khoản của mình.

    LIÊN QUAN: Tại sao bạn nên sử dụng Trình quản lý mật khẩu và Cách bắt đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhập Văn Bản Ngoài Lề Word
  • Khắc Phục Lỗi Chữ I Tự Động Chuyển Sang Chữ I Hoa Khi Nhập Văn Bản Tro
  • Đánh Số Thứ Tự Trong Nội Dung Văn Bản Word
  • Hãy Viết Lại Nội Dung Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ Theo Lời Kể Của Người Chinh Phụ.
  • 2 Mẫu Soạn Bài Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Quy Định Mới Về Gửi, Nhận Văn Bản Điện Tử Giữa Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Mới Về Sử Dụng Chữ Ký Số Cho Văn Bản Điện Tử
  • Quy Định Mới Về Sử Dụng Chữ Ký Số Cho Văn Bản Điện Tử Trong Cơ Quan Nhà Nước
  • Văn Bản Pháp Luật Về Giấy Phép Sàn Giao Dịch Thương Mại Điện Tử
  • Đà Nẵng, Cao Bằng Cập Nhật Mã Định Danh Cơ Quan Nhà Nước Phục Vụ Gửi Nhận Văn Bản Điện Tử
  • Đà Nẵng, Cao Bằng Cập Nhật Mã Định Danh Các Cơ Quan Nhà Nước
  • Theo đó, văn bản điện tử đã ký số theo quy định của pháp luật được gửi, nhận qua hệ thống Quản lý văn bản và điều hành được quy định tại Quyết định có giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy và thay cho việc gửi, nhận văn bản giấy.

    Việc gửi, nhận văn bản điện tử phải thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 5 của Luật giao dịch điện tử và tuân theo các quy định khác của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, an ninh, an toàn thông tin và văn thư, lưu trữ.

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hành chính, hướng đến hiện thực hóa nền hành chính không giấy.

    Tất cả các văn bản điện tử thuộc thẩm quyền ban hành và giải quyết của các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước phải được gửi, nhận qua hệ thống Quản lý văn bản và điều hành, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 của Quyết định.

    Các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước không phát hành văn bản giấy đến bên nhận khi đã gửi văn bản điện tử, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 của Quyết định.

    Bên nhận có quyền từ chối nhận văn bản điện tử, nếu văn bản điện tử đó không bảo đảm các nguyên tắc, yêu cầu về gửi, nhận và phải chịu trách nhiệm về việc từ chối đó. Đồng thời, bên nhận cũng phản hồi cho bên gửi được biết thông qua hệ thống Quản lý văn bản và điều hành hoặc thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia để xử lý theo quy định.

    Về yêu cầu gửi, nhận văn bản điện tử, Quyết định quy định rõ, văn bản điện tử phải được bảo đảm tính xác thực về nguồn gốc, sự toàn vẹn, an toàn thông tin, dữ liệu trong quá trình gửi, nhận, xử lý, lưu trữ và phải được gửi ngay trong ngày văn bản đó được ký ban hành, chậm nhất là trong buổi sáng của ngày làm việc tiếp theo. Văn bản điện tử đến sau khi được tiếp nhận, nếu bảo đảm giá trị pháp lý phải được xử lý kịp thời, không phải chờ văn bản giấy.

    Trường hợp văn bản điện tử thuộc loại khẩn phải được đặt ở chế độ ưu tiên, ghi rõ mức độ khẩn, gửi ngay sau khi đã ký số và phải được trình, chuyển giao xử lý ngay sau khi tiếp nhận. Văn bản điện tử phải được theo dõi, cập nhật tự động trạng thái gửi, nhận, xử lý trên hệ thống Quản lý văn bản và điều hành; phải bảo đảm yêu cầu về thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của Bộ Nội vụ và về định dạng theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bảo đảm các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, an toàn thông tin và giải pháp kết nối, liên thông hệ thống Quản lý văn bản và điều hành.

    Bên cạnh đó, Quyết định còn quy định cụ thể về các loại văn bản điện tử và đầu mối gửi, nhận văn bản điện tử; quy trình gửi, nhận văn bản điện tử; hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cũng như trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức thực hiện các quy định mới về gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước.

    Quyết định không áp dụng đối với việc gửi, nhận văn bản điện tử có nội dung thuộc bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 06/9/2018.

    Việc ban hành Quyết định 28 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ và thống nhất cho việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước; tổ chức triển khai đồng bộ hoạt động kết nối liên thông văn bản điện tử giữa Chính phủ và cơ quan hành chính nhà nước các cấp, tạo động lực mạnh mẽ hơn nữa cho việc ứng dụng CNTT trong hoạt động hành chính, hướng đến hiện thực hóa nền hành chính không giấy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Công Nghệ Trong Quản Lý Văn Bản: Từ Chủ Trương Chính Sách Đến Thực Tế Triển Khai
  • Ứng Dụng Công Nghệ Vào Quản Lý Văn Bản
  • Khai Mạc Tập Huấn, Triển Khai Phần Mềm Quản Lý Văn Bản Điện Tử V
  • Hóa Đơn Điện Tử Là Gì? Cập Nhật Các Quy Định Về Hđđt
  • Một Số Vấn Đề Về Hóa Đơn Điện Tử Theo Quy Định
  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản (Tt) Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Lập Luận Trong Văn Nghị Luận
  • Đề Thi Thử Trung Học Phổ Thông Quốc Gia Môn Ngữ Văn
  • Phân Tích Nhân Vật Ngô Tử Văn Trong Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên
  • Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Văn Năm 2021 An Giang
  • Chắc hẳn bạn đang gặp khó khi viết bài làm văn phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu! Ở bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết cách làm và tuyển chọn các bài văn mẫu hay nhất để giúp bạn hoàn thành bài viết của mình một cách đầy đủ nhất.

    – Yêu cầu đề bài: Phân tích nội dung, nghệ thuật của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    – Phạm vi tư liệu dẫn chứng: các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

    – Phương pháp lập luận chính: phân tích

    – Luận điểm 1: Bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ

    – Luận điểm 2: Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc với lòng yêu nước nồng nàn

    – Luận điểm 3: Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ

    – Luận điểm 4: Ca ngợi linh hồn bất diệt của người nghĩa sĩ

    Lập dàn ý phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    1. Mở bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    – Giới thiệu khái quát về Nguyễn Đình Chiểu: là một người chịu nhiều bất hạnh, khổ đau trong cuộc đời, gắn bó mộc mạc, chân chất với những người dân Nam Bộ.

    – Giới thiệu chung về văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    2. Thân bàiphân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    a. Phần 1 – Lung khởi: khái quát bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ

    – Mở đầu: “Hỡi ôi!”

    + Tiếng than thể hiện tình cảm thương xót đối với người đã khuất

    + Tiếng kêu nguy ngập, căng thẳng của đất nước trước giặc ngoại xâm

    – Mười năm công võ ruộng – Một trận nghĩa đánh Tây

    + Người nông dân trở thành người nghĩa sĩ, yếu tố thời gian phản ánh sự chuyển biến, sự vùng dậy đấu tranh mau lẹ của người dân yêu nước.

    + Hoàn cảnh đất nước bị Pháp xâm lược và sự phản ứng mạnh mẽ đấu tranh chống trả của nhân dân.

    b. Phần 2 – Thích thực: Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc

    – Trước khi giặc đến:

    + Lai lịch: là những người nông dân

    + Cuộc sống: cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy vốn quen làm…

    – Khi giặc đến: (Lòng yêu nước nồng nàn)

    + Lòng căm thù giặc kìm nén qua các yếu tố thời gian: hơn 10 tháng, đã 3 năm đến mức phản ứng tự nhiên mà quyết liệt: muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ,…

    – Cuộc chiến đấu với kẻ thù của nghĩa sĩ Cần Giuộc:

    + Điều kiện chiến đấu vô cùng khó khăn:

    • Lực lượng: không quen binh đao
    • Vũ khí: vật dụng thô sơ
    • Binh thư, binh pháp: không quen, không biết

    + Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân

    • Tinh thần: theo tình cảm tự nhiên, không tính toán, quả cảm, khí thế vũ bão
    • Hành động: đạp, xô, đấm, đánh, đâm, chém,…

    c. Phần 3 – Ai vãn: Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ

    – Tiếng khóc được cộng hưởng từ nhiều nguồn cảm xúc khác nhau:

    + Nỗi tiếc, ân hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành.

    + Nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ.

    + Nỗi căm giận kẻ thù gây nên nghịch cảnh éo le hòa chung tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước.

    + Niềm cảm phục và tự hào vì những người nông dân bình thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất, ngọn rau, lấy cái chết làm rạng ngời chân lí cao đẹp: chết vinh còn hơn sống nhục.

    + Biểu dương công trạng của người nghĩa sĩ đời đời được nhân dân ngưỡng mộ và Tổ quốc ghi công.

    d. Phần 4 – Kết (Ca ngợi linh hồn bất diệt của nghĩa sĩ)

    3. Kết bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    – Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:

    + Nội dung: Tiếng khóc bi thương cho một thời kì lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người nông dân lúc bấy giờ.

    + Đặc sắc nghệ thuật: hình ảnh và giọng điệu xót thương; thủ pháp tương phản và có cấu trúc của thể văn biền ngẫu tạo sự trang trọng cho bài văn tế; ngôn ngữ vừa trân trọng, vừa dân dã, gần gũi mang đậm sắc thái Nam Bộ.

    Tuyển chọn văn mẫu hay phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    1. Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn nhất bài mẫu số 1

    Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của nên văn học Việt Nam. Song cuộc đời ông không hề êm đẹp, năm 1849 ông phải bỏ thi để về chịu tang mẹ. Trên đường đi ông bị đau mắt rồi bị mù, về sau ông ra dạy học và bốc thuốc cho dân, cuối cùng tham gia chống Pháp. Chắc bởi có nhiều thời gian ở gần người dân nói chung và nông dân nói riêng nên ông thấu hiểu sự khổ cực, vất vả nhưng lại mang vẻ đẹp bi tráng, sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của nông dân Nam Bộ mà ông đã viết nên một trang văn hào kiệt “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo yêu cầu của Đỗ Quang.

    Bài tế gồm bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. Với bố cục như vậy, Nguyễn Đình Chiểu dựng lên trong mắt người đọc, người nghe một bức tượng đài bất tử về người nông dân.

    Ở phần lung khởi, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu lên lí lẽ sống chết. Đó là đứng lên chống lại ngoại xâm bởi súng giặc làm đất rền, còn lòng dân thì trời sẽ tỏ. Bằng phép đối, ông đã nói lên sự căm phẫn của nhân dân trước việc nước nhà bị xâm lăng. Bên cạnh đó, ông còn so sánh cái danh về việc làm ruộng và đánh giặc việc bỏ sức mười năm dở công vỡ ruộng, đối với một trận đánh tây, và cái danh mang lại của mười năm chưa thể nào nổi như phao của trận đánh tây đó, danh tiếng hào hùng vang xa như tiếng mõ vang hào hùng, khí thế.

    Cũng bởi lẽ sống chết đó, cùng với lòng yêu nước và sự căm thù giặc, căm thù những thói mọi nó giống như kiểu nhà nông ghét cỏ và sự phẫn nộ đó tột độ đến mức muốn ăn gan, muốn cắn cổ bọn giặc ngoại và một nỗi thấu hiểu “nước mất, nhà tan” làm sục sôi và giai cấp nông dân đã đứng lên khởi nghĩa. Đó là những người nông dân côi cút làm ăn trước giờ chuyên cuốc, chuyên cày, bừa, còn việc quân sự như tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, họ chưa từng ngó lấy, chưa từng nhìn ấy thế mà nào phải đợi ai đến, ai bắt, họ đã tự xin ra sức đoạn kình đấu tranh tự nguyện ngay cả khi chưa trở thành người lính.

    Họ là những người nông dân dũng cảm, chiến đấu không màng sống chết với hình ảnh hùng dũng không ngại sắt thép đang chĩa ra mà đạp rào lướt tới, coi giặc như không hiện hữu; không biết sợ thằng Tây nào đang bắn những đạn nhỏ đạn to, mà xô cửa xông vào liều mình với tất cả nhưng như chẳng có. Mặc dù vũ khí của họ rất thô sơ chỉ là ngọn tầm vông, những chi nài, dao tu, nón gõ nhưng vẫn lao vào địch mà đâm ngang, chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kê tàu thiếc, tàu đồng súng nổ. Họ chiến đấu vì tổ quốc, vì dân tộc nên sẵn sàng bỏ lại gia đình của riêng. Đây chính là nội dung của phần thích thực.

