Tư Vấn Thành Lập Trung Tâm Giáo Dục Nghề Nghiệp

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Nghề Nghiệp Vẫn Phải Xin
  • Tự Chủ Tài Chính Tại Các Trường Cao Đẳng Công Lập Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Dự Thảo Nghị Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Nghị Định Xử Phạt Hành Chính Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Nghị Định Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Luật sư tư vấn thành lập: cơ sở giáo dục đại học có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp (sau đây gọi là cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp).

    – Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014.

    – Nghị định số 143/2016/NĐ-CP ngày 14/10/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

    – Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp.

    1. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp

    Điều 5. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp

    1. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm:

    a) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp;

    b) Trường trung cấp;

    c) Trường cao đẳng.

    2. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo các loại hình sau đây:

    a) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;

    b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;

    c) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.”

    2. Thẩm quyền quyết định thành lập

    Điều 3. Điều kiện thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp

    Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thành lập, cho phép thành lập khi có đề án thành lập và đáp ứng các điều kiện sau:

    1. Phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp Việt Nam. Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập khi thành lập phải hoạt động theo cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ quy định.

    2. (được bãi bỏ)

    3. Có địa điểm xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm diện tích đất sử dụng tối thiểu của trung tâm giáo dục nghề nghiệp là 1.000 m2; của trường trung cấp là 10.000 m2 đối với khu vực đô thị và 20.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị; của trường cao đẳng là 20.000 m2 đối với khu vực đô thị và 40.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị.

    4. Vốn đầu tư thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn hợp pháp, không bao gồm giá trị về đất đai, cụ thể như sau:

    a) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp tối thiểu là 05 (năm) tỷ đồng;

    b) Đối với trường trung cấp tối thiểu là 50 (năm mươi) tỷ đồng;

    c) Đối với trường cao đẳng tối thiểu là 100 (một trăm) tỷ đồng.

    5. Đáp ứng các điều kiện đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Điều 14 Nghị định này (dự kiến về cơ cấu tổ chức; cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; chương trình, giáo trình đào tạo; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý).

    Điều 9. Điều kiện cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Có đề án thành lập phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp Việt Nam.

    2. Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đối với các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư).

    3. Có địa điểm xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm diện tích đất sử dụng tối thiểu của trung tâm giáo dục nghề nghiệp là 1.000 m2; của trường trung cấp là 10.000 m2 đối với khu vực đô thị và 20.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị; của trường cao đẳng là 20.000 m2 đối với khu vực đô thị và 40.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị.

    4. Vốn đầu tư thành lập bằng nguồn vốn hợp pháp, không bao gồm giá trị về đất đai, cụ thể như sau:

    a) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp tối thiểu là 05 (năm) tỷ đồng;

    b) Đối với trường trung cấp tối thiểu là 50 (năm mươi) tỷ đồng;

    c) Đối với trường cao đẳng tối thiểu là 100 (một trăm) tỷ đồng.

    5. Chương trình đào tạo:

    a) Chương trình đào tạo dự kiến phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật giáo dục nghề nghiệp; không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam;

    b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức giảng dạy chương trình đào tạo của Việt Nam; chương trình đào tạo của nước ngoài trong khuôn khổ các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài theo quy định;

    c) Các môn học bắt buộc đối với người học là công dân Việt Nam theo học các chương trình đào tạo của nước ngoài trong các trường trung cấp, trường cao đẳng có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

    6. Có dự kiến cụ thể về cơ cấu tổ chức; cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; chương trình, giáo trình đào tạo; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý phù hợp với điều kiện đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 143/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và Nghị định này.”

    3.

    Điều 7. Thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp

    1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp công lập trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cho phép thành lập trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp tư thục trên địa bàn.

    2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội quyết định thành lập trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp công lập trực thuộc cơ quan, tổ chức mình.

    3. Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định thành lập trường cao đẳng công lập, cho phép thành lập trường cao đẳng tư thục.”

    Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp – Công ty luật Minh Khuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoan Thư Sức Dân Và Cách Xử Lý Của Bộ Học
  • Những Chính Sách Mới Về Giáo Dục Có Hiệu Lực Từ Tháng 11
  • Sẽ Có Nghị Định Mới Về Thanh Tra Giáo Dục
  • Nghị Định Mới Về Chính Sách Phát Triển Giáo Dục Mầm Non
  • Dự Thảo Nghị Định Quy Định Chính Sách Phát Triển Giáo Dục Mầm Non
  • Họ Và Chúng Ta 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
  • Đọc Truyện Luật Giang Hồ
  • Luật Giám Định Tư Pháp Và Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành
  • Một Số Thắc Mắc Về Vấn Đề Giám Định Pháp Y ?
  • Kết Quả Giám Định Pháp Y Như Vậy Có Đúng Không? Giám Định Lại Thì Hết Bao Nhiêu?
  • Họ và Chúng Ta

    Nguyễn Mạnh Quang

    bài trước bài sau

    PHẦN II

    NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA HỌ VÀ CHÚNG TA

    1.- Chúng ta là những người sống theo nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc với tinh thần thực tế, lúc nào cũng ghi tâm khắc cốt là phải sống theo lương tâm và hành xử theo lẽ phải sao cho đúng với đạo con người ở trên cõi đời này. Đó là nền đạo lý vị tha với những quy luật bất thành văn là phải có tinh thần hiếu hòa, thương yêu “mọi người như anh em trong một nhà.” (Tứ hải giai huynh đệ), phải thành thật với chính mình và thành thực với mọi người, ” biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” (Tri chi vi tri chi; bất tri vi bất tri.) Cho nên, đối với thế giới thần linh, thần thánh hay ma quỷ, chúng ta đều phải thành thực mà cho rằng ” chưa thờ được người, thờ thế nào được thần (vị năng sự nhân, an năng sự quỷ.) “Chưa biết được sự sống, biết thế nào được sự chết.” (Vị tri sinh, an chi tử); vậy thì chỉ nên “vụ lấy làm việc nghĩa của người, còn quỷ thần thi kính mà xa ra.” (Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi), phải hướng vào nội tâm để tu tâm dưỡng tính bằng cách tìm phương kế khơi động, nuôi dưỡng và phát triển cái thiện tính thiên bẩm của con người (nhân chi sơ, tính bản thiện), dồn nỗ lực vào những suy tư tốt và hành động tốt hầu có thể giúp ích mọi người và cho chính mình trở thành người tốt, được thân tâm an lạc. Có như vậy, chúng ta mới hy vọng làm giảm bớt được những tội ác trong xã hội loài người và mang lại phúc lợi cho chính mình và cho mọi người ở chúng quanh ta.

    2.- Chúng ta cho rằng ” nhân chi sơ, tính bản thiện ” và chỉ coi là có tội khi đương sự có những lời nói hay hành động làm tổn thương đến danh dự, tinh thần, tài sản hay sinh mạng của người khác.

    Trái lại, họ lại cho rằng con người mới sinh ra là đã có tội rồi. Người nào không được Nhà Thờ Vatican rửa tội là có tội và xấu xa. Cũng vì thế mà họ thường gọi những người khác tôn giáo với họ là tà giáo, là mọi rợ, là dã man và cần phải được khai hóa. Cái quan niệm khinh rẻ những nhóm dân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác tà giáo, là mọi rợ, là dã man rồi tự phong cho là có sứ mạng hay bổn phận phải đi khai hóa người ta là đầu mối khiến cho Nhà Thờ Vatican gây ra hàng rừng tội ác về việc sử dụng những thủ đọan lừa bịp người đời và bạo lực để cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác phải theo “cái tôn giáo ác ôn” của họ.

    3.- Chúng ta sống theo quy luật ” kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân ” (không cưỡng bách những người khác phải làm những điều mà chính mình nếu ở vào địa vị bị cưỡng bách như vậy cũng cảm thấy bất mãn va không muốn làm.)

    Trái lại, họ luôn luôn đòi hỏi hay cưỡng bách những người khác phải theo đạo (tôn giáo) của họ nếu có cơ hội. Đây là một trong những tư duy, thái độ va hành động xấc xược ngược ngạo của họ được thể hiện ra bằng hành động cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Ca-tô của họ.

    4.- Chúng ta coi Việt Nam là tổ quốc của chúng ta và sống theo quan niệm “tổ quốc trên hết”, “nước mất nhà tan” và “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.”

    Trái lại, họ coi Vatican là “tổ quốc” của họ, và sống theo quan niệm “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.”

    5.- Chúng ta tranh đấu cho quyền lợi tối thượng cúa tổ quốc cũng như cho sự sống còn của đất nước và sự trường tồn của dân tộc.

    Trái lại, họ tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của Vatican, cho sự sống còn và sự trường tồn của Giáo Hội La Mã. Việc ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, khi thấy rằng quyền lực đã được củng cố, ông ta liền cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 rồi mời vị đại diện của Tòa Thánh Vatican tại Sàigòn là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế để dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức là Vatican), việc ông ta cho tổ chức cuộc hành hương khổng lồ tới nhà thờ La Vang vào ngày 16/8/1961 có tới 200 ngàn giáo dân tham dự và tổ chức một đại lễ, rồi mời ông Giám Mục Ngô Đình Thục làm chủ tế để kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang

    Trái lại, quan niệm của họ về nhà lãnh đạo chính quyền hoàn toàn trái ngược với quan niệm của chúng ta. Lý do là vì Nhà Thờ Vatican dạy họ rằng: “mọi sự ở trên đời này đều do Chúa an bài c ả,” dù cho có gặp phải nhà cầm quyền tàn ngược đến mức nào đi nữa, thì cũng phải ráng mà chịu và chỉ có một cách duy nhất là cầu nguyện Chúa để cho Chúa lo liệu, chứ nhân dân không có quyền vùng lên làm cách mạng để khử diệt tên bạo chúa đó.. Sách Triết Lý Quốc Trị Đông Phương ghi rõ sự kiện này như sau:

    “…, một triết gia Âu Châu khác là thánh Aquinas (1225-1274) chủ trương rằng nhà vua được thượng đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân KHÔNG THỂ LÀM CÁCH âMẠNG giết vua để thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas,nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phấn chia. Sự cai trị độc ác của một lãnh tụ có thể phản ảnh ý định trừng phạt người dân của Thượng Đế; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể trục xuất vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn có một cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thượng Đế (tức là Nhà Thờ Vatican) không đáp lời để bắt buộc vị lãnh tụ quốc gia đó phải thoái vị hay từ chức, thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Đế (Nhà Thờ Vatican).”

