【#1】Phòng Gd&đt Huyện Can Lộc (Hà Tĩnh): Đính Chính Văn Bản Trái Luật

GD&TĐ – Sau khi công văn yêu cầu giáo viên mầm non mua bảo hiểm khiến dư luận phản đối, mới đây Phòng GD&ĐT huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) thừa nhận văn bản chưa đúng quy định và đã sửa đổi.

Ngày 12/3 Phòng GD&ĐT huyện Can Lộc ra Văn bản số 82/PGDĐT về việc “Hướng dẫn công tác bảo hiểm đối với CB, GV trong trường mầm non”. Trong văn bản nêu rõ: “Vào ngày 1/3/2019, Phòng ra Công văn số 71/CV-PGDĐT gửi hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn, về việc mua bảo hiểm cho cán bộ, giáo viên. Tuy nhiên, do sự phối hợp giữa Phòng và Phòng Bảo Việt Hà Tĩnh có một số nội dung chưa phù hợp. Vì vậy Phòng xin hướng dẫn lại các trường mầm non thực hiện công tác bảo hiểm cho cán bộ, giáo viên.

Cụ thể, tuyên truyền, vận động cán bộ, giáo viên của các trường tham gia bảo hiểm kết hợp con người của Công ty Bảo hiểm có nhiều năm kinh nghiệm, có văn phòng đại diện tại các huyện, thị xã, thành phố trên toàn tỉnh và có uy tín trên địa bàn; Quan tâm hơn nữa trong việc tái tục hợp đồng bảo hiểm, giải quyết quyền lợi cho người mua bảo hiểm”.

Trước đó, Báo GD&TĐ thông tin ngày 1/3 Phòng GD&ĐT huyện Can Lộc ra văn bản “lạ” yêu cầu cán bộ, giáo viên phải mua bảo hiểm tự nguyên, đã gây phản ứng trong dư luận và ngành Giáo dục.

Bà Nguyễn Thị Hường, Phó Trưởng phòng GD&ĐT huyện Can Lộc cho biết, không chỉ riêng năm 2021 mà nhiều năm trước đây, Phòng GD&ĐT Can Lộc cũng triển khai bảo hiểm cho cán bộ, giáo viên mầm non như vậy.

“Chúng tôi thừa nhận trong Công văn số 71 vừa mới ban hành có một số nội dung chưa phù hợp do chủ quan của cá nhân. Từ những năm trước, các lãnh đạo phòng cũng đã ra công văn tương tự. Mục đích của công văn cũng là mang tính nhân văn đối với cán bộ, giáo viên chứ không bắt nguồn từ lợi ích của cá nhân nào. Hiện công văn vừa ban hành nên chưa trường nào thực hiện”, bà Hường cho biết.

【#2】Tìm Hiểu Rõ Hơn Về Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Ở Cấp Tiểu Học.

Bộ GD&ĐT đã công bố nội dung chương trình các môn học và lộ trình thực hiện triển khai chương trình mới. Chúng ta tìm hiểu rõ hơn về nội dung chương trình ở cấp tiểu học với một số phân tích ban đầu.

Những môn học ở cấp tiểu học

Nội dung giáo dục ở cấp Tiểu học bao gồm 11 môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, cụ thể là:

– Lớp 1 và lớp 2: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm và 2 môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 1.

– Lớp 3: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Ngoại ngữ 1, Tự nhiên và Xã hội, Tin học và Công nghệ, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm.

– Lớp 4 và lớp 5: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Tin học và Công nghệ, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm.

Như vậy các môn mà tất cả các lớp của cấp học đều có là: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm.

Trong chương trình mới, chỉ có một số môn học và hoạt động giáo dục (HĐGD) mới hoặc mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại ngữ, Hoạt động trải nghiệm.

Việc đổi tên môn Kĩ thuật ở cấp tiểu học thành Tin học và Công nghệ là do chương trình mới bổ sung phần Tin học và tổ chức lại nội dung phần Kĩ thuật. Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn Tin học đã được dạy từ lớp 3 như một môn học tự chọn. Ngoại ngữ tuy là môn học mới ở cấp tiểu học nhưng là một môn học từ lâu đã được dạy ở các cấp học khác; thậm chí đã được nhiều học sinh làm quen từ cấp học mầm non.

Hoạt động trải nghiệm cũng là một nội dung quen thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các hoạt động giáo dục tập thể như chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội TNTP Hồ Chí Minh và các hoạt động tham quan, lao động, thiện nguyện, phục vụ cộng đồng,… trong chương trình hiện hành.

Hoạt động trải nghiệm của mỗi lớp do giáo viên chủ nhiệm phụ trách, thực hiện theo kế hoạch của nhà trường. Tùy từng hoạt động cụ thể, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên môn học, cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, cha mẹ học sinh để tổ chức các hoạt động này. Giáo viên và nhà trường cũng cần báo cáo chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động lao động công ích, thiện nguyện.

Ở cấp tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm.

Các trường đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần có kế hoạch sử dụng thời gian ngoài chương trình các môn học, HĐGD bắt buộc một cách hợp lí để dạy các môn học tự chọn cho học sinh có nguyện vọng học; bồi dưỡng học sinh giỏi, hướng dẫn những học sinh chưa đáp ứng các yêu cầu cần đạt; tăng cường các hoạt động thực hành, rèn luyện thân thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

Thời lượng thực hiện chương trình môn học

Thời lượng giáo dục 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học; mỗi tiết học 35 phút (có hướng dẫn riêng cho các trường chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày).

Ở tiểu học, học sinh học 2.838 giờ. Theo chương trình hiện hành, học sinh học 2.353 giờ. Chương trình mới là chương trình học 2 buổi/ngày (9 buổi/tuần), tính trung bình học sinh học 1,8 giờ/lớp/buổi học; có điều kiện tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí nhiều hơn. Chương trình hiện hành là chương trình học 1 buổi/ngày (5 buổi/tuần), tính trung bình học sinh học 2,7 giờ/lớp/buổi học.

Ở cấp tiểu học, theo thống kê của Bộ GD&ĐT, hiện có trên 80% số học sinh trong cả nước đang được học 2 buổi/ngày. Nguyên nhân một số địa phương chưa tổ chức được cho học sinh học 2 buổi/ngày là khó khăn về quỹ đất, kinh phí và điều kiện sống của người dân.

Trong Chương trình GDPT mới, ở cấp tiểu học, thời lượng dành cho môn Tiếng Việt là 1.505 tiết (trung bình 43 tiết/tuần), chiếm 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học bắt buộc; bằng thời lượng học trong chương trình hiện hành.

Chương trình GDPT dành thời lượng thích đáng cho việc học tiếng Việt ở cấp tiểu học, đặc biệt ở lớp 1, lớp 2 là để bảo đảm học sinh đọc thông viết thạo, tạo tiền đề học các môn học khác. Đối với học sinh người dân tộc thiểu số thì việc có đủ thời gian học tiếng Việt trong những năm đầu đến trường càng quan trọng.

So sánh với chương trình nước ngoài, có thể thấy trong chương trình GDPT của bất cứ nước nào, thời lượng học tiếng mẹ đẻ/tiếng phổ thông, đặc biệt là ở cấp tiểu học, cũng chiếm tỉ lệ cao nhất.

Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt

Đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc.

Ở cấp tiểu học, yêu cầu về đọc gồm yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu. Đối với học sinh các lớp đầu cấp (lớp 1, lớp 2), chú trọng cả yêu cầu đọc đúng với tốc độ phù hợp và đọc hiểu nội dung đơn giản của văn bản. Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5, chú trọng nhiều hơn đến yêu cầu đọc hiểu nội dung cụ thể, hiểu chủ đề, hiểu bài học rút ra được từ văn bản.

Môn Ngữ văn góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ

phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể.

Từ lớp 1 đến lớp 3, viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn văn ngắn; ở lớp 4 và lớp 5 bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản.

Viết được văn bản kể lại những câu chuyện đã đọc, những sự việc đã chứng kiến, tham gia, những câu chuyện do học sinh tưởng tượng; miêu tả những sự vật, hiện tượng quen thuộc; giới thiệu về những sự vật và hoạt động gần gũi với cuộc sống của học sinh. Viết đoạn văn nêu những cảm xúc, suy nghĩ của học sinh khi đọc một câu chuyện, bài thơ, khi chứng kiến một sự việc gợi cho học sinh nhiều cảm xúc; nêu ý kiến về một vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống; viết một số kiểu văn bản như: bản tự thuật, tin nhắn, giấy mời, thời gian biểu, đơn từ,…; bước đầu biết viết theo quy trình; bài viết cần có đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài).

Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay quy trình đơn giản.

Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe.

Phân biệt văn bản truyện và thơ (đoạn, bài văn xuôi và đoạn, bài văn vần); nhận biết được nội dung văn bản và thái độ, tình cảm của người viết; bước đầu hiểu được tác dụng của một số yếu tố hình thức của văn bản văn học (ngôn từ, nhân vật, cốt truyện, vần thơ, so sánh, nhân hoá). Biết liên tưởng, tưởng tượng và diễn đạt có tính văn học trong viết và nói.

Đối với học sinh lớp 1 và lớp 2: nhận biết được văn bản nói về ai, về cái gì; nhận biết được nhân vật trong các câu chuyện, vần trong thơ; nhận biết được truyện và thơ.

Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5: biết cách đọc diễn cảm văn bản văn học; kể lại, tóm tắt được nội dung chính của câu chuyện, bài thơ; nhận xét được các nhân vật, sự việc và thái độ, tình cảm của người viết trong văn bản; nhận biết được thời gian và địa điểm, một số kiểu vần thơ, nhịp thơ, từ ngữ, hình ảnh đẹp, độc đáo và tác dụng của các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh. Hiểu được ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản. Viết được đoạn, bài văn kể chuyện, miêu tả thể hiện cảm xúc và khả năng liên tưởng, tưởng tượng.

Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Toán

【#3】Họ Và Chúng Ta 2

Họ và Chúng Ta

Nguyễn Mạnh Quang

bài trước bài sau

PHẦN II

NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA HỌ VÀ CHÚNG TA

1.- Chúng ta là những người sống theo nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc với tinh thần thực tế, lúc nào cũng ghi tâm khắc cốt là phải sống theo lương tâm và hành xử theo lẽ phải sao cho đúng với đạo con người ở trên cõi đời này. Đó là nền đạo lý vị tha với những quy luật bất thành văn là phải có tinh thần hiếu hòa, thương yêu “mọi người như anh em trong một nhà.” (Tứ hải giai huynh đệ), phải thành thật với chính mình và thành thực với mọi người, ” biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” (Tri chi vi tri chi; bất tri vi bất tri.) Cho nên, đối với thế giới thần linh, thần thánh hay ma quỷ, chúng ta đều phải thành thực mà cho rằng ” chưa thờ được người, thờ thế nào được thần (vị năng sự nhân, an năng sự quỷ.) “Chưa biết được sự sống, biết thế nào được sự chết.” (Vị tri sinh, an chi tử); vậy thì chỉ nên “vụ lấy làm việc nghĩa của người, còn quỷ thần thi kính mà xa ra.” (Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi), phải hướng vào nội tâm để tu tâm dưỡng tính bằng cách tìm phương kế khơi động, nuôi dưỡng và phát triển cái thiện tính thiên bẩm của con người (nhân chi sơ, tính bản thiện), dồn nỗ lực vào những suy tư tốt và hành động tốt hầu có thể giúp ích mọi người và cho chính mình trở thành người tốt, được thân tâm an lạc. Có như vậy, chúng ta mới hy vọng làm giảm bớt được những tội ác trong xã hội loài người và mang lại phúc lợi cho chính mình và cho mọi người ở chúng quanh ta.

2.- Chúng ta cho rằng ” nhân chi sơ, tính bản thiện ” và chỉ coi là có tội khi đương sự có những lời nói hay hành động làm tổn thương đến danh dự, tinh thần, tài sản hay sinh mạng của người khác.

Trái lại, họ lại cho rằng con người mới sinh ra là đã có tội rồi. Người nào không được Nhà Thờ Vatican rửa tội là có tội và xấu xa. Cũng vì thế mà họ thường gọi những người khác tôn giáo với họ là tà giáo, là mọi rợ, là dã man và cần phải được khai hóa. Cái quan niệm khinh rẻ những nhóm dân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác tà giáo, là mọi rợ, là dã man rồi tự phong cho là có sứ mạng hay bổn phận phải đi khai hóa người ta là đầu mối khiến cho Nhà Thờ Vatican gây ra hàng rừng tội ác về việc sử dụng những thủ đọan lừa bịp người đời và bạo lực để cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác phải theo “cái tôn giáo ác ôn” của họ.

3.- Chúng ta sống theo quy luật ” kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân ” (không cưỡng bách những người khác phải làm những điều mà chính mình nếu ở vào địa vị bị cưỡng bách như vậy cũng cảm thấy bất mãn va không muốn làm.)

Trái lại, họ luôn luôn đòi hỏi hay cưỡng bách những người khác phải theo đạo (tôn giáo) của họ nếu có cơ hội. Đây là một trong những tư duy, thái độ va hành động xấc xược ngược ngạo của họ được thể hiện ra bằng hành động cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Ca-tô của họ.

4.- Chúng ta coi Việt Nam là tổ quốc của chúng ta và sống theo quan niệm “tổ quốc trên hết”, “nước mất nhà tan” và “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.”

Trái lại, họ coi Vatican là “tổ quốc” của họ, và sống theo quan niệm “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.”

5.- Chúng ta tranh đấu cho quyền lợi tối thượng cúa tổ quốc cũng như cho sự sống còn của đất nước và sự trường tồn của dân tộc.

Trái lại, họ tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của Vatican, cho sự sống còn và sự trường tồn của Giáo Hội La Mã. Việc ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, khi thấy rằng quyền lực đã được củng cố, ông ta liền cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 rồi mời vị đại diện của Tòa Thánh Vatican tại Sàigòn là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế để dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức là Vatican), việc ông ta cho tổ chức cuộc hành hương khổng lồ tới nhà thờ La Vang vào ngày 16/8/1961 có tới 200 ngàn giáo dân tham dự và tổ chức một đại lễ, rồi mời ông Giám Mục Ngô Đình Thục làm chủ tế để kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang

Trái lại, quan niệm của họ về nhà lãnh đạo chính quyền hoàn toàn trái ngược với quan niệm của chúng ta. Lý do là vì Nhà Thờ Vatican dạy họ rằng: “mọi sự ở trên đời này đều do Chúa an bài c ả,” dù cho có gặp phải nhà cầm quyền tàn ngược đến mức nào đi nữa, thì cũng phải ráng mà chịu và chỉ có một cách duy nhất là cầu nguyện Chúa để cho Chúa lo liệu, chứ nhân dân không có quyền vùng lên làm cách mạng để khử diệt tên bạo chúa đó.. Sách Triết Lý Quốc Trị Đông Phương ghi rõ sự kiện này như sau:

“…, một triết gia Âu Châu khác là thánh Aquinas (1225-1274) chủ trương rằng nhà vua được thượng đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân KHÔNG THỂ LÀM CÁCH âMẠNG giết vua để thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas,nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phấn chia. Sự cai trị độc ác của một lãnh tụ có thể phản ảnh ý định trừng phạt người dân của Thượng Đế; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể trục xuất vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn có một cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thượng Đế (tức là Nhà Thờ Vatican) không đáp lời để bắt buộc vị lãnh tụ quốc gia đó phải thoái vị hay từ chức, thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Đế (Nhà Thờ Vatican).”

Đây là nguyên nhân TẠI SAO trong khi chúng ta nhiệt liệt hoan hô những việc làm của các vị tướng lãnh quân đội miền Nam đã anh dũng đứng lên lật đổ bạo quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa và khử diệt tên bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm vào chiều ngày 1/11/1963, thì họ lại xót thương, nhớ tiếc cái chế độ dã man này, xót thương tên bạo chúa đã bị sách sử ghi nhận là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Không những thế, họ còn lên án, sỉ vả, hạ nhục những vị tướng lãnh đã làm việc đại nghĩa cứu dân trong biến cố lịch sử này.

10.- Chúng ta phân biệt đạo lý hoàn toàn khác hẳn với tôn giáo. Đạo lý được tôn vinh lên hàng vị thế cao nhất, đứng trên chính quyền, và chính quyền đứng trên tôn giáo. Chính quyền có nhiệm vụ phải kiểm soát, kiềm chế và nghiêm trị những kẻ mưu sinh bằng nghề cúng lễ với danh nghĩa là thày cúng hay là tu sĩ. Như vậy, xã hội chúng ta là xã hội thượng tôn đạo lý.

Sở dĩ có được trật tự trên dưới như vậy là nhờ nền đạo lý của người dân Đông Phương nặng tính cách thực tế, lấy con người làm đối tượng phục vụ. Trong những luật lệ quản lý các phạm vi sinh họat đời sống con người, KHÔNG HỀ ĐỀ CẬP ĐẾN THẦN THÁNH . Sự kiện này được ghi lại rõ ràng trong sách sử với nguyên văn như sau:

“Họ (Nho giáo) cũng không quan tâm đến thế giới thần linh hay siêu nhiên vì họ cho rằng những khó khăn của con người chỉ có thể do chính con người giải quyết được. Sống ở cõi trần gian này họ chỉ mong sao làm cho nơi đây trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sinh sống. Họ tích cực quan tâm đến công việc chính trị, kinh tế và quan trọng hơn cả là vấn đề đạo đức. Về siêu hình và tôn giáo, nếu cần, thì chỉ nên áp dụng trong phạm vi giới hạn của các công việc trần tục. Ý thức hệ của họ là lấy con người làm tụ điểm và mọi khả năng kiến thức là để phục vụ cho con người.” Nguyên văn: “They were not interested in the supernatural forces either because they believe that man’s problems could only be solved by man himself. They were in this world, and they wished to make it a better place to live. They dealt extensively in politics, economics, and most importantly, ethics. Their interest in metaphysics and religion was confined to applying them if possible to the more mundane, worldfly affairs. Theirs was a “man-centered” ideology to which all branches of knowledge must submit themselves.”)

Nhà Thờ Vatican dạy rằng,

Phải tuyệt đối tin tưởng vào các tín lý Ki-tô”, “Phải tuyên đối tuân hành những lời dạy của các đấng bề trên.”

Rằng: “Giáo Hội La Mã đã được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chính thức của Giáo Hội. chỉ có thể là sai lầm. Mà Giáo có quyền và có bổn phận tiêu diêt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hoàn thành sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Lẽ dĩ nhiên, Giáo Hội chỉ tiêu diệt sự sai làm còn chính con người sai lầm thì vẫn được kính trọng (de homme foi), và những “võ khí” mà Giáo Hội dùng để tiêu diệt sự sai lầm đều là những “võ khí tinh thần” như Thánh Phao Lồ đã viết.”

Như vậy, theo lời dạy của Nhà Thờ Vatican, họ (tín đồ Ca-tô) có bổn phận ” phải tiêu diệt những tôn giáo khác, “phải đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo.” Vấn đề này được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8 (Mục III, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chưong sách này đã được đưa lên chúng tôi từ tháng 2/2008.

Chúing ta hãy để ý đến cụm từ ” mỗi khi hòan cảnh cho phép.” Ý chính của cụm từ này là khi Nhà Thờ Vatican có quyền lực trong tay hay ở thế thượng phong. Đây là những trường hợp khi họ đưa được tín đồ của Nhà Thờ lên cầm quyền ở một quốc gia nào. Khi đó, chính quyền và tất cả các tín đồ ngoan đạo của Nhà Thờ đều phải triệt để thi hành cái nhiệm vụ “tiêu diệt sự sai lầm” (những tôn giáo và nền văn hóa khác) bằng tất cả khả năng và bằng bất cứ giá nào. Vì thế mà mỗi khi một tín đồ Ca-tô ngoan đạo lên cầm quyền, thì nhân dân nước đó không thể tránh khỏi cái thảm họa “bị bách hại, bị tàn sát” vì bị cho là “sai lầm” (dị giáo).

Tại Miền Nam, trong những năm 1954-1975, ông Ca-tô ngoan đạo Ngô Đình Diệm được Liên Minh Mỹ – Vatican đưa lên cầm quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô và sau đó lại đưa ông Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu lên cầm quyền thiết lập chế độ quân phiệt Ca-tô. Cái trật tự trên dưới tôn giáo – chính quyền được thể hiện ra qua khẩu hiệu ” Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống “. Các chính quyền này có bổn phận đối với Nhà Thờ Vatican là phải bách hại và tiêu diệt các tôn giáo khác. Thế nhưng, vì bị các quan thày người Mỹ canh chừng bằng cách khuyên can, răn đe và làm áp lực, không cho phép các chính quyền này quá trớn. Bằng chứng cho việc canh chừng này là các ông Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn như Donald Health (7/7/1954 – 8/11/1954), Lawrence J. Collins (8/11/1954 – 28/5/1955), Frederick Reinhardt (28/5/1955 – 1957), Elbridge Durbrow (1957 – 27/1/1961), Frederick Nolting (1/1961- 8/1963), ông Henri Cabot Lodge (22/8/1963 – 5/1964) và phái đoàn McNamara đến tận Dinh Gia Long vào ngày 29/9/1963 đều được lệnh của chính quyền Mỹ phải khuyên can và răn đe anh em Nhà Ngô không được quá trớn. Một trong những bằng chứng này được sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I-C: 1955-1963 ghi nhận như sau:

3/6/1960: Sàigòn Durbrow nghĩ đến lúc phải “thêm răng cho lời thuyết phục.” Đề nghi được nói thẳng với Diệm về vấn đề tham nhũng, lộng hành của Cần Lao, không tận dụng tài lực vào việc chống Cộng, ngưng việc khiêu khích và thù hận với Miên. Nếu Diệm không thay đổi, sẽ tam ngưng gia tăng viện trợ (FRUS, 1958-1960, I:Tài liệu 150

Thứ Ba, 4/6/1963: Sàigòn, 11G45: Trueheart XLTV Đại -sư Mỹ, gặp Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.

Trueheart cảnh cáo là Mỹ có thể ngưng viện trợ cho Diệm nếu còn đàn áp Phật Giáo. Khác với NOLTING, Trueheart trở lại thái độ công khai áp lực Diệm mà DURBROW đã áp dụng. Thuần cho biết sau buổi họp hội đồng chính phủ, đã quyết định thành lập một Ủy Ban Liên Bộ, và Diệm chấp thuận. Nhu cũng sẽ tiếp xúc với các lãnh tụ Phật Giáo.”

1.-“Cuối cùng, ngày 29/9/1963, Max cùng tôi đến Dinh Gia Long, Đường Công Lý, chỉ cách Tòa Đại Sứ có vài khu phố, để nói chuyện suốt ba (3) giờ liền, và buổi tiếp tân đó là buổi tiếp tân rất long trọng. Lodge và Harkins tháp tùng chúng tôi. Hôm ấy, không có Nhu tham dự. 2.- Rặc cung cách Tây và hút thuốc lá liên tục, ông Diệm dùng hai giờ rưỡi liền để nói thao thao bất tuyệt về những sáng suốt của chính sách do ông đề ra và những tiến triển của cuộc chiến, được khoa trương bằng những bằng chứng trên các bản đồ để chứng minh. Sự tự kết của ông ta không gây cho tôi nhiều chú ý. 3.- Khi ông nghỉ nói một lúc, tôi bắt đầu. Tôi bảo ông Diệm rằng Hoa Kỳ thật tâm muốn giúp miền Nam Việt Nam đánh bại Việt Cộng. Và tôi nhấn mạnh đến bản chất cuộc chiến là của người Việt Nam; Hoa Kỳ chỉ đến trợ giúp. Tôi đồng ý với ông (Diệm) rằng có tiến bộ về mặt quân sự, nhưng tôi cố tình và mạnh mẽ nhắc đến sự bất ổn chính trị của miền Nam Việt Nam, và rằng sự bất ổn cùng sự đàn áp đã gây ra nguy hại không nhỏ cho nỗ lực chiến tranh và sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ. Do đó, cần phải chấm dứt mọi sự đàn áp và tái lập sự ổn định chính trị. Ông Diệm thẳng thừng bác bỏ lời đề nghị của tôi. Ông nói những công kích của báo chí vào chính phủ và gia đình ông là do sự hiểu lầm về thực trạng của miền Nam Việt Nam. 4.- Mặc dầu tôi nhìn nhận báo giới có sai lầm, nhưng không thể phủ nhận sự khủng hoảng nghiệm trọng về niềm tin vào chính phủ miền Nam và vào chính phủ Hoa Kỳ. Ông ta lại phủ nhận5.-Tôi cũng ép ông ta về vụ Bà Nhu, rằng lời tuyên bố không hay và thiếu suy nghĩ của bà ta gây cho công chúng Hoa Kỳ phẫn nộ. Tôi liền rút trong túi ta một bài báo trích đăng lời tuyên bố của bà ta nói về các sĩ quan cấp thấp của Hoa Kỳ tại Việt Nam có “hành động như những tên lính cầu may.” Tôi cho ông Diệm biết nói vậy là lăng nhục quân lính Hoa Kỳ. . Ông ta cáo buộc sinh viên bị bắt trong các đợt ruồng bố gần đây là “thiếu trách nhiệm, thiếu rèn luyện và chưa chín chắn” Đáng kính thay! Ông ta còn nói ông ta chịu trách nhiệm về sự bất ổn. Về vụ Phật Giáo,(ông ta nói) làm như vậy là ông “quá nhân từ” với họ.

6.- Lối ông nhìn và thái độ của ông ta lúc ấy cho thấy lần đầu tiên ông ta tỏ ra thông cảm với tôi, nhưng rồi, ông lại lên tiếng bênh vực cho bà Nhu. Tôi tiếp: “Như vậy chưa đủ.” Vấn đề này rất nghiêm trọng và phải được giải quyết trước khi cuộc chiến chấm dứt. Max nhắc lại ý kiến của tôi. Ông ta nhấn mạnh cho ông Diệm thấy sự cần thiết phải đáp ứng để xoa dịu nỗi bất bình mỗi lúc một gia tăng tại Hoa Kỳ trước những biến cố gần đây.”