    Trong phần ai vãn, Nguyễn Đình Chiểu thể hiện lòng tiếc thương đối với những người nông dân mang vẻ đẹp bi tráng và lòng yêu nước bất khuất không sợ hi sinh, trong cuộc chiến Cần Giuộc. ” Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ“, bởi thế “già, trẻ hai hàng lụy nhỏ”, “mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn kia leo lét trong lều”, “vợ yêu chạy tìm chồng”. Đó là sự xót xa, đau khổ, thương tình đối với các chiến sĩ của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và toàn thể nhân dân Cần Giuộc nói chung.

    Đối với phần kết, một lần nữa tác giả nhấn mạnh việc sống ở đời thì phải thờ vua, giặc đến thì phải ra sức bảo vệ nước nhà như những nghĩa sĩ Cần Giuộc. Những nghĩa sĩ dù đã hi sinh vẫn sẽ mãi tiếp bước cùng dân tộc trong công cuộc gìn giữ đất nước.

    Tóm lại, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng của một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tường đai bất tử về những người nông dân Cần Giuộc nói riêng và toàn thể người dân Nam Bộ nói chung đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì đất nước trong thời chiến. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật tạo hình tượng nhân vật kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, và sinh động.

    Bạn nên tham khảo bài hướng dẫn đọc hiểu Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc để nắm vững hơn nội dung và các kiến thức về ý nghĩa, nghệ thuật… của tác phẩm này.

    2. Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 2

    Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ, nhà văn hàng đầu ở Nam Bộ thời kì văn học Trung đại, là ngôi sao sáng của văn học dân tộc. Ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước sâu sắc. Trong hệ thống tác phẩm đó ta không thể không nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sáng tác trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Cần Giuộc nổ ra và giành thắng lợi bước đầu. Sau đó giặc phản công dữ dội, 20 nghĩa sĩ bị giết chết. Bấy giờ, tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết một bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu luận bàn về lẽ sống chết: ” Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ/ Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ “. Tác giả vẽ ra bối cảnh thời đại với nhiều biến cố, bão táp: giặc được trang bị vũ khí tối tân, đã tàn sát biết bao người dân Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh ấy đã thử thách tấm lòng của con người đối với đất nước. Người dân Nam Bộ đã không nề hà sống chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ sẵn sàng từ bỏ, hy sinh những gì quý giá nhất (tài sản, tính mạng) để đổi lại danh tiếng, tiếng thơm lưu truyền với muôn đời. Qua đó đã làm sáng tỏ chân lí của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục.

    Phần tiếp theo của tác phẩm, chân dung hình tượng người nghĩa sĩ nông dân hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng kiên cường. Trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân vô cùng thuần phác, họ sống cuộc đời bình dị, “cui cút làm ăn” với biết bao lo toan, bộn bề của cuộc sống. Họ chỉ biết đến nơi làng quê nghèo, mà chưa từng biết đến thế giới ngoài kia. Quanh năm suốt tháng những người nông dân ấy bận rộn với công việc nhà nông: “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” còn những việc “tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.

    Nhưng khi giặc xâm lược đến bờ cõi, đến sự bình yên vốn có, họ sẵn sàng đứng lên, trong họ có sự chuyển biến lớn về nhận thức và tình cảm. Trước hết đó là sự chuyển biến trong tình cảm. Họ đã nghe ngóng “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng” – tin giặc đến phong thanh họ đã nghe từ lâu. Không chỉ nghe họ còn ngửi thấy cả mùi đấu tranh: “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm” và cuối cùng họ đã nhìn thấy tận mắt sự xâm lược, độc ác của kẻ thù: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

    Đến lúc này họ đã có những chuyển biến rõ ràng về nhận thức, nếu ban đầu trong những người nông dân ấy vẫn còn có niềm tin vào triều đình, trông chờ vào quân đội “như trời hạn trông mưa” thì đến đây họ đã có nhận thức rõ ràng về nền độc lập và danh dự của tổ quốc; về kẻ thù – những kẻ đi xâm lăng thì không có lí do để tồn tại dưới ánh sáng chính nghĩa và hơn thế họ nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”. Sự chủ động của họ thật oai phong, lẫm liệt đầy dũng khí.

    Trong trận đánh Tây họ không được trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ, trang bị của họ hết sức thô sơ chỉ là những vật dụng sinh hoạt và lao động hàng ngày: “Ngoài cật có một manh áo vải” “trong tay cầm một ngọn tầm vông” “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”,… Ngược lại, địch được trang bị vũ khí tối tân, hơn nữa chúng còn được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ: “đạn nhỏ đạn to” “tàu đồng súng nổ”. Sự tương quan lực lượng hai bên đã thấy rõ, nhưng người nghĩa sĩ nông dân vẫn “đạp rào lướt tới”, “coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”, “Đâm ngang chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh”,… Không hề sợ hãi trước uy lực của kẻ thù. Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ lên khung cảnh chiến trường ác liệt, đồng thời cũng ánh lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ: hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất khuất.

    Nhưng vũ khí hiện đại của kẻ thù đã khiến biết bao nghĩa sĩ ngã xuống, gây nên niềm tiếc thương cho toàn thể dân tộc. Tiếng khóc của tác giả, của người thân và của toàn thể non sông dân tộc cho sự hi sinh anh dũng của những con người quả cảm, đó cũng là sự khóc thương cho số phận của người nhà, từ nay sẽ rơi vào vòng nô bộc của kẻ thù. Đồng thời tác giả cũng bộc lộ niềm cảm phục sâu sắc đến những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”. Đoạn thơ không chỉ bày tỏ lòng tiếc thương trước những người đã mất mà còn khẳng định những điều bất tử với thời gian và hướng tới sự tiếp nối của thế hệ tương lai. Bởi vậy câu thơ có bi thương, xót xa nhưng không phải là bi lụy, yếu đuối.

    Những vần thơ cuối cùng đã khẳng định sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc trong sự tiếc thương và cảm phục của những người còn lại. Đồng thời biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ. Đặc biệt trong câu: “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” vừa thể hiện được nỗi xót thương và lòng tưởng nhớ những người đã mất vừa tôn vinh công trạng của họ trong sự so sánh ngầm với triều đình.

    Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, đặc biệt ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ. Xây dựng hình tượng nghệ thuật – nghĩa sĩ nông dân chân thực, chi tiết, sinh động, lần đầu tiên người nông dân được xuất hiện đầy đẹp đẽ, trang trọng đến vậy. Kết hợp hài hoà các chi tiết thể hiện tình cảm cảm xúc của người viết, tăng chất trữ tình cho bài văn tế, đồng thời giúp dễ dàng đi vào lòng người đọc.

    Bằng ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã khắc họa thành công bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân. Đồng thời qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ lòng cảm phục cũng như nỗi tiếc thương trước những công trạng và sự hi sinh bất khuất của họ.

    3. Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 3

    “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường… con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới càng thấy sáng” đó là lời nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho cuộc đời và thơ văn Đồ Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ mù lòa nhưng tâm ông vẫn luôn sáng. Nhắc đến ông người ta không quên nhắc đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất cho thể loại văn tế để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Tác phẩm thể hiện lòng biết ơn, sự xót thương, cảm phục của tác giả dành cho những người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc anh dũng, quả cảm quên mình vì nước. Để phân tích bài văn một cách bao quát và độc đáo nhất ta chọn con mắt nhìn và điểm nhìn từ tinh thần yêu nước của người nông dân.

    Những người nông dân họ vốn là những con người thuần phác của nhà nông nhưng nay vì lòng yêu nước thương nòi, lòng căm thù giặc sâu sắc mà họ trở thành những chiến binh anh dũng đã hy sinh trong trận chiến rằm tháng 11 năm 1861 – thời điểm cam go của những ngày đầu chống Pháp.

    Tại vì sao mà lại như vậy? Bởi “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” câu tứ tự hai vế tuy ngắn gọn nhưng khái quát được hoàn cảnh, tình thế của đất nước lúc bấy giờ. Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta chúng đánh chiếm, thi hành những chính sách áp bức bóc lột nặng nề đẩy nhân ta vào cảnh lầm than cùng cực. Câu văn trên đã cho ta thấy sự dã man của thực dân. Chúng có vũ khí tối tân, sức công phá dữ dội, súng nổ vang rền mặt đất. Điều đó khiến cho ta nhớ tới tội ác của giặc Pháp được nhà thơ tố cáo trong bài ” Chạy giặc “:

    “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

    Tiếng súng vô tâm vô tình của quân giặc không bỏ sót một ai, không trừ một cảnh vật nào. Tất cả trở nên hoang tàn, xơ xác, lũng loạn sau “tiếng súng Tây”. Giặc thì như vậy chúng hiện đại hơn ta rất nhiều về trang thiết bị, về vật chất, số lượng binh lính còn ta chỉ có một tấm lòng, một truyền thống yêu nước mãnh liệt của người nông dân, của những con người Việt Nam. Nghệ thuật tiểu đối được sự dụng rất thành công đối rất chỉnh, rất chuẩn: Mười năm – một trận, công (vật chất) – nghĩa (tinh thần), chưa ắt còn danh nổi như phao – tuy là mất tiếng vang như mõ đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh giặc, làm nền để người nông dân xuất hiện. Tiếng khóc “hỡi ôi” quen thuộc mở đầu cho bài tế. Tiếng khóc lớn bày tỏ nỗi niềm đau xót, khóc thương cho linh hồn của những nghĩa sĩ đã hy sinh oanh liệt.

    Nhà thơ đã hồi tưởng và khắc họa lại hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc – những người nông dân thuần phác thôn quê có một tinh thần yêu nước quật khởi với cụm từ “Nhớ linh xưa”. Trước tiên họ là con người của ruộng đồng, của nông nghiệp, lam lũ mưu sinh “Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó” đúng như Hoài Thanh nhận xét “Biết bao yêu thương trong một chữ cui cút”. Nhà thơ bày tỏ lòng thương cảm đối với con người hiền lành, dáng dấp vất vả đến tội nghiệp. Họ là những con người chất phác, thuần nông ngoài việc đồng áng “chỉ biết ruộng trâu”, không gian giao tiếp bó hẹp “ở trong làng bộ” với công việc của nhà nông “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm”. Nào họ có biết chi đến việc binh đao, giáo mác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung” rồi “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”. Biết bao cái chưa biết ấy thế mà khi giặc xâm lăng nhũng nhiễu, triều đình chống cự yếu ớt họ can đảm bỗng chốc trở thành những người nghĩa sĩ anh hùng cứu nước.

    Lúc đầu họ cũng trông cũng mong vào sự phản công của triều đình. Nhưng trước bối cảnh nguy kịch, triều đình bạc nhược để cho con dân của mình thốt lên “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Điển tích “tiếng phong hạc” lấy ở câu “Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh” để chỉ nỗi lo âu, hồi hộp, sợ hãi trước sự tấn công hung bạo của kẻ thù. Là con là dân họ chỉ biết mong chờ vào quan phụ mẫu của mình mong cho đất nước được bình yên để họ an tâm lập nghiệp nhưng chỉ là mòn mỏi trong chờ đợi mười tháng vời vợi. Và tất nhiên họ không thể dương con mắt nhìn đất nước rơi vào tay giặc. Trước đó họ chỉ ghét chúng bởi “mùi tinh chiên vấy vá” tức chỉ mùi hôi tanh của giặc Pháp với hình ảnh so sánh rất độc đáo “ghét thói mọn như nhà nông ghét cỏ”. Đó là một cái lẽ tự nhiên. Cách dùng từ thật sáng giá phù hợp tâm lí và suy nghĩ của người nông dân. Sự căm ghét được đẩy lên mức độ cao hơn khi “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp”, “Ngày xem ống khói chạy đen sì” mà “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”.

    Sự nhức nhối đến tận cùng, sự căm thù đến tột độ phải đến câu sau mới lên đến đỉnh cao “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó”. Điển tích, điển cố, từ ngữ Hán Việt đặc biệt thành ngữ “treo dê bán chó” được tập trung để thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc, con mắt tinh tường của nhân dân. Mặt nạ “khai hóa”, “truyền đạo” của giặc Pháp bị bóc trần phơi bày dã tâm cướp nước ta của chúng.

    Truyền thống và tinh thần của dân tộc cùng với tội ác của giặc Pháp đã thôi thúc họ đứng lên đấu tranh với tất cả tấm lòng của người con Việt. Nhà thơ cảm phục trước tinh thần và việc làm của họ điều đó đối lập hoàn toàn với thực lực của người nông dân. Họ không đợi ai đòi ai bắt mà tự nguyện chiến đấu “phen này ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” hàng loạt các động từ vị ngữ chỉ hành động thể hiện quyết tâm hăm hở, khí thế hào hùng tiếp nối hào khí Đông A của thời đại nhà Trần. Họ “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” chiến đấu khi trong tay là những vật dụng thô sơ, là những công cụ lao động thường ngày của nhà nông là manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay… Họ không phải dòng dõi nhà binh, không được tập luyện, không có tổ chức, không có hiệu lệnh, đội ngũ, kỷ luật, vũ khí lại thô sơ.