    Đây là nguyên nhân TẠI SAO trong khi chúng ta nhiệt liệt hoan hô những việc làm của các vị tướng lãnh quân đội miền Nam đã anh dũng đứng lên lật đổ bạo quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa và khử diệt tên bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm vào chiều ngày 1/11/1963, thì họ lại xót thương, nhớ tiếc cái chế độ dã man này, xót thương tên bạo chúa đã bị sách sử ghi nhận là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Không những thế, họ còn lên án, sỉ vả, hạ nhục những vị tướng lãnh đã làm việc đại nghĩa cứu dân trong biến cố lịch sử này.

    10.- Chúng ta phân biệt đạo lý hoàn toàn khác hẳn với tôn giáo. Đạo lý được tôn vinh lên hàng vị thế cao nhất, đứng trên chính quyền, và chính quyền đứng trên tôn giáo. Chính quyền có nhiệm vụ phải kiểm soát, kiềm chế và nghiêm trị những kẻ mưu sinh bằng nghề cúng lễ với danh nghĩa là thày cúng hay là tu sĩ. Như vậy, xã hội chúng ta là xã hội thượng tôn đạo lý.

    Sở dĩ có được trật tự trên dưới như vậy là nhờ nền đạo lý của người dân Đông Phương nặng tính cách thực tế, lấy con người làm đối tượng phục vụ. Trong những luật lệ quản lý các phạm vi sinh họat đời sống con người, KHÔNG HỀ ĐỀ CẬP ĐẾN THẦN THÁNH . Sự kiện này được ghi lại rõ ràng trong sách sử với nguyên văn như sau:

    “Họ (Nho giáo) cũng không quan tâm đến thế giới thần linh hay siêu nhiên vì họ cho rằng những khó khăn của con người chỉ có thể do chính con người giải quyết được. Sống ở cõi trần gian này họ chỉ mong sao làm cho nơi đây trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sinh sống. Họ tích cực quan tâm đến công việc chính trị, kinh tế và quan trọng hơn cả là vấn đề đạo đức. Về siêu hình và tôn giáo, nếu cần, thì chỉ nên áp dụng trong phạm vi giới hạn của các công việc trần tục. Ý thức hệ của họ là lấy con người làm tụ điểm và mọi khả năng kiến thức là để phục vụ cho con người.” Nguyên văn: “They were not interested in the supernatural forces either because they believe that man’s problems could only be solved by man himself. They were in this world, and they wished to make it a better place to live. They dealt extensively in politics, economics, and most importantly, ethics. Their interest in metaphysics and religion was confined to applying them if possible to the more mundane, worldfly affairs. Theirs was a “man-centered” ideology to which all branches of knowledge must submit themselves.”)

    Nhà Thờ Vatican dạy rằng,

    Phải tuyệt đối tin tưởng vào các tín lý Ki-tô”, “Phải tuyên đối tuân hành những lời dạy của các đấng bề trên.”

    Rằng: “Giáo Hội La Mã đã được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chính thức của Giáo Hội. chỉ có thể là sai lầm. Mà Giáo có quyền và có bổn phận tiêu diêt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hoàn thành sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Lẽ dĩ nhiên, Giáo Hội chỉ tiêu diệt sự sai làm còn chính con người sai lầm thì vẫn được kính trọng (de homme foi), và những “võ khí” mà Giáo Hội dùng để tiêu diệt sự sai lầm đều là những “võ khí tinh thần” như Thánh Phao Lồ đã viết.”

    Như vậy, theo lời dạy của Nhà Thờ Vatican, họ (tín đồ Ca-tô) có bổn phận ” phải tiêu diệt những tôn giáo khác, “phải đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo.” Vấn đề này được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8 (Mục III, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chưong sách này đã được đưa lên chúng tôi từ tháng 2/2008.

    Chúing ta hãy để ý đến cụm từ ” mỗi khi hòan cảnh cho phép.” Ý chính của cụm từ này là khi Nhà Thờ Vatican có quyền lực trong tay hay ở thế thượng phong. Đây là những trường hợp khi họ đưa được tín đồ của Nhà Thờ lên cầm quyền ở một quốc gia nào. Khi đó, chính quyền và tất cả các tín đồ ngoan đạo của Nhà Thờ đều phải triệt để thi hành cái nhiệm vụ “tiêu diệt sự sai lầm” (những tôn giáo và nền văn hóa khác) bằng tất cả khả năng và bằng bất cứ giá nào. Vì thế mà mỗi khi một tín đồ Ca-tô ngoan đạo lên cầm quyền, thì nhân dân nước đó không thể tránh khỏi cái thảm họa “bị bách hại, bị tàn sát” vì bị cho là “sai lầm” (dị giáo).

    Tại Miền Nam, trong những năm 1954-1975, ông Ca-tô ngoan đạo Ngô Đình Diệm được Liên Minh Mỹ – Vatican đưa lên cầm quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô và sau đó lại đưa ông Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu lên cầm quyền thiết lập chế độ quân phiệt Ca-tô. Cái trật tự trên dưới tôn giáo – chính quyền được thể hiện ra qua khẩu hiệu ” Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống “. Các chính quyền này có bổn phận đối với Nhà Thờ Vatican là phải bách hại và tiêu diệt các tôn giáo khác. Thế nhưng, vì bị các quan thày người Mỹ canh chừng bằng cách khuyên can, răn đe và làm áp lực, không cho phép các chính quyền này quá trớn. Bằng chứng cho việc canh chừng này là các ông Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn như Donald Health (7/7/1954 – 8/11/1954), Lawrence J. Collins (8/11/1954 – 28/5/1955), Frederick Reinhardt (28/5/1955 – 1957), Elbridge Durbrow (1957 – 27/1/1961), Frederick Nolting (1/1961- 8/1963), ông Henri Cabot Lodge (22/8/1963 – 5/1964) và phái đoàn McNamara đến tận Dinh Gia Long vào ngày 29/9/1963 đều được lệnh của chính quyền Mỹ phải khuyên can và răn đe anh em Nhà Ngô không được quá trớn. Một trong những bằng chứng này được sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I-C: 1955-1963 ghi nhận như sau:

    3/6/1960: Sàigòn Durbrow nghĩ đến lúc phải “thêm răng cho lời thuyết phục.” Đề nghi được nói thẳng với Diệm về vấn đề tham nhũng, lộng hành của Cần Lao, không tận dụng tài lực vào việc chống Cộng, ngưng việc khiêu khích và thù hận với Miên. Nếu Diệm không thay đổi, sẽ tam ngưng gia tăng viện trợ (FRUS, 1958-1960, I:Tài liệu 150

    Thứ Ba, 4/6/1963: Sàigòn, 11G45: Trueheart XLTV Đại -sư Mỹ, gặp Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.

    Trueheart cảnh cáo là Mỹ có thể ngưng viện trợ cho Diệm nếu còn đàn áp Phật Giáo. Khác với NOLTING, Trueheart trở lại thái độ công khai áp lực Diệm mà DURBROW đã áp dụng. Thuần cho biết sau buổi họp hội đồng chính phủ, đã quyết định thành lập một Ủy Ban Liên Bộ, và Diệm chấp thuận. Nhu cũng sẽ tiếp xúc với các lãnh tụ Phật Giáo.”

    1.-“Cuối cùng, ngày 29/9/1963, Max cùng tôi đến Dinh Gia Long, Đường Công Lý, chỉ cách Tòa Đại Sứ có vài khu phố, để nói chuyện suốt ba (3) giờ liền, và buổi tiếp tân đó là buổi tiếp tân rất long trọng. Lodge và Harkins tháp tùng chúng tôi. Hôm ấy, không có Nhu tham dự. 2.- Rặc cung cách Tây và hút thuốc lá liên tục, ông Diệm dùng hai giờ rưỡi liền để nói thao thao bất tuyệt về những sáng suốt của chính sách do ông đề ra và những tiến triển của cuộc chiến, được khoa trương bằng những bằng chứng trên các bản đồ để chứng minh. Sự tự kết của ông ta không gây cho tôi nhiều chú ý. 3.- Khi ông nghỉ nói một lúc, tôi bắt đầu. Tôi bảo ông Diệm rằng Hoa Kỳ thật tâm muốn giúp miền Nam Việt Nam đánh bại Việt Cộng. Và tôi nhấn mạnh đến bản chất cuộc chiến là của người Việt Nam; Hoa Kỳ chỉ đến trợ giúp. Tôi đồng ý với ông (Diệm) rằng có tiến bộ về mặt quân sự, nhưng tôi cố tình và mạnh mẽ nhắc đến sự bất ổn chính trị của miền Nam Việt Nam, và rằng sự bất ổn cùng sự đàn áp đã gây ra nguy hại không nhỏ cho nỗ lực chiến tranh và sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ. Do đó, cần phải chấm dứt mọi sự đàn áp và tái lập sự ổn định chính trị. Ông Diệm thẳng thừng bác bỏ lời đề nghị của tôi. Ông nói những công kích của báo chí vào chính phủ và gia đình ông là do sự hiểu lầm về thực trạng của miền Nam Việt Nam. 4.- Mặc dầu tôi nhìn nhận báo giới có sai lầm, nhưng không thể phủ nhận sự khủng hoảng nghiệm trọng về niềm tin vào chính phủ miền Nam và vào chính phủ Hoa Kỳ. Ông ta lại phủ nhận5.-Tôi cũng ép ông ta về vụ Bà Nhu, rằng lời tuyên bố không hay và thiếu suy nghĩ của bà ta gây cho công chúng Hoa Kỳ phẫn nộ. Tôi liền rút trong túi ta một bài báo trích đăng lời tuyên bố của bà ta nói về các sĩ quan cấp thấp của Hoa Kỳ tại Việt Nam có “hành động như những tên lính cầu may.” Tôi cho ông Diệm biết nói vậy là lăng nhục quân lính Hoa Kỳ. . Ông ta cáo buộc sinh viên bị bắt trong các đợt ruồng bố gần đây là “thiếu trách nhiệm, thiếu rèn luyện và chưa chín chắn” Đáng kính thay! Ông ta còn nói ông ta chịu trách nhiệm về sự bất ổn. Về vụ Phật Giáo,(ông ta nói) làm như vậy là ông “quá nhân từ” với họ.

    6.- Lối ông nhìn và thái độ của ông ta lúc ấy cho thấy lần đầu tiên ông ta tỏ ra thông cảm với tôi, nhưng rồi, ông lại lên tiếng bênh vực cho bà Nhu. Tôi tiếp: “Như vậy chưa đủ.” Vấn đề này rất nghiêm trọng và phải được giải quyết trước khi cuộc chiến chấm dứt. Max nhắc lại ý kiến của tôi. Ông ta nhấn mạnh cho ông Diệm thấy sự cần thiết phải đáp ứng để xoa dịu nỗi bất bình mỗi lúc một gia tăng tại Hoa Kỳ trước những biến cố gần đây.”