Đại Sứ Fredrick Nolting Jr báo cáo rằng Sàigòn dự kiến yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia (phe Tưởng Giới Thạch) gửi “một sư đoàn bộ binh” và muốn có “các đơn vị huấn luyện quân sự Mỹ.” (Embassador Frederick Nolting Jr reports that Saigòn is considering asking Nationalist China for “one pision of combat troops” and wants United States “comnbat-trainer units .”)

Mùa xuân năm sau, vào tháng 3 năm 1963, tôi hỏi ông Robert Thompson xem ông có thấy nên rút bớt số cố vấn thì ông ta trả lời rằng nếu với tiến bộ như vậy và tình hình Việt Cộng bị đánh dẹp một vài nơi trong mùa hè này, thì có thể rút chừng một ngàn.

Tổng kết các điều trên xong, tôi liên ra lệnh phát thảo một kế họach dài hạn, quy định các giai đọan rút các cố vấn Hoa Kỳ được trù tính theo dự đoán trong ba năm tới Việt Cộng sẽ hoàn toàn bị đè bẹp. Lúc ấy chúng tôi có khoảng 16 ngàn cố vấn tại Nam Việt Nam.

Sự thật là như vây. Ấy thế mà bọn văn nô Ca-tô người Việt xuyên tạc và rêu rao rằng Mỹ làm áp lực với chính quyền Ngô Đình Diệm để đổ quân thêm vào miên Nam, nhưng bị ông Diệm chống lại. Vì thế Mỹ mới ra lệnh cho các tướng lãnh làm đảo chánh và giết ông Diệm. Đúng là miệng lưỡi Ca-tô, giống y hệt như miệng lưỡi Nhà Thờ Vatican! Không lươn lẹo và không ăn gian nói dối, thì không phải là Nhà Thờ Vatican và không phải là tín đồ ngoan đạo của của cái ” tôn giáo ác ôn ” này!

Tử Bình nói: “Đây là một điều rất hay! Nếu cả ba tôn giáo này đều dạy cùng một thứ như cô vừa mới nói, thì cái cùng một thứ đó là cái gì? Có hay không có sự khác biệt nào không? Tại sao cô lại nói đạo Khổng rộng lớn hơn hai đạo kia?

“Tử Bình nêu lên thắc mắc: “Về việc này, ông Hoàng mà tôi đã gặp, ông ta là người theo đạo Lão hay theo đạo Phật? Ông ta nói thì giống như một người theo đạo Lão, tuy nhiên, nhưng khi nói chuyện, ông ta lại thường hay viện dẫn những kinh nhà Phật.”Người thiếu nữ trả lời: “ông Hoàng không phải là tín đồ của đạo Lão và cũng không phải là tín đồ của đạo Phật. Ông ta ăn mặc theo cách ông ta thích. Ông ta thường nói rằng có ba tôn giáo lớn là đạo Khổng, đạo Phật và đạo Lão. Ba tôn giáo này giống như ba cửa tiệm bán cùng một thứ sản phẩm. Chỉ có một sự khác biệt giữa các tôn giáo này là đạo Khổng là một cửa tiệm rộng hơn hai cửa tiệm kia quá nhiều và có bán thêm một vài sản phẩm khác mà hai cửa tiệm kia không bán. Ông Hoàng cũng nói rằng trong ba tôn giáo này, tôn giáo nào cũng có hai bộ mặt: Một bộ mặt thật của riêng mỗi tôn giáo là những nghi lễ của nó, và bộ mặt khác của nó là những lời dạy căn bản. Những lời dạy căn bản thì cả ba tôn giáo này đều giống nhau dù là bề ngoài có vẻ khác nhau. Ông Hoàng tin cả ba tôn giáo này.

Ngày nay có nhiều tôn giáo ở Tây Phương còn mê tín dị đoan hơn đạo Phật và đạo Lão rất nhiều. Không những hăm dọa người ta bằng những lời lẽ vô nghĩa như thiên đường và địa ngục, các tôn giáo này còn dạy dỗ tín đồ thù ghét những người thuộc các tôn giáo khác và kêu gọi tín đồ của họ tuyên chiến với những người mà họ gọi là tà giáo. Họ cho rằng họ càng giết được nhiều người hơn thì họ càng trở nên ngoan đạo hơn. Làm sao mà con người lại có thể hèn hạ đến như vậy! Về phần những người theo đạo Hồi, họ nói rằng máu của những người Hồi giáo hy sinh trong các cuộc chiến chống lại những người tà giáo đẹp như tử ngọc. Có lẽ họ nghĩ rằng tất cả mọi người ở trên trái đất này chỉ là một lũ điên rồ.” Người thiếu nữ nói tiếp: “Ý nghĩa đích thực của Khổng Giáo đã mất từ lâu. Các nhà Nho học đời Hán quá bận tâm với cú pháp trong kinh điển đến nỗi họ quên mất cả caí ý nghĩa đích thực của Kinh Điển. Trong thời nhà Đường, người ta không quan tâm đến cú pháp, mà cứ hiểu theo như Kinh Điển. Vì quá quan tâm đến việc thấu hiểu đạo Khổng, Hàn Dũ trở thành một anh mù chữ. Ông ta càng viết thì ông ta càng trở nên lộn xộn.”

Người thiếu nữ trả lời: “Cho tới bây giờ, cả ba tôn giáo này đều dạy người đời phải làm người tốt và công bằng, cả ba tôn giáo này đều dạy như vậy cả. Nếu tất cả chúng ta đều công bằng và không ích kỷ thì sẽ có hoà bình ở trên trái đất này, bằng không thì hỗn loạn sẽ lan tràn trên khắp thế giới. So với tất cả các tôn giáo khác ở trên thế giới thì đạo Khổng là một tôn giáo vi tha nhất. Hãy nhìn vào Đức Khổng Tử. Suốt đời Ngài, có nhiều người chỉ trích về ý thức hệ tư tưởng của Ngài. Ấy thế mà Ngài vẫn ca ngợi họ vì rằng Ngài cho rằng chính những lời chỉ trích của họ đã soi sáng cho Ngài. Khổng Giáo rất đúng vì tôn giáo này không tin những điều mê tín dị đoan. Khổng Tử nói, chỉ trích những người khác là tự hại mình (hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu). Về phía những tín đồ đạo Phật và đạo Lão, họ mê tín và ích kỷ. Sợ rằng những người khác không theo tôn giáo của họ, họ sáng chế ra thiên đường và địa ngục để hù dọa người ta . Ông có thể nói rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện và cho rằng mục đích của việc sáng chế (bịa đặt) này là để lôi cuốn người đời làm điều thiện và vì thế mà chúng ta có thể gọi họ là những người vị tha, không ích kỷ. Tuy nhiên, nếu họ vượt qua giới hạn đó (mà họ đã làm) và rao truyền rằng nếu ai theo đạo của họ thì tất cả tội ác của người đó sẽ được tẩy rửa hết sạch, và nếu không chịu theo đạo của họ thì người đó sẽ bị đày xuống địa ngục đời đời; như vậy thì họ trở thành ích kỷ và mê tín.

(“As for this, Mr. Huang whom I have just met,” Said Tzu P’ing, “is he a Taoist or a Buddhist? He talk like a Taoist, and yet he quotes Buddhist sciptures.” Mr. Huang is neither a Taoist nor a Buddhist,” replied the girl. “He dresses the way as he pleases. He often says that the three major religions, Confucianism, Buddhism, and Taoism, are like three separate stores selling the same products, and the only difference between them is that Confucianism, being a much larger store, sells some products which the other two stores do not sell. He also says that every religion has two facets, the ritualistic and the real, and that the basic teachings of the three religions are the same, even though they look different in appearance. Mr. Huang believes in all three of them.”

“This is very interesting,” said Tzu P’ing. “If the three religions teach the same thing as you have just stated, what is this “same thing”? Is or is there not any difference them? Why did you say Confucianism is more broadly based than either of the other two religions?”

“Insofar as all of these three religions teach people to be good and just, they are the same.” The girl replied. “If all of us are just and selfless, there will be peace on earth, otherwise chaos will rule the world. Of all religions in the world, Confucianism is the most selfless. Look at Confucius. Throughout his life there were many people who criticized him on ideological grounds. Yet he praised them highly because, as a result of their criticisms, they, Confucius believed, had enlightened him. Confucianism is great pcisely because it does not believe in religious bigotry. To attack others who do not agree with you is to bring harm to yourself”, says Confucius. The Buddhists or Taoists, on the other hand, are bigoted and selfish. Fearful that other people will not follow their religion, they invented such things as paradise and hell to intimidate them. You might say that the end justifies the means: since the purpose of their invention is to induce people to be good, they can be still regarded as selfless. However, when they go beyond this point (as they do) and announce to the world that a person will be automatically cleansed of his sins when converted to their faith, or that he will be forever condemned and will inevitably go to hell if he refuses conversion, they become bigoted and selfish.

Nowadays there are the Western religions that have gone further in bigotry than Buddhism and Taoism. They not only intimidate people with such nonsense as heaven and hell; they also teach their followers to hate people of other religions and urge them to declare war on what they call pegans. The more they kill, the more they become religious. How low a man can sink! As for the Muslims, they says that the blood shed by the faithful in waging holy wars against the infidels is as beautiful as purple jewel. They probably think that all people in the world are simply fools.”

The true meaning of Confucianism has been lost for a long time,” the girl continued. “The Han scholars were so occupied with the syntax of the Classics” that they forgot the true meaning of the Classics. During the Tang dynasty people did not even care for the syntax, let alone of the Classics. As far as understanding Confucianism was concerned, Han Yu was really a illiterate. The more he wrote, the more confused he became.”

Chính vì lẽ này mà xã hội Âu Châu và các vùng Trung Đông đã xẩy ra chiến tranh vì tôn giáo triền miền từ đầu Thời Trung Cổ cho đến ngày nay mà vẫn còn chưa chấm dứt. Hiện nay, những điểm nóng gần như lúc nào cũng có chiến tranh giữa Ki-tô Giáo và các hệ phái Thiên Chíua Giáo khác. Ở Ái Nhĩ Lan, tình hình lúc nào cũng căng thẳng giừa Ki-tô giáo Vatican và Ki-tô Giáo Tin Lành, nếu không có chiến tranh nóng thì cũng vẫn có chiến tranh lạnh. Hiện nay, tình trạng vẫn còn như vậy, hai phe vẫn còn luôn luôn coi nhau như kể thù bất cộng đái thiên mặc dù họ cùng thờ cả ông Chúa Bố Jehovah lẫn ông Chúa Con Jesus; điểm đặc biệt là khi xuất quân hay khi lâm trận, họ cùng cầu một câu: ” Chúa ở cùng chúng con. ” Chúng ta không hai bố con Chúa Jehovah và Jesus sẽ ở bên nào, giúp bên nào, và chống lại bên nào? Nhiều nơi khác như ở Croatia, Serbia, và Palestine cũng đều là những điểm nóng và lúc nào cũng có thể bùng nổ thành chiến tranh giữa các hệ phái Thiên Chúa Giáo cùng thờ ông Chúa Bố Jehovah, dù rằng người Hồi Giáo gọi ông chúa này là Allah.

Tại Pháp:Ngày 22-8-1572 (Nhiều sách khác ghi là ngày /8./1572 chứ không phải là ngày /8/1572.) bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tin Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô Đốc Coligny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín như vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng.” Nguyên văn: (“On August 22, 1572, the bloody St. Bartholomew massacre began. This was to be one fatal blow to destroy the Prostestant movement in France. The King of France had cleverly arranged a marriage between his sister and Admiral Coligny, the chief Protestant leader. There was a great feast with much celebrating. After four days of feasting the soldiers were given a signal. At twelve o’clock midnight, all the houses of the Protestants in the city were forced open at once. The admiral was killed, his body thrown out of a window into the street where his head was cut off and sent to the pope. They also cut off his arms and privates and dragged him through the streets for three days until they finally hung his body by the heels outside the city. They also slaughtered many other well kown Protestants. In the first three days, over ten thousands were killed. The bodies were thrown into the river and blood ran through the streets into the river until it appeared like a stream of blood. So furious was their hellish rage that they even slew their own followers if they suspected that they were not very strong in their belief in the pope. From Paris, the destruction spad to all parts of the country. Over eight thousand more people were killed. Very few Pretestants escaped the fury of their persecutors.”) Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong một chương sách có tựa đề là Những Hành Động Dã Man Của Quân Lính Liên Hiệp Pháp Và Lính Đạo Việt Nam (Mục XV, Phần V) trong bộ sách Lịch sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.)

Tai miền Nam Việt Nam: Chính quyền đạo phệt Ca-tô Ngô Đình Diệm tra tấc các TỌi Ác tra tấn các tù nhân chính tri một cách cực kỳ man rợ. Sự kiện này được sách War Crimes In Vietnam (New YorK: M R Press, 1967) của tác giả Bertrand Russell ghi lại một số những trường hợp hết sức kinh khủng và được tác giả Tường Minh Chu Văn Trình tham khảo sách và ghi lại trong cuốn Hội Chứng Việt Nam như sau:

Nạn nhân Nguyễn Thị Thơ kể lại:

Tôi là một phụ nữ trú quán tại tỉnh Thủ Đầu Một, ở phía Bắc Sàigòn, gần rừng cao su Đông Nam Việt Nam. Nay tôi 40 tuổi, làm nghề nông, chống tội bị chết, tôi sống với mẹ và một con trai 14 tuổi. Tôi xin kể một vài kinh nghiệm bản thân dưới chế độ Ngô Đình Diệm:

“Tôi bị bắt trên một xe búyt trong khi đang nói chuyện với những người trên xe.

1.- Chiến Dịch Tố Cộng:

Khi tôi bị tống vào nhà giam, tôi thấy nơi đó chật ních người bị giam. Chúng bắt khoảng 700 người, các hội viên của các nhóm và các tổ chức xã hội, các tổ chức phụ nữ, nhiều người bị bắt vì phát động các cuộc nói chuyện. những người khác thì đang dạy dân chúng cách đọc và viết chữ. Họ là những nhà giáo và trí thức.

Năm 1956, người dân miền Nam bị bắt giữ dưới mũi súng. Chính quyền Sàigòn (Ngô Đình Diệm) mở chiến dịch Trương Tấn Bửu hay chiến dịch càn quét (mopping up operation). Các trung đoàn binh lính chống phá nhân dân. Cuộc bầu cử (thống nhất hai miền) không thực hiện.

Chủ nghĩa khủng bố chống lại nhân dân được tiến hành khắp nơi. Bất cứ ai từng là cựu kháng chiến đều bị săn lùng khắp nơi. (Anyone who had been in the former resistance was hunted). Kể cả những ai nói về bầu cử cũng bị bắt. Nhân dân cố gắng tìm gặp Ủy Hội Kiểm Sóat Quốc Tế để nói cho họ biết sự vi phạm điều 14c Hiệp Định Genève và điều 7 Bản Tuyên Bố Cuối Cùng đều bị bắt giam. Mười nghìn (10,000) người bị bắt giam (dịp 20/7/1956). Không đủ phòng cho tù nhân ngồi hay nằm, họ phải đứng suốt ngày đêm. Bắt đầu chiến dịch Tố Cộng, những người vợ có chồng tập kết ra Bắc theo Hiệp Định Genève phải ly dị với chồng. Có người bị giam tới 6 năm không xét xử. Tôi bị giam nhiều năm không xét xử.

Đôi khi báo chí loan tin thả một người như bà Nguyễn Thị Tư, người ta tưởng bà ấy được thả ra sau những năm tù, bởi vì không có tội gì. Nhưng sự thật, bà ấy không bao giờ được thả, mà bị đày tới một nhà tù mới tại Côn Đảo.

Khi tôi hồi tỉnh, chúng lại đánh tiếp. Khi chúng cởi trói, hạ tôi xuống sàn nhà, tôi đứng không nổi. Chúng lột hết quần áo và trói chặt tôi vào một cái bàn. Chúng bịt miệng và mũi tôi bằng một tấm vải mỏng. Chúng dùng ông nước bằng cao su bơm nước vào mồm và mũi tôi. Tôi bị ngộp thở và bụng đầy nước, dạ dầy trương phồng lên. Lúc đầu, chúng chỉ dùng nước, sau chúng trộn nước lạnh với nước mắm và nước sà bông. Trận tra tấn (kiểu đi tầu ngầm) này kéo dài 40 phút. Rồi tôi cảm thấy tất cả tối sập. Tôi bị ngất. Chúng ép bụng tôi và lắc mạnh đầu làm cho nước trong bụng ộc ra tại mồm và mũi. Tôi hồi tỉnh.

Tôi đáp: “Chúng mày là lũ man rợ ghê tởm. Chúng tao không bao giờ mất nhân phẩm.” (You, who are odious and barbarous, are of such character. We will never lose our dignity.) (tr. 170). Sau những trận tra tấn vô tận, tôi bị tống giam vào đề lao Gia Định, một trung tậm tạm giam chật ních tù chính trị chờ gửi đi nơi khác. Đế lao Gia Định rất nóng. Mỗi tối có 20 người hay hơn bị ngất xỉu vì thiếu dưỡng khí. Sau một tháng sống trong điều kiện này, mọi người đều bị nổi mụn nhọt, da bịp giộp và sưng. (Afetr one month in these conditions, everyone had rashes, pimples, blisters and swelling.) (Tr. 170). Suốt tháng đầu tiên ở đề lao Gia Định, tôi thấy 7 người đàn ông bị chết ngộp. Tôi không thể hiểu bằng cách nào mà những người phụ nữa sống sót ở đây lại chịu đựng nổi những điều kiện như thế. Thực phẩm hàng ngày rất ít, mỗi người chỉ được một chén cơm nhỏ, gạo trộn với trấu (the rice was mixed with pady husks), không có rau hay nước chấm. Tôi ở đây 7 tuần. Sau đó, chúng tội bị đày ra Côn Đảo. (tr. 170). Chế độ nhà tù ở Côn Đảo có mục đích giết hại tù nhân bằng hành hạ và lao động cực nhọc. Tôi chứng kiến tù nhân chết mỗi ngày. Mỗi tù nhân hàng ngày phải vào rừng chặt cây làm củi mang về nhà giam một thước khối củi. Ai không thực hiện đủ số củi ấn định sẽ bị đánh đòn và bị biệt giam vào xà lim. Hầu hết tù nhân tại Côn Đảo đều bị bệnh kiết, viêm ruột (dysentery) và giun, sán (worms). Tôi bị giam một năm ở Côn Đảo, trong đó có 10 tháng bị biệt giam cùng với 4 người trong một xà lim (cell) diện tích rộng 3ft, dài 6ft, tường dày 15 in, trần nhà bê tông. Nhờ có phong trào phản đối giam chính trị phạm nữ ở Côn Đảo, nên một năm sau, tôi được chuyển vào đất liền. Cuộc chống đối này, có hơn 100 tù chính trị bị bọn cai ngục sát hại. Tên tỉnh trưởng Côn Đảo Bạch Văn Bốn vỗ tay cười nhìn xác tù bị giết. Sau 10 tháng bị biệt giam, tôi chỉ còn là một bộ xương (after ten months of detention, I was reduced to a skeleton.)

Tôi bị bắt cùng với một người đàn ông. Tôi bị giam chung với anh ta trong một tháng. Vào một buổi tối, chúng tôi được di chuyển đến một căn phòng nhỏ. Đến 2 giờ sáng, chúng ở bên ngoài nghe tiếng chúng tôi. Chúng muốn chúng tôi giao cấu. Chúng muốn làm nhục chúng tôi. Cuối cùng, chúng phân cách chúng tôi và nói: “Bọn mày biết chúng tao muốn chúng mày làm gì không?”

Tại Rwanda: Chỉ trong vòng có 100 ngày vào giữa năm 1994, họ tàn sát tới hơn 800 ngàn người trên tổng số dân trên tòan quốc chỉ có 8,196,000 (vào năm 1995).

13.- Chúng ta cho rằng những người tốt là những người vô tư, không ích kỷ, không vị lợi, không vơ vào, không lấn lướt những người khác, sẵn sàng giúp đỡ những người khác khi người ta cần được giúp đỡ, và những người xấu là những người có những ác tính như gian giảo, xảo quyệt, thiên vị, ích kỷ, gian tham, hám lợi, háo danh, háo sát, hung dữ, thèm khát quyền lực, lố bịch, trịch thượng, xấc xược, ngược ngạo, bốc hốt, vơ vào, lấn lướt những người khác, băng xăng, xun xoe, bợ đỡ những người quyền thế hay có địa vị cao, khinh khi, làm oai, làm phách, hách dịch và bắt nạt những người lép vế thế cô.

Trái lại, họ cho rằng tất cả những gì không thuộc về hay không phải là của Giáo Hội La Mã đều là tội ác, đều là xấu xa, đều là man di, đều là mọi rợ, và cho rằng, tất cả những gì thuộc về hay của Giáo Hội La Mã đều tốt đẹp, đều thánh thiện mà trong thực tế Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội đều mang những ác tính tham tàn, bạo ngược, xãc xược, lấn lướt, vơ vào, hung dữ, háo sát, khát máu, v.v… Chính vì những ác tính này mà Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua đã gây ra hàng chục rặng núi tội ác chống lại nhân loại.

Trái lại, ở hải ngoại, vừa mới bắt đầu nói là giúp đỡ Cô Tim, thì họ liền tấn công, ngăn cản, đặt điều kiện, đòi hỏi cô phải đứng chào lá cờ ” ba que tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi của họ.” Không được, họ liền biến cô thành kẻ “có tội”! Xin xem nơi link này.

15.- Chúng ta tôn trọng quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của những người khác đúng như lời dạy của Nho Giáo ” kỷ sử bất dục vật thi ư nhân.”

Trái lại, họ không bao giờ tôn trọng quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của những người khác vì rằng:

Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi….]

17.- Chúng ta hiểu rằng ” Việt gian” là ” người Việt Nam phản đất nước ” (Lê Văn Đức, Việt Nam Tư Điển, Quyển Hạ, tr.1777), và phản đất nước hay phản bội tổ quốc là đi làm những công việc đưa đường dẫn lối, chỉ điểm hay làm việc trong chính quyền của quân xâm lăng cướp nước thống trị dân ta. Theo nghĩa này, thì Ngô Đình Diệm là một tên Việt gian và thuộc về một gia đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ.

18.- Chúng ta cho rằng Vatican mang tội chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam qua những hành động cấu kết với Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến tháng 3 năm 1945 và trong việc đem quân sang tái chiếm Đông Dương và gây nên cuộc chiến 1945-1954. Sau đó, Vatican lại cấu kết với Mỹ trong việc vi phạm điều khỏan tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào năm 1956. Điều khỏan này đã được quy định trong Hiệp Định Genève 1954. Vì thế mà nhân dân Việt Nam lại phải lao vào cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican để đòi lại miền Nam cho dân tộc và hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước cho tổ quốc. Đây là một món nợ mà Nhà Thờ Vatican còn chưa tạ tội và bồi thường cho dân tọc Việt Nam ta.i

Trái lại, họ cho rằng Vatican là nước tổ của họ. Vì thế, đối với họ, việc Vatican cấu kết với Pháp đánh chiếm Việt Nam chỉ là việc bình thường trong sứ mạng khai hóa văn minh đúng như lời Vatican đã dạy dỗ họ rằng: ” Chính sách thực dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước mà nền văn minh còn thô sơ.”

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng cá nhân hay thế lực nào càng chú ý đến cái vẻ hào nháng bề ngoài để lòe bịp hay đánh lừa người đời, thì cá nhân hay thế lực đó càng có nhiều chủ tâm đi vào con đường tội ác. Câu nói, ” Tốt mã rẻ cùi ” nói lên tình trạng này và áp dụng cho Giáo Hội La Mã quả thật là vô cùng thích hợp. Đúng như vậy, lịch sử đã cho thấy rằng, hầu hết các ông tu sĩ của Vatican, từ Giáo Hoàng cho các ông linh mục bạch đinh, đều là những tên đại bịp, ăn gian nói dối, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lưu manh, xảo trá, tham tàn và bạo ngược, v.v… Đây là sự thật mà bất kỳ người dân hay dân tộc nào đã có kinh nghiệm máu với Vatican đều nhìn nhận như vậy. Hơn dân tộc nào hết, dân tộc Ý là một dân tộc có quá nhiều kinh nghiệm với giới tu sĩ của Nhà Thờ Vatican và với Tòa Thánh Vatican. Cũng vì thế mà vị đại anh hùng Giuseppe Garibaldi (1807-1882) của quốc gia này đã lớn tiếng nói với nhân dân Ý và nhân dân thế giới rằng:

a.- “Linh muc là hiện thân của sự gian trá“. (The priest is the personification of falsehood), b.- ” Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy). c.-, “Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do.” (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.”

Vì bổn phận của mỗi người ở trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội hay trong cộng đồng quốc gia đã được phân định rõ ràng như vậy, cho con người trong xã hội chúng ta là con người tự do, tự do hành sử theo lương tâm, theo lẽ phải, theo công đạo và có quyền đòi hỏi mọi người dù ở vị thế nào (vua quan hay cha mẹ) cũng phải hành xử đúng theo các trách nhiệm đã được phân định. Nếu một người nào đó không làm tròn trách nhiệm của mình đối với người khác, thì chính họ đã tự làm mất đí cái quyền đòi hỏi kẻ khác phải làm tròn trách nhiệm đối với họ.

