Văn Bản Pháp Luật Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Phòng Chống Lụt Bão
  • Pháp Lệnh Phòng, Chống Lụt Bão
  • Ky Thuật Soạn Thảo Văn Bản Và Ngôn Ngữ Pháp Lý Soanthao Doc
  • Để Văn Bản Pháp Luật Phù Hợp Với Cuộc Sống
  • Những Văn Bản Pháp Luật Không Đi Vào Đời Sống
  • Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Văn Bản Pháp Luật Nhà Nước, Nhà Nước Pháp Luật, Bộ Luật Dân Sự Nước Pháp, Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Lý Luận Pháp Luật Và Nhà Nước, Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Đề Thi Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Thi Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 1, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Tập Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư Ra Nước Ngoài, Bài Tập Về Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Hình Thức Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Thế Giới Pdf, Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật, Ebook Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Tieu Luận Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Tập Tình Huống Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Pháp Luật Các Nước Viễn Đông, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Lịch Sử Nha Nước Va Pháp Luật The Gioi, Slide Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Chương 8, Giáo Trình Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Trắc Nghiệm Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Quản Lý Người Nước Ngoài, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Giáo Trình Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Giáo Trình Lý Luận Nha Nước Và Pháp Luật 2021, Văn Bản Pháp Luật Liên Quan Đến Kiểm Toán Nhà Nước, Vấn Đề Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Nước Ngoài, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng , Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Người Nước Ngoài Vi Phạm Pháp Luật, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, Tuyên Truyền Vận Động Nhân Dân Thực Hiện Đường Lối Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng, , Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Về Việc Tuyrn Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Trình Bày Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Về Chính Sách, Pháp Luật Cuat Nhà Nước Về Quốcmphong, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh,

    Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Văn Bản Pháp Luật Nhà Nước, Nhà Nước Pháp Luật, Bộ Luật Dân Sự Nước Pháp, Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Lý Luận Pháp Luật Và Nhà Nước, Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Đề Thi Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Thi Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 1, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Tập Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư Ra Nước Ngoài, Bài Tập Về Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Hình Thức Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Thế Giới Pdf, Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật, Ebook Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Tieu Luận Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Tập Tình Huống Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Pháp Luật Các Nước Viễn Đông, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Lịch Sử Nha Nước Va Pháp Luật The Gioi, Slide Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Chương 8, Giáo Trình Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Trắc Nghiệm Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Quản Lý Người Nước Ngoài, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Về Pccc
  • Sách Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Công Tác Phòng Cháy Chữa Cháy
  • Văn Bản Pháp Luật Pccc
  • Tiểu Luận Các Yêu Cầu Về Ngôn Ngữ Văn Bản Pháp Luật
  • Một Số Điểm Chưa Thống Nhất Trong Văn Bản Pháp Luật Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Pháp Luật Trong Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Phân Biệt Các Hình Thức Hệ Thống Hóa Pháp Luật Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Kiểm Tra Và Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Do Chính Quyền Địa Phương Ban Hành Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Nâng Cao Chất Lượng Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tiến Trình Cải Cách Hành Chính Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Cách Tra Cứu Hiệu Lực Văn Bản Pháp Luật
  • 1. Về sử dụng thuật ngữ pháp lý

    Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật là ngôn ngữ sử dụng và kỹ thuật thể hiện. Theo quy định hiện hành, ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Việt Nam phải là tiếng Việt và phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu. Hầu hết các VBQPPL ở nước ta đều sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông, dễ hiểu. Tuy nhiên, một số VBQPPL còn sử dụng các thuật ngữ không thống nhất ngay trong cùng văn bản hoặc giữa các văn bản khác nhau để biểu đạt về cùng một nội dung. Ví dụ, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội làm hiến pháp, làm luật (Điều 70); Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh (Điều 74); Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định (Điều 91); Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật… Như vậy, giữa các điều của Hiến pháp cũng chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ (Quốc hội làm luật… Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng ban hành văn bản pháp luật…). Câu hỏi đặt ra là vì sao cùng là hoạt động tạo ra VBQPPL những mỗi cơ quan lại được gắn với một thuật ngữ khác nhau. Vậy, làmvăn bản, ra văn bản với ban hành văn bản khác nhau ở những điểm nào, vì sao chúng lại được sử dụng khác nhau như vậy?