    Đại Sứ Fredrick Nolting Jr báo cáo rằng Sàigòn dự kiến yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia (phe Tưởng Giới Thạch) gửi “một sư đoàn bộ binh” và muốn có “các đơn vị huấn luyện quân sự Mỹ.” (Embassador Frederick Nolting Jr reports that Saigòn is considering asking Nationalist China for “one pision of combat troops” and wants United States “comnbat-trainer units .”)

    Mùa xuân năm sau, vào tháng 3 năm 1963, tôi hỏi ông Robert Thompson xem ông có thấy nên rút bớt số cố vấn thì ông ta trả lời rằng nếu với tiến bộ như vậy và tình hình Việt Cộng bị đánh dẹp một vài nơi trong mùa hè này, thì có thể rút chừng một ngàn.

    Tổng kết các điều trên xong, tôi liên ra lệnh phát thảo một kế họach dài hạn, quy định các giai đọan rút các cố vấn Hoa Kỳ được trù tính theo dự đoán trong ba năm tới Việt Cộng sẽ hoàn toàn bị đè bẹp. Lúc ấy chúng tôi có khoảng 16 ngàn cố vấn tại Nam Việt Nam.

    Sự thật là như vây. Ấy thế mà bọn văn nô Ca-tô người Việt xuyên tạc và rêu rao rằng Mỹ làm áp lực với chính quyền Ngô Đình Diệm để đổ quân thêm vào miên Nam, nhưng bị ông Diệm chống lại. Vì thế Mỹ mới ra lệnh cho các tướng lãnh làm đảo chánh và giết ông Diệm. Đúng là miệng lưỡi Ca-tô, giống y hệt như miệng lưỡi Nhà Thờ Vatican! Không lươn lẹo và không ăn gian nói dối, thì không phải là Nhà Thờ Vatican và không phải là tín đồ ngoan đạo của của cái ” tôn giáo ác ôn ” này!

    Tử Bình nói: “Đây là một điều rất hay! Nếu cả ba tôn giáo này đều dạy cùng một thứ như cô vừa mới nói, thì cái cùng một thứ đó là cái gì? Có hay không có sự khác biệt nào không? Tại sao cô lại nói đạo Khổng rộng lớn hơn hai đạo kia?

    “Tử Bình nêu lên thắc mắc: “Về việc này, ông Hoàng mà tôi đã gặp, ông ta là người theo đạo Lão hay theo đạo Phật? Ông ta nói thì giống như một người theo đạo Lão, tuy nhiên, nhưng khi nói chuyện, ông ta lại thường hay viện dẫn những kinh nhà Phật.”Người thiếu nữ trả lời: “ông Hoàng không phải là tín đồ của đạo Lão và cũng không phải là tín đồ của đạo Phật. Ông ta ăn mặc theo cách ông ta thích. Ông ta thường nói rằng có ba tôn giáo lớn là đạo Khổng, đạo Phật và đạo Lão. Ba tôn giáo này giống như ba cửa tiệm bán cùng một thứ sản phẩm. Chỉ có một sự khác biệt giữa các tôn giáo này là đạo Khổng là một cửa tiệm rộng hơn hai cửa tiệm kia quá nhiều và có bán thêm một vài sản phẩm khác mà hai cửa tiệm kia không bán. Ông Hoàng cũng nói rằng trong ba tôn giáo này, tôn giáo nào cũng có hai bộ mặt: Một bộ mặt thật của riêng mỗi tôn giáo là những nghi lễ của nó, và bộ mặt khác của nó là những lời dạy căn bản. Những lời dạy căn bản thì cả ba tôn giáo này đều giống nhau dù là bề ngoài có vẻ khác nhau. Ông Hoàng tin cả ba tôn giáo này.

    Ngày nay có nhiều tôn giáo ở Tây Phương còn mê tín dị đoan hơn đạo Phật và đạo Lão rất nhiều. Không những hăm dọa người ta bằng những lời lẽ vô nghĩa như thiên đường và địa ngục, các tôn giáo này còn dạy dỗ tín đồ thù ghét những người thuộc các tôn giáo khác và kêu gọi tín đồ của họ tuyên chiến với những người mà họ gọi là tà giáo. Họ cho rằng họ càng giết được nhiều người hơn thì họ càng trở nên ngoan đạo hơn. Làm sao mà con người lại có thể hèn hạ đến như vậy! Về phần những người theo đạo Hồi, họ nói rằng máu của những người Hồi giáo hy sinh trong các cuộc chiến chống lại những người tà giáo đẹp như tử ngọc. Có lẽ họ nghĩ rằng tất cả mọi người ở trên trái đất này chỉ là một lũ điên rồ.” Người thiếu nữ nói tiếp: “Ý nghĩa đích thực của Khổng Giáo đã mất từ lâu. Các nhà Nho học đời Hán quá bận tâm với cú pháp trong kinh điển đến nỗi họ quên mất cả caí ý nghĩa đích thực của Kinh Điển. Trong thời nhà Đường, người ta không quan tâm đến cú pháp, mà cứ hiểu theo như Kinh Điển. Vì quá quan tâm đến việc thấu hiểu đạo Khổng, Hàn Dũ trở thành một anh mù chữ. Ông ta càng viết thì ông ta càng trở nên lộn xộn.”

    Người thiếu nữ trả lời: “Cho tới bây giờ, cả ba tôn giáo này đều dạy người đời phải làm người tốt và công bằng, cả ba tôn giáo này đều dạy như vậy cả. Nếu tất cả chúng ta đều công bằng và không ích kỷ thì sẽ có hoà bình ở trên trái đất này, bằng không thì hỗn loạn sẽ lan tràn trên khắp thế giới. So với tất cả các tôn giáo khác ở trên thế giới thì đạo Khổng là một tôn giáo vi tha nhất. Hãy nhìn vào Đức Khổng Tử. Suốt đời Ngài, có nhiều người chỉ trích về ý thức hệ tư tưởng của Ngài. Ấy thế mà Ngài vẫn ca ngợi họ vì rằng Ngài cho rằng chính những lời chỉ trích của họ đã soi sáng cho Ngài. Khổng Giáo rất đúng vì tôn giáo này không tin những điều mê tín dị đoan. Khổng Tử nói, chỉ trích những người khác là tự hại mình (hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu). Về phía những tín đồ đạo Phật và đạo Lão, họ mê tín và ích kỷ. Sợ rằng những người khác không theo tôn giáo của họ, họ sáng chế ra thiên đường và địa ngục để hù dọa người ta . Ông có thể nói rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện và cho rằng mục đích của việc sáng chế (bịa đặt) này là để lôi cuốn người đời làm điều thiện và vì thế mà chúng ta có thể gọi họ là những người vị tha, không ích kỷ. Tuy nhiên, nếu họ vượt qua giới hạn đó (mà họ đã làm) và rao truyền rằng nếu ai theo đạo của họ thì tất cả tội ác của người đó sẽ được tẩy rửa hết sạch, và nếu không chịu theo đạo của họ thì người đó sẽ bị đày xuống địa ngục đời đời; như vậy thì họ trở thành ích kỷ và mê tín.

    (“As for this, Mr. Huang whom I have just met,” Said Tzu P’ing, “is he a Taoist or a Buddhist? He talk like a Taoist, and yet he quotes Buddhist sciptures.” Mr. Huang is neither a Taoist nor a Buddhist,” replied the girl. “He dresses the way as he pleases. He often says that the three major religions, Confucianism, Buddhism, and Taoism, are like three separate stores selling the same products, and the only difference between them is that Confucianism, being a much larger store, sells some products which the other two stores do not sell. He also says that every religion has two facets, the ritualistic and the real, and that the basic teachings of the three religions are the same, even though they look different in appearance. Mr. Huang believes in all three of them.”

    “This is very interesting,” said Tzu P’ing. “If the three religions teach the same thing as you have just stated, what is this “same thing”? Is or is there not any difference them? Why did you say Confucianism is more broadly based than either of the other two religions?”

    “Insofar as all of these three religions teach people to be good and just, they are the same.” The girl replied. “If all of us are just and selfless, there will be peace on earth, otherwise chaos will rule the world. Of all religions in the world, Confucianism is the most selfless. Look at Confucius. Throughout his life there were many people who criticized him on ideological grounds. Yet he praised them highly because, as a result of their criticisms, they, Confucius believed, had enlightened him. Confucianism is great pcisely because it does not believe in religious bigotry. To attack others who do not agree with you is to bring harm to yourself”, says Confucius. The Buddhists or Taoists, on the other hand, are bigoted and selfish. Fearful that other people will not follow their religion, they invented such things as paradise and hell to intimidate them. You might say that the end justifies the means: since the purpose of their invention is to induce people to be good, they can be still regarded as selfless. However, when they go beyond this point (as they do) and announce to the world that a person will be automatically cleansed of his sins when converted to their faith, or that he will be forever condemned and will inevitably go to hell if he refuses conversion, they become bigoted and selfish.

    Nowadays there are the Western religions that have gone further in bigotry than Buddhism and Taoism. They not only intimidate people with such nonsense as heaven and hell; they also teach their followers to hate people of other religions and urge them to declare war on what they call pegans. The more they kill, the more they become religious. How low a man can sink! As for the Muslims, they says that the blood shed by the faithful in waging holy wars against the infidels is as beautiful as purple jewel. They probably think that all people in the world are simply fools.”

    The true meaning of Confucianism has been lost for a long time,” the girl continued. “The Han scholars were so occupied with the syntax of the Classics” that they forgot the true meaning of the Classics. During the Tang dynasty people did not even care for the syntax, let alone of the Classics. As far as understanding Confucianism was concerned, Han Yu was really a illiterate. The more he wrote, the more confused he became.”

    Chính vì lẽ này mà xã hội Âu Châu và các vùng Trung Đông đã xẩy ra chiến tranh vì tôn giáo triền miền từ đầu Thời Trung Cổ cho đến ngày nay mà vẫn còn chưa chấm dứt. Hiện nay, những điểm nóng gần như lúc nào cũng có chiến tranh giữa Ki-tô Giáo và các hệ phái Thiên Chíua Giáo khác. Ở Ái Nhĩ Lan, tình hình lúc nào cũng căng thẳng giừa Ki-tô giáo Vatican và Ki-tô Giáo Tin Lành, nếu không có chiến tranh nóng thì cũng vẫn có chiến tranh lạnh. Hiện nay, tình trạng vẫn còn như vậy, hai phe vẫn còn luôn luôn coi nhau như kể thù bất cộng đái thiên mặc dù họ cùng thờ cả ông Chúa Bố Jehovah lẫn ông Chúa Con Jesus; điểm đặc biệt là khi xuất quân hay khi lâm trận, họ cùng cầu một câu: ” Chúa ở cùng chúng con. ” Chúng ta không hai bố con Chúa Jehovah và Jesus sẽ ở bên nào, giúp bên nào, và chống lại bên nào? Nhiều nơi khác như ở Croatia, Serbia, và Palestine cũng đều là những điểm nóng và lúc nào cũng có thể bùng nổ thành chiến tranh giữa các hệ phái Thiên Chúa Giáo cùng thờ ông Chúa Bố Jehovah, dù rằng người Hồi Giáo gọi ông chúa này là Allah.