Nói tóm lại, trong xã hội chúng ta, mọi sự ở trên cõi đời này đều do con người xếp đặt, lo liệu và giải quyết với nhau, chứ không phải do một thế lực siêu nhiên hay đấng thần linh nào xếp đặt, lo liệu và giải quyết. Vì lẽ này, chúng ta chẳng bao giờ hướng về một đấng thần linh mơ hồ trong cõi xa xăm để trông cậy, cầu xin và lạy lục để cứu giúp hay ban phước lành, phép lạ để cho họ được hưởng thụ những đặc quyền đặc lợi hay được quyền đè đầu cỡi cổ những người khác hầu có thể sống phủ phê thỏa mãn những duc vọng bất chính, bất nhân và bất nghĩa. Cũng vì thế mà chúng ta nhìn những người làm cái nghề trung gian giữa con người và thế giới thần linh chỉ là bọn lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh tôn giáo để lừa bịp người người đời, những người bất lương, giống như người Pháp khinh rẻ chúng và gọi chúng là “lũ quạ đen” (les corbeaux noirs) và sẵn sàng thẳng tay nghiêm trị khi thấy chúng trổ mòi như trường hợp ông Tây Môn Báo đã làm trong chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá.

Trái lại, xã hội Ki-tô của họ lấy ông Chúa bố Jehovah, Chúa Con Jesus làm đối tượng thờ phượng và phục vụ. Vì thế mà họ luôn luôn nói đến cụm từ “phục vụ Chúa”. Họ cho rằng:

1.- Trái đất này là do ông bố Chúa tạo dựng nên và là của riêng nhà Chúa.

2.- Loài người là do Chúa sinh ra theo hình ảnh của Chúa và tất cả đều do Chúa xếp đặt và lo liệu.

3.- Con người chỉ có nghĩa vụ tuân theo ý Chúa, phục vụ Chúa và thờ phượng Chúa.

Họ lại cho rằng Chúa ở mãi tận thiên đường xa lắc xa lơ vài phải lo cả trăm công ngàn chuyện, cho nên, không thể quán xuyến được mọi việc ở trên thế gian này. Vì vậy, Chúa phải lập ra Giáo Hội La Mã. Họ nói rằng Chúa mặc khải cho họ biết là Giáo Hội có danh xưng là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”. Giáo Hội hay Hội Thánh là đại diện duy nhất của Chúa ở trên cõi trần gian này. Ngoài Giáo Hội, không có cá nhân hay tập thể hoặc một thế lực nào tự xưng hay nói là đại diện cho Chúa, nếu có, thì đó chỉ là tiếm danh hay ngụy tạo, và đều phải coi là tà giáo, tà đạo, chống Chúa, là quỷ Satan, v.v…

Họ nói như vậy đó. Quả thất là siêu lưu manh!

Tự phong là đai diện duy nhất của Chúa ở trên trái đất này, Giáo Hội có quyền đặt ra thể chế chính trị và tổ chức bộ máy cại trị để quản lý con người ở trên trái đất và đặt ra tất cả những tín lý, những giáo luật, những tập tục và ban hành những thánh lệnh, những tuyên huấn, những lời dạy để cho con người ở thế gian này theo đó mà hành xử.

Đã có nhiều người thắc mắc:

Dựa vào đâu mà bảo rằng Chúa lập ra Giáo Hội?

Dựa vào đầu mà Giáo Hội nói rằng Giáo Hội được Chúa công nhận là đại diện duy nhất của Chúa ở trên cõi trần gian này?

Dựa vào đâu và tiêu chuẩn nào mà Giáo Hội đặt ra những tín lý, những giáo luật, những tập tục và ban hành những thánh lệnh, những tuyên huấn, những lời dạy để con người ở thế gian này theo đó mà hành xử?

Tất cả đều được Giáo Hội trả lời rằng các nhà thần học của Giáo Hội đã được mặc khải. (Chúa trực tiếp nói với họ.)

Lại có người thắc mắc: Tại sao Chúa chỉ mặc khải với Giáo Hội mà không mặc khải với những người khác, thì được trả lời rằng Chúa chỉ tin có Giáo Hội mới xứng đáng được Chúa mặc khải, còn những người cá nhân hay tập thể khác không có đủ tư cách cho Chúa tin tưởng để mặc khải.

Giáo Hội La Mã được mặc khải là phải thiết bộ máy cai trị theo chế độ tăng lữ quân chủ toàn (sacerdotal monarchy) hay còn gọi là chế độ giáo hoàng (papacy) với tất cả những gì cực kỳ chuyên chính, cực kỳ phong kiến, cực kỳ phản tiến hóa và cực kỳ phản nhân quyền.

Giáo Hội lại được Chúa mặc khải cho biết là tất cả mọi người ở trên trái đất này đều phải làm nô lệ cho Giáo Hội mà Giáo Hội gọi là ” con cái hèn mọn của nhà Chúa “. Cũng vì thế mà Giáo thường bịa ra chuyện được Chúa “mặc khải” để ban hành những thánh lệnh (cũng gọi là sắc chỉ) ăn cướp trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Ý chính của sắc chỉ này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh tóm lược và đã được ghi lại nời điều 12 ở trên.

Tất cả những người có lý trí và còn biết sử dụng lý trí đều cho rằng không làm gì có chuyện Chúa mặc khải cho Giáo Hội những điều như đã nói ở trên. Tất cả những tín lý Ki-tô và tất cả những gì Giáo Hội nói hoặc rao truyền đều là bịp bợm và lừa gạt người đời, và tất cả những người chẳng may bị lọt vào vòng kèm tỏa của Giáo Hội đều là những tên nô lệ cho Giáo Hội và được Giáo Hội phỉnh gạt là “con Chúa”, nhưng Giáo Hội cũng không giấu giếm, nói trắng ra rằng là “tôi tớ hèn mọn” của Giáo Hội và gọi họ là “con chiên” tức là một lũ súc sinh ngu như con cừu.

Chúng ta nên minh định cho rõ trong xã hội Ki-tô, ai là nô lệ? Ai là chủ nô? Ai là người lừa bịp và phỉnh gạt? và Ai là những người bị lừa bịp và bị phỉnh gạt?

Rõ ràng là Giáo Hội cùng với giai cấp tu sĩ là bọn chủ nô và là những tay tổ đại bịp, giáo dân là những bầy nô lệ và cũng là những nạn nhân bị lừa bịp và bị phỉnh gạt.

Do đó, chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy rằng:

1.- Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi (1807-1882) tuyên bố:

a.- ” Linh muc là hiện thân của sự gian trá”. (The priest is the personification of falsehood).

b.- ” Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.)

c.- ” Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do”. (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.)

3.- Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) tuyên bố:

Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do.” (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.)

Cũng trong sách này, trong tiểu mục Huyền Thoại Vườn Địa Đàng, ông viết:

Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát xuất từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.”

Tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tở nhất mà một số người dám đòi hỏi một các ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi…”

Nhà thờ Vatican và chính bản thân họ có những hành động ngang ngược phản nhân quyền, phản tiến hóa và phản dân chủ như vậy. Ấy thế mà họ vẫn ra rả rêu rao là tranh đấu cho nhân quyền, cho tư do dân chủ và tự do tôn giáo cho Việt Nam. Họ nói không biết ngượng. Đúng là: ” Loài giòi bọ trong đống rác thối tha lại chê bướm tiên trong vườn thượng uyển.

Vì thế, chúng ta hãy đề cao cảnh giác mà nhớ rằng, ” Đừng nghe những gì Nhà Thờ Vatican và tín đồ Ca-tô người Việt nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.”

26.- Chúng ta cho rằng chính sách của Nhà Thờ Vatican là cấu kết Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam trong những năm 1858-1945, việc đem quân sang tái chiếm Đông Dương vào mùa thu năm 1945 gây nên cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) 1945-1954, cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ để cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam để biến thành tiền đồn Chống Cộng và biến thành một quốc gia riêng biệt theo đạo Ki-tô. Chúng ta khẳng định như vậy là dựa vào các tài liệu lịch sử như:

a.- Các thánh lệnh hay sắc chỉ do chính Vatican ban hành trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 như đã trích dẫn nơi điều 12 ở trên.

b.- Bản văn sử do người trong chăn Nhà Thờ Vatican là cựu giáo sĩ Avro Manhattan ghi trong sách Vietnam Why Did We Go? với nguyên văn như sau:

Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang lên.

( The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military psence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War.”)

Trong Giáo Hội Công Giáo thì trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể, vì Giáo Hội đã tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: “Ngòai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi” (hors de l’ Église, point de salut). Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đã được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội chỉ có thể sai lầm. Mà Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu hòan thành sứ mạng cứu rỗi của mình. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đã không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo”, nếu không chịu sửa sai. Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ý thức rất chân thành và nghiêm chỉnh của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của mình. Thật là cảm động khi nhìn lại cái ý chí sắt đá mà Giáo Hội đã giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng trầm trong gần hai ngàn năm lịch sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của Đức Kitô: “Các con hãy ra đi dạy dỗ các dân tộc”. Điều đáng buồn là một số phương pháp mà Giáo Hội đã dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính cách phản giáo khoa. Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá khứ, Giáo Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của mình cũng như trong xã hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, Trong thông điệp ngày 29-4-1814 gửi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII viết “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi…”. Tóm lại, ít nữa là trước Công Đồng Vatican II, lý tưởng của Giáo Hội vẫn là thời vàng son Trung Cổ trong đó Giáo hội có đủ thế lực để giành độc quyền dạy dỗ các dân tộc. Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung nói trên (ngòai những lý do khác) đã khiến cho Giáo Hội va chạm nặng nề với các dân tộc Á Đông và đã không thành công mỹ mãn trong việc rao giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo thật là ít oi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Lý do căn bản của kết quả khiêm tốn ấy phải chăng là người Á Đông, khi theo đạo phải ly cách với cộng đồng dân tộc chính vì Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi, do đó gần như bắt buộc người Á Đông phải lựa chọn giữa dân tộc và Giáo Hội. người Công Giáo không có quyền có ý kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của giáo quyền. Có một ý kiến riêng là đã “lạc đạo” rồi như Giám-mục Bossuet viết: “Người lạc đạo” (hétérique) là người có một ý kiến theo nguyên nghĩa. Mà có một ý kiến là gì? Là một tư tưởng riêng, một tình cảm riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ biến (universel), con người không có tình ý riêng tư mà luôn luôn phải tuân theo tình ý của Giáo Hội không một chút do dự. ” Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi các lý do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai.

Ngoài việc bị nhốt trong ngục tù ngu dốt như trên, họ còn bị kiểm soát gắt gao, không được phép ” có ý kiến riêng mà luôn luôn phải tuân thủ theo lời dạy của giáo quyền.” Nếu họ có một ý kiến riêng thì sẽ bị coi là “lạc đao” và sẽ bị nghiêm trị nếu không chịu sửa sai. Sự kiện này được Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại trong sách Tôn Giáo và Dân Tộc với nguyên văn như sau:

Ngày nay hầu hết mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo, giết đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mì nh vào địa vị các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn.”

Phải chống lại các chính quyền không thần phục Vatican.”

29.- Chúng ta dùng lý trí để tìm hiểu sự vật (cách vật trí tri). Trái lại, họ chỉ biết dùng cảm tính để nói về sự vật.

32.- Vìquen sống nếp sống văn hóa hiếu hòa (sĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười) và nhân ái ứ hải giai huynh đệ) do nền đạo lý vi tha của nền tam giáo cổ truyền tạo nên, cho nên chúng ta không bao giờ có ý định cưỡng bách người khác phải làm theo ý muốn của mình (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Mẫu người lý tưởng của chúng ta là “chính nhân quân tử” và chúng ta phải hành xử theo cáo đạo của người quân tử, nghĩa là phải thành thật với chính minh và thành thật với mọi người và luôn luôn phải sống theo cái quy luật “nhân, nghĩa, lễ trí, tín và dũng” của kẻ sĩ mà ngày nay có thể gọi là cái liêm sỉ và lương tâm của người trí thức.

Ngòai 4 vụ nêu trên đã xẩy ra ở Bắc Mỹ, thiết tưởng còn hàng ngàn vụ khác tương tự như vậy. Ấy là chưa kể hàng rừng vụ các linh mục lừa gạt tín đồ, ôm tiền đóng góp của tín đồ đi nuôi tình nhân. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Những con rận lớn, rận nhỏ trong cái chăn Ca-tô do chính những người trong chăn kể lại cho thiên hạ biết, mặc dù là Nhà Thờ Vatican đã dạy họ rằng:

Là tín đồ ngoan đạo, họ có bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo biết.”

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán.”

Nhất sự bất tín, vạn sự bất khả tín. Với cái thói quen trong nếp sống văn hóa phỉnh gạt, lừa bịp, gian tham, dối trá như vậy, với tình trạng được dạy dỗ rằng ” phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo biết”, thì chăc chắn là các phẩm của họ về lịch sử, đặc biệt là những tác phẩm đó lại có liên hệ đến những việc làm tội ác của Nhà Thờ Vatican và tín đồ Ca-tô đã chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày 30/4/1975, chỉ có thế là làm cho những người đồng đạo của họ được hài lòng, còn chúng ta, làm sao chúng ta có thể tin được tính cách khách quan trong những tác phẩm lịch sử của họ?

33.- Nền đạo lý Đông Phương cổ truyền của chúng ta cho rằng mọi tội ác ở trên cõi đời này đều do những dục vọng bất chính như (lòng ham muốn lợi lộc, công danh, quyền lực (tham), ganh ghét, đố kị, tị hiềm, thù hận (sân), sự ngu dốt (si) và thiếu lòng nhân ái, tương thân tương ái mà gây ra. Vì thế, Nhà Phật mới chủ trương dạy đời phải diệt dục, dứt bỏ tham, sân, si để trừ khử cái căn nguyên thôi thúc người đời lao vào con đường tội ác, Khổng Giáo mới đề cao, cổ súy và hoằng dương lòng nhân ái với hy vọng là người nguời trong thiên hạ sẽ thương yêu nhau như anh em một nhà (tứ hải giai huynh đệ). Nhờ vậy mà xã hội chúng ta, dù cho không được hoàn hảo, nhưng hầu hết mọi người trong chúng ta thường có thái độ khiêm tốn, hòa nhã, và nhẫn nại chịu đựng, khinh thường lợi lôc phi nghĩa, coi nhẹ công danh và quyền lực, coi trọng lòng nhân ái và tinh thần hiếu hòa. Cũng vì thế mà trong xã hội chúng ta tương đối là ít có những người hợm hĩnh, huênh hoang, khoác lác, ham hố, tham lợi, băng xăng, xun xoe, nịnh bợ những người quyền thế, ít có những người làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng và chèn ép những người dưới quyền và lép vế thế cô.

Trái lại, Nhà Thờ Vatican chủ trương khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của tín đồ và người đời, rồi dùng những miếng mồi vật chất và chức vụ trong Nhà Thờ cũng như trong chính quyền để câu nhử những phương tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực chạy theo bắt mồi với dã tâm lợi dụng họ, đưa họ vào cái tròng danh lợi để sai khiến. Cuối cùng, họ trở thành một thứ nộ lệ cho Nhà Thờ, chẳng hạn Nhà Thờ đã lùa họ vào các đạo quân thập ác đi tấn công chiếm đọat đất đai của các dân tộc thuộc các tôn giáo hay văn hóa khác để làm thuộc địa cho Nhà Thờ. Đây là sự thật và đã được ghi vào sách sử:

(” The pope’s call for a crusade.– Pope Urban II (1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Holy Land from Moslems. In 1095 he called a great meeting of churchmen and French nobles at Clemon, France. He urged the powerful nobles to stop warring among themselves and join in one great war against unbelievers….

Trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất,… Sau một thời gian bao vây, quân Thập Ác chiếm được thành Jerusalem. Họ tàn sát dân Hồi giáo thật là vô cùng rùng rợn. Một vị chỉ huy quân Thập Ác viết cho Giáo Hoàng rằng con chiến mã của ông ta phải đi băng qua những xác chết và máu người lênh láng lên đến đầu gối.” (“The crusaders captured Jerusalem after a short siege and slaughtered the Moslem inhabitants in a terrible massacre. One leader wrote to the pope that his horse’ s legs had been bloodstained to the knees from riding among the bodies of the dead.”)

34.- Chúng ta haybất kỳ một người bình thường nào dù là mang quốc tịch nào, cũng phải nhìn nhận rằng:

A.- Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican là những quân cướp nước và đã bị tống cổ ra khỏi nước sau cả gần một thế kỷ chiến đấu gian khổ của dân tộc Việt Nam.

B.- Tất cả những khối bất động sản bị Liên minh xâm lược này cướp đoạt trong thời gian tấn chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858-1954 đều là của ăn cướp.

C.- Tất cả những khoản tài sản bị ăn cướp này đều được gọi là của ăn cướp. Tất cả những kẻ nào chứa chấp hay thủ đắc những khoản tài sản ăn cướp này đều là những kẻ đồng mưu với liên minh giặc nói trên, dù là đã có giấy tờ hay bằng khoán thủ đắc do chính quyền của liên minh giặc này cấp phát và phải bị truy tố ra trước pháp đình để xử lý đúng theo luật pháp của chính quyền nào đã có công tổng cổ được cái liên minh xâm lược này.

D.- Tất cả những khoản tài sản ăn cướp này sẽ phải hoàn trả lại cho khổ chủ sau khi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican bị tống cổ ra khỏi Việt Nam.

E.- Bất kỳ thế lực nào tống cổ được Liên Minh Xâm Lược Pháp-Vatican ra khỏi đất nước phải có trách nhiệm kiểm tra, truy tầm và thâu hồi những khoản tài sản đã bị ăn cướp này để trả về cho khổ chủ.

Trái lại, dù cho vào một trường hợp nào đó, họ cũng công nhận người Pháp là quân xâm lược, nhưng trong thực tế họ vẫn coi thực dân xâm lược Pháp là đồng minh thân thiết của Vatican và họ đã liên tục đứng vào hàng ngũ Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican để chống lại tất cả các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta. Họ cho rằng tất cả những khoản bất động sản do Nhà Thờ Vatican thủ đắc trong thời 1862-1954 là hợp pháp và Nhà Thờ Vatican có quyền thủ đắc, bất kể là trong thực tế những khoản bất động đó chỉ là đồ ăn cướp do Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đã ăn cướp của dân ta trong thời kỳ này. Cũng vì thế mà Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và đồng bọn tu sĩ áo đen xúi giục giáo dân tập họp bất hợp pháp, cắm thập ác và dựng tượng bà già xề Maria tại tòa nhà công sở số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong những ngày từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 và tại cơ sở Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội từ ngày 15/8 đến ngày 22/9/2008 với mục đích vừa gây bạo lọan, vừa đòi chiếm lại hai khỏan bất động sản này cho Nhà Thờ Vatican dù rằng họ thừa biết những khoản bất động sản này là đồ ăn cướp mà Vatican đã ăn cướp của dân ta trong thời 1885-1945.

35.- Khi xét về một biến cố lịch sử, chúng ta xét đến nguyên nhân chính, tức là cái gốc rễ làm cho biến cố đó bùng nổ hay xẩy ra. Thí dụ như:

A.- Xét về cuộc Kháng Chiến 1945-1954, chúng ta cho rằng vì Liên Minh Xâm Lược Pháp đánh chiếm và thống trị nước ta, cho nên nhân dân ta mới phải tổ chức các lực kháng chiến vùng lên đánh đuổi quân thù xâm lược để đòi lại quyền độc lập cho dân tộc.

B.- Khi xét và cuộc chiến giải phóng miền Nam, chúng ta cho rằng vì Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican dùng sức mạnh quân sự cưỡng chiếm miền Nam để vừa biến thành tiền đồn chống Cộng theo “chính sách be bờ” để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ miền Bắc tràn xuống, vừa biến thành một quốc gia riêng biệt theo đạo Ki-tô để phục vụ cho quyền lợi của Nhà Thờ Vatican. Vì thế mà chính quyền miền Bắc cũng như toàn thể nhân dân ta phải lao đầu ào cuộc chiến đánh đuổi Liên Quân Xâm Lược Mỹ – Vatican để hòan thành sứ mạng thống nhất đất nước, đem giang sơn về một mối.

C.- Khi xét về phong trào Phật Giáo vùng lên tranh đấu đòi quyền bình đẳng về tôn gíáo vào năm 1963, chúng ta cho rằng nguyên nhân làm cho phong trào này bùng nổ là do bạo quyền Ngô Đình Diệm tiến hành kế họach Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực như đã nói ở trên, trong đó có chính sách bách hại và chèn ép Phật Giáo là một phần trong kế hoạch này.

Trái lại, cũng xét::

A.- Về cuộc Kháng Chiến 1945-1954, họ cho rằng nguyên do có cuộc chiến này là do Đảng Cộng Sản và Mặt Trận Viêt Minh chủ trương phát động khiến cho nhân dân Việt Nam phải gánh chịu những cảnh chết chóc và đau thương do cuộc chiến này gây ra.

B.-Về cuộc chiến giải phóng miền Nam, họ cho rằng nguyên nhân của cuộc chiến này là do miền Bắc xâm lăng miền Nam mà gây ra cuộc chiến này.

C.- Về phong trào Phật Giáo vùng lên tranh đấu đòi quyền bình đẳng về tôn gíáo, họ cho rằng nguyên nhân là do các phong trào Phật Giáo nổi loạn chống chính quyền, nhưng họ lại luôn luôn giấu nhẹm hay không hề đả động gì đến những hành động bách hạị và chèn ép Phật Giáo.

Rõ ràng là họ luôn luôn, chặt bớt mất cái gốc, lấy ngọn làm gốc rồi cãi cố cãi chày để chạy tội cho Liên Minh Xâm lược Pháp – Vatican, chạy tôi cho Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican và chạy tội cho bạo quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam.

36.- Khi xét một vấn đề gì, đặc biệt là khi xét về một nhà lãnh đạo chính quyền hay một chế độ chính trị, chúng ta luôn luôn phải tìm hiểu theo thứ tự (1) nguyên nhân hay nguồn gốc, lý lịch hoặc mục đích, (2) diễn tiến hay việc làm, và (3) hậu quả hay tác dụng hoặc phản ứng của nhân dân. Thí dụ như:

I.- Xét về “con người và việc làm của Nguyễn Trường Tộ “, chúng ta phải xét đến các yếu tố NGUỒN GỐC hay LÝ LỊCH của ông ta. Lý lịch của ông ta là:

A.- Tín đồ Ca-tô ngoan đạo.

B.- Có người Cha đờ đầu là Linh Mục Gauthier với cái tên Việt là Ngô Gia Hậu.

C.- Linh-mục Gauthier là cánh tay mặt của Giáo-mục Puginier.

D.- Giám-mục Puginier là đại diện của Nhà Thờ Vatican tại miền Bắc Việt Nam (Đường Ngoài) từ đầu thập niên 1860, và cũng là tác giả Kế Họach Puginier với chủ trương “diệt tận gốc, trốc tận rễ” Nho Giáo cùng nếp sống cổ truyền của dân tộc Việt Nam, và đã nói thẳng với viên chức Pháp tại Đông Dương rằng phải giết hết Nho Sĩ Việt Nam.

E.- Tín đồ Ca-tô ngoan đạo phải tuyệt đối trung thành với Nhà Thờ Vatican, phải triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên, và phải:

“Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.”

II.- Xét về “con người và việc làm của Ngô Đình Diệm “, chúng ta cũng theo nguyên tắc xét như trên, ông ta:

A.- Là một tín đồ Ca-tô ngoan đạo thuộc một gia đình đã có tới ba đời nối tiếp nhau làm việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và sau đó chính ông ta lại bán nước cho Mỹ nữa.

B.- Được chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đặc cách thâu nhận vào theo học tại trường Hậu Bổ ở Huế với chương trình học là hai năm.

C.- Đã làm quan cho chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatcan trong những năm 1922-1933 và đã có những hành động cực kỳ dã man đối với nhà ái quốc chẳng may bị ông ta bắt được:

“Có người cho rằng Diệm, khi làm tri phủ Hòa Đa, đã dùng đèn cầy ”

F.- Tháng 8/1950 được Giám-mục Ngô Đình Thục đã sang Tòa Thánh Vatican chầu hầu và nhận lệnh Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958, rồi lại được dẫn sang Mỹ giao cho Hông Y Francis Spellman (1889-1967) vận động với các chính khách Ca-tô có thế lực trên sân khấu chính trị Mỹ để làm áp lực với Pháp và với Quốc Trường đưa về Việt Nam cầm quyền để phục vụ cho quyền lợi của Vatican và quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng phải đợi đến khi chính quyền Cộng Hòa trong thời Tổng Thống Eisenhower và khi Pháp sa lầy và bị thảm bại tại Điện Biên Phủ, ông ta mới được Mỹ đồng ý với Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền.

Xét về cá tính như gian xảo, cuồng tín và ngu xuẩn của ông ta, chúng ta phải căn cứ vào những lời do chính ông tuyên bố, căn cứ vào những hành động của chính ông ta, và căn cứ vào những nhận xét của những người thân cận (không phải là bà con thân thuộc), của những chính khách, của những học giả và của các nhà trí thức đã từng làm việc hay tiếp xúc với ông ta. Những nhận xét này đã được ghi vào những bản văn trong hồi ký, trong công văn hay trong các tác phẩm của họ. Đó là những nhân vật như Tướng Ca-tô Hùynh Văn Cao, Đại Tá Edward G. Lansdale, Đại-sứ Henry Cabot Lodge, sử gia Bernard B. Fall, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo-sư Lý Chánh Trung, v.v… Vấn đề này đã được người viết trình bày khá rõ ràng trong một tiểu mục của chương sách có tựa đề là “Thân Thế và Đặc Tính Cuồng Tín củâ Ngô Đình Diệm.” Chương sách này nằm trong Mục XVIII, Phần VI của bộ sách lịch sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã và đã được đưa lên chúng tôi trước đây.

Xét về việc làm bất chính và tội ác của ông ta trong thời gian ông ta được Mỹ và Vatican cho cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, chúng ta phải xét đến tất cả những việc làm mà cá nhân và chính quyền của ông ta đã làm trong thời gian ông ta cầm quyền, thì mới có thể thẩm định chính xác về con người và chính quyền của ông ta. Theo sách sử, trong thời gian cầm quyền, cá nhân và chính quyền ông Diệm đã làm những việc sau đây:

A.- Từ chối lời yêu cầu của chính quyền Hà Nội, cương quyết không cộng tác với miền Bắc để tiến hành tổ chức tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 để thống nhất đất nước như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định.