    Chính những “cái không” ấy làm nổi bật lên “cái có” vô giá tiềm ẩn trong con người Cần Giuộc. Bởi họ có ý thức quyết tâm đánh giặc, có một tinh thần yêu nước không đổi, có một lòng căm thù giặc đến vô cùng. Điều đó đã làm nên sức mạnh vô song để họ đạp rào lưới tới, coi giặc cũng như không, không sợ đạn to đạn nhỏ mà liều mình xông vào như chẳng có, rồi kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho quân giặc khiếp sợ. Giọng điệu hào hùng, sục sôi qua cách ngắt nhịp, nhịp điệu gấp, dồn dập cùng với những động từ mạnh “đạp rào lưới tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược” và một giọng văn đanh thép, hùng tráng để thể hiện cái hiên ngang, quật cường với thái độ căm thù giặc như muốn ăn gan, uống máu quân thù.

    Niềm thương tiếc của nhà thơ dành cho những người nghĩa sĩ đã khuất được thể hiện bằng cụm từ mở đầu “Khá thương thay” ở đoạn ba. Sang đoạn kết từ “Ôi” xuất hiện bày tỏ lòng xót thương và lời cầu nguyện của người đứng tế. Giọng điệu bi ai trùng xuống đến thống thiết đau buồn. Tác giả thương xót cho những người dân phải chịu khó, chịu khổ “ăn tuyết nằm xương” làm “xiêu mưa ngã gió”. Ông khẳng định ý chí quyết tâm của dân tộc thà “về theo tổ phụ cũng vinh” chứ chẳng chịu khom lưng uốn gối làm nô lệ.

    Đằng sau tiếng khóc lớn, tiếng khóc ròng xót thương là mong muốn, ước nguyện của tác giả. Ông mong cho đất nước được thái bình, dân đen thoát cảnh lầm than cơ cực, mong cho dân tộc sạch bóng quân thù. Dù bị mù không thể ra trận chinh chiến nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn cùng với các lãnh tụ nghĩa quân họp bàn bày mưu đánh giặc. Đến khi giặc đánh chiếm Nam Kì ông ở lại Ba Tri chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng con người kiên trung ấy khảng khái chối từ, giữ trọn tấm lòng son với dân tộc.

    “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ” là bài văn thành công nhất cho thể loại văn tế của Nguyễn Đình Chiểu. Bài văn đã có những đóng góp mới mẻ nền văn học dân tộc cùng với nghệ thuật đắt giá được sử dụng tài tình. Thứ nhất những đóng góp mới: hình tượng người nông dân Việt Nam lần đầu tiên đi vào trong văn học với những nét thuần phác nhất có điệu bộ, dáng dấp, tính cách, cảm xúc và tình cảm rõ ràng. Đề tài gắn liền với thực tế mang tính thời sự lúc bấy giờ của đất nước. Đáng chú ý là sự chuyển biến của tư tưởng trung quân theo hướng gia tăng chất hiện thực, giảm bớt “khẩu khí” lí tưởng. Tác phẩm đã đưa văn học giai đoạn này trở thành vũ khí đấu tranh chống quân thù, chống tư tưởng đầu hàng và bọn phản động tay sai bán nước.

    Thứ hai là những thủ pháp nghệ thuật đắt giá được sử dụng thàng công. Bài văn tế được viết theo thể phú Đường luật có vần, có độc vận. Từ ngữ biểu cảm trực tiếp, gọi tên các trạng thái đa dạng như buồn thương, sầu tủi khi thì tự hào. Hệ thống các từ láy gợi hình gợi cảm được dùng linh hoạt: Cui cút, leo lét, não nùng, dật dờ,… Ngôn ngữ bình dị, đậm màu sắc thôn dã của vùng đất Nam Bộ: Cui cút, vấy vá, rơm con cúi, dao phay… Kết hợp tài tình những điển tích điển cố, ước lệ tượng trưng như: Tiếng phong hạc, mùi tinh chiên, mối xa thư, chém rắn đuổi hươu… Nghệ thuật tiểu đối đặc trưng của thể loại văn tế được thể hiện rõ nét qua các câu văn cùng với kết cấu ngôn ngữ phủ định trùng điệp: “Nào đợi/ chẳng thèm/ nào phải/ chẳng qua/chẳng đợi/không chờ…” nghệ thuật tương phản hai cấp độ được sử dụng thành công là “Hỏa mai… gươm đeo…/ Chi nhọc quan quản… chẳng sợ thằng Tây… / Kẻ đâm ngang… bọn hè trước… súng nổ”. Giọng điệu linh hoạt lúc thì hùng oai, sục sôi khi diễn tả cái hiên ngang, lúc thì bi ai, thống thiết khi nói về sự mất mát, đau buồn.

    Chính những điều đó đã khắc họa được hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc – những con người anh dũng dám hy sinh vì nghĩa lớn với một lòng nồng nàn yêu nước “Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Tinh thần ấy, con người ấy trở thành hình tượng đẹp, đáng nể phục và là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam. Nếu như trước khi thực dân Pháp xâm lược thơ văn của Đồ Chiểu chủ yếu là thể loại truyện thơ dài với nhân vật tiêu biểu là Lục Vân Tiên để truyền bá đạo lí và tư tưởng làm người thì ở giai đoạn sau năm 1858 thơ văn Đồ Chiểu là lá cờ đầu cho văn thơ chống Pháp đầu thế kỉ XIX, cổ vũ lòng yêu nước. Bài văn tế đã góp phần để Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng thực sự tỏa sáng theo cách của riêng mình trong bầu trời văn nghệ của dân tộc.

    4. Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 4

    Nguyễn Đình Chiểu xuất thân trong một gia đình nhà nho. Năm 1846 ông về Gia Định mở trường dạy học bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân và làm thơ. Khi giặc Pháp dụ dỗ ông vẫn giữ trọn lòng mình thủy chung son sắc với đất nước và nhân dân. Thơ văn của ông thấm nhuần lý tưởng đạo đức cao đẹp nhân nghĩa với những con người sống cao đẹp nhân hậu thủy chung biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng cao cả dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn cứu nhân độ thế.

    Bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một tác phẩm như thế. Bài văn là tiếng khóc từ đáy lòng của tác giả và tiếng khóc lớn của nhân dân trước sự hi sinh của những anh hùng. Văn tế là một loại văn thường dùng trong khi đọc tế cúng người chết nó có hình thức tế – tưởng. Bài văn tế có các phần: Lung khởi là cảm hứng khái quát về người chết, Thích thực hồi tưởng về công đức của người chết, Ai vãn than tiếc người chết và phần kết nêu ý nghĩa và lời mời của người cúng tế đối với linh hồn người chết. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có đủ bốn phần như vậy.

    Mở đầu bài thơ là một lời than:

    “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền lòng dân trời tỏ”

    Tiếng than vang lên mà nghe sao đau thương đến thế. Tiếng than ấy cho ta một ý nghĩ về một cảnh tang thương chết chóc là cảnh chiến tranh tàn khốc với những người đã bị tử trận trên chiến trường. Ông trời có thấu hiểu lòng người, có thấu hiểu được nỗi tang thương đau xót trong lòng những người thân nhân của những người dân đã tử trận. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ rất nhiều nguồn cảm xúc. Đó là thái độ cảm phục và niềm thương xót vô hạn của tác giả đối với người nông dân nghĩa sĩ. Các chi tiết” xác phàm vội bỏ”; “nào đợi gươm hùm treo mộ”;” tấc đất ngọn rau ơn Chúa”, “tài bồi cho nước nhà ta”; “quan quân khó nhọc”,”ăn tuyết nằm sương”; “đồn lũy tan tành” thể hiện niềm thương cảm và xót thương ấy một lần nữa khẳng định nghĩa binh chỉ là những người dân thường, nhưng sẵn sàng dấy binh vì một lòng yêu nước.

    Bên cạnh đó tác giả miêu tả hình tượng người chiến sĩ với vẻ đẹp của hình thức bên ngoài “chẳng qua là dân ấp dân làng”, “ngoài cật có một manh áo vải”, “trong tay cầm một ngọn tầm vông”. Đó là những hình ảnh của những người dân chân lấm tay bùn cơm không đủ no áo không đủ ấm. Còn cuộc sống hàng ngày của họ thì được tác giả miêu tả bằng những câu văn mộc mạc dễ hiểu không mấy cầu kì về câu chữ, họ hiện lên là những người “cui cút làm ăn toan lo nghèo khó”, “chưa quen cung ngựa”, “việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó”.

    Từ đó cho ta một cái nhìn toàn diện đầy đủ nhất về người nông dân. Họ vốn là những người dân lao động bình thường và họ cực kì lương thiện không bao giờ muốn xảy ra chiến tranh, họ không đi cướp bóc không muốn đi xâm chiếm nước khác để làm giàu cho mình mà họ mãn nguyện về cuộc sống khốn khó nhưng hòa bình của mình. Có chăng ước mơ to lớn nhất của họ chính là đủ cơm ăn áo mặc. Thế nhưng khi tổ quốc lâm nguy súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương sứ xở thì họ lạ có một tinh thần kháng chiến sục sôi.

    “Súng rền” cho thấy bọn giặc đã sử dụng những vũ khí rất tối tân chứ không phải là gậy gộc, là khiên là mác nữa cho thấy ở đây có một khoảng cách xa về vũ trang của cả hai bên. Nhà văn đã miêu tả được vẻ đẹp của người dân yêu nước sao mà giản dị đến thế: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng trông tin quan trường như trời hạn trông mưa mùi chinh chiến vấy vá đã ba năm ghét thói mọi như nhà hồn ghét cỏ”.

    “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ”. Chính vì thế mặc dù dân ấp dân làng, ngòai cật có một manh áo vải trong tay cầm một ngọn cầm vông nhưng họ vẫn sẵn sàng tự nguyện xả thân vì nghĩa lớn “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ”, “chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không nào sợ thằng tây bắn đạn nhỏ đạn to xô cửa xông vào liều mình như chẳng có” và thế là “kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho tà mã ma ní hồn kinh bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

    Nhà văn đã thành công trong khi khắc họa hình tượng nghĩa quân Cần Giuộc. Các từ miêu tả nguồn gốc xuất thân ngoại hình và hành động của người nghĩa sĩ nông dân cho thấy họ chỉ là những dân bình thường chất phác chăm chỉ nhưng khi nước nhà có giặc họ tự nhận về mình trách nhiệm phải bảo vệ đất nước sẵn sàng hi sinh vì nước. Cách thể hiện hình tượng người nghệ sĩ rất tỉ mỉ từ trang bị thô sơ hành động dũng cảm nguyện xả thân mình để bảo vệ đất nước.

    5. Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn gọn bài mẫu số 5

    Bài tế ra đời trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang “tung hoành” ở nước ta. Sau khi chiếm được thành Gia Định, Pháp bắt đầu đánh chiếm ra các vùng gần đó như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công… Ngày 16/12/1861 do quá căm phẫn, những người nông dân Cần Giuộc đã đứng lên tập kích đồn Pháp tiêu diệt được một số quân của Pháp. Nhưng xót xa thay, có khoảng mười lăm nghĩa sĩ đã anh dũng hi sinh. Xúc động trước sự ra đi này, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” nhằm đọc truy điệu lần cuối cho những anh hùng dũng cảm.

    Mở đầu bài tế, tác giả đã lên tiếng tố cáo tội ác của thực dân:

    Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ…”

    Xung quanh đâu đâu cũng có tiếng súng, âm thanh ấy làm rung động cả một vùng đất. Nhưng từ trong gian nguy người ta mới thấy được bản lĩnh, đức tính của những người nông dân bình dị. Cái họ làm đã được trời đất “chứng giám” và được lịch sử ghi công với hành động “một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ”. Chỉ với mấy dòng đầu tiên, tác giả đã trực tiếp lên tiếng ngợi ca cho những hành động anh hùng của người nông dân. Họ sẵn sàng hi sinh bản thân mình những mong đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

    Từ việc khẳng định ý nghĩa trong sự hi sinh của những người nông dân Cần Giuộc. Tác giả chuyển sang miêu tả hình ảnh của họ trong cuộc sống sinh hoạt, làm việc đời thường và đến lúc họ đã trở thành những anh hùng đánh giặc, lập công:

    Nhớ linh xưa: Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó”

    Họ chỉ là những người nông dân chân chất, hiền lành, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” suốt ngày quanh quẩn với con trâu con bò, với rặng tre làng. Những người nông dân ấy trước giờ chỉ quan tâm đến công việc làm ăn, chỉ mong “kiếm kế sinh nhai”. Họ chỉ biết “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;” vì đó là những công việc gắn bó với người nông dân từ ngày này qua ngày khác. Chứ còn việc binh đao “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung” và đối với họ việc “Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”. Có thể thấy những người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu chỉ quen với công việc đồng áng, chưa hề có sự “quen tay” với súng đao. Dù bản thân không hề là những binh lính rành nghề, cũng không phải là người có thể điều khiển vũ khí tốt. Thế nhưng, những anh hùng ấy vẫn hiên ngang tôi luyện, đứng lên chống giặc. Tất cả những hành động của họ đều xuất phát từ sự căm phẫn tội ác của giặc.