    Tại Pháp:Ngày 22-8-1572 (Nhiều sách khác ghi là ngày /8./1572 chứ không phải là ngày /8/1572.) bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tin Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô Đốc Coligny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín như vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng.” Nguyên văn: (“On August 22, 1572, the bloody St. Bartholomew massacre began. This was to be one fatal blow to destroy the Prostestant movement in France. The King of France had cleverly arranged a marriage between his sister and Admiral Coligny, the chief Protestant leader. There was a great feast with much celebrating. After four days of feasting the soldiers were given a signal. At twelve o’clock midnight, all the houses of the Protestants in the city were forced open at once. The admiral was killed, his body thrown out of a window into the street where his head was cut off and sent to the pope. They also cut off his arms and privates and dragged him through the streets for three days until they finally hung his body by the heels outside the city. They also slaughtered many other well kown Protestants. In the first three days, over ten thousands were killed. The bodies were thrown into the river and blood ran through the streets into the river until it appeared like a stream of blood. So furious was their hellish rage that they even slew their own followers if they suspected that they were not very strong in their belief in the pope. From Paris, the destruction spad to all parts of the country. Over eight thousand more people were killed. Very few Pretestants escaped the fury of their persecutors.”) Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong một chương sách có tựa đề là Những Hành Động Dã Man Của Quân Lính Liên Hiệp Pháp Và Lính Đạo Việt Nam (Mục XV, Phần V) trong bộ sách Lịch sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.)

    Tai miền Nam Việt Nam: Chính quyền đạo phệt Ca-tô Ngô Đình Diệm tra tấc các TỌi Ác tra tấn các tù nhân chính tri một cách cực kỳ man rợ. Sự kiện này được sách War Crimes In Vietnam (New YorK: M R Press, 1967) của tác giả Bertrand Russell ghi lại một số những trường hợp hết sức kinh khủng và được tác giả Tường Minh Chu Văn Trình tham khảo sách và ghi lại trong cuốn Hội Chứng Việt Nam như sau:

    Nạn nhân Nguyễn Thị Thơ kể lại:

    Tôi là một phụ nữ trú quán tại tỉnh Thủ Đầu Một, ở phía Bắc Sàigòn, gần rừng cao su Đông Nam Việt Nam. Nay tôi 40 tuổi, làm nghề nông, chống tội bị chết, tôi sống với mẹ và một con trai 14 tuổi. Tôi xin kể một vài kinh nghiệm bản thân dưới chế độ Ngô Đình Diệm:

    “Tôi bị bắt trên một xe búyt trong khi đang nói chuyện với những người trên xe.

    1.- Chiến Dịch Tố Cộng:

    Khi tôi bị tống vào nhà giam, tôi thấy nơi đó chật ních người bị giam. Chúng bắt khoảng 700 người, các hội viên của các nhóm và các tổ chức xã hội, các tổ chức phụ nữ, nhiều người bị bắt vì phát động các cuộc nói chuyện. những người khác thì đang dạy dân chúng cách đọc và viết chữ. Họ là những nhà giáo và trí thức.

    Năm 1956, người dân miền Nam bị bắt giữ dưới mũi súng. Chính quyền Sàigòn (Ngô Đình Diệm) mở chiến dịch Trương Tấn Bửu hay chiến dịch càn quét (mopping up operation). Các trung đoàn binh lính chống phá nhân dân. Cuộc bầu cử (thống nhất hai miền) không thực hiện.

    Chủ nghĩa khủng bố chống lại nhân dân được tiến hành khắp nơi. Bất cứ ai từng là cựu kháng chiến đều bị săn lùng khắp nơi. (Anyone who had been in the former resistance was hunted). Kể cả những ai nói về bầu cử cũng bị bắt. Nhân dân cố gắng tìm gặp Ủy Hội Kiểm Sóat Quốc Tế để nói cho họ biết sự vi phạm điều 14c Hiệp Định Genève và điều 7 Bản Tuyên Bố Cuối Cùng đều bị bắt giam. Mười nghìn (10,000) người bị bắt giam (dịp 20/7/1956). Không đủ phòng cho tù nhân ngồi hay nằm, họ phải đứng suốt ngày đêm. Bắt đầu chiến dịch Tố Cộng, những người vợ có chồng tập kết ra Bắc theo Hiệp Định Genève phải ly dị với chồng. Có người bị giam tới 6 năm không xét xử. Tôi bị giam nhiều năm không xét xử.

    Đôi khi báo chí loan tin thả một người như bà Nguyễn Thị Tư, người ta tưởng bà ấy được thả ra sau những năm tù, bởi vì không có tội gì. Nhưng sự thật, bà ấy không bao giờ được thả, mà bị đày tới một nhà tù mới tại Côn Đảo.

    Khi tôi hồi tỉnh, chúng lại đánh tiếp. Khi chúng cởi trói, hạ tôi xuống sàn nhà, tôi đứng không nổi. Chúng lột hết quần áo và trói chặt tôi vào một cái bàn. Chúng bịt miệng và mũi tôi bằng một tấm vải mỏng. Chúng dùng ông nước bằng cao su bơm nước vào mồm và mũi tôi. Tôi bị ngộp thở và bụng đầy nước, dạ dầy trương phồng lên. Lúc đầu, chúng chỉ dùng nước, sau chúng trộn nước lạnh với nước mắm và nước sà bông. Trận tra tấn (kiểu đi tầu ngầm) này kéo dài 40 phút. Rồi tôi cảm thấy tất cả tối sập. Tôi bị ngất. Chúng ép bụng tôi và lắc mạnh đầu làm cho nước trong bụng ộc ra tại mồm và mũi. Tôi hồi tỉnh.

    Tôi đáp: “Chúng mày là lũ man rợ ghê tởm. Chúng tao không bao giờ mất nhân phẩm.” (You, who are odious and barbarous, are of such character. We will never lose our dignity.) (tr. 170). Sau những trận tra tấn vô tận, tôi bị tống giam vào đề lao Gia Định, một trung tậm tạm giam chật ních tù chính trị chờ gửi đi nơi khác. Đế lao Gia Định rất nóng. Mỗi tối có 20 người hay hơn bị ngất xỉu vì thiếu dưỡng khí. Sau một tháng sống trong điều kiện này, mọi người đều bị nổi mụn nhọt, da bịp giộp và sưng. (Afetr one month in these conditions, everyone had rashes, pimples, blisters and swelling.) (Tr. 170). Suốt tháng đầu tiên ở đề lao Gia Định, tôi thấy 7 người đàn ông bị chết ngộp. Tôi không thể hiểu bằng cách nào mà những người phụ nữa sống sót ở đây lại chịu đựng nổi những điều kiện như thế. Thực phẩm hàng ngày rất ít, mỗi người chỉ được một chén cơm nhỏ, gạo trộn với trấu (the rice was mixed with pady husks), không có rau hay nước chấm. Tôi ở đây 7 tuần. Sau đó, chúng tội bị đày ra Côn Đảo. (tr. 170). Chế độ nhà tù ở Côn Đảo có mục đích giết hại tù nhân bằng hành hạ và lao động cực nhọc. Tôi chứng kiến tù nhân chết mỗi ngày. Mỗi tù nhân hàng ngày phải vào rừng chặt cây làm củi mang về nhà giam một thước khối củi. Ai không thực hiện đủ số củi ấn định sẽ bị đánh đòn và bị biệt giam vào xà lim. Hầu hết tù nhân tại Côn Đảo đều bị bệnh kiết, viêm ruột (dysentery) và giun, sán (worms). Tôi bị giam một năm ở Côn Đảo, trong đó có 10 tháng bị biệt giam cùng với 4 người trong một xà lim (cell) diện tích rộng 3ft, dài 6ft, tường dày 15 in, trần nhà bê tông. Nhờ có phong trào phản đối giam chính trị phạm nữ ở Côn Đảo, nên một năm sau, tôi được chuyển vào đất liền. Cuộc chống đối này, có hơn 100 tù chính trị bị bọn cai ngục sát hại. Tên tỉnh trưởng Côn Đảo Bạch Văn Bốn vỗ tay cười nhìn xác tù bị giết. Sau 10 tháng bị biệt giam, tôi chỉ còn là một bộ xương (after ten months of detention, I was reduced to a skeleton.)

    Tôi bị bắt cùng với một người đàn ông. Tôi bị giam chung với anh ta trong một tháng. Vào một buổi tối, chúng tôi được di chuyển đến một căn phòng nhỏ. Đến 2 giờ sáng, chúng ở bên ngoài nghe tiếng chúng tôi. Chúng muốn chúng tôi giao cấu. Chúng muốn làm nhục chúng tôi. Cuối cùng, chúng phân cách chúng tôi và nói: “Bọn mày biết chúng tao muốn chúng mày làm gì không?”

    Tại Rwanda: Chỉ trong vòng có 100 ngày vào giữa năm 1994, họ tàn sát tới hơn 800 ngàn người trên tổng số dân trên tòan quốc chỉ có 8,196,000 (vào năm 1995).

    13.- Chúng ta cho rằng những người tốt là những người vô tư, không ích kỷ, không vị lợi, không vơ vào, không lấn lướt những người khác, sẵn sàng giúp đỡ những người khác khi người ta cần được giúp đỡ, và những người xấu là những người có những ác tính như gian giảo, xảo quyệt, thiên vị, ích kỷ, gian tham, hám lợi, háo danh, háo sát, hung dữ, thèm khát quyền lực, lố bịch, trịch thượng, xấc xược, ngược ngạo, bốc hốt, vơ vào, lấn lướt những người khác, băng xăng, xun xoe, bợ đỡ những người quyền thế hay có địa vị cao, khinh khi, làm oai, làm phách, hách dịch và bắt nạt những người lép vế thế cô.

    Trái lại, họ cho rằng tất cả những gì không thuộc về hay không phải là của Giáo Hội La Mã đều là tội ác, đều là xấu xa, đều là man di, đều là mọi rợ, và cho rằng, tất cả những gì thuộc về hay của Giáo Hội La Mã đều tốt đẹp, đều thánh thiện mà trong thực tế Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội đều mang những ác tính tham tàn, bạo ngược, xãc xược, lấn lướt, vơ vào, hung dữ, háo sát, khát máu, v.v… Chính vì những ác tính này mà Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua đã gây ra hàng chục rặng núi tội ác chống lại nhân loại.