B.- Toa rập với Nhà Thờ Vatican trong việc cưỡng bách nhân dân miền Nam Việt Nam phải sử dụng danh xưng “Công Giáo” thay thế cho các danh xưng Da-tô giáo, Ki-tô giáo, Cơ Đốc giáo và Thiên Chúa giáo La Mã trong các văn thư hành chánh, sách giáo khoa, ấn phẩm văn hóa, trên các báo chí và trong các tài liệu truyền thông.

D.- Toa rập với Nhà Thờ Vatican trong việc tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể rồi mời vị khâm-sứ đại diện của Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế dâng nước Việt Nam cho Vatican dưới danh nghĩa là Đức Mẹ Vô Nhiễm.

F.- Thiết lập các tổ chức cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh quân đội như thiên la đia vọng để tăng cường khả năng đàn áp nhân dân và chuẩn bị cho tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân bằng bạo lực.

Về con số người bị sát hại và bị cầm tù, xim xem nơi các trang 127-131 trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang.

Về vấn đề chính quyền Ngô Đình Diệm dùng những thủ đọan bất chính, gian manh và quỷ quyệt để hù dọa, chèn ép, khủng bố tinh thần khiến cho nạn nhân phải tìm cách theo đạo Ca-tô ” để khỏi bị cảnh sát quấy nhiễu” hay được ” an toàn về chính trị” cũng như vấn đề dùng những miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính quyền để câu nhử những người tham lợi, háo danh chạy theo bắt mồi mà theo đạo, xin đọc cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) của Linh-mục Trần Tam Tỉnh.

I.- Toa rập với chính quyền và quân đội Mỹ dùng vũ khí hóa học gọi là Chất Độc Da Cam với một khối lượng khổng lổ 77 triệu lít rải xuống đồng ruộng và rừng cây ở miền Trung và miền Nam đế sát hại nhân dân, hủy họai mùa màng, tàn hại thổ nhuỡng đất đai canh tác của đất nước và gây thảm họa cho người dân trong vùng sinh ra những trẻ em bị khuyết tật. Tội ác này được sách Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam ghi lại như sau:

Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”

Ta có thể nói đây là cái nguyên tắc viết sử của họ. Cái nguyên tắc này cũng được nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn nói rõ trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau:

Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoài đạo được biết.” .

1. Văn thư của ông chủ tịch UBND TP Hà Nội gửi HĐGMVN va DCCTVN

Ban Tôn Giáo Chính Phủ Ký tên và đóng dấu

Văn Phòng Chính Phủ Ký tên và đóng dấu

40.– Cũng như các nếp sống văn hóa khác, nền văn hóa của chúng ta thường nói đến cụm từ “phục vụ đất nước”, “phục vụ tổ quốc”, “phục vụ nhân dân” và cho rằng vấn đề này là tối quan trọng vì rằng đất nước hay tổ quốc đều có nhu cầu cần phải đóng góp của tất cả mọi người dân về tài lực, nhân lực và sinh mạng nếu cần như trường hợp đất nước bị xâm lăng hay bị thiên tai hoặc bất kỳ một tai ương thảm họa nào khác.

Trái lại, trong nền văn hóa Ki-tô, họ thường nói đến cụm từ “phục vụ Chúa” và cho rằng vấn đề này là toíoi quan trọng.

Vấn đề đặt ra là ” Chúa toàn năng, toàn thiện và có mặt ở khắp mọi nơi “, Chúa có quyền biến hóa và tạo dựng nên tất cả mọi thứ ở trên thế gian này. Không có một thế lực nào có thể làm hại được Chúa. Cần một thứ gì Chúa cũng có thế biến hóa ra được để Chúa sử dụng. Kẻ thù nào Chúa cũng đánh thắng, khó khăn nào Chúa cũng có thể vượt qua, nguy hiểm nào cũng phải lùi bước trước quyền năng của Chúa. Vậy thì Chúa có cần đến người đời phục vụ Chúa hay không?

Chắc chắn là không rồi. Vậy thì cụm từ “phục vụ Chúa” chỉ là một trong muôn ngàn thủ đọan lưu manh được sáng tác ra để lừa bịp và lợi dụng tín đồ làm nô lệ cho Nhà Thờ Vatican, giống như bọn thày cúng và đồng cốt ở đất Nghiệp Đô trên ven sông Chương Hà bịa đặt ra chuyện hàng năm phải cưới một cô vợ trẻ đẹp cho ông thần hà bá ở khúc sông này, rồi cấu kết với bọn cường hào ác bá địa phương để hà hiếp và bóc lột nhân dân trong vùng mà thôi.

Quý vị nào nói rằng Chúa cần phải được người đời phục vụ, xin lên tiếng bằng những lời giải thích thuận lý và gửi về sáchhiem.net để phổ biện rộng rãi cho mọi người được lãnh giáo và tham luận.

Những người biểu tình chống đối có biết rằng trong thế giới ngày nay mà lên án một người nào là cộng sản thì thật là ngu xuẩn không? Nó đã quá lỗi thời và chứng tỏ là các người thiếu giáo dục.

Nguyên văn: “You got it. Ignorant is the word. France and later the US had trained these ignorant people to serve them. Their job is sniffing out their people who is against their masters, communist or not. They would call anyone opposes foreign domiation “communist” and jail and kill them. That’s why they didn’t have any support from the population. That’s why when the US run, they had to run too. The Saigon regime didn’t even have the support of its own soldiers, that’s why it took only 55 days for the North Army to take total control of South Vietnam in the Ho Chi Minh Campaign in 1975. Something that the biggest war machine this world has ever seen couldn’t do in ten years despite killing millions of people, dropping 8 million tons of bombs anf 70 million liters of Agent Orange.

All their lives until this day, they’re stuck in that mentality. They think if they chant those empty slogans often enough they will get the support they need to bully others here in the US, and surprisingly they did succeed. That proves one thing. There’re a lot of ignorant people in the US ‘ population too.

Do you protestors realize how ignorant it sound to utilize and accuse someone of being a communist in today’s world? It’s outdated and clearly demonstrates your lack of education.

The 1000 USC American Vietnamese students are correct to state that the Red flag with the star doesn’t repsent them. It is because the red, white, and blue repsents them in every federal, state, county, and city building.

You have no right to tell USC or anyone of that matter to fly what flag they want to. It is neither a privilege but a right that was given and fought for. If you protestors wanted to the old South Viet Nam flag to fly you should have stayed and fought. The North stayed and fought and they got what they wanted. The facts remain for the South that didn’t occur and we are here now in 2008. What else do you want more from the US? Do ou want us to wage another war against Vietnam?”

Đây là cái hậu quả của Nhà Thờ Vatican đã ” đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo “. Cái lối đào tạo thanh thiếu niên này khiến cho họ bị ràng buộc bởi những tín lý Ki-tô và những lời dạy của Nhà Thờ Vatican như đã nêu lên ở trên, và vì đã quen sống với nếp sống văn hóa trái ngược với các nếp sống văn hóa của các xã hội ngoài đạo Ki-tô, cho nên họ không thể thích nghi với xã hội dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ này. Vì thế, họ mới bị mắng nhiếc là “ngu xuẩn”, là “thiếu giáo dục” và là sản phẩm của người Pháp và người Mỹ đã huấn luyện để làm tay sai cho các thế lực ngoại xâm.

Cuối cùng, hạng người “ngu xuẩn” và “thiếu giáo dục” này trở thành cái di lụy cho Việt Nam và là gánh nặng cho xã hội loài người.

ốVì lẽ này, mà tín đồ Ca-tô ngoan đạo hay còn tuyệt đối trung thành với Nhà Thờ Vatican không thể nào trở thành các nhà viết sử chân chính, và tác phẩm lịch sử của họ tất nhiên là không thể nào phản ảnh trung thực với những sự kiện đã xẩy ra trong lịch sử, chứ đừng nói đến chuyện họ đóng vai trò thẩm định một tác phẩn lịch sử.

( xin xem tiếp phần 3)

CHÚ THÍCH

Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Đông Phương (Toronto, Canada: Làng Văn, 1997), tr. 93.

Dun J. Li,. Dun J. Li,. The Ageless Chinese (New York Charles Scriber’s Sons, 1978), tr. 67

Phan Đình Diệm, “Kiến Nghị 6.” Ngày 15/6/1999. [email protected]

Lý Chánh Trung, Sđ d., tr. 74-75.

Chính Đạo, Sđd., tr, 290-291.

Roberts McNamara, Sđd., tr. 100-101.

Tường Minh – Chu Văn Trình, Sđd., tr. 209.

Roberts McNamara,Sđd., 65-66.

Vũ Tam Ích, A Historical Survey Of Educational Developments In Vietnam (Lexington,Kentucky: College of Education, Uuniversity of Kentucky, 1959), p. 27.

Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr. 14-15.

Jack T. Chick, Ibid., tr. 17.

Cửu Long Lê Trọng Văn, Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1996), 188-193.

Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 76.

Quảng Toàn & Nguyễn Hoài, Những Họat Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Trong Thời Kỳ Kháng Chiến (Hà Nội: Nhà Xuất Nam Khoa Học, 1965), tr. 21.

Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 300.

Trần Chung Ngọc, Sdd., tr. 300.

Trần Chúng Ngọc, Sđd., tr. 292.

Charlie Nguyễn, Sdd., tr. 63-64.

The News Tribune Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973 ), tr. 76.

Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 157.

Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 73-78.

Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh: Tân Văn, 2003), tr. 320.

Joseph Nguyễn Thanh Sơn, Tận Thế số 2, 15/7/2002, (Fountain Valley, CA: TXB, 2002), tr.5.

Anatole G. Mazour & John M. Peoples, Ibid., p. 218.

Vũ Ngự Chiêu, Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, TX: Văn Hóa, 1993), tr. 262.

Vũ Đình Họat, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan – Tập II (Fall Church, VA: Alpha, 1991), tr.1013- 1014.

Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr. 126-127.

Joseph Buttinger. Ibid, p. 956, và Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tô i (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993) tr. 645.

Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

Nigel Cawthorne, Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004), pp.167-168.

Nguyễn Ngọc Ngạn,Sđ d., tr. 320.

Nguồn: sáchhiem.net ngày 23/12/2008.

Tú Gàn. “Bôi Nhọ Chính Nghĩa Quốc Gia.” Sàigòn Nhỏ số 97. Ngày 23/10/1998.

【#4】Luật Cán Bộ, Công Chức 2008, Luật Số 22/2008/qh12 Mới Nhất 2021

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

Xem có chú thích thay đổi nội dung

LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA SỐ 22/2008/QH12 NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2008 QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ TƯ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật này quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức; nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công vụ.

Điều 3. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

2. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

3. Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát.

4. Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả.

5. Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ.

Điều 4. Cán bộ, công chức

1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Điều 5. Các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức

1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước.

2. Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.

3. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng.

4. Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ.

5. Thực hiện bình đẳng giới.

Điều 6. Chính sách đối với người có tài năng

Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng.

Chính phủ quy định cụ thể chính sách đối với người có tài năng.

Điều 7. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền quản lý, phân công, bố trí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức.

2. Cơ quan quản lý cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, nâng lương, cho thôi việc, nghỉ hưu, giải quyết chế độ, chính sách và khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

3. Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

5. Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật.

6. Miễn nhiệm là việc cán bộ, công chức được thôi giữ chức vụ, chức danh khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

7. Bãi nhiệm là việc cán bộ không được tiếp tục giữ chức vụ, chức danh khi chưa hết nhiệm kỳ.

8. Giáng chức là việc công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị hạ xuống chức vụ thấp hơn.

9. Cách chức là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý không được tiếp tục giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

10. Điều động là việc cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác.

11. Luân chuyển là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.

12. Biệt phái là việc công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị này được cử đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ.

13. Từ chức là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý đề nghị được thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

CHƯƠNG II

NGHĨA VỤ, QUYỀN CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Mục 1

NGHĨA VỤ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Điều 8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.

2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.

3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.

4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Điều 9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ

1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.

3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.

5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu

Ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật này, cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

1. Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

2. Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

3. Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

4. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

5. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Mục 2

QUYỀN CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Điều 11. Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ

1. Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.

2. Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật.

4. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.

5. Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.

1. Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

2. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 13. Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi

Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ.

Điều 14. Các quyền khác của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Mục 3

ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Điều 15. Đạo đức của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ.

Điều 16. Văn hóa giao tiếp ở công sở

1. Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.

2. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.

3. Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp.

Điều 17. Văn hóa giao tiếp với nhân dân

1. Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.

2. Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.

Mục 4

NHỮNG VIỆC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC KHÔNG ĐƯỢC LÀM

1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.

2. Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.

4. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

CHƯƠNG III

CÁN BỘ Ở TRUNG ƯƠNG, CẤP TỈNH, CẤP HUYỆN

1. Cán bộ quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật này bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.

Điều 22. Nghĩa vụ, quyền của cán bộ

2. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và điều lệ của tổ chức mà mình là thành viên.

3. Chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Điều 24. Bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan nhà nước

Việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Điều 25. Đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ

1. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ.

2. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định.

Điều 26. Điều động, luân chuyển cán bộ

1. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, cán bộ được điều động, luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

2. Việc điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 27. Mục đích đánh giá cán bộ

Đánh giá cán bộ để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ.

Điều 28. Nội dung đánh giá cán bộ

1. Cán bộ được đánh giá theo các nội dung sau đây:

a) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;

b) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;

c) Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ;

d) Tinh thần trách nhiệm trong công tác;

đ) Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

2. Việc đánh giá cán bộ được thực hiện hàng năm, trước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc nhiệm kỳ, thời gian luân chuyển.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 29. Phân loại đánh giá cán bộ

Điều 30. Xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm

1. Cán bộ có thể xin thôi làm nhiệm vụ hoặc từ chức, miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

b) Không đủ năng lực, uy tín;

c) Theo yêu cầu nhiệm vụ;

2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 31. Nghỉ hưu đối với cán bộ

1. Cán bộ được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động.

2. Trước 06 tháng, tính đến ngày cán bộ nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ phải thông báo cho cán bộ bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày cán bộ nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ ra quyết định nghỉ hưu.

3. Trong trường hợp đặc biệt, đối với cán bộ giữ chức vụ từ Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên có thể được kéo dài thời gian công tác theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

CHƯƠNG IV

CÔNG CHỨC Ở TRUNG ƯƠNG, CẤP TỈNH, CẤP HUYỆN

Mục 1

CÔNG CHỨC VÀ PHÂN LOẠI CÔNG CHỨC

1. Công chức quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này bao gồm:

a) Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội;

b) Công chức trong cơ quan nhà nước;

c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

2. Chính phủ quy định cụ thể Điều này.

Điều 33. Nghĩa vụ, quyền của công chức

2. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

3. Chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Điều 34. Phân loại công chức

1. Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:

2. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:

a) Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;

b) Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Mục 2

TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC

Điều 35. Căn cứ tuyển dụng công chức

Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.

Điều 36. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

1. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:

a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;

d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;

đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;

g) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.

2. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:

a) Không cư trú tại Việt Nam;

b) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.

Điều 37. Phương thức tuyển dụng công chức

Điều 38. Nguyên tắc tuyển dụng công chức

1. Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.

2. Bảo đảm tính cạnh tranh.

3. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm.

4. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.

Điều 39. Cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức

Điều 40. Tập sự đối với công chức

Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ.

Điều 41. Tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên

Việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức Tòa án nhân dân và pháp luật về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Mục 3

CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGẠCH CÔNG CHỨC

Điều 42. Ngạch công chức và việc bổ nhiệm vào ngạch công chức

1. Ngạch công chức bao gồm:

a) Chuyên viên cao cấp và tương đương;

b) Chuyên viên chính và tương đương;

c) Chuyên viên và tương đương;

d) Cán sự và tương đương;

2. Việc bổ nhiệm vào ngạch phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

a) Người được bổ nhiệm có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch;

b) Việc bổ nhiệm vào ngạch phải đúng thẩm quyền và bảo đảm cơ cấu công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người được tuyển dụng đã hoàn thành chế độ tập sự;

b) Công chức trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch;

c) Công chức chuyển sang ngạch tương đương.

Điều 43. Chuyển ngạch công chức

1. Chuyển ngạch là việc công chức đang giữ ngạch của ngành chuyên môn này được bổ nhiệm sang ngạch của ngành chuyên môn khác có cùng thứ bậc về chuyên môn, nghiệp vụ.

2. Công chức được chuyển ngạch phải có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch được chuyển và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

3. Công chức được giao nhiệm vụ không phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức đang giữ thì phải được chuyển ngạch cho phù hợp.

4. Không thực hiện nâng ngạch, nâng lương khi chuyển ngạch.

Điều 44. Nâng ngạch công chức

Điều 45. Tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự thi nâng ngạch công chức

Điều 46. Tổ chức thi nâng ngạch công chức

Mục 4

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC

Điều 47. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức

1. Nội dung, chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn của ngạch công chức và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

2. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm:

a) Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức;

b) Đào tạo, bồi dưỡng theo các chức danh lãnh đạo, quản lý.

3. Nội dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng công chức do Chính phủ quy định.

Điều 48. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng công chức

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

3. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Điều 49. Trách nhiệm và quyền lợi của công chức trong đào tạo, bồi dưỡng

1. Công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

2. Công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng được hưởng nguyên lương và phụ cấp; thời gian đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thâm niên công tác liên tục, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật.

3. Công chức đạt kết quả xuất sắc trong khóa đào tạo, bồi dưỡng được biểu dương, khen thưởng.

4. Công chức đã được đào tạo, bồi dưỡng nếu tự ý bỏ việc, xin thôi việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Mục 5

ĐIỀU ĐỘNG, BỔ NHIỆM, LUÂN CHUYỂN, BIỆT PHÁI, TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

Điều 50. Điều động công chức

1. Việc điều động công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

2. Công chức được điều động phải đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm mới.

Điều 51. Bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

1. Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào:

a) Nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

b) Tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

2. Thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là 05 năm; khi hết thời hạn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.

3. Công chức được điều động đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang đảm nhiệm, trừ trường hợp kiêm nhiệm.

Điều 52. Luân chuyển công chức

1. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức, công chức lãnh đạo, quản lý được luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

2. Chính phủ quy định cụ thể việc luân chuyển công chức.

Điều 53. Biệt phái công chức

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức biệt phái công chức đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ.

2. Thời hạn biệt phái không quá 03 năm, trừ một số ngành, lĩnh vực do Chính phủ quy định.

3. Công chức biệt phái phải chấp hành phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được cử đến biệt phái.

4. Công chức biệt phái đến miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

5. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức biệt phái có trách nhiệm bố trí công việc phù hợp cho công chức khi hết thời hạn biệt phái.

6. Không thực hiện biệt phái công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Điều 54. Từ chức hoặc miễn nhiệm đối với công chức

1. Công chức lãnh đạo, quản lý có thể từ chức hoặc miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

b) Không đủ năng lực, uy tín;

c) Theo yêu cầu nhiệm vụ;

2. Công chức lãnh đạo, quản lý sau khi từ chức hoặc miễn nhiệm được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo hoặc nghỉ hưu, thôi việc.

3. Công chức lãnh đạo, quản lý xin từ chức hoặc miễn nhiệm nhưng chưa được cấp có thẩm quyền đồng ý cho từ chức hoặc miễn nhiệm vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc từ chức hoặc miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 55. Mục đích đánh giá công chức

Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức.

Điều 56. Nội dung đánh giá công chức

Điều 57. Trách nhiệm đánh giá công chức

1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền.

2. Việc đánh giá người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện.

Điều 58. Phân loại đánh giá công chức

Mục 7

THÔI VIỆC, NGHỈ HƯU ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

Điều 59. Thôi việc đối với công chức

1. Công chức được hưởng chế độ thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý;

c) Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật này.

2. Công chức xin thôi việc theo nguyện vọng thì phải làm đơn gửi cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản, nếu không đồng ý cho thôi việc thì phải nêu rõ lý do; trường hợp chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà tự ý bỏ việc thì không được hưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

3. Không giải quyết thôi việc đối với công chức đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Không giải quyết thôi việc đối với công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng.

Điều 60. Nghỉ hưu đối với công chức

1. Công chức được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động.

2. Trước 06 tháng, tính đến ngày công chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức phải thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày công chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức ra quyết định nghỉ hưu.

CHƯƠNG V

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Điều 61. Chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã

1. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.

2. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

3. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

d) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);

g) Văn hóa – xã hội.

Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.

4. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.

5. Căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương, Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã.

Điều 62. Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã

2. Cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được xem xét chuyển thành công chức, trong trường hợp này, được miễn chế độ tập sự và hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định cụ thể khoản này.

Điều 63. Bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã

3. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ, công chức.

Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ quy định.

Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VI

QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Điều 65. Nội dung quản lý cán bộ, công chức

1. Nội dung quản lý cán bộ, công chức bao gồm:

a) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức;

b) Xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ, công chức;

c) Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ;

d) Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế;

2. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định cụ thể nội dung quản lý cán bộ, công chức quy định tại Điều này.

Điều 66. Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ, công chức

1. Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định biên chế công chức của Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.

3. Chủ tịch nước quyết định biên chế công chức của Văn phòng Chủ tịch nước.

6. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định biên chế công chức trong cơ quan và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 67. Thực hiện quản lý cán bộ, công chức

2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức.

Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức.

Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của Chính phủ.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện việc quản lý công chức theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của Chính phủ.

Điều 68. Chế độ báo cáo về công tác quản lý cán bộ, công chức

1. Hàng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về công tác quản lý cán bộ, công chức.

2. Việc chuẩn bị báo cáo của Chính phủ về công tác quản lý cán bộ, công chức được quy định như sau:

a) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo về công tác quản lý cán bộ,[DHT1] công chức thuộc quyền quản lý;

b) Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước báo cáo về công tác quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý;

c) Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội báo cáo về công tác quản lý công chức thuộc quyền quản lý.

Các báo cáo quy định tại các điểm a, b và c khoản này được gửi đến Chính phủ trước ngày 30 tháng 9 hàng năm để tổng hợp, chuẩn bị báo cáo trình Quốc hội.

3. Việc chuẩn bị báo cáo công tác quản lý cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

4. Nội dung báo cáo công tác quản lý cán bộ, công chức thực hiện theo quy định tại Điều 65 của Luật này.

Điều 69. Quản lý hồ sơ cán bộ, công chức

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý. Hồ sơ cán bộ, công chức phải có đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của cán bộ, công chức.

2. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý.

3. Bộ Nội vụ hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

CHƯƠNG VII

CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THI HÀNH CÔNG VỤ

1. Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc.

2. Nhà nước đầu tư xây dựng công sở cho cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

3. Quy mô, vị trí xây dựng, tiêu chí thiết kế công sở do cơ quan có thẩm quyền quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức sử dụng.

1. Nhà ở công vụ do Nhà nước đầu tư xây dựng để cán bộ, công chức được điều động, luân chuyển, biệt phái thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác. Khi hết thời hạn điều động, luân chuyển, biệt phái, cán bộ, công chức trả lại nhà ở công vụ cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý nhà ở công vụ.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý nhà ở công vụ phải bảo đảm việc quản lý, sử dụng nhà ở công vụ đúng mục đích, đối tượng.

Điều 72. Trang thiết bị làm việc trong công sở

1. Nhà nước bảo đảm trang thiết bị làm việc trong công sở để phục vụ việc thi hành công vụ; chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả thi hành công vụ.

2. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện việc mua sắm trang thiết bị làm việc theo tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xây dựng quy chế quản lý trang thiết bị làm việc trong công sở, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.

Điều 73. Phương tiện đi lại để thi hành công vụ

Nhà nước bố trí phương tiện đi lại cho cán bộ, công chức để thi hành công vụ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; trường hợp không bố trí được thì cán bộ, công chức được thanh toán chi phí đi lại theo quy định của Chính phủ.

CHƯƠNG VIII

THANH TRA CÔNG VỤ

Điều 74. Phạm vi thanh tra công vụ

2. Thanh tra việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng, xử lý kỷ luật công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ.

Điều 75. Thực hiện thanh tra công vụ

1. Thanh tra bộ, Thanh tra sở, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức.

2. Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể hoạt động thanh tra công vụ.

CHƯƠNG IX

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 76. Khen thưởng cán bộ, công chức

1. Cán bộ, công chức có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.

2. Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.

Chính phủ quy định cụ thể khoản này.

Điều 77. Miễn trách nhiệm đối với cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

1. Phải chấp hành quyết định trái pháp luật của cấp trên nhưng đã báo cáo người ra quyết định trước khi chấp hành;

2. Do bất khả kháng theo quy định của pháp luật.

Điều 78. Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ

2. Việc cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ.

3. Cán bộ phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị Tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc.

4. Việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Điều 79. Các hình thức kỷ luật đối với công chức

Điều 80. Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật

Điều 81. Tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, nếu để cán bộ, công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ công tác nếu cán bộ, công chức không bị xử lý kỷ luật thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ.

2. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ.

1. Cán bộ, công chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương bị kéo dài 06 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; nếu bị giáng chức, cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.

2. Cán bộ, công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.

3. Cán bộ, công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc.

4. Cán bộ, công chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý.

Điều 83. Quản lý hồ sơ khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức

Việc khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức được lưu vào hồ sơ cán bộ, công chức.

CHƯƠNG X

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 84. Áp dụng quy định của Luật cán bộ, công chức đối với các đối tượng khác

Điều 86. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

2. Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 87. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Phú Trọng

Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 của Quốc hội

Cơ quan ban hành:

Quốc hội

Số công báo:

Đã biết

Số hiệu:

22/2008/QH12

Ngày đăng công báo:

Đã biết

Loại văn bản:

Luật

Người ký:

Nguyễn Phú Trọng

Ngày ban hành:

13/11/2008

Ngày hết hiệu lực:

Đang cập nhật

Áp dụng:

Đã biết

Tình trạng hiệu lực:

Đã biết

Lĩnh vực:

Cán bộ-Công chức-Viên chức

Luật cán bộ, công chức

Ngày 13/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Luật quy định: quản lý cán bộ, công chức (CBCC) phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; Việc sử dụng, đánh giá, phân loại CBCC phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; Thực hiện bình đẳng giới… CBCC trong thi hành công vụ phải chấp hành quyết định của cấp trên.

Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định.

Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Khi thi hành công vụ, CBCC phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp, không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân… CBCC là người đứng đầu có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh CBCC thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân… CBCC được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước.

Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2010.

Từ ngày 01/7/2020, Luật Cán bộ, công chức 2008 bị hết hiệu lực một phần bởi Luật Cán bộ, công chức sửa đổi 2021.

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

ON CADRES AND CIVIL SERVANTS

Pursuant to the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam, which was amended and supplemented under Resolution No. 51/2001/QH10;

The National Assembly promulgates the Law on Cadres and Civil Servants;

This Law provides for cadres and civil servants; election, recruitment, employment and management of cadres and civil servants; obligations and rights of cadres and civil servants, and conditions to assure public-duty performance.

Public duties of cadres and civil servants are to perform tasks and exercise powers of cadres and civil servants under this Law and other relevant regulations.

1. Compliance with the Constitution and laws.

2. Protection of the interests of the State and lawful rights and interests of organizations and citizens.

3. Publicity, transparency, performance within competence, and submission to examination and supervision.

4. Assurance of systematism, uniformity, continuity, smoothness and effectiveness.

5. Assurance of administrative hierarchy and close coordination.

1. Cadres are Vietnamese citizens who are elected, approved and appointed to hold posts or titles for a given term of office in agencies of the Communist Party of Vietnam, the State, socio-political organizations at the central level, in provinces and centrally run cities (below collectively referred to as provincial level), in districts, towns and provincial cities (below collectively referred to as district level), included in the payrolls and salaried from the state budget.

2. Civil servants are Vietnamese citizens who are recruited and appointed to ranks, posts or titles in agencies of the Communist Party of Vietnam, the State, socio-political organizations at the central, provincial and district levels; in People’s Army agencies and units, other than officers, professional military personnel and defense workers; in People’s Police offices and units other than officers and professional non-commissioned officers, and in the leading and managerial apparatuses of public non-business units of the Communist Party of Vietnam, the State and socio-political organizations (below collectively referred to as public non-business units), included in the payrolls and salaried from the state budget; for civil servants in the leading and managerial apparatuses of public non-business units, they are salaried from the salary funds of these units according to law.

1. Assurance of Party leadership and stale management.

2. Combination between title criteria, working positions and payroll quotas.

3. Adherence to the principle of democratic centralism, the inpidual responsibility regime and clear assignment of tasks and decentralization of powers.

The employment, evaluation and grading of cadres and civil servants musl be based on their political qualities, ethics and public-duty performance capability.

5. Implementation of gender equality.

The State implements policies to discover, attract, foster, employ in proper positions and well treat talented persons.

The Government shall adopt specific policies towards talented persons.

In this Law. the terms and phrases below are construed as follows:

1. Agency employing cadres and civil servants means an agency, organization or unit assigned to manage, assign and arrange tasks and powers to cadres and civil servants and examine them in performing tasks and exercising powers.

2. Agency managing cadres and civil servants means an agency, organization or unit assigned to recruit and appoint cadres and civil servants, promote them to higher ranks and increase iheii salaries, permit them to discontinue work or retire, implement regimes and policies towards, and reward and discipline cadres and civil servants.

3. Working position means a job linked with a civil servant title, post, structure and rank as a basis for determining the payroll of, and arranging jobs for civil servants in, an agency, organization or unit.

4. Rank indicates the level of specialized and professional capability and qualification of a civil servant.

5. Appoint means to decide on a cadre or civil servant to hold a leading or managerial post or a rank according to law.

6. Relieve of duty means to allow a cadre or civil servant to discontinue holding a post or title before the end of the term of office or appointment.

7. Remove from office means to disallow a cadre or civil servant to hold a post or title before the end of the term of office.

8. Demote means to reduce a cadre or civil servant holding a leading or managerial post to a lower one.

9. Dismiss means to disallow a cadre or civil servant to hold a leading or managerial post before the end of the term of office or appointment.

10. Transfer means a competent agency to decide to send a cadre or civil servant from one agency, organization or unit to another.

11. Rotate means to assign or appoint a managerial or leading cadre or civil servant to hold another leading or managerial title for a given period in order to further train and retrain him/her in response to task requirements.

12. Second means to send a civil servant of one agency, organization or unit to work at another in response to task requirements.

13. Resign means a leading or managerial cadre or civil servant to ask for permission to give up his/her post before the end of the term of office or appointment.

1. To be loyal to the Communist Party of Vietnam and the State of the Socialist Republic of Vietnam; to safeguard the national honor and interests.

2. To respect the people and devotedly serve the people.

3. To keep close contact with the people, listen to the people’s opinions and submit to the people’s supervision.

4. To strictly observe the Party’s line and policies and the State’s laws.

1. To duly and fully perform tasks and exercise powers as assigned and take responsibility for their performance.

2.To have a sense of organizational discipline; to strictly abide by internal rules and regulations of agencies, organizations or units; to report to competent persons when detecting illegal acts in agencies, organizations and units; to protect state secrets.

3. To proactively and closely collaborate with one another in performing public duties; to pserve unity in agencies, organizations and units.

4. To efficiently and economically protect, manage and use slate assets assigned to them.

5. To implement decisions of their superiors, When having grounds to believe that such decision is illegal, to immediately report in writing to its issuer; the issuer who upholds his/her decision shall issue a document to this effect while the implementer shall implement the decision but is not held responsible for implementation consequences, and shall report to the immediately higher authority of the decision issuer. The person who issues a decision shall take responsibility before law for his/her decision.

6. To have other obligations as pscribed by law.

1. To direct the performance of assigned tasks and take responsibility for their agencies’, organizations’ or units’ operation results;

2. To examine, urge and guide the public-duty performance of cadres and civil servants;

3. To organize the implementation of measures to pvent and combat bureaucracy and corruption, to practice thrift and combat wastefulness, and to take responsibility for bureaucratic, corrupt and wasteful acts in their agencies, organizations or units;

4. To organize the implementation of legal provisions on grassroots democracy and public-office culture in their agencies, organizations and units: to promptly and strictly handle cadres and civil servants under their management who commit breaches of discipline and illegal acts, show bureaucratic and authoritarian altitudes to and harass citizens;

5. To promptly and lawfully settle complaints, denunciations and proposals of inpiduals and organizations according to their competence or refer them to competent agencies for settlement;

6. To perform other obligations as pscribed by law.

1. To be assigned powers corresponding with tasks.

2. To be provided with working equipment and other working conditions according to law.

3. To be supplied with information concerning their assigned tasks and powers.

4. To be trained and retrained in order to raise their political, specialized and professional qualifications.

5. To be protected by law when performing public duties.

1. To be paid by the State salaries matching with assigned tasks and powers and suitable to national socio-economic conditions. Cadres and civil servants working in mountainous, border, islands, deep-lying, remote and ethnic minority areas and areas with especially difficult socio-economic conditions or in hazardous and dangerous sectors and occupations are entitled to allowances and incentive policies according to law.

2. To enjoy overtime and night-work pays, working trip allowances and other benefits according to law.

Cadres and civil servants are entitled to annual leaves, holidays and leaves to deal with personal affairs according to the labor law. If, due to task requirements, cadres and civil servants do not use or have not used up annual days off, in addition to salaries, they may be paid a sum equal to salaries for days on which they still work.

Cadres and civil servants are assured the rights to learn, do scientific research, participate in economic and social activities; are entitled to incentive policies concerning housing, vehicles, and social and health insurance regimes according to law; if getting injured or dying while performing public duties, they shall be considered for enjoying entitlements and policies applicable to invalids or being recognized as fallen heroes and other rights according to law.

Cadres and civil servants shall practice diligence, thrift, integrity, public-spiritedness and selflessness in performing public duties.

1. In communication at public offices, cadres and civil servants shall adopt a polite attitude and respect colleagues; their communication language must be standardized, clear and coherent.

3. While performing public duties, cadres and civil servants shall wear civil servant badges or cards: adopt polite manners; and pserve the pstige and honor of their agencies, organizations and units and colleagues.

1. Cadres and civil servants must be close to the people; have polite, serious and modest manners and attitudes; their communication language must be standardized, clear and coherent.

2. While performing public duties, cadres and civil servants must not be overbearing and authoritarian and cause difficulties and troubles to the people.

1. Shirking responsibility or refusing to discharge assigned tasks; sowing factionalism and disunity; quitting jobs or going on strike without permission.

2. Illegally using assets of the State and people.

4. Discriminating in any form against nationality, gender, social strata, beliefs and religions.

1. Cadres and civil servants may not disclose in any form information relating to state secrets.

2. Cadres and civil servants working in sectors or occupations related to state secrets may not, within at least 5 years after receiving decisions on their retirement or job discontinuation, perform jobs related to their former sectors or occupations for domestic and foreign organizations and inpiduals and foreign-invested joint ventures.

3. The Government shall issue a specific list of sectors, occupations and jobs which and time limits during which cadres and civil servants are not allowed to perform and policies towards those to whom this Article applies.

In addition to the prohibitions specified in Articles 18 and 19 of this Law. cadres and civil servants may not deal with affairs related to production and business and personnel work specified in the Anti-Corruption Law and the Law on Practice of Thrift and Combat of Wastefulness and other jobs as pscribed by law and competent agencies.

1. Cadres defined in Clause 1, Article 4 of this Law include those working in agencies of the Communist Party of Vietnam, the State and socio-political organizations at the central, provincial and district levels

2. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam shall base themselves mi tin statutes of the Party and socio-political organizations and this Law lo specify posts and titles for cadres working in agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations.

The posts and titles of cadres working in state agencies shall be determined under the Law on Organization of the National Assembly, the Law on Organization of the Government, the Law on Organization of People’s Courts, the Law on Organization of People’s Procuracies, the Law on Organization of People’s Councils and People’s Committees, the Law on State Audit and other relevant laws.

1. To perform the obligations and exercise powers defined in Chapter II and other relevant provisions of this Law.

2. To perform the obligations and exercise powers in accordance with the Constitution, laws and statutes of organizations of which they are members.

3. To take responsibility to the Party, State and people as well as competent agencies for the performance of obligations and exercise of powers as assigned.

The election and appointment of posts and title of cadres in agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations comply with relevant statutes and laws.

The election, approval and appointment of posts and tiles of cadres working according to term of office in state agencies from the central to district level comply with the Constitution, the Law on Organization of the National Assembly, the Law on Organization of the Government, the Law on Organization of People’s Councils and People’s Committees, the Law on Organization of People’s Courts, the Law on Organization of People’s Procuracies, the Law on Election of National Assembly Deputies and the Law on Election of People’s Council Deputies.

1. The training and retraining of cadres must be based on cadre criteria, posts and titles, task requirements and conform to the personnel planning.

2. The cadre training and retraining regime shall be pscribed by competent agencies of the Communist Party of Vietnam, the Standing Committee of the National Assembly and the Government.

1. Based on task requirements and personnel planning, cadres may be transferred and rotated within the system of agencies of the Communist Party of Vietnam, the State and socio-political organizations.

2. The transfer and rotation of cadres comply with laws and regulations of competent agencies.

Evaluation of cadres aims to clearly determine their political qualities, ethics, specialized and professional qualifications and capabilities and performance of assigned tasks. Evaluation results serve as a basis for arranging, employing, training, retraining, rewarding, disciplining and implementing policies towards cadres.

1. Cadres are evaluated based on the following:

a/ Observance of the line and policies of the Party and laws of the State;

b/ Political qualities, ethics, lifestyle and working manners and style;

c/ Capabilities of leading, administering and organizing task performance;

d/ Sense of responsibility in work;

e/ Results of performance of assigned tasks.

2. Cadres shall be evaluated annually, before election, approval, appointment, planning, transfer, training and retraining and at the end of terms of office and rotation periods.

The competence, order and procedures for cadre evaluation comply with laws and regulations of competent agencies.

1. On the basis of evaluation results, cadres are put into the following categories:

a/ Excellent accomplishment of tasks:

b/ Good accomplishment of tasks;

c/ Accomplishment of tasks with limited capability;

d/ Non-accomplishment of tasks.

2. Results of categorization of evaluated cadres shall be filed in cadre records and notified to evaluated cadres.

3. Cadres who accomplish their tasks for two consecutives years with limited capability or who accomplish their tasks with limited capability in a year and fail to accomplish their tasks in the subsequent year may be assigned to other jobs by competent agencies.

Cadres who fail to accomplish their tasks for 2 consecutive years may be relieved of duty or discontinued from their jobs by competent agencies or organizations.

1. A cadre may request permission to discontinue job or resign or relieve of duty in the following cases:

a/ Being physically unfit;

b/ Possessing insufficient capability and pstige;

c/ Due to task requirements;

2. The competence and order for permitting, and procedures for obtaining permission for. job discontinuation, resignation and relief of duty comply with laws and regulations of competent agencies.

1. Cadre may retire under the Labor Code.

2. Six months before the date a cadre is due to retire, his/her managing agency, organization or unit shall notify in writing the cadre of the exact time of retirement; three months before a cadre is due to retire, his/her managing agency, organization or unit shall issue a decision on his/ her retirement.

3. In special cases, cadres holding the post of minister, an equivalent or higher post may have his/her working time extended under regulations of competent agencies.

1. Civil servants defined in Clause 2, Article 4 of this Law include:

a/ Civil servants working in agencies of the Communist Party of Vietnam, socio-political organizations;

b/ Civil servants working in state agencies;

c/ Civil servants in the leading and managerial apparatuses of non-business units;

d/ Civil servants working in agencies and units of the People’s Army who are other than officers, professional military personnel and defense workers; civil servants working in agencies and units of the People’s Police who are other than officers and professional non-commissioned officers.

2. The Government shall specify this Article.

1. To perform obligations and exercise powers defined in Chapter II and other relevant provisions of this Law.

2. To perform tasks and exercise powers in accordance with the Constitution and laws.

3. To take responsibility to competent agencies and organizations for the performance of tasks and exercise of powers as assigned.

1. Based on their appointed ranks, civil servants are classified into:

a/ Class A including those appointed to the senior-specialist or equivalent rank;

b/ Class B including those appointed to the principal-specialist or equivalent rank;

c/ Class C including those appointed to the Specialist or equivalent rank;

d/ Class D including those appointed to the technician or equivalent rank or employee rank.

2. Based on working positions, civil servants are classified into:

a/ Civil servants holding leading or managerial posts;

b/ Civil servants not holding leading or managerial posts.

The recruitment of civil servants must be based on task requirements, working positions and payroll quotas.

1. A person who meets all the following conditions, regardless of nationality, gender, social status, belief and religion, may register for civil servant recruitment:

a/ Bearing the sole nationality of Vietnamese;

b/ Reaching full 18 years of age;

c/ Filing an application for recruitment; having a clear personal record;

d/ Possessing relevant diplomas and/or certificates;

e/ Possessing political qualities and good ethics:

f/ Being physically fit for the job;

g/ Meeting other conditions required by the working position for which he/she applies.

2. The following persons may not register for civil servant recruitment:

a/ Not residing in Vietnam;

b/ Having lost civil act capacity or having such capacity restricted;

c/ Being examined for penal liability; currently serving a criminal sentence or court ruling or having completely served such a sentence or ruling but such criminal record has not yet been remitted, or serving the administrative measure of confinement to a medical treatment establishment or a reformatory.

1. Civil servants shall be recruited through examinations, except for cases specified in Clause 2 of this Article. The form and contents of examination to recruit civil servants must be suitable to each sector and occupation, ensuring that persons with appropriate qualities, qualifications and capabilities are selected.

2. Persons who meet all conditions specified in Clause 1, Article 36 of this Law and commit to voluntarily work for at least 5 years in mountainous, border, island, remote, deep-lying or ethnic minority or special socio-economic difficulty-hit areas may be recruited through selection.

3. The Government shall specify the recruitment of civil servants through examination or selection.

1. Ensuring publicity, transparency, objectivity and legality.

2. Ensuring competitiveness.

3. Selecting proper persons who meet task and working position requirements.

4. Prioritizing recruitment of talented persons, persons with meritorious services to the country and ethnic minority persons.

1. The Supme People’s Court, the Supme People’s Procuracy and the State Audit may recruit, and decentralize the recruitment of, civil servants in agencies, organizations and units under their respective management.

2. The Office of the National Assembly and the Office of the President may recruit civil servants in agencies and units under their respective management.

3. Ministries, ministerial-level agencies and government-attached agencies may recruit, and decentralize the recruitment of. civil servants in agencies, organizations and units under their respective management.

4. Provincial-level People’s Committees may recruit, and decentralize the recruitment of, civil servants in agencies, organizations and units under their respective management.

5. Agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations may recruit, and decentralize the recruitment of, civil servants in agencies, organizations and units under their respective management.

Persons recruited to work as civil servants are subject to the probation regime under the Government’s regulations.

The recruitment and appointment of judges of People’s Courts and procurators of People’s Procuracies comply with the law on organization of People’s Courts and the law on organization of People’s Procuracies.

1. Civil servant ranks include:

a/ Senior specialist and equivalent;

b/ Principal specialist and equivalent;

c/ Specialist and equivalent;

d/ Technician and equivalent;

2. Rank appointment must ensure the following conditions:

a/ Appointed persons meet all professional criteria of the rank;

b/ Rank appointment is decided by competent persons and ensure the civil servant structure of the agency, organization or unit.

3. Rank appointment shall be made in the following cases:

a/ The recruited person has completed the probation regime;

b/ The civil servant has passed a rank promotion examination;

c/ The civil servant is shifted to an equivalent rank.

1. Rank shift means the appointment of a civil servant holding a rank in a profession to a rank of the same specialized or professional level of another profession.

2. To be shifted to another rank, a civil servant must possess all specialized or professional qualifications as required by the rank he/she is shifted to and relevant to the assigned tasks and powers.

3. A civil servant who is assigned tasks irrelevant to the specialized or professional qualifications of the rank he/she is holding shall be shifted to a suitable rank.

4. No rank promotion and salary raise are allowed upon rank shift.

1. Rank promotion must be based on working positions, suitable to the civil servant structure of the agency, organization or unit concerned, and made through examination.

2. Civil servants who meet all criteria and conditions for assuming working positions of a higher rank may register for rank promotion examination.

3. Rank promotion examinations shall be organized on the principles of competitiveness, publicity, transparency, objectivity and legality.

1. When agencies, organizations and units need to employ civil servants in working positions of ranks for which examinations are organized, their civil servants may register for sitting such examinations.

2. Civil servants registering for rank promotion examinations must possess political qualities, ethnics and specialized or professional qualifications and capabilities meeting the requirements of ranks for which examinations are organized.

1. The contents and forms of civil servant rank promotion examinations must suit the specialized or professional levels of the ranks for which examinations are organized, ensuring the selection of civil servants with specialized or professional capabilities and qualifications relevant to the criteria for ranks for which examinations are organized and meeting task requirements.

2. The Ministry of Home Affairs shall assume the prime responsibility for, and coordinate with concerned agencies and organizations in, organizing civil servant rank promotion examinations.

3. The Government shall issue specific regulations on civil servant rank promotion examinations.

1. The contents, program, forms and durations of civil servant training and retraining must be based on criteria for leading and managerial titles and posts, criteria for civil servant ranks and suitable to task requirements.

2. Civil servant training and retraining include:

a/ Retraining based on civil servant rank criteria;

b/ Training and retraining according to leading and managerial titles.

3. The contents, programs and durations of civil servant training and retraining shall be stipulated by the Government.

1 Agencies, organizations and units managing civil servants shall formulate and publicize training and retraining plannings and plans to create sources and raise specialized or professional capabilities and qualifications for civil servants.

2. Agencies, organizations and units employing civil servants shall create conditions for civil servants to attend training and retraining to raise their specialized or professional capabilities and qualifications.

3. Civil servant training and retraining funds are covered by the state budget and other sources in accordance with law.

1. Civil servants attending training and retraining shall strictly observe training and retraining regulations and submit to the management of training and retraining institutions.

2. Civil servants attending training and retraining are entitled to full salaries and allowances, with the training and retraining durations included in the continuous seniority period and considered for salary raise in accordance with law.

3. Civil servants with excellent performance in training or retraining courses are entitled to praise and reward.

4. Trained or retrained civil servants who give up or discontinue their jobs without permission shall refund training and retraining expenses in accordance with law.

1. Transfer of civil servants must be based on task requirements and political qualities, ethics, and specialized or professional capabilities and qualifications of civil servants.

2. Transferred civil servants must meet specialized or professional requirements of new working positions.

1. The appointment of civil servants to leading or managerial posts must be based on:

a/ Needs and tasks of agencies, organizations or units:

b/ Criteria and conditions for leading or managerial posts.

The competence, order and procedures for appointing civil servants to leading or managerial posts comply with laws and regulations of competent agencies.

2. The term of appointment of civil servants to leading or managerial posts is 5 years; at the end of the term, competent agencies, organizations or units shall consider whether or not to appoint them.

3. Civil servants who are transferred to other agencies, organizations or units or appointed to a new leading or managerial post will automatically stop holding the current leading or managerial one, except for cases of holding both concurrently.

1. Based on task requirements and civil servant employment plannings and plans, leading or managerial civil servants may be rotated within the system of agencies of the Communist Parly of Vietnam, the State and socio-political organizations.

2. The Government shall issue specific-regulations on rotation of civil servants.

1. Agencies, organizations or units managing civil servants may second civil servants to work in other agencies, organizations or units to meet task requirements.

2. The period of secondment is 3 years at most, except for a number of sectors and domains as stipulated by the Government.

3. Seconded civil servants shall obey work assignment by agencies, organizations or units they are seconded to.

4. Civil servants seconded to work in mountainous, border, island, deep-lying, remote, ethnic minority areas or areas with especially difficult socio-economic conditions are entitled to incentive policies as pscribed by law.

5. Agencies, organizations or units managing seconded civil servants shall arrange appropriate jobs for these civil servants at the end of the secondment period.

6. Secondment is not applicable to female civil servants who are pgnant or rearing under 36-month babies.

1. Leading or managerial civil servants may resign or be relieved of duty in the following cases:

a/ Being physically unfit;

b/ Having insufficient capability and pstige;

c/ Due to task requirements;

2. Leading or managerial civil servants who resign or are relieved of duty may be arranged jobs suitable to their trained specialized or professional qualifications, or retire or discontinue their jobs.

3. Leading or managerial civil servants who seek for permission to resign or be relieved of duty shall, pending the approval of competent authorities, continue performing their tasks and exercising their powers.

4. The competence, order and procedures for considering and deciding on resignation or relief of duty of leading or managerial civil servants comply with laws and regulations of competent agencies.

Civil servant evaluation aims to clearly determine the political qualities, ethics, specialized and professional capabilities and qualifications, and results of performance of assigned tasks. Evaluation results serve as a basis for arranging, employing, appointing, training, retraining, rewarding, disciplining and implementing policies towards civil servants.

1. Civil servants are evaluated based on the following:

a/ Observance of the line and policies of the Party and laws of the State;

b/ Political qualities, ethics, lifestyle and working style and manners;

c/ Specialized or professional capabilities and qualifications;

d/ Task performance progress and results;

e/ Sense of responsibility and collaboration in work;

f/ Attitude in serving the people.

2. In addition to the contents provided in Clause 1 of this Article, leading and managerial civil servants shall be evaluated based on:

a/ Results of operation of agencies, organizations or units they are assigned to lead and manage:

b/ Leading and managerial capabilities;

c/ Capability of mobilizing and uniting civil servants.

3. Civil servants are evaluated annually, before appointment, planning, transfer, training and retraining and at the end of the period of rotation or secondment.

4. The Government shall stipulate the order and procedures for civil servant evaluation.

1. On the basis of evaluation results, civil servants are put into the following categories:

a/ Excellent accomplishment of tasks;

b/ Good accomplishment of tasks;

c/ Accomplishment of tasks with limited capability;

d/ Non-accomplishment of tasks.

2. Results of evaluation of civil servants shall be filed in civil servant records and notified to evaluated civil servants.

3. Civil servants who accomplish their tasks for 2 consecutives years with limited capability or who accomplish their tasks with limited capability in a year and fail to accomplish their tasks in the subsequent year may be assigned to other jobs by competent agencies.

Civil servants who fail to accomplish their tasks for 2 consecutive years will be disallowed to continue their work by competent agencies, organizations or units.

1. Civil servants are entitled to the job discontinuation regime if falling into one of the following cases:

a/ Due to reorganization;

b/ They make a petition for job discontinuation, which is approved by competent authorities;

c/ As pscribed in Clause 3, Article 58 of this Law.

2. A civil servant who wishes to discontinue his/her job shall send a petition to a competent agency, organization or unit for consideration and decision. Within 30 days after receiving such petition, the competent agency, organization or unit shall issue a written reply: if disagreeing with the petition, it shall clearly state the reason; a civil servant who quits his/her job without the consent of the competent agency, organization or unit is not entitled to the job discontinuation regime and shall refund training and retraining expenses in accordance with law.

3. Job discontinuation is not allowed for civil servants who are being examined for disciplining or penal liability.

4. Job discontinuation is not allowed for female civil servants who arc pgnant or nursing under-36-month babies, except those so wishing.

1. Civil servants may retire under the Labor Code.

2. Six months before the date a civil servant is due to retire, his/her managing agency, organization or unit shall notify in writing the civil servant of the exact time of retirement; three months before a civil servant is due to retire, his/her managing agency, organization or unit shall issue a decision on his/her retirement.

1. Commune-level cadres and civil servants defined in Clause 3, Article 4 of this Law include commune-level cadres and commune-level civil servants.