    Tác giả cũng rất tinh tế khi nêu ra một trong những nguyên nhân khác thôi thúc những người nông dân đứng lên là vì “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa”. Sự yếu đuối, nhu nhược của triều đình khi không có bất một hành động nào thể hiện sự phản kháng đối với tội ác của giặc đã buộc lòng nông dân Cần Giuộc “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

    Với biện pháp liệt kê, tác giả đã cho thấy ý chí chiến đấu quật cường của người nông dân. Họ sẵn sàng vùng dậy đấu tranh chứ không hèn nhác chịu “trốn chui trốn lũi”. Nếu như với hình ảnh của những người nông dân trước đây “bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” – có phần yếu đuối và tinh thần bị bắt buộc thì ở đây ta bắt gặp hình ảnh những người nông dân hoàn toàn tự nguyện, tự giác đấu tranh chứ không có bất cứ một thế lực nào khác điều khiển. Đây là một trong những lí do làm cho vẻ đẹp của người nông dân Cần Giuộc khác với những người nông dân còn lại.

    Có thể thấy những người nông dân trong ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ” không những phải luyện tập binh đao để ra trận, mà ở họ sự hy sinh còn thể hiện trong cách vượt lên hoàn cảnh ngặt nghèo. Độc “manh áo vải” nhưng họ nào đợi được trang bị mọi thứ bảo hộ, cứ thế mà lên đường chiến đấu:

    “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi;

    Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.”

    Tác giả Nguyễn Đình Chiểu dẫn người đọc từ từ khám phá các tính cách bên trong con người nông dân. Nếu ở trên ta cảm phục trước ý chí sắt đá, tinh thần tôi luyện để lên đường chiến đấu của người nông dân thì phần tiếp theo tác giả tái hiện chân thực cái hào khí sôi sục khi chiến đấu với giặc như thể tinh thần “nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. (“Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” – Hồ Chí Minh).

    “Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

    Tác giả sử dụng phép liệt kê, liên tiếp đưa ra các hành động chống giặc của người nông dân “trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới” rồi “đâm ngang, chém dọc” làm cho nhịp bài tế nhanh, khẩn trương, khấp rút như chính các thao tác mà nghĩa sĩ đánh giặc. Âm điệu bài thơ dần trở nên hào hùng, dồn dập như trận cuồng phong làm rung chuyển cả một bãi chiến. Tinh thần chiến đấu càng ngày càng sôi sục và dâng cao hơn.

    Nhìn lại tình hình lịch sử lúc bấy giờ, khi thực dân tiến đánh nước ta, triều đình Huế nhu nhược, yếu hèn không có bất cứ thái độ nào để đối phó với giặc. Mặc nhiên đầu hàng, bám víu vào cái ngôi vua của mình, không màng tới trọng trách giữ gìn đất nước. Nông dân cả nước nói chung và những “chiến sĩ” Cần Giuộc nói riêng đã tự mình đứng lên đòi lại quyền tự do, tự mình bảo vệ lấy tấc đất của mình. Tuy nhiên, sự bất cân xứng về lực lượng giữa ta và địch đã làm cho một phần nghĩa sĩ ngã xuống. Dẫu thế, cái “ngã” của họ chính là tư thế của những anh hùng đã dũng cảm, quyết tâm đuổi giặc xâm lăng bảo vệ tổ quốc.

    Đoạn tế này chính là nỗi xót thương mà Nguyễn Đình Chiểu không chỉ dành cho những người đã khuất mà cùng với đó là sự cảm thông, chia sẻ cho những gia đình có “vị anh hùng” buộc phải “dừng chân”:

    “Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.”

    Còn gì đau đớn hơn khi mẹ xa con, chồng xa vợ! Có nỗi đau nào bằng khi mất đi người thân. Những nghĩa sĩ Cần Giuộc càng anh hùng, quả cảm bao nhiêu thì người đọc lại xót thương, căm phẫn Pháp bấy nhiêu. Những câu cảm thán mà tác giả sử dụng như xé toạc bầu trời ấy, là tiếng hét ai oán cho những con người vì độc lập dân tộc. Nguyễn Đình Chiểu có cách so sánh rất hay khi “mẹ già” bây giờ như “ngọn đèn khuya leo lét”.

    Ở tuổi xế chiều mỗi người mẹ đều có đứa con chăm sóc, bảo vệ thì những người mẹ Cần Giuộc chỉ biết khóc con. Những người mẹ ấy leo lắt, đói hôm cũng không biết nương tựa vào ai vì con còn đâu nữa mà trông. Những người “vợ yếu” thì như “cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” vì tìm đâu ra trụ cột để mà dựa vào. Họ lao đao, chao đảo vì bỗng nhiên mất đi một phần rất quan trọng trong cuộc sống. “Dật dờ” cũng có thể là sự ngóng trông, mong đợi chồng về nhưng nào đâu nữa! Những người anh hùng ấy đã ngã xuống cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Pháp, cho lí tưởng bảo vệ non sông. Hai câu thơ trên nghe sao mà ai oán, nghe sao chua xót cho những nghĩa sĩ Cần Giuộc!

    Cảm phục, xót thương cho những linh hồn của nghĩa sĩ tác giả đã có những giây phút lắng đọng khi đọc bài tế. Đến cuối cùng tác giả vẫn không nguôi về những hành động dũng cảm mà các nghĩa sĩ đã làm cho mảnh đất của mình, cho người dân của họ.

    “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.”

    Bắt đầu bài tế cũng là những anh hùng hào kiệt, đến cuối bài tế vẫn sống mãi với non sông. Những “chiến sĩ Cần Giuộc” quả là bức tượng sống cho hình ảnh những con người đời thường nhưng sẵn sàng đứng lên cho sự an nguy của tổ quốc. Hình ảnh “chết vinh còn hơn sống nhục” là biểu tượng vàng son cho khí tiết hào hùng, oanh liệt của người nông dân.

    Bằng cách sử dụng thể loại tế, cùng với việc sử dụng ngôn ngữ bình dị, dân dã kết hợp giọng điệu xót thương, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nên bức chân dung về những người “chiến sĩ Cần Giuộc” dũng cảm quên mình. Ở họ sự thiếu thốn khắc khổ, cái khó khăn trong lúc luyện tập vũ khí không làm chùn bước chân của những nghĩa sĩ mà trái lại tinh thần sôi nổi, ý chí tự nguyện cùng quyết tâm đánh đuổi quân thù đã đúc kết lại làm nên những trang anh hùng. Dù kết thúc, chúng ta đã có một phần nghĩa sĩ ngã xuống nhưng chính cái hi sinh ấy lại là tiếng nói cao cả cho những con người dù “thấp cổ bé họng” vẫn có quyền lên tiếng cho chính bản thân mình.

    Sơ đồ tư duy phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Kiến thức mở rộng

    Sơ lược về thể loại văn tế

    – Văn tế còn có tên gọi là tế văn, kì văn hoặc chúc văn là một thể loại trong văn học Việt Nam. Thể loại này được dùng nhiều trong phú, cáo, văn tế…

    – Văn tế nói chung là loại văn đọc khi tế, cúng người chết (trong một số trường hợp đặc biệt cũng dùng để tế lễ người sống); bởi vậy nó có hình thức tế – hưởng.

    – Về hình thức, văn tế có thể là văn vần, văn xuôi và biền văn. Tuy nhiên, do văn tế có thể được viết theo nhiều lối, cho nên tùy theo người viết chọn thể loại nào đấy, sẽ phải tuân thủ tính quy định của thể loại đó.

    Hoàn cảnh sáng tác bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Năm 1859, giặc Pháp tấn công Gia Định, nhân dân Nam bộ đứng lên chống giặc. Đêm 14 – 12 – 1861, trận Cần Giuộc nổ ra gây nhiều tổn thất lớn cho giặc, nhưng cuối cùng quân ta cũng thất bại. Hai mươi nghĩa quân đã hi sinh trong trận chiến tấn công đồn Cần Giuộc đêm 16 – 12 – 1861. Tuần phủ Gia Định nhờ Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này để tỏ lòng tiếc thương những người đã hi sinh, ghi nhận công lao của những người nông dân áo vải trở thành những anh hùng đó.

    Một số nhận định về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    – ” Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước… Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang”

    (Phạm Văn Đồng)

    – ” Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, nhân dân được ca ngợi như những người anh hùng. Đây chính là đỉnh cao nhất về nội dung và nghệ thuật trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu“…

    (Lê Chí Dũng)

    -/-

    Thanh Long (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tuần 6: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo Án Điện Tử Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Soạn Bài Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Theo Định Hướng Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tuần 6: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo Án Điện Tử Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc theo định hướng phát triển

    Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

    – Nguyễn Đình Chiểu-

    – Giúp học sinh ôn tập, nắm vững cuộc đời và những nét lớn về cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu, nhận thức được vị trí của nhà thơ trong lịch sử văn học dân tộc.

    – Bồi dưỡng lòng tự hào, ý thức trân trọng về tác giả.

    – Những nét chính về tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu; Giúp học sinh thấy được Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho có tấm lòng yêu nước, gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước, với nhân dân; Có những đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc.

    – Thấy được Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam.

    – Tiếp cận cách đáng giá tác gia văn học trong thời khắc đổi thay của lịch sử. Cụ thể giúp học sinh nắm được những nội dung sau:

    · Định hướng phát triển năng lực cho học sinh.

    – NĐC (1822- 1888)

    – Quê: Tân Khánh – Gia Định (TPHCM)

    – Tên chữ: Mạnh Trạch. Hiệu: Trọng Phủ, khi mù ông đổi là ” Hối Trai “.

    – Cha: Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên Huế làm thư lại trong dinh Lê Văn Duyệt. – Mẹ :Trương Thị Thiệt( Vợ lẽ)

    – Năm 1849 sắp thi ông được tin mẹ mất, ông bỏ thi về chịu tang mẹ, than khóc mẹ và

    đường xa thiếu thốn nên ông bị mù cả 2 mắt.

    – Có tài nhưng chịu nhiều bất hạnh trong cuộc đời. – Ba bài học lớn từ NĐC :

    + ý chí , nghị lực sống

    + Lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.

    + Tinh thần bất khuất trước kẻ thù.

    – Ông vừa là nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà y học.

    Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu đã vượt lên mọi bất hạnh để trở thành một nhà nho chân chính, một người thầy mẫu mực, một danh y vì dân và trở thành nhà thơ lớn đầu tiên của dòng văn thơ yêu nước Việt Nam.

    Nguyễn Đình Chiểu quan niệm văn chương có nhiệm vụ đề cao và chiến đấu vì chính nghĩa, văn chương là những sáng tạo nghệ thuật quý báu, tao nhã để phát huy các giá trị tinh thần. Sáng tác của ông chủ yếu ca ngợi những con người tiêu biểu cho quan niệm đạo lí truyền thống như: “Trung, Hiếu, Tiết , Nghĩa” . Sau 1858, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì văn chương của ông chuyển từ đề tài đạo đức sang đề tài yêu nước đánh giặc. Nguyễn Đình Chiểu tập trung lên án quân xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược, ca ngợi tinh thần, nghĩa khí và những tấm gương chiến đấu vì nhân dân.

    – Các tác phẩm chính của ông: : Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định,..

    c. Giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.

    – Giá trị về nội dung: Ca ngợi các phẩm chất đạo đức truyền thống theo quan điểm của nhà nho và thể hiện lòng yêu nước sâu sắc. Tấm lòng thiết tha với nhân dân, với đất nước của ông đã đánh thức lòng yêu nước trong biết bao người dân Việt Nam.

    – Giá trị về nghệ thuật: Ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; Kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lí tưởng hóa với tả thực; mang đậm đà bản sắc Nam Bộ.

    2. Kiến thức về tác phẩm: Yêu cầu học sinh cảm nhận

    Được vẻ đẹp bi tráng mà giản dị của hình tượng người nghĩa sĩ – nông dân cùng thái độ cảm phục, xót thương của tác giả đối với họ.

    – Hiểu được giá trị nghệ thuật của bài văn tế với tính trữ tình, thủ pháp tương phản và việc sủ dụng ngôn ngữ.

    Kiến thức trọng tâm:

    + Tác phẩm dựng lên bức tượng đài bi tráng về người nông dân Nam Bộ yêu nước buổi đầu chống thực dân Pháp.

    + Tác phẩm bộc lộ thái độ cảm phục và xót thương của tác giả trước sự hi sinh của các nghĩa sĩ.

    + Tác phẩm thể hiện tính trữ tình, thủ pháp tương phản và việc sử dụng ngôn ngữ giản dị,gần với lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ.