    Trái lại, ở hải ngoại, vừa mới bắt đầu nói là giúp đỡ Cô Tim, thì họ liền tấn công, ngăn cản, đặt điều kiện, đòi hỏi cô phải đứng chào lá cờ ” ba que tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi của họ.” Không được, họ liền biến cô thành kẻ “có tội”! Xin xem nơi link này.

    15.- Chúng ta tôn trọng quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của những người khác đúng như lời dạy của Nho Giáo ” kỷ sử bất dục vật thi ư nhân.”

    Trái lại, họ không bao giờ tôn trọng quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của những người khác vì rằng:

    Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi….]

    17.- Chúng ta hiểu rằng ” Việt gian” là ” người Việt Nam phản đất nước ” (Lê Văn Đức, Việt Nam Tư Điển, Quyển Hạ, tr.1777), và phản đất nước hay phản bội tổ quốc là đi làm những công việc đưa đường dẫn lối, chỉ điểm hay làm việc trong chính quyền của quân xâm lăng cướp nước thống trị dân ta. Theo nghĩa này, thì Ngô Đình Diệm là một tên Việt gian và thuộc về một gia đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ.

    18.- Chúng ta cho rằng Vatican mang tội chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam qua những hành động cấu kết với Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến tháng 3 năm 1945 và trong việc đem quân sang tái chiếm Đông Dương và gây nên cuộc chiến 1945-1954. Sau đó, Vatican lại cấu kết với Mỹ trong việc vi phạm điều khỏan tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào năm 1956. Điều khỏan này đã được quy định trong Hiệp Định Genève 1954. Vì thế mà nhân dân Việt Nam lại phải lao vào cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican để đòi lại miền Nam cho dân tộc và hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước cho tổ quốc. Đây là một món nợ mà Nhà Thờ Vatican còn chưa tạ tội và bồi thường cho dân tọc Việt Nam ta.i

    Trái lại, họ cho rằng Vatican là nước tổ của họ. Vì thế, đối với họ, việc Vatican cấu kết với Pháp đánh chiếm Việt Nam chỉ là việc bình thường trong sứ mạng khai hóa văn minh đúng như lời Vatican đã dạy dỗ họ rằng: ” Chính sách thực dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước mà nền văn minh còn thô sơ.”

    Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng cá nhân hay thế lực nào càng chú ý đến cái vẻ hào nháng bề ngoài để lòe bịp hay đánh lừa người đời, thì cá nhân hay thế lực đó càng có nhiều chủ tâm đi vào con đường tội ác. Câu nói, ” Tốt mã rẻ cùi ” nói lên tình trạng này và áp dụng cho Giáo Hội La Mã quả thật là vô cùng thích hợp. Đúng như vậy, lịch sử đã cho thấy rằng, hầu hết các ông tu sĩ của Vatican, từ Giáo Hoàng cho các ông linh mục bạch đinh, đều là những tên đại bịp, ăn gian nói dối, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lưu manh, xảo trá, tham tàn và bạo ngược, v.v… Đây là sự thật mà bất kỳ người dân hay dân tộc nào đã có kinh nghiệm máu với Vatican đều nhìn nhận như vậy. Hơn dân tộc nào hết, dân tộc Ý là một dân tộc có quá nhiều kinh nghiệm với giới tu sĩ của Nhà Thờ Vatican và với Tòa Thánh Vatican. Cũng vì thế mà vị đại anh hùng Giuseppe Garibaldi (1807-1882) của quốc gia này đã lớn tiếng nói với nhân dân Ý và nhân dân thế giới rằng:

    a.- “Linh muc là hiện thân của sự gian trá“. (The priest is the personification of falsehood), b.- ” Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy). c.-, “Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do.” (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.”

    Vì bổn phận của mỗi người ở trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội hay trong cộng đồng quốc gia đã được phân định rõ ràng như vậy, cho con người trong xã hội chúng ta là con người tự do, tự do hành sử theo lương tâm, theo lẽ phải, theo công đạo và có quyền đòi hỏi mọi người dù ở vị thế nào (vua quan hay cha mẹ) cũng phải hành xử đúng theo các trách nhiệm đã được phân định. Nếu một người nào đó không làm tròn trách nhiệm của mình đối với người khác, thì chính họ đã tự làm mất đí cái quyền đòi hỏi kẻ khác phải làm tròn trách nhiệm đối với họ.

    Nói tóm lại, trong xã hội chúng ta, mọi sự ở trên cõi đời này đều do con người xếp đặt, lo liệu và giải quyết với nhau, chứ không phải do một thế lực siêu nhiên hay đấng thần linh nào xếp đặt, lo liệu và giải quyết. Vì lẽ này, chúng ta chẳng bao giờ hướng về một đấng thần linh mơ hồ trong cõi xa xăm để trông cậy, cầu xin và lạy lục để cứu giúp hay ban phước lành, phép lạ để cho họ được hưởng thụ những đặc quyền đặc lợi hay được quyền đè đầu cỡi cổ những người khác hầu có thể sống phủ phê thỏa mãn những duc vọng bất chính, bất nhân và bất nghĩa. Cũng vì thế mà chúng ta nhìn những người làm cái nghề trung gian giữa con người và thế giới thần linh chỉ là bọn lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh tôn giáo để lừa bịp người người đời, những người bất lương, giống như người Pháp khinh rẻ chúng và gọi chúng là “lũ quạ đen” (les corbeaux noirs) và sẵn sàng thẳng tay nghiêm trị khi thấy chúng trổ mòi như trường hợp ông Tây Môn Báo đã làm trong chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá.

    Trái lại, xã hội Ki-tô của họ lấy ông Chúa bố Jehovah, Chúa Con Jesus làm đối tượng thờ phượng và phục vụ. Vì thế mà họ luôn luôn nói đến cụm từ “phục vụ Chúa”. Họ cho rằng:

    1.- Trái đất này là do ông bố Chúa tạo dựng nên và là của riêng nhà Chúa.

    2.- Loài người là do Chúa sinh ra theo hình ảnh của Chúa và tất cả đều do Chúa xếp đặt và lo liệu.

    3.- Con người chỉ có nghĩa vụ tuân theo ý Chúa, phục vụ Chúa và thờ phượng Chúa.

    Họ lại cho rằng Chúa ở mãi tận thiên đường xa lắc xa lơ vài phải lo cả trăm công ngàn chuyện, cho nên, không thể quán xuyến được mọi việc ở trên thế gian này. Vì vậy, Chúa phải lập ra Giáo Hội La Mã. Họ nói rằng Chúa mặc khải cho họ biết là Giáo Hội có danh xưng là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”. Giáo Hội hay Hội Thánh là đại diện duy nhất của Chúa ở trên cõi trần gian này. Ngoài Giáo Hội, không có cá nhân hay tập thể hoặc một thế lực nào tự xưng hay nói là đại diện cho Chúa, nếu có, thì đó chỉ là tiếm danh hay ngụy tạo, và đều phải coi là tà giáo, tà đạo, chống Chúa, là quỷ Satan, v.v…

    Họ nói như vậy đó. Quả thất là siêu lưu manh!

    Tự phong là đai diện duy nhất của Chúa ở trên trái đất này, Giáo Hội có quyền đặt ra thể chế chính trị và tổ chức bộ máy cại trị để quản lý con người ở trên trái đất và đặt ra tất cả những tín lý, những giáo luật, những tập tục và ban hành những thánh lệnh, những tuyên huấn, những lời dạy để cho con người ở thế gian này theo đó mà hành xử.

    Đã có nhiều người thắc mắc:

    Dựa vào đâu mà bảo rằng Chúa lập ra Giáo Hội?

    Dựa vào đầu mà Giáo Hội nói rằng Giáo Hội được Chúa công nhận là đại diện duy nhất của Chúa ở trên cõi trần gian này?

    Dựa vào đâu và tiêu chuẩn nào mà Giáo Hội đặt ra những tín lý, những giáo luật, những tập tục và ban hành những thánh lệnh, những tuyên huấn, những lời dạy để con người ở thế gian này theo đó mà hành xử?

    Tất cả đều được Giáo Hội trả lời rằng các nhà thần học của Giáo Hội đã được mặc khải. (Chúa trực tiếp nói với họ.)

    Lại có người thắc mắc: Tại sao Chúa chỉ mặc khải với Giáo Hội mà không mặc khải với những người khác, thì được trả lời rằng Chúa chỉ tin có Giáo Hội mới xứng đáng được Chúa mặc khải, còn những người cá nhân hay tập thể khác không có đủ tư cách cho Chúa tin tưởng để mặc khải.

    Giáo Hội La Mã được mặc khải là phải thiết bộ máy cai trị theo chế độ tăng lữ quân chủ toàn (sacerdotal monarchy) hay còn gọi là chế độ giáo hoàng (papacy) với tất cả những gì cực kỳ chuyên chính, cực kỳ phong kiến, cực kỳ phản tiến hóa và cực kỳ phản nhân quyền.

    Giáo Hội lại được Chúa mặc khải cho biết là tất cả mọi người ở trên trái đất này đều phải làm nô lệ cho Giáo Hội mà Giáo Hội gọi là ” con cái hèn mọn của nhà Chúa “. Cũng vì thế mà Giáo thường bịa ra chuyện được Chúa “mặc khải” để ban hành những thánh lệnh (cũng gọi là sắc chỉ) ăn cướp trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Ý chính của sắc chỉ này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh tóm lược và đã được ghi lại nời điều 12 ở trên.

    Tất cả những người có lý trí và còn biết sử dụng lý trí đều cho rằng không làm gì có chuyện Chúa mặc khải cho Giáo Hội những điều như đã nói ở trên. Tất cả những tín lý Ki-tô và tất cả những gì Giáo Hội nói hoặc rao truyền đều là bịp bợm và lừa gạt người đời, và tất cả những người chẳng may bị lọt vào vòng kèm tỏa của Giáo Hội đều là những tên nô lệ cho Giáo Hội và được Giáo Hội phỉnh gạt là “con Chúa”, nhưng Giáo Hội cũng không giấu giếm, nói trắng ra rằng là “tôi tớ hèn mọn” của Giáo Hội và gọi họ là “con chiên” tức là một lũ súc sinh ngu như con cừu.

    Chúng ta nên minh định cho rõ trong xã hội Ki-tô, ai là nô lệ? Ai là chủ nô? Ai là người lừa bịp và phỉnh gạt? và Ai là những người bị lừa bịp và bị phỉnh gạt?