2. Posts of commune-level cadres include:

a/ Party committee secretary and deputy secretary;

b/ People’s Council chairman and vice chairman;

c/ People’s Committee psident and vice psident;

d/ Vietnam Fatherland Front Committee psident;

e/ Ho Chi Minh Communist Youth Union secretary;

f/ Vietnam Women’s Union psident;

g/ Vietnam Peasants Association psident (applicable to communes, wards and townships with agricultural, forestry, fishery and salt-making activities and Vietnam Peasants Association chapter);

b/ Vietnam Veterans’ Association psident

3. Posts of commune-level civil servants include:

b/ Military chief commander;

c/ Administrative-statistics clerk;

d/ Land-construction-urban area and environment officer (for wards and townships) or land-agriculture-construction and environment officer (for communes):

e/ Financial controller-accountant:

f/ Justice-civil status officer;

g/ Culture- social affairs officer.

Commune-level civil servants are managed by the district level.

4. Commune-level cadres and civil servants defined in Clauses 2 and 3 of this Article include also cadres and civil servants rotated, transferred or seconded to commune level.

5. On the basis of local socio-economic conditions, size and characteristics, the Government shall specify the numbers of commune-level cadres and civil servanis.

To perform obligations and exercise rights defined in this Law, other relevant laws and statutes of organizations of which they are members.

2. Incumbent commune-level cadres and civil servants are entitled to salary and insurance regimes; when ceasing to hold their posts, if meeting conditions and criteria as pscribed by law, they may be considered for being employed as civil servants, in this case, they are exempt from the probation regime and enjoy regimes and policies without interruption. If they are not employed as civil servants and not eligible for retirement, they may no longer receive salaries and shall pay voluntary insurance pmiums under law; if they are transferred, rotated or seconded cadres or civil servants, competent agencies shall provide them with appropriate jobs or entitlements under law.

The Government shall specify this Clause.

1. Commune-level cadres shall be elected under the Law, on Organization of People’s Councils and People’s Committees, the Law on Election of People’s Council Deputies, statutes of concerned organizations, other laws and regulations of competent agencies.

2. Commune-level civil servants shall be recruited through examination; for mountainous, border, island, deep-lying, remote and ethnic minority areas and areas with especially difficult socio-economic conditions, they may be recruited through selection.

District-level Peoples Committee psidents shall organize recruitment of commune-level civil servants under the Government’s regulations.

3. The training and retraining of commune-level cadres and civil servants must be based on criteria for each post and title, task requirements and in line with cadre and civil servant planning.

The training and retraining regime applicable to commune-level cadres and civil servants shall be pscribed by competent agencies of the Communist Party of Vietnam and the Government.

Funds for training and retraining cadres and civil servants shall be covered by the slate budget and other sources under law.

The evaluation, categorization, request for job discontinuation, resignation, relief of duty, job discontinuation and retirement of commune-level cadres and civil servants shall be conducted under relevant provisions of this Law applicable to cadres and civil servants, other relevant legal provisions and statutes.

1. Management of cadres and civil servants covers:

a/ Promulgating, and organizing the implementation of. legal documents on cadres and civil servants;

b/ Elaborating plannings and plans on cadres and civil servants:

c/ Prescribing tittles and structure of cadres;

d/ Prescribing ranks, titles and codes of civil servants; descriptions, working positions and structure of civil servants for determining payrolls;

e/ Other affairs related to the management of cadres and civil servants under this Law.

2. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam, the Standing Committee of the National Assembly and the Government shall specify the contents of management of cadres and civil servants pscribed in this Article.

1. The competence to decide on cadre payrolls complies with laws and regulations of competent agencies of the Communist Party of Vietnam.

2. The Standing Committee of the National Assembly shall decide on civil servant payrolls of the Office of the National Assembly, the State Audit, the Supme People’s Court and the Supme People’s Procuracy.

3. The President shall decide on the civil servant payroll of the Office of the President.

4. The Government shall decide on civil servant payrolls of ministries, ministerial-level agencies, government-attached agencies, provincial-level agencies, and public non-business units of the State.

5. On the basis of decisions on payroll quotas assigned by the Government, provincial-level People’s Councils shall decide on civil servant payrolls of agencies of People’s Councils and People’s Committees, and public non-business units of People’s Committees at all levels.

6. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam shall decide on civil servant payrolls of agencies and public non-business units of the Party and socio-political organizations.

1. The management of cadres and civil servants complies with this Law, other relevant laws, the Statutes of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations, and documents of competent agencies and organizations.

2. The Government performs the unified management of civil servants.

The Ministry of Home Affairs shall take responsibility to the Government for performing the state management of civil servants.

Ministries, ministerial-level agencies and provincial-level People’s Committees shall, within the scope of their tasks and powers, perform the state management of civil servants according to the Government’s assignment and decentralization.

District-level People’s Committees shall, within the scope of their tasks and powers, perform the state management of civil servants according to provincial-level People’s Committees’ assignment and decentralization.

3. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations shall, within the scope of their tasks and powers, perform the state management of civil servants according to competent authorities decentralization and the Government’s regulations.

1. Annually the Government shall report to the National Assembly on cadre and civil servant management.

2. The pparation of the Government’s reports on cadre and civil servant management is pscribed below:

a/ Ministries, ministerial-level agencies, government-attached agencies and provincial-level People’s Committees shall report on the management of cadres and civil servants under their respective management;

b/ The Supme People’s Court, the Supme People’s Procuracy, the State Audit, the Office of the National Assembly and the Office of the President shall report on the management of cadres and civil servants under their respective management;

c/ Competent agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations shall report on the management of cadres and civil servants under their respective management.

Reports mentioned at Points a, b and c of this Clause shall be sent to the Government before September 30 every year for sum-up and pparation of reports to the National Assembly.

3. The pparation of reports on the management of cadres in agencies of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations complies with laws and regulations of competent agencies.

4. Reports on cadre and civil servant management have the contents as pscribed in Article 65 of this Law.

1. Competent agencies, organizations and units shall manage records of cadres and civil servants under their management. Cadre and civil servant records must fully contain pscribed documents to accurately reflect the working process of cadres and civil servants.

2. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam shall guide the compilation and management of records of cadres and civil servants under their respective management.

3. The Ministry of Home Affairs shall guide the compilation and management of cadre and civil servant records, except for the case mentioned in Clause 2 of this Article.

1. Public offices are working offices of agencies of the Communist Party of Vietnam, the State, socio-political organizations and public non-business units, have own names and specific addresses, including construction works and other assets within the pmises of working offices.

2. The State invests in building public offices for agencies of the Communist Party of Vietnam, the State and socio-political organizations.

3. The size, location and design criteria of public offices shall be pscribed by competent agencies to suit the functions, tasks and organizational apparatuses of each agency, organization and unit already approved by competent state agencies and use standards and norms.

1. The Stale invests in building public-duty houses for lease to cadres and civil servants during the period of transfer, rotation or secondment. At the end of this period, cadres and civil servants shall return public-duty houses to agencies, organizations and units managing these houses.

2. Agencies, organizations and units managing public-duty houses shall ensure the management and use of these houses for proper purposes and users.

1. The State ensures working equipment in public offices to serve public-duty performance: attaches importance to investing in and applying information technology to increase the effectiveness of public-duty performance.

2. On the basis of task requirements, agencies, organizations and units shall procure working equipment according to standards and norms for and regulations on management and use of state assets.

The State arranges vehicles for travel of cadres and civil servants to perform public duties in accordance with the law on management and use of state assets; if vehicles cannot be arranged, cadres and civil servants may be paid for travel expenses according to the Government’s regulations.

1. To inspect the performance of tasks and exercise of powers by cadres and civil servants in accordance with this Law and relevant regulations.

2. To inspect the recruitment, appointment, training, retraining, transfer, rotation, secondment, relief of duty, evaluation, job discontinuation, retirement, rewarding and disciplining of cadres and civil servants, ethics and communication culture in public-duty performance of civil servants, and conditions to assure public-duty performance.

1. The inspectorates of ministries and provincial-level services, provincial-level and district-level inspectorates shall, within the ambit of their tasks and powers, inspect the performance of tasks and exercise of powers by cadres and civil servants.

2. The inspectorates of the Ministry of Home Affairs and provincial-level Services of Home Affairs shall conduct specialized inspection within the scope defined in Clause 2, Article 74 of this Law.

3. The Government shall issue specific regulations on public-duty inspection.

1. Cadres and civil servants with outstanding public duty performance may be commended in accordance with the law on emulation and commendation.

2. Cadres and civil servants who are commended for excellent achievements or merits are entitled to salary raise ahead of time and priority appointment to higher posts if so needed by agencies, organizations or units.

The Government shall specify this Clause.

Cadres and civil servants are relieved from responsibility in the following cases:

1. Having to implement illegal decisions of superiors after reporting to decision issuers;

2. In force majeure circumstances as pscribed by law.

1. Cadres who violate this Law and other relevant laws are. depending on the nature and seriousness of violation, subject to one of the following disciplinary forms:

d/ Removal from office.

2. Demotion is applicable only to cadres approved to hold posts according to term of office.

3. Cadres who commit a criminal offense, are convicted by a court and their sentences or rulings have taken effect will be automatically disallowed to continue their elected, approved or appointed posts; if they are subjected to an imprisonment sentence which is not suspended, they will be automatically sacked.

4. The application of disciplinary forms to. and the competence, order and procedures for disciplining cadres comply with legal provisions, the statutes of the Communist Party of Vietnam and socio-political organizations, and documents of competent agencies and organizations.

1. Civil servants who violate this Law or other relevant laws are, depending on the nature and seriousness of violation, subject to one of the following disciplinary forms:

2. Demotion and removal from office are applicable only to civil servants holding leading or managerial posts.

3. Civil servants who arc subject to an imprisonment sentence which is not suspended will be automatically sacked on the date their sentences or rulings take effect: leading or managerial civil servants who are convicted by a court and their sentences or rulings have taken effect will automatically be removed from their appointed posts.

4. The Government shall stipulate the application of disciplinary forms, and the order, procedures and competence to discipline civil servants.

1. The statute of limitations for disciplining is a time limit pscribed by this Law at the end of which a cadre or civil servant who has committed a violation will not be disciplined.

The statute of limitations for disciplining is 24 months, counting from the date of committing a violation.

2. The time limit for disciplining a cadre or civil servant is a period from the time of delecting a cadre or civil servant’s breach of discipline to the time of issuance by a competent agency or organization of disciplining decision.

The time limit for disciplining is 2 months; if a case involves complicated circumstances which need further verification, this time limit may be prolonged but must not exceed 4 months.

3. For an inpidual against whom a criminal case was instituted or who was prosecuted or decided to be brought to trial according to criminal procedures but then his/her investigation or trial is terminated under a decision, if his/her act of violation shows signs of breach of discipline, he/she shall be disciplined within 3 days after the date the investigation or trial termination decision is issued. The decision issuer shall send the decision and the case file to the competent agency, organization or unit for disciplining.

1. While considering disciplining a cadre or civil servant, the agency, organization or unit managing him/her may issue a decision to suspend his/her work if il deems that his/her continued work may cause difficulties to the handling of his/her violation. The time limit for such suspension is 15 days and may be extended in special cases but not for another 15 days. If a cadre or civil servant is seized or detained to serve investigation, prosecution or trial activities, the period of seizure or detention is regarded as a time of justified leave; past this time limit if the cadre or civil servant faces no discipline, he/she may resume his/her work.

2. During the time of work suspension or seizure or detention to serve investigation, prosecution or trial activities, a cadre or civil servant may still receive salaries under the (iovernment’s regulations.

1. For cadres or civil servants who are reprimanded or cautioned, their salary raise period will be prolonged for 6 months from the date their disciplining decisions take effect; if being demoted or removed from office, their salary raise period will be prolonged for 12 months from the date their disciplining decisions take effect.

2. For cadres or civil servants who are disciplined in the form of reprimand to removal from office, they are not entitled to rank promotion, planning, training and appointment for 12 months from the effective dale ol theii disciplining decisions; past this time limit, if they commit no violations subject to discipline, they are again entitled to rank promotion, planning, training and appointment according to law.

3. Cadres and civil servants who are being examined for disciplining, investigated, prosecuted or tried may not stand as candidates, be nominated, appointed, transferred, rotated, seconded, trained or retrained, sit rank promotion examinations, retire or give up their jobs.

4. Cadres and civil servants who are removed from office due to corruption may not be appointed to leading or managerial posts.

The commendation and disciplining of cadres and civil servants shall be filed in their records.

1. Competent agencies of the Communist Parly of Vietnam, the Standing Committee of the National Assembly and the Government shall specify the application of this Law to elected persons who are other than those defined in Clause 1. Article 4 of this Law; and the allowance regime for retired persons who are elected to hold cadre posts or titles.

2. Competent agencies of the Communist Party of Vietnam and the Government shall specify the application of the Law on Cadres and Civil Servants to those who are transferred and assigned by the Party or the State and those who are recruited and appointed according to assigned payroll quotas to work in socio-politico-professional organizations, social organizations and socio-professional organizations.

3. The Government shall specify the application of the Law on Cadres and Civil Servants to chairmen of management boards, members of management boards, directors general, deputy directors general, directors, deputy directors, chief accountants and holders of other leading and managerial posts in slate enterprises; and those who are appointed by the state as owner repsentatives of state capital portions in state-invested enterprises.

4. The Government shall pscribe the frame quantities, regimes and policies towards commune-level persons working on a part-time basis.

Current legal provisions concerning those working in public nun business units other than cadres and civil servants defined in this Law continue to apply pending the promulgation of the Law on Public Employees.

1. This Law takes effect on January 1, 2010.

2. The February 26. 1998 Ordinance on Cadres and Civil Servants; the April 28, 2000 Ordinance Amending and Supplementing a Number of Articles of the Ordinance on Cadres and Civil Servants; and the April 29, 2003 Ordinance Amending and Supplementing a Number of Articles of the Ordinance on Cadres and Civil Servants cease to be effective on the effective date of this Law.

The Standing Committee of the National Assembly, the Government and other competent agencies shall detail and guide articles and clauses of this Law as assigned; and guide other necessary provisions of this Law to meet state management requirements.

This Law was passed on November 13, 2008, by the XIIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 4th session.

CHAIRMAN OF THE NATIONAL ASSEMBLY

Nguyen Phu Trong

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

【#5】Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014

Số: 52/2014/QH13

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật hôn nhân và gia đình.

Chương I

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

2. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

4. Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

5. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

8. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này.

9. Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

10. Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

12. Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.

13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.

14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

15. Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

16. Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

19. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.

20. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.

21. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.

22. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

23. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.

2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình. Các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo sự phân công của Chính phủ. Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan khác thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Điều 7. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng.

2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.

Chương II

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Điều 10. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:

a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Điều 11. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

4. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Chương III

Mục 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ NHÂN THÂN

Điều 17. Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng

Điều 18. Bảo vệ quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng

Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng

Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.

Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng

Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.

Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng

Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.

Điều 23. Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Mục 2: ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh

2. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Mục 3: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

Điều 28. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.

2. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.

3. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài sản của vợ chồng.

Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Điều 36. Tài sản chung được đưa vào kinh doanh

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Điều 41. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này.

2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

Điều 42. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Điều 49. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản.

2. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này.

Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này.

Chương IV

Mục 1: LY HÔN

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 52. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Mục 2: HÔN NHÂN CHẤM DỨT DO VỢ, CHỒNG CHẾT HOẶC BỊ TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT

Điều 65. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.

Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Điều 67. Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về

1. Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

2. Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

a) Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

b) Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Chương V

Mục 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

Điều 68. Bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

3. Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

4. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

3. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.

Điều 73. Đại diện cho con

1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

2. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 74. Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 75. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập.

3. Con đã thành niên có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này.

Điều 76. Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.

3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.

Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi

1. Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha đẻ, mẹ đẻ và con đã làm con nuôi của người khác được thực hiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

3. Quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi và chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 79. Quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

1. Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật này.

2. Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật này.

Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng

Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Điều 87. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây:

a) Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

b) Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

c) Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

3. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Mục 2: XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Điều 90. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

2. Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.

Điều 91. Quyền nhận con

1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

4. Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật này.

Điều 94. Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

Điều 95. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 96. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) phải có các nội dung cơ bản sau đây:

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này;

d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

2. Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Điều 97. Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

Điều 98. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

1. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

2. Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự.

Điều 100. Xử lý hành vi vi phạm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ

Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự.

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.

2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:

a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Chương VI

Điều 103. Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình

2. Trong trường hợp sống chung thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động tạo thu nhập; đóng góp công sức, tiền hoặc tài sản khác để duy trì đời sống chung của gia đình phù hợp với khả năng thực tế của mình.

3. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong xã hội cùng tham gia vào việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

Điều 104. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

2. Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Điều 105. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em

Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Điều 106. Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật này hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Chương VII

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 109. Nhiều người cùng cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người

Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 112. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 113. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 114. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

1. Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;

6. Trường hợp khác theo quy định của luật.

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Điều 120. Khuyến khích việc trợ giúp của tổ chức, cá nhân

Nhà nước và xã hội khuyến khích tổ chức, cá nhân trợ giúp bằng tiền hoặc tài sản khác cho gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, túng thiếu.

Chương VIII

Điều 121. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và bảo đảm thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Điều 122. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.

2. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Điều 125. Công nhận, ghi chú bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về hôn nhân và gia đình

1. Việc công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Chính phủ quy định việc ghi vào sổ hộ tịch các việc về hôn nhân và gia đình theo bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam hoặc không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam; quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài.

Điều 126. Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Điều 128. Xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1, khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợp khác có tranh chấp.

Điều 129. Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là công dân.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của người quy định tại khoản 1 Điều này là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú.

Chương IX

Điều 131. Điều khoản chuyển tiếp

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.

2. Đối với vụ việc về hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của Luật này.

3. Không áp dụng Luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình trước ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 132. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 133. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.

Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014.

No. 52/2014/QH13

Hanoi, June 26, 2014

ON MARRIAGE AND FAMILY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam; The National Assembly promulgates the Law on Marriage and Family.

Chapter I

Article 1. Scope of regulation

This Law pscribes the marriage and family regime, legal standards for conduct by family members; responsibilities of inpiduals, organizations, the State and society in the building and consolidation of the marriage and family regime.

Article 2. Fundamental principles of the marriage and family regime

1. Voluntary, progressive and monogamous marriage in which husband and wife are equal.

2. Marriage between Vietnamese citizens of different nationalities or religions, between religious and non-religious people, between people with beliefs and people without beliefs, and between Vietnamese citizens and foreigners shall be respected and protected by law.

3. To build prosperous, progressive and happy families; family members have the obligation to respect, attend to, care for, and assist one another; to treat children without discrimination.

4. The State and society and families shall protect and support children, elderly people and persons with disabilities in exercising marriage and family rights; assist mothers in properly fulfilling their lofty motherhood functions; and implement family planning.

5. To perpetuate and promote the Vietnamese nation’s fine cultural traditions and ethics on marriage and family.

Article 3. Interptation of terms

In this Law, the terms below are construed as follows:

1. Marriage means the relation between husband and wife after they get married.

2. Family means a group of persons closely bound together by marriage, blood ties or raising relations, thus giving rise to obligations and rights among them as pscribed in this Law.

3. Marriage and family regime means all provisions of law on marriage, porce; rights and obligations between husband and wife, parents and children, and among other family members; support; identification of parents and children; marriage and family relations involving foreign elements and other matters related to marriage and family.

4. Marriage and family practices means rules of conduct with clear contents on rights and obligations of parties in marriage and family relations, which are repetitive over a long period of time and widely accepted in an area, a region or a community.

5. Getting married means a man and a woman’s establishment of the husband and wife relation according to the provisions of this Law on marriage conditions and registration.

6. Illegally marriage means a man and a woman’s marriage already registered at a competent state agency in which either or both of them violate(s) the marriage conditions pscribed in Article 8 of this Law.

7. Cohabitation as husband and wife means a man and a woman’s organization of their living together and consideration of themselves as husband and wife.

8. Underage marriage means getting married when one or both partners has or have not reached the marriage age pscribed at Point a, Clause 1, Article 8 of this Law.

9. Forcing marriage or porce means threatening, intimidating spiritually, maltreating, ill-treating, demanding property or another act to force a person to get married or to porce against his/her will.

10. Obstructing marriage or porce means threatening, intimidating spiritually, maltreating, ill-treating, demanding property or another act to obstruct the marriage of a person eligible to get married under this Law or to force a person to maintain the marriage relation against his/her will.

11. Sham marriage means making use of a marriage for the purpose of immigration, residence or naturalization in Vietnam or a foreign country; for enjoying pferential regimes of the State or for another purpose other than that of building a family.

12. Demanding property in marriage means making excessive material demand and considering it a marriage condition in order to obstruct a voluntary marriage between a man and a woman.

13. Marriage period means the duration of existence of the husband and wife relation, counting from the date of marriage registration to the date of marriage termination.

14. Divorce means termination of the husband and wife relation under a court’s legally effective judgment or decision.

15. Sham porce means making use of a porce to shirk property obligations or violate the policy and law on population or for another purpose other than that of terminating a marriage.

16. Family members include husband, wife; natural parent, adoptive parent, stepfather, stepmother, parent-in-law; natural child, adopted child, stepchild, child-in-law; full sibling, paternal half-sibling, maternal half-sibling, brother- or sister-in law of full sibling, paternal half-sibling or maternal half-sibling; paternal grandparent, maternal grandparent; paternal grandchild, maternal grandchild; blood paternal aunt, maternal aunt, paternal uncle, maternal uncle, niece and nephew.

17. People of the same direct blood line are those in the consanguineous relationship in which a person gives birth to another in a successive order.

18. Relatives within three generations are people born of the same stock with parents constituting the first generation; full siblings, paternal half-siblings and maternal half-siblings constituting the second generation; and children of paternal aunts, maternal aunts, paternal uncles, maternal uncles constituting the third generation.

19. Next of kin include people with marriage relation or raising relation, people of the same direct blood line and relatives within three generations.

20. Essential needs means ordinary needs for food, clothing, accommodation, learning, medical care and other ordinary needs which are indispensable in the life of each person and family.

21. Giving birth with assisted reproductive technology means giving birth through artificial insemination or in vitro fertilization.

22. Altruistic gestational surrogacy means a pgnancy carried voluntarily for non-commercial purpose by a woman for a couple of whom the wife is unable to carry a pgnancy and give birth even if assisted reproductive technology is applied. The voluntary gestational carrier is impgnated and gives birth through the transfer into her uterus of an embryo created by in vitro fertilization from the ovule of the wife and sperm of the husband.

23. Commercial gestational surrogacy means a pgnancy carried by a woman for another person through assisted reproductive technology for enjoying economic or other benefits.

24. Support means an act whereby a person has the obligation to contribute money or other kinds of property to meet the essential needs of another person who does not live together with but has marriage, blood or raising relation with the former and is a minor or an adult who has no working capacity and no property to support himself/herself, or meets with financial difficulties as pscribed by this Law.

25. Marriage and family relation involving foreign elements means the marriage and family relation in which at least one partner is a foreigner or an overseas Vietnamese or in which partners are Vietnamese citizens but the bases for establishing, changing or terminating that relation are governed by a foreign law, or that relation arises abroad or the property related to that relation is located abroad.

Article 4. The State’s and society’s responsibilities for marriage and family

1. The State shall adopt policies and measures to protect marriage and family and create conditions for males and females to establish voluntary, progressive, monogamous marriage in which husband and wife are equal; build prosperous, progressive and happy families fulfilling all of their functions; intensify the dissemination and popularization of and education about the law on marriage and family; and mobilize people to abolish backward marriage and family customs and practices and promote fine traditions, customs and practices embodying the identity of each nationality.

2. The Government shall perform the unified state management of marriage and family. Ministries and ministerial-level agencies shall perform the state management of marriage and family as assigned by the Government. People’s Committees at all levels and other agencies shall perform the state management of marriage and family in accordance with law.

3. Agencies and organizations shall educate and mobilize their cadres, civil servants, public employees, laborers and members as well as every citizen to build cultured families; promptly conciliate family discords and protect the lawful rights and interests of family members. Schools shall coordinate with families in educating about, disseminating and popularizing the marriage and family law among young generations.

Article 5. Protection of the marriage and family regime

1. Marriage and family relations established and implemented in accordance with this Law shall be respected and protected by law.

2. The following acts are prohibited:

a/ Sham marriage or sham porce;

b/ Underage marriage, forcing a person into marriage, deceiving a person into marriage, obstructing marriage;

c/ A married person getting married to or cohabitating as husband and wife with another person, or an unmarried person getting married to or cohabitating as husband and wife with a married person;

d/ Getting married or cohabitating as husband and wife between people of the same direct blood line; relatives within three generations; adoptive parent and adopted child; or former adoptive parent and adopted child, father-in-law and daughter-in-law, mother-in-law and son-in-law, or stepparent and stepchild;

dd/ Demanding property in marriage;

e/ Forcing a person into porce; deceiving a person into porce; obstructing porce;

g/ Giving birth with assisted reproductive technology for commercial purpose, commercial gestational surrogacy, pnatal sex selection, cloning;

h/ Domestic violence;

2. All acts of violating the marriage and family law shall be handled strictly in accordance with law.

Agencies, organizations and inpiduals have the right to request a court or another competent agency to take measures to promptly stop and handle violators of the marriage and family law.

3. The honor, dignity, pstige, privacy and other privacy rights of parties shall be respected and protected in the course of settlement of marriage and family-related cases and matters.

Article 6. Application of the Civil Code and other relevant laws

For cases not pscribed by this Law, provisions of the Civil Code and other laws related to marriage and family relations may apply to marriage and family relations.

Article 7. Application of marriage and family practices

1. For cases not pscribed by law or not agreed by involved parties, fine practices which embody the identity of each nationality, are not contrary to the principles pscribed in Article 2 and do not involve prohibited acts pscribed in this Law may apply.

2. The Government shall detail Clause 1 of this Article.

Chapter II

Article 8. Conditions for getting married

1. A man and a woman wishing to marry each other must satisfy the following conditions:

a /The man is full 20 years or older, the woman is full 18 years or older;

b/ The marriage is voluntarily decided by the man and woman;

c/ The man and woman do not lose the civil act capacity;

d/ The marriage does not fall into one of the cases pscribed at Points a, b, c and d, Clause 2, Article 5 of this Law.