    Cụ thể:

    a. Bức tượng đài bi tráng về người nông dân Nam Bộ yêu nước buổi đầu chống thực dân Pháp:

    Hoàn cảnh xuất thân:

    + Cui cút, toan lo nghèo khó, quen làm việc nhà nông.

    + Họ quen với cày, cấy, luỹ tre, đồng ruộng.

    + Họ xa lạ với chiến trận, binh đao ( Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung…) –

    – Nghệ thuật: Liệt kê, đối thể hiện rõ hoàn cảnh của người nghĩa sĩ ” thuần nông” và niềm thương cảm của tác giả. Tuy họ nghèo về vật chất nhưng họ giàu có về tinh thần, tấm lòng yêu nước nồng nàn.

    * yêu nước, căm thù giặc sâu sắc.

    + Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ, muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ.

    * Yêu nước gắn với niềm tự hào dân tộc. * Yêu nước thể hiện ở tinh thần tự nguyện, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù.:

    + Cách so sánh gần gũi thể hiện sự chân thành đậm chất Nam Bộ, sôi sục của người nông dân

    + Ta và địch như mặt trăng và mặt trời không thể cùng toả sáng một lúc. Thực dân Pháp lại là lũ treo đầu dê bán thịt chó với chiêu bài truyền đạo, khai hoá.

    +Sống làm chi… thà thác…

    +Nào đợi, há để, chẳng thèm, ra sức, ra tay bộ hổ

    * Tự nguyện đứng lên đánh giặc như một sự thôi thúc bên trong, một nhu cầu tất yếu của con người.

    + Họ thiếu thốn đủ thứ: không có binh thư, binh pháp, ban võ nghệ.

    + Chỉ có manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay….

    – Hành động: Tinh thần xả thân của những người dân chân đất mang trọng trách và chí khí của những anh hùng thời đại.

    + Đốt nhà dạy đạo, chém đầu quan Pháp + Đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào

    – Điều kiện chiến đấu

    + Đâm ngang, chém ngược. hè trước, ó sau.

    + Coi giặc như không, liều mình như chẳng có

    – Lòng yêu nước, yêu cuộc sống vô bờ bến của người nông dân

    – Lòng dũng cảm, đoàn kết một lòng và quyết tâm của nhân dân Nam Bộ

    *Tóm lại: Bằng những chi tiết chân thực, bình dị được cô đúc từ đời sống người dân lao động. Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca phẩm chất cao quý tiềm ẩn đằng sau manh áo vải, lam lũ vất vả của người nông dân là lòng yêu nước, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Nguyễn Đình Chiểu đã dựng được tượng đài sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ- chưa từng có trong lịch sử văn học.

    + Xác phàm vội bỏ, da ngựa bọc thây. + Uất hận nghiệp lớn chưa thành

    + Nào đợi gươm hùm treo mộ

    + Vì ai…vì ai…

    + Các từ : ôi. thôi thôi…

    nghĩa sĩ

    – Khóc cho người còn sống

    + Mẹ già : đau đớn,ngọn đèn leo lét

    + Vợ : yếu chạy tìm chồng, não nùng, dật dờ

    + Con: bơ vơ, tội nghiệp

    + Đoái sông CG…

    Nỗi đau tiếc thương của người thương, của nhân dân trước sự hi sinh của nghĩa sĩ đã

    + Quân tả đạo, quăng vùa hương… + Súng giặc đất rền …

    + Tấc đất ngọn rau…

    – Lẽ sống của họ. “Thà chết vinh còn hơn sống nhục”, họ quên mình cho đất nước

    – Lời văn nghẹn lại như nỗi lòng quặn đau khôn xiết của con người yêu nước, thương dân.

    Nỗi đau như thấm vào vạn vật trời đất.

    diệt thù. KĐ sự bất tử của những người nghĩa sĩ trong lòng dân tộc.

    – Bài văn tế mang đậm chất trữ tình

    Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc theo định hướng phát triển

    – Với thủ pháp tương phản, và cấu trúc của thể văn biền ngẫu; Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ.

    Tóm lại, tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thể hiện vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân.

    + Với tác phẩm, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp vốn có của họ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hình Tượng Người Nghĩa Sĩ Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Lính Tây Tiến Liên Hệ Với Người Nông Dân Nghĩa Sĩ Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Cảm Nhận Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)
  • Phân Tích Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Để Làm Nổi Bật Vẻ Đẹp Của Hình
  • Cảm Nhận Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Lính Tây Tiến Liên Hệ Với Người Nông Dân Nghĩa Sĩ Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Phân Tích Hình Tượng Người Nghĩa Sĩ Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Theo Định Hướng Phát Triển
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet
  • Bạn đang cần tìm những bài văn nêu cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc? Không cần tìm nữa. Đọc Tài Liệu sẽ lần giới thiệu tuyển chọn các bài văn hay nhất đã được sưu tầm và biên soạn kỹ lưỡng ở bài viết này. Qua các bài mẫu, bạn có thể tham khảo cách làm cùng như bổ sung vốn từ ngữ để bài làm văn của mình hay hơn.

    Bài làm cảm nhận Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu

    Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa đã đứng dậy chống Pháp và lựa chọn cho mình một cái chết thật oanh liệt: “thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. Có thể nói, bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là “khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” theo như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói.

    Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cuộc khởi nghĩa của những người nông dân Cần Giuộc đã đi vào thất bại. Họ phải ngã xuống giữa những chiến trường trong cảnh da ngựa bọc thây, xác phàm vội bỏ. Họ là những người thất thế, quả thực là như vậy. Nhưng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho họ sống lại trong những hình tượng mang đầy khí phách và hiên ngang. Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như trăng sao đã hiển hiện trong bài văn tế với âm hưởng của một khúc ca bi tráng. Người nghĩa quân Cần Giuộc chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung… Ấy thế mà khi giặt đến, họ liền trở thành những người dũng sĩ. Ở họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự giác tham gia đánh giặc: “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

    Trong khi triều đình nhu nhược, chỉ bàn những kẻ nhượng bộ, đầu hàng quân giặc thì họ đã tự mình đứng dậy. Tinh thần: mến nghĩa làm quân chiêu mộ của những người dân cày thật là đáng khâm phục. Cuộc chiến đấu của họ rất nhiều khó khăn với những gian nan: lực lượng địch, lực lượng ta quá chênh lệch, thiếu kĩ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí. Đoàn nghĩa quân nông dân lại rất nghèo khổ, lam lũ. Họ gần như đi thẳng đến chiến trường từ những túp lều tranh rách nát và những luống cày quen thuộc, không mũ nón, không giáp trụ và cũng chẳng gươm giáo cung tên…

    Tất cả trang bị của họ đều rất thô sơ, là những đồ dùng thường ngày, quen thuộc nhưng lại khiến cho kẻ thù thích điên bát đảo. Sức mạnh của họ không chỉ là sức mạnh thể lực mà đó còn là sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy danh vàng đỏ với đạo, lấy lòng dũng cảm để chống lại những chiếc tàu sắt, tàu đồng.

    “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đèn xì, muốn ra cắn cổ”

    Lòng căm thù giặc ấy đã đem đến cho những người nghĩa sĩ sự dũng cảm và sức mạnh đến phi thường. Họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như ở chỗ không người.

    Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn đầy trang trọng, đẹp đẽ. Nhưng ông lại không thể che dấu sự thật đau lòng… Bài văn tế còn là đời ai oán, là tiếng khóc của ông trước sự thất thế và cái chết của nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho những người đọc chúng ta cảm thấy đau lòng. Đất trời, cỏ cây cũng phải rung động:

    “Đoái trông Cần Giuộc; cỏ cây mấy dặm sầu giăng, nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.”

    Đó còn là tiếng khóc của chính tác giả:

    “Ôi thôi thôi! Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, đồn Lang Sa một khách đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.”

    Cái bi bao trùm lên cả đoạn văn, nhưng đại bi ở đây không phải là bi thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì nước nhà, vì nhân dân. Đau mà không khiến cho người ta nản lòng thối chí, bi mà giục giã mọi người đứng dậy, hiên ngang chống lại kẻ thù. Cuộc khởi nghĩa tuy đã thất bại, nhiều người đã phải ngã xuống nhưng chết vinh còn hơn sống nhục. Họ đã để lại danh thơm muôn đời. Ra đi như những tấm gương sáng, trái lại vẫn còn sống mãi và có sức động viên lớn đối với cuộc chiến sau này…

    Tham khảo bài hướng dẫn soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để nắm được kiến thức về tác phẩm

    Cảm nhận 15 câu đầu bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Có thể nhận định rằng, tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một bức tượng đài nghệ thuật về những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đặc biệt chúng ta cảm nhận được rõ nhất vẻ đẹp của những người nông dân đó trong 15 câu thơ đầu.

    Mở đầu bài thơ là tiếng than “Hỡi ơi!”, đó chính là tiếng khóc cất lên giữa đất trời, khóc cho linh hồn của những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc, sống anh dũng, chết vẻ vang. “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”, câu thơ thứ nhất này tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát được hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc bấy giờ: Giặc xâm lược có vũ khí hiện đại, công phá dữ dội, súng nổ rền vang cả mặt đất. Còn ta chỉ có tấm lòng và ý chí quyết tâm giữ nước của nhân dân. Câu thơ thứ hai, nhà thơ đã đánh giá người nghĩa sĩ nông dân qua hai gia đoạn cuộc đời của họ: mười năm có công vỡ ruộng chưa chắc đã nổi danh, nhưng chỉ sau một trận đánh tây, tuy phải hi sinh nhưng tiếng tăm vang như mõ.

    Tiếp theo, hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân đã được thể hiện qua hồi ức của nhà thơ. Họ vốn xuất thân là những người nông dân lam lũ, “Cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó”, có thể thấy tác giả Đồ Chiểu rất thương mến đối với kiếp người nhỏ nhoi, cùng khổ ấy, dù họ có cui cút, cặm cụi làm ăn nhưng vẫn đói nghèo. Rồi họ là những người thuần nông, chất phác, ngoài những việc đồng áng, họ chẳng biết đến việc gì khác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ” không gian sinh hoạt và làm việc của họ chỉ thu gọn lại trong ngôi làng, quẩn quanh và bé nhỏ. Những công việc “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy”, bao nhiêu công việc luôn chân tay và họ đã quen hàng ngày, còn những chuyện “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ” lại chưa từng biết đến. Nhà thơ đã nhấn mạnh đến bản chất của những người nông dân nghèo khổ, họ không hề biết tới việc quân việc lính hay chiến trận đao binh, họ chỉ cố gắng lo cho khỏi đói khổ, rách rưới.

    Thế rồi giặc tới, suốt ba năm chịu khổ, họ đã đứng lên, trở thành những anh hùng nghĩa sĩ cứu nước, “Tiếng phong hạc” thể hiện cho sự hoảng loạn trước tấn công của kẻ thù, vua và quan quân triều đình e sợ, người nông dân chịu cảnh khổ, chỉ biết “phập phồng” trông chờ vào bậc quan quân của mình. Thế nhưng trông chờ trong mỏi mòn, lòng căm thù bọn giặc cướp nước đã rực lửa, hừng hực trong con người họ. Lúc đầu họ chỉ căm ghét chúng như loài dị tộc tanh hôi “mùi tinh chiên vấy vá”, ghét chúng như người nông dân “ghét cỏ” trên ruộng lúa của mình.

    Nhưng rồi cứ thế ngày ngày giặc thù hiện ra ngang nhiên như đâm vào mắt “bòng bong che”, người nông dân lúc ấy chỉ còn thấy nhức nhối và gay gắt, căm thù mãnh liệt “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Tuy nhiên, sự căm thù đẩy lên đến đỉnh điểm khi nhắm tới một điều hết sức cao cả, thiêng liêng, đó là sự tự do và thống nhất của dân tộc, trách nhiệm trước công lí, chính nghĩa. Sự giả dối, mặt nạ nhân dạo “khai hóa”, “truyền đạo” của thực dân Pháp đã bị vạch trần, dã tâm của chúng đã được phơi bày. Từ đó người nông dân đã tự nguyện ra đánh giặc, và họ đã trở thành nghĩa sĩ:

    “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình. Chẳng ai thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

    Câu thơ thể hiện khí thế hào sảng và hăm hở, dũng mãnh của người dân binh mộ nghĩa. Một lần nữa, nhà thơ lại nhắc lại tới nguồn gốc của họ, họ là người “dân ấp dân lân”, bước vào chiến đấu nhưng không được tập luyện hay chuẩn bị gì cả, những hiểu biết tối thiểu về kĩ thuật tác chiến cũng không hay biết “Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn”, “Chín chục binh thư không chờ bày bố”. Tuy họ không có kĩ thuật, không có võ nghệ và không được tập dượt nhưng họ lại rất chủ động “không chờ”, “không nài” mà đánh giặc, tự trang bị cho mình một cách thô sơ nhất “manh áo vải”, vũ khí là “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”. Hai câu thơ 14 và 15 đã thể hiện một cách rất sống động và chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trong giây phút công đồn:

    “Chi nhọc quan quản trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không… Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.”