    Rõ ràng là Giáo Hội cùng với giai cấp tu sĩ là bọn chủ nô và là những tay tổ đại bịp, giáo dân là những bầy nô lệ và cũng là những nạn nhân bị lừa bịp và bị phỉnh gạt.

    Do đó, chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy rằng:

    1.- Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi (1807-1882) tuyên bố:

    a.- ” Linh muc là hiện thân của sự gian trá”. (The priest is the personification of falsehood).

    b.- ” Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.)

    c.- ” Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do”. (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.)

    3.- Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) tuyên bố:

    Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do.” (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.)

    Cũng trong sách này, trong tiểu mục Huyền Thoại Vườn Địa Đàng, ông viết:

    Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát xuất từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.”

    Tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tở nhất mà một số người dám đòi hỏi một các ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi…”

    Nhà thờ Vatican và chính bản thân họ có những hành động ngang ngược phản nhân quyền, phản tiến hóa và phản dân chủ như vậy. Ấy thế mà họ vẫn ra rả rêu rao là tranh đấu cho nhân quyền, cho tư do dân chủ và tự do tôn giáo cho Việt Nam. Họ nói không biết ngượng. Đúng là: ” Loài giòi bọ trong đống rác thối tha lại chê bướm tiên trong vườn thượng uyển.

    Vì thế, chúng ta hãy đề cao cảnh giác mà nhớ rằng, ” Đừng nghe những gì Nhà Thờ Vatican và tín đồ Ca-tô người Việt nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.”

    26.- Chúng ta cho rằng chính sách của Nhà Thờ Vatican là cấu kết Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam trong những năm 1858-1945, việc đem quân sang tái chiếm Đông Dương vào mùa thu năm 1945 gây nên cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) 1945-1954, cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ để cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam để biến thành tiền đồn Chống Cộng và biến thành một quốc gia riêng biệt theo đạo Ki-tô. Chúng ta khẳng định như vậy là dựa vào các tài liệu lịch sử như:

    a.- Các thánh lệnh hay sắc chỉ do chính Vatican ban hành trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 như đã trích dẫn nơi điều 12 ở trên.

    b.- Bản văn sử do người trong chăn Nhà Thờ Vatican là cựu giáo sĩ Avro Manhattan ghi trong sách Vietnam Why Did We Go? với nguyên văn như sau:

    Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang lên.

    ( The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

    Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military psence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War.”)

    Trong Giáo Hội Công Giáo thì trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể, vì Giáo Hội đã tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: “Ngòai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi” (hors de l’ Église, point de salut). Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đã được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội chỉ có thể sai lầm. Mà Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hòan thành sứ mạng cứu rỗi của mình. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đã không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo”, nếu không chịu sửa sai. Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ý thức rất chân thành và nghiêm chỉnh của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của mình. Thật là cảm động khi nhìn lại cái ý chí sắt đá mà Giáo Hội đã giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng trầm trong gần hai ngàn năm lịch sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của Đức Kitô: “Các con hãy ra đi dạy dỗ các dân tộc”. Điều đáng buồn là một số phương pháp mà Giáo Hội đã dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính cách phản giáo khoa. Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá khứ, Giáo Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của mình cũng như trong xã hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, Trong thông điệp ngày 29-4-1814 gửi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII viết “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi…”. Tóm lại, ít nữa là trước Công Đồng Vatican II, lý tưởng của Giáo Hội vẫn là thời vàng son Trung Cổ trong đó Giáo hội có đủ thế lực để giành độc quyền dạy dỗ các dân tộc. Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung nói trên (ngòai những lý do khác) đã khiến cho Giáo Hội va chạm nặng nề với các dân tộc Á Đông và đã không thành công mỹ mãn trong việc rao giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo thật là ít oi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Lý do căn bản của kết quả khiêm tốn ấy phải chăng là người Á Đông, khi theo đạo phải ly cách với cộng đồng dân tộc chính vì Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi, do đó gần như bắt buộc người Á Đông phải lựa chọn giữa dân tộc và Giáo Hội. người Công Giáo không có quyền có ý kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của giáo quyền. Có một ý kiến riêng là đã “lạc đạo” rồi như Giám-mục Bossuet viết: “Người lạc đạo” (hétérique) là người có một ý kiến theo nguyên nghĩa. Mà có một ý kiến là gì? Là một tư tưởng riêng, một tình cảm riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ biến (universel), con người không có tình ý riêng tư mà luôn luôn phải tuân theo tình ý của Giáo Hội không một chút do dự. ” Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi các lý do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai.

    Ngoài việc bị nhốt trong ngục tù ngu dốt như trên, họ còn bị kiểm soát gắt gao, không được phép ” có ý kiến riêng mà luôn luôn phải tuân thủ theo lời dạy của giáo quyền.” Nếu họ có một ý kiến riêng thì sẽ bị coi là “lạc đao” và sẽ bị nghiêm trị nếu không chịu sửa sai. Sự kiện này được Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại trong sách Tôn Giáo và Dân Tộc với nguyên văn như sau:

    Ngày nay hầu hết mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo, giết đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mì nh vào địa vị các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn.”

    Phải chống lại các chính quyền không thần phục Vatican.”

    29.- Chúng ta dùng lý trí để tìm hiểu sự vật (cách vật trí tri). Trái lại, họ chỉ biết dùng cảm tính để nói về sự vật.

    32.- Vìquen sống nếp sống văn hóa hiếu hòa (sĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười) và nhân ái ứ hải giai huynh đệ) do nền đạo lý vi tha của nền tam giáo cổ truyền tạo nên, cho nên chúng ta không bao giờ có ý định cưỡng bách người khác phải làm theo ý muốn của mình (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Mẫu người lý tưởng của chúng ta là “chính nhân quân tử” và chúng ta phải hành xử theo cáo đạo của người quân tử, nghĩa là phải thành thật với chính minh và thành thật với mọi người và luôn luôn phải sống theo cái quy luật “nhân, nghĩa, lễ trí, tín và dũng” của kẻ sĩ mà ngày nay có thể gọi là cái liêm sỉ và lương tâm của người trí thức.

    Ngòai 4 vụ nêu trên đã xẩy ra ở Bắc Mỹ, thiết tưởng còn hàng ngàn vụ khác tương tự như vậy. Ấy là chưa kể hàng rừng vụ các linh mục lừa gạt tín đồ, ôm tiền đóng góp của tín đồ đi nuôi tình nhân. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Những con rận lớn, rận nhỏ trong cái chăn Ca-tô do chính những người trong chăn kể lại cho thiên hạ biết, mặc dù là Nhà Thờ Vatican đã dạy họ rằng:

    Là tín đồ ngoan đạo, họ có bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo biết.”

    Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán.”

    Nhất sự bất tín, vạn sự bất khả tín. Với cái thói quen trong nếp sống văn hóa phỉnh gạt, lừa bịp, gian tham, dối trá như vậy, với tình trạng được dạy dỗ rằng ” phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo biết”, thì chăc chắn là các phẩm của họ về lịch sử, đặc biệt là những tác phẩm đó lại có liên hệ đến những việc làm tội ác của Nhà Thờ Vatican và tín đồ Ca-tô đã chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày 30/4/1975, chỉ có thế là làm cho những người đồng đạo của họ được hài lòng, còn chúng ta, làm sao chúng ta có thể tin được tính cách khách quan trong những tác phẩm lịch sử của họ?

    33.- Nền đạo lý Đông Phương cổ truyền của chúng ta cho rằng mọi tội ác ở trên cõi đời này đều do những dục vọng bất chính như (lòng ham muốn lợi lộc, công danh, quyền lực (tham), ganh ghét, đố kị, tị hiềm, thù hận (sân), sự ngu dốt (si) và thiếu lòng nhân ái, tương thân tương ái mà gây ra. Vì thế, Nhà Phật mới chủ trương dạy đời phải diệt dục, dứt bỏ tham, sân, si để trừ khử cái căn nguyên thôi thúc người đời lao vào con đường tội ác, Khổng Giáo mới đề cao, cổ súy và hoằng dương lòng nhân ái với hy vọng là người nguời trong thiên hạ sẽ thương yêu nhau như anh em một nhà (tứ hải giai huynh đệ). Nhờ vậy mà xã hội chúng ta, dù cho không được hoàn hảo, nhưng hầu hết mọi người trong chúng ta thường có thái độ khiêm tốn, hòa nhã, và nhẫn nại chịu đựng, khinh thường lợi lôc phi nghĩa, coi nhẹ công danh và quyền lực, coi trọng lòng nhân ái và tinh thần hiếu hòa. Cũng vì thế mà trong xã hội chúng ta tương đối là ít có những người hợm hĩnh, huênh hoang, khoác lác, ham hố, tham lợi, băng xăng, xun xoe, nịnh bợ những người quyền thế, ít có những người làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng và chèn ép những người dưới quyền và lép vế thế cô.

    Trái lại, Nhà Thờ Vatican chủ trương khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của tín đồ và người đời, rồi dùng những miếng mồi vật chất và chức vụ trong Nhà Thờ cũng như trong chính quyền để câu nhử những phương tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực chạy theo bắt mồi với dã tâm lợi dụng họ, đưa họ vào cái tròng danh lợi để sai khiến. Cuối cùng, họ trở thành một thứ nộ lệ cho Nhà Thờ, chẳng hạn Nhà Thờ đã lùa họ vào các đạo quân thập ác đi tấn công chiếm đọat đất đai của các dân tộc thuộc các tôn giáo hay văn hóa khác để làm thuộc địa cho Nhà Thờ. Đây là sự thật và đã được ghi vào sách sử:

    (” The pope’s call for a crusade.– Pope Urban II (1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Holy Land from Moslems. In 1095 he called a great meeting of churchmen and French nobles at Clemon, France. He urged the powerful nobles to stop warring among themselves and join in one great war against unbelievers….

    Trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất,… Sau một thời gian bao vây, quân Thập Ác chiếm được thành Jerusalem. Họ tàn sát dân Hồi giáo thật là vô cùng rùng rợn. Một vị chỉ huy quân Thập Ác viết cho Giáo Hoàng rằng con chiến mã của ông ta phải đi băng qua những xác chết và máu người lênh láng lên đến đầu gối.” (“The crusaders captured Jerusalem after a short siege and slaughtered the Moslem inhabitants in a terrible massacre. One leader wrote to the pope that his horse’ s legs had been bloodstained to the knees from riding among the bodies of the dead.”)

    34.- Chúng ta haybất kỳ một người bình thường nào dù là mang quốc tịch nào, cũng phải nhìn nhận rằng:

    A.- Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican là những quân cướp nước và đã bị tống cổ ra khỏi nước sau cả gần một thế kỷ chiến đấu gian khổ của dân tộc Việt Nam.