2. The State shall not recognize marriage between persons of the same sex.

Article 9. Marriage registration

1. A marriage shall be registered with a competent state agency in accordance with this Law and the law on civil status.

A marriage which is not registered under this Clause is legally invalid.

2. A porced couple who wish to re-establish their husband and wife relation shall register their re-marriage.

Article 10. Persons having the right to request annulment of illegal marriage

1. A person who is forced or deceived into a marriage has, as pscribed by the civil procedure law, the right to request by himself/herself, or propose a person or an organization pscribed in Clause 2 of this Article to request, a court to annul his/her illegal marriage due to violation of Point b, Clause 1, Article 8 of this Law.

2. The following persons, agencies and organizations have, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to annul an illegal marriage due to violation of Point a, c or d, Clause 1, Article 8 of this Law;

a/ The spouse of a married person who gets married to another person; parent, child, guardian or another at-law repsentative of a person who gets married illegally;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

3. When detecting an illegal marriage, other persons, agencies or organizations have the right to propose an agency or organization pscribed at Point b, c, or d, Clause 2 of this Article to request a court to annul such marriage.

Article 11. Handling of illegal marriage

1. A court shall handle illegal marriage in accordance with this Law and the civil procedure law.

2. In case at the time of a court’s settlement of a request for annulment of an illegal marriage, both partners fully satisfy the marriage conditions pscribed in Article 8 of this Law and request recognition of their marriage relation, the court shall recognize that relation. In this case, the marriage relation shall be established from the time both partners fully satisfy the marriage conditions as pscribed by this Law.

3. A court’s decision annulling an illegal marriage or recognizing a marriage relation shall be sent to the agency having registered that marriage for recording in the civil status register; to the two partners of the illegal marriage; and to related persons, agencies and organizations as pscribed by the civil procedure law.

4. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding this Article.

Article 12. Legal consequences of the annulment of illegal marriage

1. When an illegal marriage is annulled, the two partners of such marriage shall stop their husband and wife relation.

2. The rights and obligations of parents and children shall be settled according to provisions on rights and obligations of parents and children upon porce.

3. Property relations, obligations and contracts between the parties shall be settled according to Article 16 of this Law.

Article 13. Handling of ultra vires marriage registration

For a marriage which is registered ultra vires, a competent state agency shall, upon request, withdraw and cancel the marriage certificate in accordance with the civil status law and request two partners to re-register their marriage with a competent state agency. In this case, the marriage relation shall be established on the date of the pvious marriage registration.

Article 14. Settlement of consequences of men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

1. A man and woman eligible for getting married under this Law who cohabit as husband and wife without registering their marriage have no rights and obligations between husband and wife. Rights and obligations toward their children, property, obligations and contracts between the partners must comply with Articles 15 and 16 of this Law.

2. For a man and woman who cohabit as husband and wife under Clause 1 of this Article and later register their marriage in accordance with law, their marriage relation shall be established from the time of marriage registration.

Article 15. Rights and obligations of parents and children for men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

Rights and obligations between a man and woman cohabiting as husband and wife and their children must comply this Law’s provisions on rights and obligations of parents and children.

Article 16. Settlement of property relations and obligations and contracts between men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

1. Property relations, obligations and contracts between a man and woman cohabiting as husband and wife without marriage registration shall be settled under the partners’ agreement. In case there is no agreement, they shall be settled in accordance with the Civil Code and other relevant laws.

2. The settlement of property relations must ensure lawful rights and interests of women and children. Housework and other related work to maintain the cohabitation shall be regarded as income-generating labor.

Chapter III

Section 1. PERSONAL RIGHTS AND OBLIGATIONS

Article 17. Equality in rights and obligations between husband and wife

Husband and wife are equal, having equal rights and obligations in all family affairs and in the performance of citizens’ rights and obligations pscribed in the Constitution, this Law and relevant laws.

Article 18. Protection of personal rights and obligations of husband and wife

Personal rights and obligations of husband and wife pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be respected and protected.

Article 19. Husband and wife attachment

1. Husband and wife have the obligations to love, be faithful to, respect, attend to, care for, and help each other and share family work.

2. Unless otherwise agreed by them or due to requirements of their occupations, work or study, or participation in political, economic, cultural or social activities or for another plausible reason, husband and wife have the obligation to live together.

Article 20. Selection of domicile of husband and wife

The domicile of husband and wife shall be selected as agreed by themselves without being bound by customs, practices or administrative boundaries.

Article 21. Respect for honor, dignity and pstige of husband and wife

Husband and wife have the obligation to respect, pserve and protect each other’s honor, dignity and pstige.

Article 22. Respect for the right to freedom of belief and religion of husband and wife

Husband and wife have the obligation to respect each other’s right to freedom of belief and religion.

Article 23. Rights and obligations to study, work and take part in political, economic, cultural and social activities

Husband and wife have the right and obligation to create conditions for each other to select professions; study and raise their educational levels and professional qualifications and skills; and take part in political, economic, cultural and social activities.

Section 2. REPRESENTATION BETWEEN HUSBAND AND WIFE

Article 24. Bases for determination of repsentation between husband and wife

1. The repsentation between husband and wife in establishing, making and terminating transactions shall be determined in accordance with this Law, the Civil Code and other relevant laws.

2. Husband and wife may authorize each other to establish, make or terminate transactions which, as pscribed by this Law, the Civil Code and other relevant laws, shall be agreed upon by both spouses.

3. A spouse may repsent the other when the latter loses his/her civil act capacity while the former is eligible to act as the guardian or when the latter has his/her civil act capacity restricted while the former is designated by a court to act as the at-law repsentative of his her spouse, unless the latter is required by law to perform by himself/herself related rights and obligations.

When a spouse loses his/her civil act capacity and the other requests a court to settle porce, the court shall designate another person to repsent the partner who has lost his/her civil act capacity for settlement of porce in accordance with the Civil Code’s provisions on guardianship.

Article 25. Repsentation between husband and wife in business relations

1. When husband and wife jointly run a business, unless otherwise agreed by the husband and wife before taking part in the business relation or otherwise pscribed by this Law and other relevant laws, the spouse directly involved in the business relation is the lawful repsentative of the other in that relation.

2. In case husband and wife put their common property into business activities, Article of this Law shall apply.

Article 26. Repsentation between husband and wife in case only one spouse is named in the ownership or use right certificate of common property

1. Repsentation between husband and wife in establishing, making and terminating transactions related to their common property with ownership or use right certificates on which only one spouse is named must comply with Articles 24 and 25 of this Law.

2. In case the spouse named in the property ownership or use right certificate establishes, makes and terminates on his/her own a transaction with a third party in contravention of this Law’s provisions on repsentation between husband and wife, that transaction is invalid, unless the interests of the third party in good faith are protected as pscribed by law.

Article 27. Joint liability of husband and wife

1. Husband and wife shall take joint liability for transactions pscribed in Clause 1, Article 30, which are made by either of them, or other transactions made in conformity with provisions on repsentation of Articles 24, 25 and 26, of this Law.

2. Husband and wife shall take joint liability for the obligations pscribed in Article of this Law.

Section 3. MATRIMONIAL PROPERTY REGIME

1. Husband and wife have the right to choose to apply the statutory or agreed property regime.

The statutory matrimonial property regime is pscribed in Articles 33 thru 46 and Articles 59 thru 64 of this Law.

The agreed matrimonial property regime must comply with Articles 47, 48, 49, 50 and 59 of this Law.

2. Articles 29, 30, 31 and 32 of this Law shall apply regardless of the property regime chosen by husband and wife.

3. The Government shall stipulate in detail the matrimonial property regime.

1. Husband and wife have equal rights and obligations in the creation, possession, use and disposition of their common property without discrimination between housework labor and income-generating labor.

2. Husband and wife have the obligation to ensure conditions for meeting their family’s essential needs.

3. When the performance of property rights and obligations of husband and wife infringes upon lawful rights and interests of the wife, husband, their family or other persons, compensation shall be paid.

Article 30. Rights and obligations of husband and wife to meet their family’s essential needs

1. Husband and wife have the right and obligation to make transactions to meet their family’s essential needs.

2. When husband and wife have no common property or their common property is not enough to meet their family’s essential needs, they shall contribute their separate property according to their financial capacity.

The establishment, making and termination of transactions related to the home being the sole domicile of husband and wife shall be agreed by both of them. In case the home is under the separate ownership of the husband or wife, the owner has the right to establish, make and terminate transactions related to that property but shall ensure domicile for the couple.

1. In transactions with third parties in good faith, the spouse who is the holder of the bank or securities account shall be regarded as the person having the right to establish and make transactions related to that property.

2. In transactions with third parties in good faith, the spouse who is possessing a movable asset which is not required by law to be registered for ownership shall be regarded as the person having the right to establish and make transactions related to that asset in case the Civil Code pscribes protection of third parties in good faith.

1. Common property of husband and wife includes property created by a spouse, incomes generated from labor, production and business activities, yields and profits arising from separate property and other lawful incomes in the marriage period; except the case pscribed in Clause 1, Article 40 of this Law; property jointly inherited by or given to both, and other property agreed upon by husband and wife as common property.

The land use rights obtained by a spouse after marriage shall be common property of husband and wife, unless they are separately inherited by, or given to a spouse or are obtained through transactions made with separate property.

2. Common property of husband and wife shall be under integrated common ownership and used to meet family needs and perform common obligations of husband and wife.

3. When exists no ground to prove that a property in dispute between husband and wife is his/her separate property, such property shall be regarded as common property.

Article 34. Registration of ownership and use rights for common property

1. For a common property which is required by law to be registered for ownership or use, both spouses shall be named in the ownership or use right certificate, unless otherwise agreed by the couple.

2. In case only one spouse is named in the property ownership or use right certificate, transactions related to such property must comply with Article 26 of this Law. Any dispute related to that property shall be settled under Clause 3, Article 33 of this Law.

Article 35. Possession, use and disposition of common property

1. The possession, use and disposition of common property shall be agreed by husband and wife.

2. The disposition of the following common property shall be agreed in writing by husband and wife:

a/ Real estate;

b/ Movable assets which are required by law to be registered for ownership;

c/ Assets which are the major income-generating source for the family.

When husband and wife reach agreement on either spouse’s use of common property for business activities, this spouse has the right to make transactions related to that common property on his/her own. This agreement shall be made in writing.

Husband and wife have the following common property obligations:

1. Obligations arising from transactions established under their agreement, obligations to pay damages under their joint liability as pscribed by law;

2. Obligations performed by a spouse in order to meet the family’s essential needs;

3. Obligations arising from the possession, use and disposition of common property;

4. Obligations arising from the use of separate property for maintaining and developing common property or for generating major incomes for the family;

5. Obligations to pay damages caused by their children as pscribed by the Civil Code;

6. Other obligations as pscribed by relevant laws.

Article 38. Common property pision during the marriage period

1. During the marriage period, except the case pscribed in Article 42 of this Law, husband and wife have the right to reach agreement on pision of part or whole of common property. If they fail to reach agreement, they have the right to request a court to settle it.

2. An agreement on common property pision shall be made in writing. This agreement shall be notarized at the request of husband and wife or as pscribed by law.

3. At the request of a spouse, a court shall settle the common property pision according to Article 59 of this Law.

1. The effective time of a common property pision shall be agreed by husband and wife and stated in the written agreement. If such time is not stated in the written agreement, it is the date of making the agreement.

For pided property whose transactions must be under a certain form as pscribed by law, the common property pision takes effect on the time the pision agreement complies with the form pscribed by law.

For common property pided by a court, the pision takes effect on the legally effective date of the court’s judgment or decision.

Property rights and obligations between husband and wife and a third party which arise before the effective time of common property pision remain legally effective, unless otherwise agreed by involved parties.

When common property of husband and wife is pided, unless otherwise agreed by husband and wife, pided property and yields or profits arising from separate property of each spouse after common property pision are separate property of each spouse. The unpided property portion remains common property of husband and wife.

The agreement between husband and wife pscribed in Clause 1 of this Article shall not change property rights and obligations pviously established between them and a third party.

1. After common property is pided during the marriage period, husband and wife have the right to agree to terminate the effect of such pision. The form of agreement must comply with Clause 2, Article 38 of this Law.

2. From the effective date of the agreement between husband and wife pscribed in Clause 1 of this Article, the determination of common property and separate property of husband and wife must comply with Articles 33 and 43 of this Law. Unless otherwise agreed by husband and wife, the property portion pided to the husband or wife remains his/her separate property.

3. Unless otherwise agreed by the parties, property rights and obligations arising before the termination of the effect of common property pision remain effective.

4. In case common property is pided during the marriage period under an effective court judgment or decision, the agreement on termination of the effect of common property pision shall be recognized by the court.

Article 42. Invalidated common property pision during the marriage period

Common property pision during the marriage period shall be invalidated when:

1. It seriously harms the family’s interests; or lawful rights and interests of minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves;

2. It aims to shirk the following obligations:

a/ Raising and support obligations;

b/ Damages payment obligations;

c/ Payment obligations when declared bankrupt by a court;

d/ Debt payment obligations;

dd/ Tax payment obligations or other financial obligations toward the State;

e/ Other property obligations as pscribed by this Law, the Civil Code and other relevant laws.

Article 43. Separate property of husband and wife

1. Separate property of a spouse includes property owned by this person before marriage; property inherited by or given separately to him/her during the marriage period; property pided to him/her under Articles 38,39 and 40 of this Law; property to meet his/her essential needs and other property under his/her ownership as pscribed by law.

2. Property created from separate property of a husband or wife is also property of his/ her own. Yields and profits arising from separate property during the marriage period must comply with Clause 1, Article 33, and Clause 1, Article 40, of this Law.

1. A spouse has the right to possess, use and dispose of his/her separate property, and to merge or refuse to merge separate property into common property.

2. When a spouse cannot manage his/her separate property himself/herself and does not authorize another person to manage it, the other spouse has the right to manage such property. The property management must ensure benefits for the property owner.

3. Each spouse’s separate property obligations shall be performed with his/her separate property.

4. When yields or profits from separate property of a spouse constitute the family’s sole livelihood, the disposition of such property is subject to the other spouse’s consent.

A spouse has the following separate property obligations:

1. The obligations he/she has before marriage;

2. The obligations arising from the possession, use and disposition of his/her separate property, other than the obligations arising from the pservation, maintenance and repair of his/her separate property under Clause 4, Article 44 or Clause 4, Article 37 of this Law;

3. The obligations arising from transactions established and made by himself/herself not for meeting the family’s needs;

4. The obligations arising from his/her illegal acts.

1. Separate property of a spouse shall be merged into common property according to the agreement between the husband and wife.

2. For property merged into common property whose transactions are required by law to be under a certain form, the merger agreement must ensure that form.

3. Unless otherwise agreed by husband and wife or pscribed by law, obligations related to separate property already merged into common property shall be performed with common property.

For a married couple that selects the agreed property regime, this agreement shall be made in writing before their marriage and be notarized or certified. The agreed matrimonial property regime shall be established on the date of marriage registration.

Article 48. Basic contents of an agreement on the matrimonial property regime

1. The basic contents of an agreement on the property regime include:

a/ Property determined as common property and separate property of the husband and wife;

b/ Rights and obligations of the husband and wife toward common property, separate property and related transactions; property to meet the family’s essential needs;

c/ Conditions, procedures and principles of property pision upon termination of the property regime;

d/ Other related contents.

2. For matters arising in the implementation of the agreed property regime which have not been agreed or unclearly agreed by husband and wife, Articles 29, 30, 31 and 32 of this Law and corresponding provisions of the statutory property regime shall apply.

1. Husband and wife have the right to modify their agreement on the property regime.

2. The form of modification of the agreement on the property regime must comply with Article 47 of this Law.

Article 50. Invalidated agreement on the matrimonial property regime

1. An agreement on the matrimonial property regime shall be declared to be invalid by a court when:

a/ It fails to meet the conditions on effect of transactions pscribed the Civil Code and other relevant laws;

b/ It violates Article 29, 30, 31 or 32 of this Law;

c/ Its contents seriously infringe upon the rights to be supported and inherit and other lawful rights and interests of parents, children and other family members.

2. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding Clause 1 of this Article.

Chapter IV

Section 1. DIVORCE

1. Husband or wife or both has or have the right to request a court to settle their porce.

2. A parent or another next of kin of a spouse has the right to request a court to settle a porce when the spouse is unable to perceive and control his/her acts due to a mental disease or another disease and is concurrently a victim of domestic violence caused by his/her spouse which seriously harms his/her life, health or spirit.

3. A husband has no right to request a porce when his wife is pgnant, gives birth or is nursing an under-12-month child.

The State and society shall encourage grassroots-level conciliation when a husband or wife requests a porce. The conciliation must comply with the law on grassroots-level conciliation.

1. A court shall accept porce petitions in accordance with the civil procedure law.

2. For a couple who has not registered their marriage but requests a porce, the court shall accept the case and declare non-recognition of their spousal relationship under Clause 1, Article 14 of this Law; and shall settle any children- or property-related requests according to Articles 15 and 16 of this Law.

Article 54. Conciliation at court

After accepting a porce petition, a court shall conduct conciliation in accordance with the civil procedure law.

Article 55. Divorce by mutual consent

When both spouses request a porce, a court shall recognize the porce by mutual consent if seeing that the two are really willing to porce and have agreed upon the property pision, looking after, raising, care for and education of their children on the basis of ensuring the legitimate interests of the wife and children. If the spouses fail to reach agreement or have reached an agreement which -fails to ensure the legitimate interests of the wife and children, the court shall settle the porce.

Article 56. Divorce at the request of one spouse

1. When a spouse requests a porce and the conciliation at a court fails, the court shall permit the porce if it has grounds to believe that a spouse commits domestic violence or seriously infringes upon the rights and obligations of the husband or wife, which seriously deteriorates the marriage and makes their common life no longer impossible and the marriage purposes unachievable.

2. When the spouse of a person who is declared missing by a court requests a porce, the court shall permit the porce.

3. For request for a porce under Clause 2, Article 51 of this Law, a court shall permit the porce if it has grounds to believe that the domestic violence committed by one spouse seriously harms the life, health or spirit of the other.

1. The marriage relation shall terminate on the date a court’s porce judgment or decision takes legally effective.

2. The court that has settled a porce shall send the legally effective porce judgment or decision to the agency registering such marriage for recording in the civil status register; the porced partners; and other persons, agencies and organizations as pscribed by the Civil Procedure Code and other relevant laws.

The looking after, care for, raising and education of children after porce must comply with Articles 81, 82, 83 and 84 of this Law.

1. The settlement of property shall be agreed upon by the concerned parties in case of applying the statutory matrimonial property regime. If they fail to reach agreement thereon, at the request of a spouse or both, a court shall settle it according to Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.

In case of applying the agreed matrimonial property regime, the settlement of property upon porce must comply with such agreement. In case the agreement is insufficient or unclear, the settlement must comply with corresponding provisions of Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.

2. Common property shall be pided into two, taking into account the following factors:

a/ Circumstances of the family, husband and wife;

b/ Each spouse’s contributions to the creation, maintenance and development of common property. The housework done in the family by a spouse shall be regarded as income-generating labor;

c/ Protecting the legitimate interests of each spouse in their production, business and career activities to create conditions for them to continue working to generate incomes;

d/ Each spouse’s faults in the infringement of spousal rights and obligations.

3. Common property of husband and wife shall be pided in kind, if impossible to be pided in kind, common property shall be pided based on its value. The partner who receives the property in kind with a value bigger than the portion he/she is entitled to receive shall pay the value difference to the other.

4. Separate property of a spouse shall be under his/her ownership, except for separate property already merged into common property in accordance with this Law.

A spouse who requests pision of separate property which has been merged into or mixed with common property shall be paid for the value of his/her property contributed to common property, unless otherwise agreed by husband and wife.

5. The lawful rights and interests of the wife, minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves shall be protected.

6. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding this Article.

1. Property rights and obligations of husband and wife toward a third party remain effective after porce, unless otherwise agreed by husband and wife and that party.

2. When a dispute arises over property rights and obligations, the settlement of such dispute must comply with Articles 27, 37 and 45 of this Law and the Civil Code.

1. When a couple living with their family get a porce, if their property cannot be determined separately from the common property of the family, the husband or wife is entitled to pision of part of the family’s common property based on the couple’s contributions to the creation, maintenance and development of the family’s common property as well as to the common life of the family. The couple shall reach agreement with their family on their portion pided from the family’s common property. If they fail to reach agreement thereon, they may request settlement by a court.

2. For a couple living with their family whose property can be determined separately from the family’s common property, upon porce, such property portion of the couple shall be deducted from the family’s common property for pision under Article 59 of this Law.

1. Land use rights being separate property of a spouse remain under his/her ownership upon porce.

2. The pision of land use rights being common property of husband and wife upon porce shall be pided as follows:

a/ For agricultural land under annual crops or aquaculture, if both partners have the need and conditions to directly use the land, the land use rights shall be pided under their agreement. If they fail to reach agreement thereon, they may request a court to settle it according to Article 59 of this Law.

When only one partner has the need and conditions to directly use the land, that partner may continue to use the land but shall pay to the other the portion of the land use right value the latter is entitled to;

b/ When husband and wife share the right to use agricultural land under annual crops or aquaculture with their household, upon porce, the couple’s portion of the land use right shall be separated and pided under Point a of this Clause;

c/ For agricultural land under perennial trees, forestry land for forestation or residential land, the land use rights shall be pided according to Article 59 of this Law;

d/ The pision of the rights to use land of other categories must comply with the land law.

3. For husband and wife living with their family and sharing no land use rights with the latter, upon porce, the interests of the partner who has no land use rights and does not continue to live with the family shall be settled according to Article 61 of this Law.

A house which is separate property of a spouse and has been put to common use remains under his/her ownership upon porce. In case the other partner has accommodation difficulties, unless otherwise agreed by the partners, he/she has the right to stay at the house for 6 months at most from the date of termination of the marriage relation.

A spouse who is carrying out business activities related to common property has the right to receive that property and shall pay the other the property value that the latter is entitled to, unless otherwise pscribed by the business law.

A marriage is terminated from the time of death of a spouse.

In case a court declares a spouse to be dead, the time of termination of the marriage is the date of death stated in the court’s judgment or decision.

1. When a spouse is dead or declared to be dead by a court, the other shall manage common property, unless another person is designated to manage the estate under his/her testament or the heirs agree to designate another person to manage the estate.

2. When there is a request for pision of the estate, unless the couple has reached agreement on the property regime, common property of husband and wife shall be pided into two. The property portion of the spouse who is dead or declared to be dead by a court shall be pided in accordance with the inheritance law.

3. In case the pision of the estate would seriously affect the life of the living spouse and the family, this spouse has the right to request a court to restrict the pision of the estate in accordance with the Civil Code.

4. Unless otherwise pscribed by the business law, property of husband and wife used for business activities shall be settled according to Clauses 1, 2 and 3 of this Article.

1. When a court issues a decision to cancel the declaration of death of a person and that person’s spouse has not got married to another person, their marriage relation shall be restored from the time of their marriage. In case there is a court’s decision permitting a porce under Clause 2, Article 56 of this Law, this decision remains legally valid. In case the spouse of that person has got married to another person, the marriage relation established later is legally effective.

2. The property relation between the person declared to be dead who returns and his spouse shall be settled as follows:

a/ If their marriage is restored, the property relation shall be restored on the effective date of the court’s decision canceling the declaration of death of the person who is the husband or wife. The property acquired by his/her spouse from the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife to the effective date of the court’s decision canceling such declaration is separate property of that spouse;

b / If their marriage is not restored, property created before the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife which has not been pided shall be settled as for property pision upon porce.

1. The rights and obligations of parents and children under this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be respected and protected.

2. Children who are born regardless of their parents’ marital status all have the same rights and obligations toward their parents pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws.

3. Adopted children and adoptive parents shall have rights and obligations of parents and children pscribed in this Law, the Adoption Law, the Civil Code and other relevant laws.

4. All agreements between parents and children related to personal and property relations must not harm the lawful rights and interests of minor children, adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves and parents who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

1. To love, and respect opinions of, their children; to attend to the study and education of their children to ensure their healthy physical, intellectual and moral development in order to become dutiful children of the family and useful citizens of the society.

2. To look after, raise, care for, and protect the lawful rights and interests of their minor children and adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

3. To act as the guardian of or repsent in accordance with the Civil Code their minor children or adult children who have lost their civil act capacity.

4. Not to discriminatorily treat their children due to their gender or the marital status of the parents; not to abuse the labor of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity; not to incite or force their children to act against law or social ethics.

1. To be loved and respected by their parents and perform and enjoy their lawful personal and property rights and interests in accordance with law; to study and be educated; to be entitled to healthy physical, intellectual and moral development.

2. To love, respect, show gratitude and dutifulness to and support their parents, to pserve the honor and good traditions of their family.

3. For minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves, to live with their parents, to be looked after, nursed and cared for by their parents.

For minor children, to do housework suitable to their age and not in contravention of the law on protection, care for and education of children.

4. For adult children, to select at their free will professions and places of residence, to study and raise their educational level and professional qualifications and skills; to participate in political, economic, cultural and social activities according to their aspirations and abilities. When living with their parents, to do housework and participate in working, production and income-generating activities to ensure the common life of the family; to contribute their incomes to meeting the family’s needs suitable to their capacity.

5. To enjoy property rights corresponding to their contributions to the family’s property.

1. Father and mother have equal obligation and right to jointly care for and raise their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have-no working capacity and no property to support themselves.

2. Children have the obligation and right to care for and support their parents, especially when their parents lose their civil act capacity, are sick, become old and weak or have disabilities. For a family with several children, these children shall together care for and support their parents.

Article 72. Obligation and right to educate children

1. Parents have the obligation and right to educate their children, attend to and create conditions for their study.

Parents shall create conditions for their children to live in a happy and harmonious family environment; set good examples for their children in every aspect; and closely collaborate with schools, agencies and organizations in educating their children.

2. Parents shall guide their children in selecting professions; respect their children’s rights to select professions and participate in political, economic, cultural and social activities.

3. When facing difficulties which cannot be solved by themselves, parents may request concerned agencies and organizations to assist them in educating their children.