    Câu văn với nhiều động từ, giới từ, đã tạo nên một không khí hết sức căng thẳng, quyết liệt, người nghĩa sĩ lao trong mưa đạn của kẻ thù như cơn cuồng phong bão táp, coi thường súng đạn tối tân, sát thương mạnh của kẻ thù. Họ xông xáo và lập nhiều chiến công vang dội.

    Như vậy, qua 15 câu thơ đầu trong bài văn, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một hình tượng người nghĩa sĩ lam lũ mà cao đẹp, chân chất và vĩ đại. Đại diện cho hình tượng người nông dân trong lịch sử văn học yêu nước của Việt Nam.

    ➜ bình giảng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn tài ba khi đã nêu lên hình ảnh người nông dân trong văn học mà trong suốt các thời gian qua chưa được nhắc đến thông qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.Trong bài văn tế, hình ảnh người nông dân được khắc hoạ rõ ràng. Hình ảnh người nông dân nghèo khổ chỉ biết làm ăn một cách thầm lặng, quanh năm chỉ biết ruộng trâu, cần cù lao động. Họ là những người nông dân yêu ghét rõ ràng, căm thù quyết không đội trời chung với giặc khi thực dân Pháp xâm lược. Họ đã anh dũng chiến đấu và anh dũng hi sinh, trong lời văn là những lời lẽ bi thương đầy nước mắt nhưng không hề rơi nước mắt. Đó chính là cái hay của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời vào năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, Việt Nam. Sau khi chiếm được thành Gia Định vào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công… Ngày 15 tháng 11 năm Tân Dậu, những nghĩa sĩ mà là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã dũng cảm đứng lên chiến đấu tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình. Những tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh này.

    Như chúng ta biết thì “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một “tác phẩm nghệ thuật” hiếm có. “Bi tráng” là tầm vóc và tính chất của tác phẩm nghệ thuật ấy: vừa hoành tráng, hùng tráng, vừa thống thiết, bi ai. Hùng tráng ở nội dung chiến đấu vì nghĩa lớn. Hùng tráng ở phẩm chất anh hùng, ở đức hi sinh quyết tử. Hùng tráng ở chỗ nó dựng lên một thời đại sóng gió dữ dội, quyết liệt của đất nước và dân tộc.

    Mở đầu bài văn tế là hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên thống thiết, đó là tiếng khóc của nhà thơ đối với nghĩa sĩ, là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo:

    “Súng giặc, đất rền; lòng dân trời tỏ” có ý nghĩa là Tổ quốc lâm nguy, súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương .

    Trong cảnh nước mất nhà tan, chỉ có nhân dân đứng lên gánh vác sứ mệnh lịch sử, đánh giặc cứu nước cứu nhà. Và người nông dân chỉ biết cui cút làm ăn một cách tội nghiệp đã dũng cảm đứng lên đánh giặc giành lại nền độc lập cho Tổ quốc thân yêu mà sự dũng cảm đó xuất phát từ tấm lòng yêu nước có trong mỗi con người. Tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của những người nông dân, của những người áo vải mới tỏ cùng trời đất và sáng ngời chính nghĩa. Hình ảnh chính của bài văn tế chính là những chiến sĩ nghĩa quân Cần Giuộc.

    Nguồn gốc của họ là nông dân nghèo sống cuộc đời “côi cút” sau luỹ tre làng. Chất phác và hiền lành, cần cù là chịu khó trong làm ăn, quanh quẩn trong xóm làng, làm bạn với con trâu, đường cày, sá bừa, rất xa lạ với cung ngựa trường nhung:

    “Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”

    Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp. Dù mệt mỏi hay vất vả thì họ vẫn âm thầm, lặng lẽ chịu đựng một mình mà chẳng nói với ai. “Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó” đã hiện lên đầy đủ một vòng đời không lối thoát của người nông dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ. Bắt đầu bằng cui cút, vật lộn làm ăn, toan lo để cuối cùng kết thúc trong nghèo khó. Họ là những người nông dân mà quanh năm chỉ biết làm với làm, chưa hề biết đến cái gì gọi là cung, cái gì gọi là ngựa.

    “Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”.

    Họ là lớp người đông đảo, sống gần gũi quanh ta. Quanh năm chân lấm tay bùn với nghề nông, “chưa hề ngó tới” việc binh và vũ khí đánh giặc:

    “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.

    Thế nhưng khi đất nước quê hương bị giặc Pháp xâm lược, những người dân chân lấm tay bùn ấy đã đứng lên tình nguyện làm quân tự nguyện đánh giặc cứu nước cứu nhà, bảo vệ cái nghề làm lụng mà họ coi là bát cơm manh áo của họ là cái nghĩa lớn mà họ “mến” là đeo đuổi:

    “Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới an gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

    Đối với giặc Pháp và lũ tay sai bán nước, họ chỉ có một thái độ: “ăn gan” và “cắn cổ”,chỉ có một chí hướng: “phen này xin ra sức đoạn kình…, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

    Trong bài văn tế Nguyễn Đình Chiểu đã có khắc nên sự đối lập giữa đoàn dũng sĩ của quê hương và giặc Pháp xâm lược. Giặc xâm lược được trang bị tối tân, có “tàu thiếc, tàu đồng”, “bắn đạn nhỏ, đạn to”, có bọn lính đánh thuê “mã tà, ma ní” thiện chiến. Trái lại, trang bị của nghĩa quân lại hết sức thô sơ. Quân trang chỉ là “một manh áo vải”. Vũ khí chỉ có “một ngọn tầm vông”, hoặc “một lưỡi dao phay”, một súng hoả mai khai hoả “bằng rơm con cúi”. Thế mà họ vẫn lập được chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo kia” và “chém rớt đầu quan hai nọ”.

    Bài văn tế đã tái hiện lại những giờ phút giao tranh ác liệt của các chiến sĩ nghĩa quân với giặc Pháp:

    “Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.” “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho ma ní, mã tà hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

    Không khí chiến trận có tiếng trống thúc quân giục giã, “có bọn hè trước, lũ ó sau” vang dậy đất trời cùng tiếng súng nổ. Các nghĩa sĩ của ta coi cái chết như không, tấn công như vũ bão, tung hoành giữa đồn giặc: “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược”, “hè trước, ó sau”. Giọng văn của Nguyễn Đình Chiểu đã tô đậm tinh thần dũng cảm, kiên cường bất khuất của các nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Ông cũng thể hiện rõ lòng khâm phục đối với người nghĩa sĩ nông dân. Từ trước đến nay, đây là tác phẩm đầu tiên có đưa hình ảnh của nghĩa sĩ nông dân.

    Trong bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn có tiếng khóc của mẹ già nơi quê nhà trông chờ con về, vợ thương nhớ về chồng, con ngóng cha về nghe thống thiết, bi ai. Nhiều nghĩa sĩ đã ngã xuống trên chiến trường trong tư thế người anh hùng:

    “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

    Đất nước, quê hương vô cùng thương tiếc. Một không gian rông lớn bùi ngùi, đau đớn:

    “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”.

    Tiếng khóc của người mẹ già, nỗi đau đớn của người vợ trẻ, nỗi nhớ thương của con cái được nói đến vô cùng xúc động:

    “Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

    Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng chiến đấu, và hi sinh rất vẻ vang. Tấm gương chiến đấu và hi sinh của họ là để ta biết rằng đất nước nào cũng là độc lập, tự chủ, không ai được quyền xâm chiếm. Họ là tấm gương sáng rất đáng tự hào:

    Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ”

    Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài học quý báu mà họ đã để lại: Thà chết vinh còn hơn sống nhục. Họ là tấm gương sáng để dân tộc Việt Nam noi theo mà làm, là ngọn đèn soi sáng cho dân tộc Việt Nam.

    “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giăc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;…”.

    Công lao của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc sẽ đời đời nằm trong lòng mỗi người dân Việt Nam về tấm gương anh dũng, sẵn sàng xả thân vì độc lập Tổ Quốc.

    “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”.

    Tóm lại, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khẳng định tấm lòng yêu thương dân thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc đã anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập vững chắc của quê nhà, nơi họ đã sinh ra và lớn lên hay đó là Tổ quốc mà đối với họ “nó” rất quan trọng trong cuộc đời. Nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc chính là tấm gương về tinh thần dũng cảm, lòng yêu nước sâu sắc để cho các thế hệ đi sau khi đọc được bài văn tế này mà noi theo để xây dựng đất nước càng ngày giàu mạnh hơn.

    Sống trong cuộc đời tránh sao được cái quy luật sống và chết. Người ta vẫn thường nói chết là hết. Nhưng có những cái chết không một tiếng vang, lại có những cái chết để tiếng thơm muôn thuở. Những người nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đến sáu tỉnh chúng đều khen. Thác mà ưng đình miếu để mà thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Có thể nói toàn bộ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang (Phạm Văn Đồng).

    Đó là vào năm 1859, sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đến tháng 12/1861, Pháp đánh úp ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Công. Hai ngày sau, nghĩa quân ba xứ nhất tề nổi dậy, tập kích dồn quân Pháp, đốt nhà Dòng, nơi chúng đóng quân, giết chết một tên quan hai Pháp và một số lính thuộc địa. Nghĩa quân hi sinh khoảng 15 người. Trận thắng không lớn nhưng nó làm nức lòng những người dân yêu nước Việt Nam đang sôi sục ý chí bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế để khóc thương và biểu dương tinh thần hi sinh vì nước của nghĩa quân Cần Giuộc. Áng văn làm rung động sâu sắc tâm hồn những người dân yêu nước Việt Nam. Nhà thơ Mai Am từng có thơ đề cảm:

    Điếu văn tam phục trụng đê hồi Nghị phách từ phong tận khả ai.

    Nghĩa là, đọc bài văn điếu ba lần trong dạ bồi hồi khôn xiết, nghĩa khí mạnh lời văn hùng thật đáng xót thương.

    Có thể thấy hình ảnh người nông dân Cần Giuộc là hình ảnh nổi cộm lên giữa những suy tư, suy ngẫm về cuộc chiến đấu của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây cũng là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Nó đánh dấu vào lịch sử văn học dân tộc về một tượng đài bất hủ về hình ảnh người anh hùng áo vải giết giặc cứu nước.

    Theo bố cục bài văn tế, chúng ta đi vào tìm hiểu và làm sáng tỏ những nét đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong cuộc chiến đấu chống Pháp.

    Ở những câu đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại lịch sử khốc liệt, hào hùng: một bên là cuộc xâm lược của thực dân Pháp với tất cả sức mạnh áp đảo về vũ khí (súng giặc đất rền), một bên là cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nhân dân ta với khí thế ngút trời (lòng dân trời tỏ). Người nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm: Côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung. Ấy vậy mà khi giặc đến, họ liền trở thành những dũng sĩ, Nguvễn Đình Chiểu đã khéo léo nhấn mạnh đến tinh thần tự giác:

    Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

    Ở đây bút pháp hiện thực kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp trữ tình. Vừa tái hiện chân thực cuộc sống con người trong một thời điểm quan trọng nhất, lại vừa bộc lộ sâu sắc niềm trân trọng tự hào lẫn sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    Hành động tự giác xung vào đội quân chiến đấu chống Pháp cho thấy thái độ vô tư trong suy nghĩ, trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh đất nước của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhớ lại những câu ca dao Lính thú đời xưa. Họ cũng là những nông dân nhưng bị bắt buộc phải phục vụ cho những cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa, nên thái độ của họ thật khác xa:

    Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

    Còn ở đây, mặc dù đội nghĩa binh Cần Giuộc mới được tập hợp trong vòng hai ngày trước trận tập kích đồn quan Pháp. Chỉ có hai ngày, trong hoàn cảnh phải hoàn toàn tự lực, không có sự giúp đỡ của quan quân triều đình nên họ thiếu thốn đủ thứ, vậy mà họ hăm hở biết bao:

    Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn, chín chục trận binh thư, không chờ bày bố. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ.

    Sức mạnh của những người nghĩa quân không gì khác ngoài sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy gan vàng đọ với đạn sắt, lấy lòng căm hờn chống lại tàu sắt, tàu đồng. Chính lòng căm hờn đã đem đến cho họ sự dũng mãnh và sức mạnh phi thường kẻ đâm ngang người chém ngược họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như chỗ không người. Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có. Hai từ cũng được lặp lại ở câu mười ba (cũng đốt xong nhà dạy đạo kia, cũng chém rớt đầu quan hai nọ) vừa làm nổi bật thế tương phản của trận đánh, vừa vang lên như một tiếng reo vui đầy tự hào của những con người đầy lòng tự tin vào sức mạnh chính nghĩa của mình.