    B.- Tất cả những khối bất động sản bị Liên minh xâm lược này cướp đoạt trong thời gian tấn chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858-1954 đều là của ăn cướp.

    C.- Tất cả những khoản tài sản bị ăn cướp này đều được gọi là của ăn cướp. Tất cả những kẻ nào chứa chấp hay thủ đắc những khoản tài sản ăn cướp này đều là những kẻ đồng mưu với liên minh giặc nói trên, dù là đã có giấy tờ hay bằng khoán thủ đắc do chính quyền của liên minh giặc này cấp phát và phải bị truy tố ra trước pháp đình để xử lý đúng theo luật pháp của chính quyền nào đã có công tổng cổ được cái liên minh xâm lược này.

    D.- Tất cả những khoản tài sản ăn cướp này sẽ phải hoàn trả lại cho khổ chủ sau khi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican bị tống cổ ra khỏi Việt Nam.

    E.- Bất kỳ thế lực nào tống cổ được Liên Minh Xâm Lược Pháp-Vatican ra khỏi đất nước phải có trách nhiệm kiểm tra, truy tầm và thâu hồi những khoản tài sản đã bị ăn cướp này để trả về cho khổ chủ.

    Trái lại, dù cho vào một trường hợp nào đó, họ cũng công nhận người Pháp là quân xâm lược, nhưng trong thực tế họ vẫn coi thực dân xâm lược Pháp là đồng minh thân thiết của Vatican và họ đã liên tục đứng vào hàng ngũ Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican để chống lại tất cả các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta. Họ cho rằng tất cả những khoản bất động sản do Nhà Thờ Vatican thủ đắc trong thời 1862-1954 là hợp pháp và Nhà Thờ Vatican có quyền thủ đắc, bất kể là trong thực tế những khoản bất động đó chỉ là đồ ăn cướp do Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đã ăn cướp của dân ta trong thời kỳ này. Cũng vì thế mà Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và đồng bọn tu sĩ áo đen xúi giục giáo dân tập họp bất hợp pháp, cắm thập ác và dựng tượng bà già xề Maria tại tòa nhà công sở số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong những ngày từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 và tại cơ sở Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội từ ngày 15/8 đến ngày 22/9/2008 với mục đích vừa gây bạo lọan, vừa đòi chiếm lại hai khỏan bất động sản này cho Nhà Thờ Vatican dù rằng họ thừa biết những khoản bất động sản này là đồ ăn cướp mà Vatican đã ăn cướp của dân ta trong thời 1885-1945.

    35.- Khi xét về một biến cố lịch sử, chúng ta xét đến nguyên nhân chính, tức là cái gốc rễ làm cho biến cố đó bùng nổ hay xẩy ra. Thí dụ như:

    A.- Xét về cuộc Kháng Chiến 1945-1954, chúng ta cho rằng vì Liên Minh Xâm Lược Pháp đánh chiếm và thống trị nước ta, cho nên nhân dân ta mới phải tổ chức các lực kháng chiến vùng lên đánh đuổi quân thù xâm lược để đòi lại quyền độc lập cho dân tộc.

    B.- Khi xét và cuộc chiến giải phóng miền Nam, chúng ta cho rằng vì Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican dùng sức mạnh quân sự cưỡng chiếm miền Nam để vừa biến thành tiền đồn chống Cộng theo “chính sách be bờ” để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ miền Bắc tràn xuống, vừa biến thành một quốc gia riêng biệt theo đạo Ki-tô để phục vụ cho quyền lợi của Nhà Thờ Vatican. Vì thế mà chính quyền miền Bắc cũng như toàn thể nhân dân ta phải lao đầu ào cuộc chiến đánh đuổi Liên Quân Xâm Lược Mỹ – Vatican để hòan thành sứ mạng thống nhất đất nước, đem giang sơn về một mối.

    C.- Khi xét về phong trào Phật Giáo vùng lên tranh đấu đòi quyền bình đẳng về tôn gíáo vào năm 1963, chúng ta cho rằng nguyên nhân làm cho phong trào này bùng nổ là do bạo quyền Ngô Đình Diệm tiến hành kế họach Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực như đã nói ở trên, trong đó có chính sách bách hại và chèn ép Phật Giáo là một phần trong kế hoạch này.

    Trái lại, cũng xét::

    A.- Về cuộc Kháng Chiến 1945-1954, họ cho rằng nguyên do có cuộc chiến này là do Đảng Cộng Sản và Mặt Trận Viêt Minh chủ trương phát động khiến cho nhân dân Việt Nam phải gánh chịu những cảnh chết chóc và đau thương do cuộc chiến này gây ra.

    B.-Về cuộc chiến giải phóng miền Nam, họ cho rằng nguyên nhân của cuộc chiến này là do miền Bắc xâm lăng miền Nam mà gây ra cuộc chiến này.

    C.- Về phong trào Phật Giáo vùng lên tranh đấu đòi quyền bình đẳng về tôn gíáo, họ cho rằng nguyên nhân là do các phong trào Phật Giáo nổi loạn chống chính quyền, nhưng họ lại luôn luôn giấu nhẹm hay không hề đả động gì đến những hành động bách hạị và chèn ép Phật Giáo.

    Rõ ràng là họ luôn luôn, chặt bớt mất cái gốc, lấy ngọn làm gốc rồi cãi cố cãi chày để chạy tội cho Liên Minh Xâm lược Pháp – Vatican, chạy tôi cho Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican và chạy tội cho bạo quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam.

    36.- Khi xét một vấn đề gì, đặc biệt là khi xét về một nhà lãnh đạo chính quyền hay một chế độ chính trị, chúng ta luôn luôn phải tìm hiểu theo thứ tự (1) nguyên nhân hay nguồn gốc, lý lịch hoặc mục đích, (2) diễn tiến hay việc làm, và (3) hậu quả hay tác dụng hoặc phản ứng của nhân dân. Thí dụ như:

    I.- Xét về “con người và việc làm của Nguyễn Trường Tộ “, chúng ta phải xét đến các yếu tố NGUỒN GỐC hay LÝ LỊCH của ông ta. Lý lịch của ông ta là:

    A.- Tín đồ Ca-tô ngoan đạo.

    B.- Có người Cha đờ đầu là Linh Mục Gauthier với cái tên Việt là Ngô Gia Hậu.

    C.- Linh-mục Gauthier là cánh tay mặt của Giáo-mục Puginier.

    D.- Giám-mục Puginier là đại diện của Nhà Thờ Vatican tại miền Bắc Việt Nam (Đường Ngoài) từ đầu thập niên 1860, và cũng là tác giả Kế Họach Puginier với chủ trương “diệt tận gốc, trốc tận rễ” Nho Giáo cùng nếp sống cổ truyền của dân tộc Việt Nam, và đã nói thẳng với viên chức Pháp tại Đông Dương rằng phải giết hết Nho Sĩ Việt Nam.

    E.- Tín đồ Ca-tô ngoan đạo phải tuyệt đối trung thành với Nhà Thờ Vatican, phải triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên, và phải:

    “Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.”

    II.- Xét về “con người và việc làm của Ngô Đình Diệm “, chúng ta cũng theo nguyên tắc xét như trên, ông ta:

    A.- Là một tín đồ Ca-tô ngoan đạo thuộc một gia đình đã có tới ba đời nối tiếp nhau làm việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và sau đó chính ông ta lại bán nước cho Mỹ nữa.

    B.- Được chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đặc cách thâu nhận vào theo học tại trường Hậu Bổ ở Huế với chương trình học là hai năm.

    C.- Đã làm quan cho chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatcan trong những năm 1922-1933 và đã có những hành động cực kỳ dã man đối với nhà ái quốc chẳng may bị ông ta bắt được:

    “Có người cho rằng Diệm, khi làm tri phủ Hòa Đa, đã dùng đèn cầy ”

    F.- Tháng 8/1950 được Giám-mục Ngô Đình Thục đã sang Tòa Thánh Vatican chầu hầu và nhận lệnh Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958, rồi lại được dẫn sang Mỹ giao cho Hông Y Francis Spellman (1889-1967) vận động với các chính khách Ca-tô có thế lực trên sân khấu chính trị Mỹ để làm áp lực với Pháp và với Quốc Trường đưa về Việt Nam cầm quyền để phục vụ cho quyền lợi của Vatican và quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng phải đợi đến khi chính quyền Cộng Hòa trong thời Tổng Thống Eisenhower và khi Pháp sa lầy và bị thảm bại tại Điện Biên Phủ, ông ta mới được Mỹ đồng ý với Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền.

    Xét về cá tính như gian xảo, cuồng tín và ngu xuẩn của ông ta, chúng ta phải căn cứ vào những lời do chính ông tuyên bố, căn cứ vào những hành động của chính ông ta, và căn cứ vào những nhận xét của những người thân cận (không phải là bà con thân thuộc), của những chính khách, của những học giả và của các nhà trí thức đã từng làm việc hay tiếp xúc với ông ta. Những nhận xét này đã được ghi vào những bản văn trong hồi ký, trong công văn hay trong các tác phẩm của họ. Đó là những nhân vật như Tướng Ca-tô Hùynh Văn Cao, Đại Tá Edward G. Lansdale, Đại-sứ Henry Cabot Lodge, sử gia Bernard B. Fall, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo-sư Lý Chánh Trung, v.v… Vấn đề này đã được người viết trình bày khá rõ ràng trong một tiểu mục của chương sách có tựa đề là “Thân Thế và Đặc Tính Cuồng Tín củâ Ngô Đình Diệm.” Chương sách này nằm trong Mục XVIII, Phần VI của bộ sách lịch sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã và đã được đưa lên chúng tôi trước đây.

    Xét về việc làm bất chính và tội ác của ông ta trong thời gian ông ta được Mỹ và Vatican cho cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, chúng ta phải xét đến tất cả những việc làm mà cá nhân và chính quyền của ông ta đã làm trong thời gian ông ta cầm quyền, thì mới có thể thẩm định chính xác về con người và chính quyền của ông ta. Theo sách sử, trong thời gian cầm quyền, cá nhân và chính quyền ông Diệm đã làm những việc sau đây:

    A.- Từ chối lời yêu cầu của chính quyền Hà Nội, cương quyết không cộng tác với miền Bắc để tiến hành tổ chức tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 để thống nhất đất nước như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định.

    B.- Toa rập với Nhà Thờ Vatican trong việc cưỡng bách nhân dân miền Nam Việt Nam phải sử dụng danh xưng “Công Giáo” thay thế cho các danh xưng Da-tô giáo, Ki-tô giáo, Cơ Đốc giáo và Thiên Chúa giáo La Mã trong các văn thư hành chánh, sách giáo khoa, ấn phẩm văn hóa, trên các báo chí và trong các tài liệu truyền thông.