Article 73. Repsentation for children

1. Parents are repsentatives at law of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity, except when the children have other persons to be their guardians or repsentatives at law.

2. A parent has the right to make transactions on his/her own to meet essential needs of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

3. Transactions related to real estate or movable assets with registered ownership or use rights or property used for business activities of minor children or adult children who have lost their civil act capacity must obtain their parents’ consent.

4. Parents shall take joint responsibility for making transactions related to their children’s property pscribed in Clauses 2 and 3, this Article and as pscribed by the Civil Code.

Article 74. Compensation for damage caused by children

Parents shall pay compensation for damage caused by their minor children or adult children who have lost their civil act capacity in accordance with the Civil Code.

1. Children have the right to have their own property which includes property separately inherited by or given to them, incomes from their work, yields and profits arising from their own property and other lawful incomes. Property created from children’s own property is also their own property.

2. If they have incomes, children who are full 15 years or older and live with their parents have the obligation to attend to the family’s common life and make contributions to meeting the family’s essential needs.

3. Adult children have the obligation to contribute their incomes to meeting the family’s essential needs according to Clause 4, Article 70 of this Law.

1. Children aged full 15 or older may themselves manage or ask their parents to manage their own property.

2. Property of children who are under 15 or children who have lost their civil act capacity shall be managed by their parents. Parents may authorize other persons to manage their children’s own property. Unless otherwise agreed by parents and children, children’s own property managed by their parents or other persons shall be given to them when they are full 15 years or older or have fully restored their civil act capacity.

3. Parents shall not manage their children’s own property when their children are under the guardianship of other persons as pscribed by the Civil Code; or when the persons giving or bequeathing under testament property to their children have designated other persons to manage such property, or in other cases as pscribed by law.

4. In case parents are managing property of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity and their children are assigned to other guardians, the children’s property shall be delivered to the guardians for management under the Civil Code.

1. Parents or guardians who manage under-15 children’s own property have the right to dispose of such property in the interests of the children and shall take into account the children’s desire if they are full 9 years or older.

2. Children aged between full 15 and under 18 have the right to dispose of their own property other than real estate, movable assets with registered ownership and use rights or property used for business activities the disposal of which is subject to written consent of their parents or guardians.

3. Guardians of adult children who have lost their civil act capacity may dispose of the latter’s own property.

1. An adoptive parent and his/her adopted child have the rights and obligations of parents and children pscribed in this Law from the time the adoption relationship is established under the Adoption Law.

In case of termination of an adoption under a court’s decision, the rights and obligations of an adoptive parent toward his/her adopted child shall terminate from the legally effective date of the court’s decision.

2. The rights and obligations of natural parents and their children who have been adopted by other persons must comply with the Adoption Law.

3. The rights and obligations of natural parents and their children shall be restored from the time the adoption relationship terminates. When they no longer have natural parents or their natural parents cannot afford to raise minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves, a court shall settle the adoption termination and designate guardians for the children in accordance with the Civil Code.

1. A step parent has the rights and obligations to look after, raise, care for and educate stepchildren who live with him or her according to Articles 69, 71 and 72 of this Law.

2. A stepchild has the rights and obligations to care for and support his/her step parent who lives with him or her according to Articles 70 and 71 of this Law.

In case a daughter- or son-in-law lives with her/his parents-in-law, all parties have the rights and obligations to respect, attend to, care for, and assist one another according to Articles 69, 70, 71 and 72 of this Law.

1. After a porce, parents still have rights and obligations to look after, care for, raise and educate minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves in accordance with this Law, the Civil Code and other relevant laws.

2. Husband and wife shall reach agreement on the person who directly raises their children and on his and her obligations and rights toward their children after porce. If they fail to reach agreement, the court shall appoint either of them to directly raise the children, taking into account the children’s benefits in all aspects. If a child is full 7 years or older, his/ her desire shall be considered.

3. A child under 36 months of age shall be directly raised by the mother, unless the mother cannot afford to directly look after, care for, raise and educate the child or otherwise agreed by the parents in the interests of the child.

1. The parent who does not directly raise a child shall respect the child’s right to live with the person who directly raises him/her.

2. The parent who does not directly raise a child shall support this child.

3. After porce, the person who does not directly raise a child has the right and obligation to visit and care for this child without being obstructed by any person.

1. The parent directly raising a child has the right to request the person not directly raising this child to fulfill the obligations pscribed in Article 82 of this Law and request this person and family members to respect his/her right to raise the child.

2. The parent directly raising a child and family members may not obstruct the person not directly raising the child from visiting, caring for, raising and educating this child.

1. At the request of a parent or a person or an organization pscribed in Clause 5 of this Article, a court may decide to change the person directly raising a child.

2. Change of the person directly raising a child shall be settled when there is one of the following grounds:

a/ The parents agrees on change of the person directly raising a child in the interests of this child;

b/ The person directly raising the child no longer has sufficient conditions to directly look after, care for, raise and educate the child.

3. Upon change of the person directly raising a child aged full 7 or older, this child’s desire shall be taken into account.

4. When seeing that both parents fail to have sufficient conditions to directly raise a child, a court shall decide to assign this child to a guardian in accordance with the Civil Code.

5. When there is the ground pscribed at Point b, Clause 2 of this Article, in the interests of a child, the following persons, agencies or organizations have the right to request change of the person directly raising this child:

a/ Next of kin;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

Article 85. Restrictions on parents’ rights toward their minor children

1. A parent shall have his/her rights toward a minor child restricted when:

a/ He/she is convicted of one of the crimes of intentionally infringing upon the life, health, dignity or honor of this child or commits acts of seriously breaching the obligations to look after, care for, raise and educate children;

b/ He/she disperses property of the child;

d/ He/she incites or forces the child to act against law or social ethics.

2. On ạ case-by-case basis, a court shall itself, or at the request of the persons, agencies or organizations pscribed in Article 86 of this Law, issue a decision disallowing a parent to look after, care for and educate a child or manage the child’s own property or act as the child’s repsentative at law for between 1 and 5 years. The court may consider shortening this period of time.

1. A parent or guardian of a minor child has, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to restrict a parent’s rights toward this child.

2. The following persons, agencies and organizations have, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to restrict a parent’s rights toward a minor child:

a/ Next of kin;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

3. When detecting a parent committing violations of Clause 1, Article 85 of this Law, other persons, agencies and organizations have the right to request the agencies and organizations pscribed at Points b, c and d, Clause 2 of this Article to propose a court to restrict this parent’s rights toward the minor child.

1. When a parent has his/her rights toward a minor child restricted by a court, the other parent shall exercise the rights to look after, raise, care for and educate this child, manage the child’s own property and acts as the child’s repsentative at law.

2. A guardian shall be assigned to look after, care for and educate a minor child and manage the child’s own property in accordance with the Civil Code and this Law in the following cases:

a/ Both parents have their rights toward the minor child restricted by a court;

b/ The parent who does not have his/her rights toward the minor child restricted does not have sufficient conditions to perform the rights and obligations toward the child;

c/ A parent has the rights toward the minor child restricted and the other parent of the child has not been identified yet.

3. A parent who has the rights toward a minor child restricted by a court shall still perform the obligation to support this child.

Section 2. IDENTIFICATION OF PARENTS AND CHILDREN

1. A child who is born or conceived by the wife during the marriage period is the common child of the husband and wife.

A child who is born within 300 days from the time of termination of a marriage shall be regarded as a child conceived by the wife during the marriage period.

A child who is born before the date of marriage registration and recognized by his/her parents is the common child of the husband and wife.

2. When a parent does not recognize a child, he/she must have evidence and such non- recognition shall be determined by a court.

Article 89. Identification of children

1. A person who is not recognized as the parent of a person may request a court to identify that the latter is his/her child.

2. A person who is recognized as the parent of a person may request a court to identify that the latter is not his/her child.

1. A person has the right to recognize his/her parent even in case the parent has died.

2. An adult may recognize his/her parent without consent of the other parent.

Article 91. Right to recognize children

1. A parent has the right to recognize his/her child even in case this child has died.

2. A married person may recognize his/her child without consent of his/her spouse.

When a person who requests identification of his/her parent or child dies, his/her next of kin has the right to request a court to identify the parent or child for him/her.

1. When a wife gives birth to a child with assisted reproductive technology, the identification of parents must comply with Article 88 of this Law.

2. A single woman who gives birth to a child with assisted reproductive technology is the mother of that child.

3. No parent-child relationship shall arise between a person who donates sperm, egg or embryo and the child born with assisted reproductive technology.

4. The identification of parents in case of altruistic gestational surrogacy must comply with Article 94 of this Law.

A child born in case of altruistic gestational surrogacy is the common child of the husband and wife who ask for such gestational surrogacy from the time this child is born.

Article 95. Conditions for altruistic gestational surrogacy

1. Altruistic gestational surrogacy shall be based on the voluntariness of involved parties and established in writing.

2. Husband and wife have the right to ask for a person’s gestational surrogacy when they fully meet the following conditions:

a/ The wife is certified by a competent health organization as unable to carry a pgnancy and give birth even with assisted reproductive technology;

b/ The couple has no common child;

c/ The couple has received health, legal and psychological counseling.

3. A gestational carrier must fully satisfy the following conditions:

a/ She is a next of kin of the same line of the wife or husband who asks for gestational surrogacy;

b/ She has given birth and is permitted for gestational surrogacy only once;

c/ She is at a suitable age and is certified by a competent health organization as eligible for gestational surrogacy;

d/ In case she is married, she obtains her husband’s written consent;

dd/ She has received health, legal and psychological counseling.

4. Altruistic gestational surrogacy must not contravene the law on giving birth with assisted reproductive technology.

5. The Government shall detail this Article.

Article 96. Agreement on altruistic gestational surrogacy

1. An agreement on altruistic gestational surrogacy between husband and wife who ask for gestational surrogacy (below referred to as gestational surrogacy requesting party) and husband and wife who give gestational surrogacy (below referred to as gestational carrier party) must contain the following basic contents:

a/ Full information on the gestational surrogacy requesting party and the gestational carrier party according to the related conditions pscribed in Article 95 of this Law;

b/ Commitment to fulfill the rights and obligations pscribed in Articles 97 and 98 of this Law;

c/ Settlement of consequences in case of occurrence of obstetrical incidents; support for ensuring reproductive health for the gestational carrier during the period of pgnancy and delivery, child recognition by the gestational surrogacy requesting party, rights and obligations of both parties in case the child has not been delivered to the gestational surrogacy requesting party and other related rights and obligations;

d/ Civil liabilities in case one or both parties breach commitments under the agreement.

2. An agreement on gestational surrogacy shall be made in writing and notarized. In case the couple requesting gestational surrogacy or the couple giving gestational surrogacy authorizes the other to make the agreement, such authorization shall be made in writing and notarized. Authorization to a third party is legally invalid.

In case an agreement on gestational surrogacy between the gestational carrier party and the gestational surrogacy requesting party is made concurrently with the agreement between them and the health establishment conducting the birth giving with assisted reproductive technology, this agreement must be certified by a competent person of this health establishment.

1. A gestational carrier and her husband have the rights and obligations as parents in reproductive health care and care for and nursing of the child until this child is delivered to the gestational surrogacy requesting party; and shall deliver the child to the gestational surrogacy requesting party.

2. A gestational carrier shall comply with the Ministry of Health’s regulations on examination and screening for detecting and treating fetal abnormalities and defects.

3. A gestational carrier is entitled to the maternity regime as pscribed by the labor and social insurance laws until the child is delivered to the gestational surrogacy requesting party.

When the duration from the date of giving birth to a child to the date of delivering that child is less than 60 days, a gestational carrier is still entitled to the maternity regime for full 60 days. The child born from gestational surrogacy shall not be counted into the number of children under the policy on population and family planning.

4. The gestational carrier party has the right to request the gestational surrogacy requesting party’s support and care for reproductive health.

In the interest of her life or health or for fetal development, a gestational carrier has the right to on the number of embryos and continuation or discontinuation of the pgnancy in accordance with the laws on reproductive health care and giving birth with assisted reproductive technology.

5. When the gestational surrogacy requesting party refuses to receive the child, the gestational carrier party has the right to request a court to oblige the former to receive that child.

1. The gestational surrogacy requesting party shall pay actual expenses for ensuring reproductive health according to the Ministry of Health’s regulations.

2. Rights and obligations of the altruistic gestational surrogacy requesting party toward their child shall arise from the time the child is born. The mother requesting gestational surrogacy is entitled to the maternity regime in accordance with the labor and social insurance laws from the time of receiving her child to the time the child is full 6 months.

3. The gestational surrogacy requesting party may not refuse to receive their child. A gestational surrogacy requesting party that delays receipt of his/her child or breaches the child nursing and caring obligations shall support this child in accordance with this Law and be handled in accordance with relevant laws. If causing damage to the gestational carrier party, he/she shall pay damages. In case the gestational surrogacy requesting party dies, the child is entitled to inheritance of the former’s estate in accordance with law.

4. A child born from gestational surrogacy and other members of the family of the gestational surrogacy requesting party have the rights and obligations pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws.

5. When the gestational carrier party refuses to deliver the child, the gestational surrogacy requesting party has the right to request a court to oblige the former to deliver the child.

1. The court is competent to settle disputes over giving birth with assisted reproductive technology and gestational surrogacy.

2. When both husband and wife being the gestational surrogacy requesting party die or lose their civil act capacity before the child is delivered to them, the gestational carrier party has the right to raise this child. If the gestational carrier party refuses to raise the child, the guardianship and support for the child must comply with this Law and the Civil Code.

Parties involving in giving birth with assisted reproductive technology and gestational surrogacy that violate conditions, rights and obligations pscribed in this Law shall be handled for civil, administrative or penal liabilities depending on the nature and severity of their violations.

1. The civil status registry is competent to identify parents and children in accordance with the civil status law in case there is no dispute.

2. The court is competent to identify parents and children in case there is a dispute or the person requested for being identified as parent or child has died and in the case pscribed in Article 92 of this Law.

A court’s decision identifying a parent or child shall be sent to the civil status registry for recording in accordance with the civil status law; to parties involved in the parent and child identification; and to related persons, agencies and organizations as pscribed by the civil procedure law.

1. An adult parent or child with civil act capacity has the right to request the civil status registry to identify his/her child or parent in the case pscribed in Clause 1, Article 101 of this Law.

2. A parent or child, as pscribed by the civil procedure law, has the right to request a court to identify his/her child or parent in the case pscribed in Clause 2, Article 101 of this Law.

3. The following persons, agencies and organizations, as pscribed by the civil procedure law, have the right to request a court to identify the parent(s) of a minor child or an adult child who has lost his/her civil act capacity; or identify the child for a minor parent or a parent who has lost his/her civil act capacity in the case pscribed in Clause 2, Article 101 of this Law:

a/ Parent, child, guardian;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

1. Family members have the right and obligation to care for, look after, assist and respect one another. Lawful personal and property rights and interests of family members pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be protected by law.

2. Family members that live together have the obligations to participate in housework and income-generating activities; contribute their efforts, money or other properties to maintaining family life suitable to their actual capabilities.

3. The State shall adopt policies to create conditions for familial generations to, care for look after, and assist one another for the purpose of pserving and upholding the fine traditions of Vietnamese families; shall encourage inpiduals and organizations in the society to jointly participate in pserving and upholding the fine traditions of Vietnamese families.

1. Paternal grandparents and maternal grandparents have the right and obligation to look after, care for and educate their grandchildren, lead exemplary lives and set good examples for their children and grandchildren; for minor grandchildren, adult grandchildren who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves and no raising people as pscribed in Article 105 of this Law, paternal grandparents and maternal grandparents have the obligation to raise these grandchildren.

2. Grandchildren have the obligation to respect, care for and support their paternal grandparents and maternal grandparents; for paternal grandparents or maternal grandparents who have no children to raise them, their adult grandchildren have the obligation to raise them.

Siblings have the right and obligation to love, care for and assist one another; in case they no longer have parents or their parents have no conditions to look after, raise, care for and educate their children, they have the right and obligation to raise one another.

Aunts, uncles, nieces and nephews have the right and obligation to love, care for and assist one another; have the right and obligation to raise one another in case those who need to be raised no longer have parents, children and people pscribed in Articles 104 and 105 of this Law or still have these people but these people have no conditions to perform their raising obligation.

Article 107. Support obligation

1. The support obligation shall be performed between parents and children; among siblings; between paternal grandparents, maternal grandparents and grandchildren; between aunts, uncles and nieces, nephews; and between husband and wife in accordance with this Law.

The support obligation can be neither replaced by another obligation nor transferred to other people.

2. In case persons having the support obligation shirk this obligation, at the request of the persons, agencies or organizations pscribed in Article 119 of this Law, courts shall compel these persons to perform the support obligation in accordance with this Law.

In case a person has the obligation to support many persons, the supporting person and supported .persons shall reach agreement on methods and levels of support suitable to the actual income and ability of the supporting person and essential needs of supported persons; if failing to reach agreement, they may request a court to settle it.

In case many persons have the obligation to support one person or many persons, they shall agree mutually upon methods and levels of contribution suitable to the actual income and ability of each supporting person and the essential needs of the supported person(s); if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

Parents who do not live with their children or live with their children but violate the support obligation have the obligation to support minor children and adult children who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 111. Support obligation of children toward parents

Adult children who do not live with their parents have the obligation to support their parents who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 112. The support obligation among siblings

In case they no longer have parents or their parents have no working capacity and no property to support their children, adult elder siblings who do not live together with their younger siblings have the obligation to support their minor siblings who have no property to support themselves or adult younger siblings who have no working capacity and no property to support themselves; adult younger siblings who do not live together with their elder siblings have the obligation to support their elder siblings who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 113. Support obligation between paternal grandparents, maternal grandparents and grandchildren

1. Paternal grandparents and maternal grandparents who do not live with their grandchildren have the obligation to support their minor grandchildren or their adult grandchildren who have no working capacity, no property to support themselves and have no one to support them as pscribed in Article 112 of this Law.

2. Adult grandchildren who do not live together with their paternal grandparents and maternal grandparents have the obligation to support their paternal grandparents and maternal grandparents who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

Article 114. Support obligation among aunts, uncles and nieces, nephews

1. Aunts, uncles who do not live with their nieces, nephews have the obligation to support their minor nieces, nephews or their adult nieces, nephews who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

2. Adult nieces, nephews who do not live with their aunts, uncles have the obligation to support their aunts, uncles who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

When porced, if the party facing financial difficulties requests maintenance for plausible reasons, the other party has the obligation to provide maintenance according to his/her ability.

1. The support level shall be agreed upon by the person with the support obligation and the supported person or the latter’s guardian on the basis of the actual income and ability of the person with the support obligation and the essential needs of the supported person; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

2. When there is a plausible reason, the support level may change. The change of the support level shall be agreed upon by the parties; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

Article 117. Support method

Support may be provided on a monthly, quarterly, biannual, annual or one-off basis.

In case the person with the support obligation falls into a difficult financial circumstance, thus being unable to perform his/her support obligation, the parties may reach agreement to change the method of support or temporarily cease the support; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

The support obligation shall terminate in the following cases:

1. The supported person has become adult and has working capacity or property to raise himself or herself;

2. The supported person is adopted;

3. The supporting person directly raises the supported person;

4. The supporting or supported person dies;

5. The supported person re-marries after porce;

6. Other cases pscribed by law.

Article 119. Persons having the right to request performance of the support obligation

1. The supported person, his/her parent or guardian has the right in accordance with the civil procedure law to request a court to force the person who fails to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation.

2. The following inpiduals, agencies or organizations have the right in accordance with the civil procedure law to request a court to force the person who fails to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation:

a/ Next of kin;

b/ State management agencies in charge of families;

c/ State management agencies in charge of children;

d/ Women’s unions.

3. Other inpiduals, agencies and organizations have the right, when detecting acts of shirking the performance of the support obligation, to request the agencies or organizations pscribed at Points b, c and d, Clause 2 of this Article to request a court to force the people who fail to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation.

Article 120. Encouragement of assistance from organizations and inpiduals

The State and society shall encourage organizations and inpiduals to provide assistance in cash or kind to families and inpiduals in extremely difficult and needy circumstances.

Chapter VIII

1. In the Socialist Republic of Vietnam, marriage and family relations involving foreign elements shall be respected and protected in accordance with Vietnamese law and treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party.

2. In their marriage and family relations with Vietnamese citizens, unless otherwise provided by Vietnamese law, foreigners in Vietnam have the same rights and obligations like Vietnamese citizens.

3. The Socialist Republic of Vietnam State shall protect lawful rights and interests of Vietnamese citizens abroad in their marriage and family relations in accordance with Vietnamese law, the host country’s law and international laws and practices.

4. The Government shall detail the settlement of marriage and family relations involving foreign elements in order to protect lawful rights and interests of the parties and guarantee the implementation of Clause 2, Article 5 of this Law.

Article 122. Application of laws to marriage and family relations involving foreign elements

1. Unless otherwise provided by this Law, the legal provisions of the Socialist Republic of Vietnam concerning marriage and family are applicable to marriage and family relations involving foreign elements.

In case a treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party contains provisions different from those of this Law, the provisions of such treaty pvail.

2. In case this Law and other legal documents of Vietnam refer to the application of a foreign law, such foreign law shall apply, provided such application does not contravene the fundamental principles laid down in Article 2 of this Law.

In case a foreign law refers back to the Vietnamese law, Vietnam’s marriage and family law shall apply.

3. In case a treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party refers to the application of a foreign law, such foreign law shall apply.

Article 123. Competence to settle cases and matters of marriage and family involving foreign elements

1. The competence to register civil status related to marriage and family relations involving foreign elements must comply with the law on civil status.

2. The competence to settle cases and matters of marriage and family involving foreign elements at court must comply with the Civil Procedure Code.

3. District-level People’s Courts of localities where Vietnamese citizens reside are competent to cancel illegal marriages, settle porce cases, disputes over the rights and obligations of husband and wife, parents and children, recognition of parents, children, child adoption and guardianship between Vietnamese citizens residing in border areas and citizens of neighboring countries living in areas bordering on Vietnam in accordance with this Law and other Vietnamese laws.

Article 124. Consular legalization of papers and documents on marriage and family

Papers established, granted or certified by competent foreign agencies for use in the settlement of cases and matters of marriage and family shall be consularly legalized, except cases eligible for exemption from consular legalization under treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party or on the principle of reciprocity.

Article 125. Recognition and writing of judgments and decisions of foreign courts and competent foreign agencies on marriage and family

1. The recognition of judgments and decisions on marriage and family of foreign courts with request for enforcement in Vietnam must comply with the Civil Procedure Code.

2. The Government shall pscribe the writing in civil status registers of matters of marriage and family according to judgments and decisions of foreign courts without request for enforcement in Vietnam or without request for non-recognition in Vietnam; and decisions on marriage and family of other competent foreign agencies.

Article 126. Marriage involving foreign elements

1. For marriages between Vietnamese citizens and foreigners, each party shall comply with his/her country’s law on marriage conditions; if their marriage is conducted at a competent Vietnamese state agency, the foreigner shall also comply with this Law’s provisions on marriage conditions.

2. Marriages between foreigners permanently residing in Vietnam at competent Vietnamese agencies must comply with this Law’s provisions on marriage conditions.

Article 127. Divorce involving foreign elements

1. Divorce between a Vietnamese citizen and a foreigner or between two foreigners permanently residing in Vietnam shall be settled at a competent Vietnamese agency in accordance with this Law.

2. In case a partner being a Vietnamese citizen does not permanently reside in Vietnam at the time of request for porce, the porce shall be settled in accordance with the law of the country where the husband and wife permanently co-reside; if they do not have a place of permanent co-residence, the Vietnamese law shall apply.

3. The settlement of a porced couple’s immovables in a foreign country must comply with the law of the country where such immovables are located.

Article 128. Identification of parents and children involving foreign elements

1. Vietnamese civil status registration agencies are competent to settle the identification of parents and children without any disputes between Vietnamese citizens and foreigners or between Vietnamese citizens at least one of whom settles abroad, or between foreigners at least of one of whom permanently resides in Vietnam in accordance with the law on civil status.

2. Competent Vietnamese courts shall settle the identification of parents and children involving foreign elements in the cases pscribed in Clause 2 of Article 88, Articles 89, Article 90, Clauses 1 and 5 of Article 97, Clauses 3 and 5 of Article 98, and Article 99 of this Law; and other cases involving disputes.

Article 129. Support obligation involving foreign elements

1. The support obligation must comply with the law of the country where the requester for support resides. In case the requester for support has no place of residence in Vietnam, the law of the country of his/her citizenship shall apply.

2. Agencies competent to settle written requests for support of the persons pscribed in Clause 1 of this Article are agencies of the country of residence of the requester. ‘

Article 130. Application of the agreed matrimonial property regime; settlement of consequences of the co-living of men and women as husband and wife without marriage registration involving foreign elements

In case of receiving requests for settlement of the application of the agreed matrimonial property regime; or relations of men and women co-living as husband and wife without marriage registration involving foreign elements, competent Vietnamese agencies shall apply the provisions of this Law and other relevant Vietnamese laws to settle these requests.

Article 131. Transitional provisions

1. Marriage and family relations established before this Law takes effect shall be settled in accordance with the law on marriage and family applicable at the time of establishment.

2. For cases and matters of marriage and family received by courts before this Law takes effect but not yet settled by the courts, the procedures pscribed in this Law shall apply.

3. This Law shall not be applied to lodging protests according to cassation or review trial procedures with regard to cases and matters which courts have settled in accordance with the law on marriage and family effective before the effective date of this Law.

Article 132. Effect

This Law takes effect on January 1, 2021.

Marriage and Family Law No. 22/2000/QH10 ceases to be effective on the date this Law takes effect.

Article 133. Detailing and implementation guidance

The Government shall detail articles and clauses as assigned in this Law.

The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding articles and clauses as assigned in this Law.

This Law was passed on June 19, 2014, by the VIIIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at it’s 7th session.-

Địa chỉ:

17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM

Điện thoại:

(028) 3930 3279 (06 lines)

E-mail:

in f [email protected]