    Nguyền Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn thật trang trọng đẹp đẽ, nhưng ông không che giấu sự thật đau lòng. Bài văn còn là lời ai điếu, là tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sự thất thế và cái chết của người nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho đất trời, cỏ cây, con người đều động lòng.

    Ôi thôi thôi! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngỏ.

    Cái bi tráng bao trùm lên cả đoạn thơ, nhưng cái bi ở đây không phải là cái thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản lòng, thối chí, khi mà giục giã mọi người đứng dậy hiên ngang. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại. Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống, nhưng chết vinh còn hơn sống nhục: Thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Chết như thế là để lại tấm gương chói lọi, có sức động viên lớn đối với cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục.

    Có thể nói, dù đã ngã xuống, nhưng hình ảnh người nông dân giết giặc vẫn mãi ngời sáng. Đó chính là những trái tim ngời sáng trong cát, để lại tiếng thơm muôn đời.

    Cất lên những tiếng khóc này, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định đây là cái tang chung của mọi người, của dân tộc. Vì vậy có bi mà không có lụy. Cái bi thì thăm thẳm, nỗi đau đầy cảm hứng trữ tình lên đến tột đỉnh, tạo nên những câu văn vật vã: mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng. Đây không còn là văn mà là lệ. Phải có tài, có tình và một tinh thần dân tộc, một nhận thức đúng đắn xem mũi tên lịch sử đang đi về đâu. Điều này Nguyễn Đình Chiểu hiểu rõ và rất tâm huyết.

    Như vậy, viết về hình ảnh người nông dân đánh giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa họ ở ba nét chủ yếu. Thứ nhất, hình ảnh người nông dân chân chất, hiền lành quanh năm chỉ biết sống và làm việc với cày cuốc, ruộng đồng. Thứ hai, đó là tinh thần yêu nước căm giặc sâu sắc đã thôi thúc họ trở thành những chiến binh dũng cảm, vô tận sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Thứ ba, mặc dù đã ngã xuống nhưng họ vẫn là những biểu tượng đẹp về hình ảnh những anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang, sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…

    Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương xuất sắc không phải chỉ của riêng Nguyễn Đình Chiểu mà còn là của văn học Việt Nam thời Trung đại. Bằng một bút pháp trữ tình kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp hiện thực, bằng ngôn ngừ bình dị mà gợi cảm, bài văn đã tái hiện chân thực sâu sắc và đầy xúc động cả một thời đau thương nhưng anh dũng của dân tộc, đồng thời xây dựng nên một tượng đài có một không hai trong lịch sử văn học thời trung đại về người nông dân nghĩa quân chống giặc ngoại xâm.

    ➜ Tham khảo một số bài văn mẫu phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Thanh Long (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Để Làm Nổi Bật Vẻ Đẹp Của Hình
  • Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu Tại Soanjbai123.com
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11
  • Tóm Tắt Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tuần 6: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Đọc Hiểu Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Đọc Hiểu Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu Tại Soanjbai123.com
  • Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Ngữ văn lớp 11

    Tóm tắt tác phẩm Văn học lớp 11

    Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tài liệu hay đã được chúng tôi tổng hợp để giúp các bạn học sinh học tập hiệu quả hơn môn Ngữ văn lớp 11, tài liệu tóm tắt đầy đủ nội dung bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu hy vọng sẽ giúp các bạn học sinh học tập một cách dễ dàng hơn. Mơi các bạn học sinh và thầy cô tham khảo.

    Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

    1. Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu: Bài 1

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc. Năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc. Năm 1861, vào đêm 14 -12, nghĩa quân tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc trên đất Gia Định, gây tổn thất cho giặc, nhưng cuối cùng lại thất bại. Bài văn tế tuy được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, song chính là những tình cảm chân thực của Đồ Chiểu dành cho những người đã xả thân vì nghĩa lớn.

    Văn tế (ngày nay gọi là điếu văn) là thể văn thường dùng để đọc khi tế, cúng người chết, nó có hình thức tế – tưởng. Bài văn tế thường có các phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát về người chết); Thích thực (hồi tưởng công đức của người chết); Ai vãn (than tiếc người chết); Kết (nêu lên ý nghĩa và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết). Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có kết cấu đủ bốn phần như vậy.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ – người nông dân nghĩa sĩ chống giặc, cứu nước. Đó là những con người vốn hiền lành chất phác chỉ quen với chuyện “ruộng trâu ở trong làng bộ” nhưng khi đất nước đứng trước nạn ngoại xâm họ đã dám đứng lên chống lại kẻ thù mạn.

    2. Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu: Bài 2

    “Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc” là văn tế viết theo thể phú Đường Luật để tóm tắt cần đọc kĩ để hiểu nội dung. Đây là các ý tóm tắt nội dung của bài:

    – Kẻ thù vũ khí tối tân, hiện đại còn người dân chỉ có lòng yêu nước.

    – Mười năm vỡ ruộng ko ai biết đến một trận đánh tây tiếng vang như mõ.

    – Xa với việc binh đao nhưng khi giặc pháp chiếm trở thành người nghĩa sĩ.

    – Ban đầu lo sợ, căm ghét giặc nhưng chỉ biết chờ đợi triều đình.

    – Nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình đối với đất nước.

    – Anh dũng đứng dậy đấu tranh.

    – Nỗi tiếc thương vô hạn không chỉ của lòng người mà còn của cỏ cây hoa lá đối với người nghĩa sĩ.

    – Niềm cảm phục trước quan niệm cao đẹp “sống vinh còn hơn chết nhục”.

    – Ca ngợi khẳng định sự bất tử của người nghĩa sĩ trong lòng dân.

    3. Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 3

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: là bài văn tế những người nông dân nghĩa sĩ đã hi sinh. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú Đường luật gồm bốn phần: lung khởi, thích thực, ai vãn, kết.

    – Phần 1: Lung khởi (từ đầu đến tiếng vang như mõ): khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân. Đất nước bị xâm lăng trong cái dữ dội, ác liệt. Súng giặc đã rền khắp núi sông. Trước sự làm ngơ của triều đình nhà Nguyễn đã đặt người nông dân vào thử thách lịch sử, một khung cảnh bão táp của thời đại, vận nước là thước đo lòng người, những biến cố chính trị lớn lao. Người nghĩa sĩ không coi trọng chuyện được mất, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn.

    – Phần 2: Thích thực (từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ): kể về nguồn gốc, phẩm hạnh, công đức của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Họ là những người nông dân 100% mộc mạc, chất phác sau lũy tre làng nhưng suốt đời vẫn nghèo khó. Họ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, quen việc quốc, cày, bừa, cấy và hoàn toàn xa lạ với việc nhà binh: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ… Mặc dù khi vào trận đánh họ có nhiều thiếu thốn nhưng họ tự nguyện đứng lên kiên quyết xông pha vào mặt trận: “nào đợi ai đòi ai bắt”, “ra sức đoạn kình”, “ra tay bộ hổ” và giành được nhiều thắng lợi.

    – Phần 3: Ai vãn (từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ): Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ. Đó là tiếng khóc quặn lòng cho một thời đại bi thương: Già trẻ trai gái Trường Bình khóc,chùa Tông Thạnh khóc, cây cỏ khóc, sông Cần Giuộc khóc, tác giả khóc. Đó cũng là tiếng khóc thể hiện niềm tự hào.- Phần 4: Khốc tận (Kết) đoạn còn lại: Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. Tác giả đề cao quan niệm cao đẹp: Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân, họ ra trận không cần công danh, bổng lộc, gượng ép mà chỉ vì một điều rất đơn giản là lòng yêu nước, thương dân

    4. Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 4

    Tác phẩm là một bài văn tế, được viết để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc. Tác phẩm kể lại công chiến đấu, sự hi sinh anh dũng của những nghĩa sĩ và bày tỏ nỗi đau thương, mất mát, lòng kính trọng, biết ơn của người ở lại đối với người đã khuất.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu làm để đọc tại buổi truy điệu những anh hùng nghĩa sĩ nông dân đã hi sinh trong trận tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc vào năm 1861. Mặc dù diệt trừ được một số quan quân của giặc và bọn quan lại bán nước nhưng khoảng hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh quả cảm, để lại niềm xúc động lớn lao, khôn xiết trong lòng nhân dân. Chính vì lẽ đó, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu cũng phần nào thể hiện tiếng lòng xót xa của quần chúng nhân dân đối với những người lính áo vải trong trận quyết chiến ở Cần Giuộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Cực Hay, Ngắn (3 Mẫu).
  • Soạn Bài Tác Phẩm: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Phần 1 Và 2) Ngắn Nhất
  • Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Giáo Án Ngữ Văn 10
  • Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

    Hỡi ơi !

    Súng giặc đất rền,

    Lòng dân trời tỏ.

    Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao,

    Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

    Nhớ linh xưa

    Côi cút làm ăn,

    Riêng lo nghèo khổ,

    Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung

    Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

    Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;

    Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

    Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa.

    Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

    Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan;

    Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.

    Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu;

    Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

    Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình.

    Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

    Khá thương thay

    Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh;

    Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

    Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

    Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố.

    Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi,

    Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

    Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

    Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ

    Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.

    Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

    Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà, mả ái hồn kinh.

    Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

    Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ.

    Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

    Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mộ

    Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

    Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm.

    Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

    Nhưng nghĩ rằng

    Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta

    Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó?

    Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương?

    Vì ai xui hào lũy tan hoang, xiêu mưa ngà gió?

    Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn;

    Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

    Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh,

    Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

    Ôi thôi thôi

    Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

    Đồn Tây Dương một khắc đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

    Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều,

    Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.

    Ôi!

    Một trận khói tan,

    Nghìn năm tiết rỡ.

    Binh tướng nó hày đóng sông Bến Nghé, còn làm cho bốn phía mây đen.

    Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

    Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh cũng đều khen;

    Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ

    Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia

    Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành một chữ ấm đủ đền công đó.

    Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,thương vì hai chữ thiên dân.

    Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.

    Hỡi ơi!

    Có linh xin hưởng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Bài Thơ: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài: Văn Bản Văn Học
  • Bài Thơ: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Một số bài cùng từ khoá

    Một số bài cùng tác giả

    Đăng bởi Vanachi vào 27/07/2005 13:30, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 11/04/2020 23:47

    Hỡi ơi!

    Súng giặc đất rền;

    Lòng dân trời tỏ.

    Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

    Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

    Nhớ linh xưa:

    làm ăn;

    nghèo khó.

    Chưa quen cung ngựa, đâu tới ;

    Chỉ biết ruộng trâu, ở trong .

    Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

    Tập , tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

    Tiếng phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;

    Mùi đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

    Bữa thấy che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

    Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

    Một mối đồ sộ, há để ai ;

    Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ .

    Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức ;

    Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay .

    Khá thương thay:

    Vốn chẳng phải , theo ở lính ;

    Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân .

    Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

    Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

    Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo ;

    Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm .

    đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

    Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

    Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

    Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

    Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho hồn kinh;

    hè trước, ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

    Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

    Đâu biết vội bỏ.

    Một chắc sa trường rằng , nào hay ;

    Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi .

    Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

    Nhìn chợ , già trẻ hai hàng nhỏ.

    Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà đánh giặc cho cam tâm;

    Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà theo quân cho đáng số.

    Nhưng nghĩ rằng:

    Tấc đất ngọn rau ơn chúa, cho nước nhà ta;

    Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

    Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

    Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?

    Sống làm chi theo quân , quăng , xô , thấy lại thêm buồn;

    Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

    Thà thác mà đặng câu , về theo cũng vinh;

    Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với rất khổ.

    Ôi thôi thôi!

    năm canh đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

    một khắc đặng trả hờn, tủi trôi theo dòng nước đổ.

    Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

    Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế trước ngõ.

    Ôi!

    Một trận khói tan;

    Nghìn năm tiết rỡ.

    Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;

    Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường .

    Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

    Thác mà đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

    Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

    Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

    lau chẳng ráo, thương vì hai chữ ;

    Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu .

    Hỡi ơi!

    Có linh xin hưởng.

    Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)[

    1]

    Cao Tự Thanh

    (trích trong bài “Từ sách giáo khoa đến chuyện dạy văn”)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài: Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học
  • Văn Bản Ubnd Tỉnh Gia Lai
  • Tiêu Chuẩn, Định Mức Sử Dụng Tài Sản Công Và Những Vấn Đề Đặt Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Quyết Định Mua Sắm Tài Sản Nhằm Duy Trì Hoạt Động Thường Xuyên Của Đơn Vị Thuộc Bnn&ptnt
  • Hướng Dẫn Cách Thức Áp Dụng Mức Chỉ Định Thầu Mua Sắm Hàng Hóa ? Quy Trình Chỉ Định Thầu Rút Gọn ?
  • Tiêu Chuẩn, Định Mức, Thủ Tục Hành Chính
  • Về Việc Quy Định Danh Mục Tài Sản Tiếp Tục Thực Hiện Tạm Dừng Mua Sắm Theo Quyết Định Số 390/qđ
  • Quy Định Mới Về Đấu Thầu Mua Sắm Tài Sản
  • Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công là công cụ quan trọng, được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình quản lý tài sản công. Nguồn: internet

    Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2021 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hoàn thiện một bước hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả tài sản công.