    D.- Toa rập với Nhà Thờ Vatican trong việc tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể rồi mời vị khâm-sứ đại diện của Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế dâng nước Việt Nam cho Vatican dưới danh nghĩa là Đức Mẹ Vô Nhiễm.

    F.- Thiết lập các tổ chức cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh quân đội như thiên la đia vọng để tăng cường khả năng đàn áp nhân dân và chuẩn bị cho tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân bằng bạo lực.

    Về con số người bị sát hại và bị cầm tù, xim xem nơi các trang 127-131 trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang.

    Về vấn đề chính quyền Ngô Đình Diệm dùng những thủ đọan bất chính, gian manh và quỷ quyệt để hù dọa, chèn ép, khủng bố tinh thần khiến cho nạn nhân phải tìm cách theo đạo Ca-tô ” để khỏi bị cảnh sát quấy nhiễu” hay được ” an toàn về chính trị” cũng như vấn đề dùng những miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính quyền để câu nhử những người tham lợi, háo danh chạy theo bắt mồi mà theo đạo, xin đọc cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) của Linh-mục Trần Tam Tỉnh.

    I.- Toa rập với chính quyền và quân đội Mỹ dùng vũ khí hóa học gọi là Chất Độc Da Cam với một khối lượng khổng lổ 77 triệu lít rải xuống đồng ruộng và rừng cây ở miền Trung và miền Nam đế sát hại nhân dân, hủy họai mùa màng, tàn hại thổ nhuỡng đất đai canh tác của đất nước và gây thảm họa cho người dân trong vùng sinh ra những trẻ em bị khuyết tật. Tội ác này được sách Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam ghi lại như sau:

    Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

    Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”

    Ta có thể nói đây là cái nguyên tắc viết sử của họ. Cái nguyên tắc này cũng được nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn nói rõ trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau:

    Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoài đạo được biết.” .

    1. Văn thư của ông chủ tịch UBND TP Hà Nội gửi HĐGMVN va DCCTVN

    Ban Tôn Giáo Chính Phủ Ký tên và đóng dấu

    Văn Phòng Chính Phủ Ký tên và đóng dấu

    40.– Cũng như các nếp sống văn hóa khác, nền văn hóa của chúng ta thường nói đến cụm từ “phục vụ đất nước”, “phục vụ tổ quốc”, “phục vụ nhân dân” và cho rằng vấn đề này là tối quan trọng vì rằng đất nước hay tổ quốc đều có nhu cầu cần phải đóng góp của tất cả mọi người dân về tài lực, nhân lực và sinh mạng nếu cần như trường hợp đất nước bị xâm lăng hay bị thiên tai hoặc bất kỳ một tai ương thảm họa nào khác.

    Trái lại, trong nền văn hóa Ki-tô, họ thường nói đến cụm từ “phục vụ Chúa” và cho rằng vấn đề này là toíoi quan trọng.

    Vấn đề đặt ra là ” Chúa toàn năng, toàn thiện và có mặt ở khắp mọi nơi “, Chúa có quyền biến hóa và tạo dựng nên tất cả mọi thứ ở trên thế gian này. Không có một thế lực nào có thể làm hại được Chúa. Cần một thứ gì Chúa cũng có thế biến hóa ra được để Chúa sử dụng. Kẻ thù nào Chúa cũng đánh thắng, khó khăn nào Chúa cũng có thể vượt qua, nguy hiểm nào cũng phải lùi bước trước quyền năng của Chúa. Vậy thì Chúa có cần đến người đời phục vụ Chúa hay không?

    Chắc chắn là không rồi. Vậy thì cụm từ “phục vụ Chúa” chỉ là một trong muôn ngàn thủ đọan lưu manh được sáng tác ra để lừa bịp và lợi dụng tín đồ làm nô lệ cho Nhà Thờ Vatican, giống như bọn thày cúng và đồng cốt ở đất Nghiệp Đô trên ven sông Chương Hà bịa đặt ra chuyện hàng năm phải cưới một cô vợ trẻ đẹp cho ông thần hà bá ở khúc sông này, rồi cấu kết với bọn cường hào ác bá địa phương để hà hiếp và bóc lột nhân dân trong vùng mà thôi.

    Quý vị nào nói rằng Chúa cần phải được người đời phục vụ, xin lên tiếng bằng những lời giải thích thuận lý và gửi về sáchhiem.net để phổ biện rộng rãi cho mọi người được lãnh giáo và tham luận.

    Những người biểu tình chống đối có biết rằng trong thế giới ngày nay mà lên án một người nào là cộng sản thì thật là ngu xuẩn không? Nó đã quá lỗi thời và chứng tỏ là các người thiếu giáo dục.

    Nguyên văn: “You got it. Ignorant is the word. France and later the US had trained these ignorant people to serve them. Their job is sniffing out their people who is against their masters, communist or not. They would call anyone opposes foreign domiation “communist” and jail and kill them. That’s why they didn’t have any support from the population. That’s why when the US run, they had to run too. The Saigon regime didn’t even have the support of its own soldiers, that’s why it took only 55 days for the North Army to take total control of South Vietnam in the Ho Chi Minh Campaign in 1975. Something that the biggest war machine this world has ever seen couldn’t do in ten years despite killing millions of people, dropping 8 million tons of bombs anf 70 million liters of Agent Orange.

    All their lives until this day, they’re stuck in that mentality. They think if they chant those empty slogans often enough they will get the support they need to bully others here in the US, and surprisingly they did succeed. That proves one thing. There’re a lot of ignorant people in the US ‘ population too.

    Do you protestors realize how ignorant it sound to utilize and accuse someone of being a communist in today’s world? It’s outdated and clearly demonstrates your lack of education.

    The 1000 USC American Vietnamese students are correct to state that the Red flag with the star doesn’t repsent them. It is because the red, white, and blue repsents them in every federal, state, county, and city building.

    You have no right to tell USC or anyone of that matter to fly what flag they want to. It is neither a privilege but a right that was given and fought for. If you protestors wanted to the old South Viet Nam flag to fly you should have stayed and fought. The North stayed and fought and they got what they wanted. The facts remain for the South that didn’t occur and we are here now in 2008. What else do you want more from the US? Do ou want us to wage another war against Vietnam?”

    Đây là cái hậu quả của Nhà Thờ Vatican đã ” đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo “. Cái lối đào tạo thanh thiếu niên này khiến cho họ bị ràng buộc bởi những tín lý Ki-tô và những lời dạy của Nhà Thờ Vatican như đã nêu lên ở trên, và vì đã quen sống với nếp sống văn hóa trái ngược với các nếp sống văn hóa của các xã hội ngoài đạo Ki-tô, cho nên họ không thể thích nghi với xã hội dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ này. Vì thế, họ mới bị mắng nhiếc là “ngu xuẩn”, là “thiếu giáo dục” và là sản phẩm của người Pháp và người Mỹ đã huấn luyện để làm tay sai cho các thế lực ngoại xâm.

    Cuối cùng, hạng người “ngu xuẩn” và “thiếu giáo dục” này trở thành cái di lụy cho Việt Nam và là gánh nặng cho xã hội loài người.

    ốVì lẽ này, mà tín đồ Ca-tô ngoan đạo hay còn tuyệt đối trung thành với Nhà Thờ Vatican không thể nào trở thành các nhà viết sử chân chính, và tác phẩm lịch sử của họ tất nhiên là không thể nào phản ảnh trung thực với những sự kiện đã xẩy ra trong lịch sử, chứ đừng nói đến chuyện họ đóng vai trò thẩm định một tác phẩn lịch sử.

    ( xin xem tiếp phần 3)

    CHÚ THÍCH

    Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Đông Phương (Toronto, Canada: Làng Văn, 1997), tr. 93.

    Dun J. Li,. Dun J. Li,. The Ageless Chinese (New York Charles Scriber’s Sons, 1978), tr. 67

    Phan Đình Diệm, “Kiến Nghị 6.” Ngày 15/6/1999. [email protected]

    Lý Chánh Trung, Sđ d., tr. 74-75.

    Chính Đạo, Sđd., tr, 290-291.

    Roberts McNamara, Sđd., tr. 100-101.

    Tường Minh – Chu Văn Trình, Sđd., tr. 209.

    Roberts McNamara,Sđd., 65-66.

    Vũ Tam Ích, A Historical Survey Of Educational Developments In Vietnam (Lexington,Kentucky: College of Education, Uuniversity of Kentucky, 1959), p. 27.

    Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr. 14-15.

    Jack T. Chick, Ibid., tr. 17.

    Cửu Long Lê Trọng Văn, Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1996), 188-193.

    Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 76.

    Quảng Toàn & Nguyễn Hoài, Những Họat Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Trong Thời Kỳ Kháng Chiến (Hà Nội: Nhà Xuất Nam Khoa Học, 1965), tr. 21.

    Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 300.

    Trần Chung Ngọc, Sdd., tr. 300.

    Trần Chúng Ngọc, Sđd., tr. 292.

    Charlie Nguyễn, Sdd., tr. 63-64.

    The News Tribune Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973 ), tr. 76.

    Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 157.

    Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 73-78.

    Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh: Tân Văn, 2003), tr. 320.

    Joseph Nguyễn Thanh Sơn, Tận Thế số 2, 15/7/2002, (Fountain Valley, CA: TXB, 2002), tr.5.

    Anatole G. Mazour & John M. Peoples, Ibid., p. 218.

    Vũ Ngự Chiêu, Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, TX: Văn Hóa, 1993), tr. 262.

    Vũ Đình Họat, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan – Tập II (Fall Church, VA: Alpha, 1991), tr.1013- 1014.

    Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr. 126-127.

    Joseph Buttinger. Ibid, p. 956, và Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tô i (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993) tr. 645.

    Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

    Nigel Cawthorne, Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004), pp.167-168.

    Nguyễn Ngọc Ngạn,Sđ d., tr. 320.

    Nguồn: sáchhiem.net ngày 23/12/2008.

    Tú Gàn. “Bôi Nhọ Chính Nghĩa Quốc Gia.” Sàigòn Nhỏ số 97. Ngày 23/10/1998.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Microsoft Word Pham Trong Le Romeo
  • Vì Sao Cần Sửa Đổi Luật Đường Sắt 2005?
  • Đan Mạch Ban Hành Luật Cấm Đeo Mạng Che Mặt Khi Ra Đường
  • Hơn 150 Năm Trước, Mỹ Từng Có Đạo Luật Cấm Người Xấu Xí Ra Đường
  • Dắt Cá, Gà Mái, Chó Đồ Chơi Đi Dạo Để Lách Luật Cấm Ra Đường
  • Tin tức online tv