    Đổi mới về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công

    Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (TSC) năm 2021 lần đầu tiên luật hóa các quy định về tiêu chuẩn, định mức (Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 chưa có quy định về tiêu chuẩn, định mức). Triển khai Luật Quản lý, sử dụng TSC, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ gồm: Tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp (Nghị định số 152/2017/NĐ-CP); tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô (Nghị định số 04/2019/NĐ-CP) và tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc thiết bị (Quyết định số 50/2017/QĐ-CP). Trong các văn bản trên có nhiều điểm mới quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, thuận tiện trong quản lý, sử dụng TSC. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng các loại TSC phổ biến (sử dụng cho từng các chức danh và sử dụng chung cho cơ quan, tổ chức, đơn vị); đối với TSC chuyên dùng phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao thẩm quyền cho các bộ, ngành, địa phương ban hành, hoặc phân cấp thẩm quyền ban hành.

    Những quy định mới về tiêu chuẩn, định mức đối với từng loại TSC như sau:

    Tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp

    Để phù hợp với Luật Quản lý, sử dụng TSC cũng như hệ thống pháp luật về cán bộ công chức, viên chức… và thực tế quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, Nghị định số 152/2017/NĐ-CP có một số nội dung mới như sau:

    Một là, quy định rõ tiêu chuẩn, định mức đối với 02 nhóm đối tượng: (i) Tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc đối với cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức; (ii) Tiêu chuẩn, định mức sử dụng cơ sở hoạt động sự nghiệp đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

    Ba là, bổ sung định mức các loại diện tích trong nhà làm việc, công trình sự nghiệp tính theo kích thước thông thủy. Tổng diện tích làm việc của các chức danh được xác định trên cơ sở biên chế, số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc theo định hướng biên chế, số lượng người làm việc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có) tại thời điểm xác định.

    Bốn là, về diện tích làm việc của chức danh: Điều chỉnh, bổ sung tiêu chuẩn, định mức của một số chức danh như: Điều chỉnh định mức đối với chức danh Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao…; bổ sung định mức với chức danh của Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương… Diện tích làm việc tối đa cho từng chức danh được quy định theo 04 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã).

    Năm là, về diện tích sử dụng chung: Theo quy định trước đây, tổng diện tích trụ sở làm việc ngoài phần diện tích làm việc của các chức danh còn có: (i) diện tích bộ phận công cộng và kỹ thuật (phòng khách, phòng họp, phòng tiếp dân, phòng tổng đài điện thoại, bộ phận thông tin…); (ii) Diện tích bộ phận phụ trợ và phục vụ (diện tích các sảnh chính, sảnh phụ và hành lang, thường trực bảo vệ…), không bao gồm diện tích cầu thang, diện tích nhà để xe, phòng hội nghị và phòng hội trường; được thực hiện theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quy định này còn có sự trùng lắp, dẫn đến còn nhiều cách hiểu khác nhau giữa “diện tích bộ phận công cộng và kỹ thuật”; “Diện tích bộ phận phụ trợ và phục vụ”…

    Vì vậy, Nghị định số 152/2017/NĐ-CP quy định diện tích sử dụng chung là diện tích sử dụng phục vụ hoạt động chung trong trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, bao gồm: Phòng họp (bao gồm hội trường dưới 100 chỗ ngồi); phòng khách; phòng thường trực, bảo vệ; phòng y tế…; nhà làm việc của đội xe và diện tích cần thiết khác không thuộc diện tích làm việc của các chức danh, diện tích chuyên dùng.

    Nghị định số 152/2017/NĐ-CP cũng quy định trong trường hợp cần bố trí diện tích sử dụng chung cao hơn thì: (i) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định đối với trường hợp có yêu cầu về diện tích tăng dưới 10% so với quy định; (ii) Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với trường hợp có yêu cầu về diện tích tăng từ 10% trở lên so với quy định theo đề nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh.

    Sáu là, về diện tích chuyên dùng: Diện tích chuyên dùng gồm: (i) Diện tích chuyên dùng trong diện tích nhà làm việc thuộc trụ sở làm việc và cơ sở hoạt động sự nghiệp; (ii) Diện tích công trình sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập…

    Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô

    Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11/01/2019 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô (thay thế Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg ngày 04/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ) có những nội dung mới cơ bản sau:

    Về phạm vi, đối tượng áp dụng: Bổ sung thêm doanh nghiệp thuộc cơ quan của Đảng;

    – Về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô: (i) Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô đối với chức danh có hệ số phụ cấp chức vụ từ 1,25 đến 1,3 và tương đương: Cơ bản giữ như quy định trước đây, các chức danh này được bố trí xe để đưa đón từ nơi ở đến cơ quan và đi công tác. Trường hợp các chức danh tự nguyện nhận khoán kinh phí sử dụng xe ô tô thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND cấp tỉnh, Hội đồng thành viên Tập đoàn kinh tế căn cứ tình hình thực tế của đơn vị mình, phương án nhận khoán và số lượng chức danh nhận khoán kinh phí, để xem xét, quyết định việc khoán kinh phí và số lượng xe ô tô trang bị, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả giữa việc bố trí xe ô tô phục vụ công tác với việc khoán kinh phí sử dụng xe ô tô. Trường hợp tất cả các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô các bộ, ngành, địa phương áp dụng khoán kinh phí sử dụng xe ô tô cho toàn bộ công đoạn thì không trang bị xe ô tô phục vụ chức danh.

    (ii) Đối với xe ô tô phục vụ công tác chung: Điều chỉnh giảm định mức sử dụng xe phục vụ công tác chung của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước; trừ các cơ quan, tổ chức, đơn vị đóng tại địa bàn miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

    (iii) Đối với xe ô tô chuyên dùng: Quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn, định mức sử xe ô tô chuyên dùng theo hướng quy định cụ thể về tiêu chuẩn nhận biết và quy trình ban hành để giảm thiểu sự trục lợi trong quá trình thực hiện.

    – Về quản lý xe ô tô phục vụ công tác chung: Điều chỉnh phương thức quản lý xe để sử dụng có hiệu quả số xe được trang bị; việc quản lý xe được thực hiện theo phương thức giao cho một cơ quan, đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp công ích quản lý xe tập trung để bố trí cho chức danh có đủ tiêu chuẩn khi đi công tác. Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có trụ sở không nằm chung với trụ sở các bộ, cơ quan trung ương, cơ quan UBND tỉnh thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng xe.

    – Về khoán kinh phí sử dụng xe ô tô và thuê dịch vụ xe ô tô: Nhân rộng mô hình khoán xe theo hướng quy định chế độ khoán bắt buộc đối với các chức danh ở các đơn vị dưới cấp Sở, cấp Cục (như các chi cục, trung tâm…); đồng thời, quy định phương thức khoán linh hoạt, thuận tiện và giao quyền cho các bộ, ngành, địa phương xem xét, quyết định đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế.

    – Về sắp xếp lại, xử lý xe ô tô: Các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước sau khi rà soát, sắp xe ô tô theo tiêu chuẩn, định mức mà phát sinh xe dôi dư thì thực hiện việc xử lý theo các hình thức về xử lý tài sản quy định tại Luật Quản lý, sử dụng TSC (khác so với trước đây là bộ, ngành, địa phương gửi kết quả về Bộ Tài chính để đối chiếu và cho ý kiến); đồng thời, các bộ, ngành, địa phương thường xuyên cập nhật số liệu xe ô tô vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước theo quy định.

    Tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị

    Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ngày 31/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị (thay thế Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ) cũng quy định một số nội dung mới như sau:

    Về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến: Chức danh áp dụng tiêu chuẩn, định mức: Bổ sung đối với các chức danh có hệ số lãnh đạo từ 0,2 đến 0,6.

    Về tiêu chuẩn, định mức: Điều chỉnh giá của một số máy móc, thiết bị để phù hợp với thực tế, cụ thể: máy vi tính để bàn và máy tính xách tay từ 13 triệu đồng lên 15 triệu đồng; máy in từ 7 triệu đồng lên 10 triệu đồng/máy…

    Về máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị: Máy móc, thiết bị sử dụng tại các phòng hoạt động chung (kế thừa quy định hiện hành tại Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg). Bổ sung nhóm máy móc thiết bị gắn với nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng và máy móc, thiết bị sử dụng chung khác phục vụ hoạt động chung của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Việc trang bị máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định.

    Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng chia thành 02 nhóm: (i) Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ công thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo; (ii) Máy móc, thiết bị chuyên dùng khác:

    – Đối với máy móc, thiết bị thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế và giáo dục. Trên cơ sở đó, các bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh (sau khi có ý kiến thống nhất của thường trực HĐND cùng cấp) ban hành hoặc phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý.

    Trường hợp Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa quy định chi tiết hướng dẫn theo quy định, các bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh trước khi ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phải có văn bản lấy ý kiến của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo…

    – Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng không thuộc lĩnh vực Y tế, Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh (sau khi có ý kiến thống nhất của thường trực HĐND cùng cấp) ban hành hoặc phân cấp thẩm quyền ban hành.

    Những vấn đề đặt ra

    Triển khai Luật Quản lý, sử dụng TSC, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC nhằm: (i) Tạo hành lang pháp lý quan trọng trong quản lý, sử dụng TSC; (ii) Làm căn cứ để lập kế hoạch và dự toán ngân sách; giao, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê tài sản, khoán kinh phí sử dụng TSC; quản lý, sử dụng và xử lý TSC tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; (iii) Góp phần sử dụng TSC và ngân sách nhà nước (NSNN) tiết kiệm, hiệu quả.

    Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công

    Để phát huy hiệu quả của công cụ tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC trong quản lý TSC và quản lý chi NSNN, cần sớm triển khai những nội dung sau:

    Một là, xác định các khoảng trống, các quy định pháp lý chưa phù hợp để tiếp tục hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC.

    Theo các Điều 24, 26 của Luật Quản lý, sử dụng TSC thì việc ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC được phân cấp cho rất nhiều cơ quan, người có thẩm quyền. Hiện tại, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC gồm: Tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp (Nghị định số 152/2017/NĐ-CP); tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô (Nghị định số 04/2019/NĐ-CP) và tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc thiết bị (Quyết định số 50/2017/QĐ-CP).

    Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị được phân cấp, đến nay còn cơ bản chưa được kiện toàn: (i) Các Thông tư do Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành quy định chi tiết về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục áp dụng cho phạm vi cả nước; (ii) Các quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương và cơ quan, người được phân cấp quy định tiêu chuẩn, định mức TSC chuyên dùng cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; (iii) Các quyết định của Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chuyên dùng áp dụng cho đơn vị mình.

    Luật Quản lý, sử dụng TSC mặc dù đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhưng đến nay còn nhiều văn bản quy định và hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC công tác xây dựng chưa được ban hành. Vì vậy, cần thực hiện việc đánh giá các văn bản quy định về tiêu chuẩn, định mức thi hành Luật Quản lý, sử dụng của các bộ quản lý chuyên ngành; các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư và các cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức. Bên cạnh đó, cần đánh giá tổng kết những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong việc ban hành các tiêu chuẩn, định mức cũng như tình hình áp dụng các quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC đã ban hành. Qua đó, đẩy nhanh tiến độ ban hành và hoàn thiện các văn bản quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC.

    Hai là, tăng cường sử dụng công cụ tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC trong quản lý chi NSNN.

    Ba là, tăng cường sử dụng công cụ tiêu chuẩn, định mức trong quản lý TSC.

    TSC tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi được hình thành phải được bố trí, sử dụng, khai thác và xử lý theo đúng quy định về tiêu chuẩn, định mức. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng tiêu chuẩn, định mức trong các khâu quản lý này hiện nay còn hạn chế, dẫn đến việc bố trí, sử dụng và xử lý TSC chưa đúng tiêu chuẩn, định mức và chế độ sử dụng.

    Bốn là, đánh giá tình hình thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát việc áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC và việc xử lý vi phạm trong chấp hành chế độ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC.

    1. Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008;
    2. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2021;
    3. Quyết định số 23/2012/QĐ-TTg ngày 31/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ;
    4. Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg ngày 04/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ;
    5. Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ;
    6. Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ngày 31/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ;
    7. Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11/01/2019 của Chính phủ;
    8. Nghị định số 152/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
  • Thẩm Định, Phê Duyệt Kế Hoạch Đấu Thầu Mua Sắm Tài Sản
  • Thẩm Quyền Thẩm Định Dự Toán Mua Sắm Thường Xuyên
  • Tăng Thẩm Quyền Quyết Định Mua Sắm Tài Sản Nhà Nước
  • Thẩm Quyền, Thủ Tục Quyết Định Mua Sắm Tài Sản Công Thực Hiện Thế Nào?