    Cũng để chỉ các hoạt động nêu trên, Luật Ban hành VBQPPL năm 2021 (Luật Ban hành VBQPPL) lại chỉ sử dụng thuật ngữ ban hành ( Quốc hội ban hành luật để… (Điều 15); Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để…(Điều 16), thậm chí Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (Luật Tổ chức Quốc hội) cũng quy định: Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Quốc hội). Như vậy, giữa Hiến pháp với Luật Ban hành VBQPPL chưa có sự thống nhất trong sử dụng thuật ngữ để chỉ hoạt động sáng tạo VBQPPL.

    Điều 5 Luật Tổ chức Quốc hội với tiêu đề “làm luật và sửa đổi luật” quy định:

    1. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    2. Các dự án luật trước khi trình Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

    Như vậy, nếu hiểu thuật ngữ “làm luật” với “ban hành luật” cùng một nghĩa, thì theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, “làm luật” khác với “ban hành luật”.

    Việc sử dụng các thuật ngữ khác trong Hiến pháp và văn bản luật cũng rất đa dạng và chưa thống nhất. Ví dụ, Hiến pháp năm 2013 quy định: Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật đượcchấp hànhnghiêm chỉnh và thống nhất(Điều 107); Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 70); Uỷ ban thường vụ Quốc Hội có những nhiệm vụ và quyền hạn… giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 74); Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật (Điều 79)… Câu hỏi đặt ra là tuân theo hiến pháp và pháp luật với chấp hành, thi hành, thực hiện hiến pháp và pháp luật có khác nhau không? Nếu Quốc hội giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật… thì vì sao Ủy ban thường vụ Quốc hội lại giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật… Ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ quan của Quốc hội nên nhiệm vụ, quyền hạn phải là một bộ phận của nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, theo cách suy luận này phải hiểu giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật phải nằm trong giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật. Vậy, tuân theothi hành Hiến pháp, luật… khác nhau ở những điểm nào?

    Cũng về hoạt động này, Điều 113 Hiến pháp quy định: Hội đồng nhân dân… giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân là văn bản quy phạm pháp luật, là một bộ phận của pháp luật. Vậy, vì sao lại phải sử dụng hai thuật ngữ là “giám sát việc tuân theo pháp luật” và “giám sát việc thực hiện nghị quyết”.

    Theo quy định của Hiến pháp, công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, vậy họ có nghĩa vụ thi hành và chấp hành Hiến pháp, pháp luật không? Đại biểu Quốc hội sao không vận động nhân dân tuân theo và thi hành Hiến pháp, pháp luật mà lại vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, pháp luật? Viện kiểm sát nhân dân sao lại chỉ bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất mà không phải là bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân theo, thi hành, chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất. Vấn đề đặt ra là nên hiểu về nội hàm của các thuật ngữ trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam như thế nào cho đúng.

    Dưới góc độ ngôn ngữ, các thuật ngữ nêu trên sẽ được hiểu không giống nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998) thì ” tuân” là nghe theo, làm đúng theo điều đã định ra; ” tuân thủ” là giữ đúng, làm đúng theo điều đã quy định; ” chấp hành” là làm đúng theo điều tổ chức quyết định, đề ra; ” thi hành” là thực hiện điều đã chính thức quyết định; ” thực hiện” là làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thể hoặc làm theo trình tự, phép tắc nhất định

    Trong khoa học pháp lý Việt Nam và ở một số quốc gia trên thế giới, các thuật ngữ nêu trên được giải thích với nội hàm khá thống nhất như sau: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật đều cho rằng, ” thực hiện pháp luật” là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình hiện thực hóa các quy định của pháp luật và có các hình thức thực hiện pháp luật như: “tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật”. Tương tự như vậy, Từ điển Luật học năm 2006 của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cũng xác định: Thực hiện pháp luật là ” hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật quy định“. Có bốn hình thức thực hiện pháp luật gồm: Tuân thủ pháp luật là ” hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật“; thi hành pháp luật là: ” hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được“; sử dụng pháp luật là ” khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng, khai thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà pháp luật đã dành cho mình“; áp dụng pháp luật là ” hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lý những vấn đề cụ thể thuộc trách nhiệm của mình trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định”[5]. Như vậy, “thực hiện pháp luật” là làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực bằng hoạt động cụ thể với bốn cách thức là: tuân thủ pháp luật (đối với quy phạm cấm), thi hành pháp luật (đối với quy phạm bắt buộc), sử dụng pháp luật (đối với quy phạm quy định quyền, tự do pháp lý), áp dụng pháp luật (đối với chủ thể có thẩm quyền). Các tài liệu trên không đề cập đến “chấp hành pháp luật” và “tuân theo pháp luật”. Điều này cho thấy, đã không có sự thống nhất giữa khoa học pháp lý và các văn bản pháp luật Việt Nam trong việc sử dụng một số thuật ngữ.

    Việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý không thống nhất trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp và văn bản luật sẽ ảnh hưởng đến sự thống nhất trong nhận thức, giải thích và thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy. Câu hỏi đặt ra ở đây là: lý luận có xuất phát từ thực tiễn cuộc sống hay chưa và thực tiễn đã được soi đường bằng lý luận chưa, trong trường hợp này lý luận hay thực tiễn phải thay đổi để tiệm cận lẫn nhau?

    2. Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan nhà nước

    Những quy định trên cho thấy, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ được tổ chức thi hành pháp luật (Điều 98), tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật (Điều 99). Các cơ quan trên không được tổ chức thi hành và theo dõi thi hành Hiến pháp, còn chính quyền địa phương thì lại được tổ chức và bảo đảm việc việc thi hành Hiến pháp và pháp luật (Điều 112) giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 113).

    Chúng tôi cho rằng, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ cũng phải tổ chức thi hành Hiến pháp và theo dõi việc thi hành Hiến pháp thì mới đầy đủ. Bên cạnh đó, Hiến pháp trao cho Chính phủ nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật… (Điều 96), Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật… (Điều 99), nhưng lại không quy định cho Chính phủ nhiệm vụ “theo dõi thi hành Hiến pháp, luật…” là không tương xứng với nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật… của Chính phủ.

    Quốc hội, Hội đồng nhân dân đều là các cơ quan quyền lực nhà nước, nếu Điều 4 Hiến pháp 1959 và Điều 6 ở các Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đều quy định: Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, thì Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định: “Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 113). Như vậy, trách nhiệm của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trước nhân dân không được quy định giống nhau. Câu hỏi đặt ra là vì sao Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, do Nhân dân cả nước bầu ra nhưng Hiến pháp lại không phải “chịu trách nhiệm trước Nhân dân”?

    Những vấn đề chúng tôi nêu trên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhận thức, giải thích, thực hiện pháp luật và truyền bá khoa học pháp lý trong xã hội. Việc sử dụng không thống nhất các thuật ngữ pháp lý trong các văn bản pháp luật sẽ gây nhiều phiền hà cho việc xây dựng, thực hiện pháp luật, các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các luật gia, người dân… tốn kém rất nhiều thời gian, công sức trong việc tranh cãi về thuật ngữ pháp lý và nội hàm của nó. Để khắc phục những tình trạng này, chúng tôi cho rằng, cần chuẩn hóa và thống nhất nội hàm của các thuật ngữ pháp lý thông qua việc ban hành Luật về các thuật ngữ pháp lý hoặc xây dựng Bộ từ điển về thuật ngữ pháp lý mang tính chất quy chuẩn quốc gia quy định thống nhất về các thuật ngữ pháp lý được sử dụng ở Việt Nam. Yêu cầu tất cả các tổ chức, cá nhân khi xây dựng VBQPPL cũng như văn bản cá biệt đều phải thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng các thuật ngữ pháp lý với cách hiểu và nội hàm khác so với Luật hoặc Bộ từ điển về các thuật ngữ pháp lý thì phải giải thích rõ ngay trong văn bản đó.

    Đối với Hiến pháp, luật – những văn bản có giá trị pháp lý cao và vì vậy, chúng cần phải là những văn bản điển hình của việc sử dụng chính xác, thống nhất các thuật ngữ pháp lý để “làm mẫu” cho việc ban hành các văn bản dưới luật.

    Việc thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý sẽ tạo cơ sở cho sự thống nhất về ngôn ngữ, kỹ thuật thể hiện văn bản pháp luật, giảm bớt hoạt động giải thích, những tranh luận không cần thiết về các thuật ngữ pháp lý.

    Ngoài ra, đối với các văn bản luật quan trọng, sau khi hoàn thành dự thảo, cần có sự tham gia của các chuyên gia ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu, giảng dạy luật học để kiểm tra, rà soát tránh những sai sót về mặt kỹ thuật./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Tích Tụ, Tập Trung Đất Đai Ở Việt Nam
  • Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Hành Năm 2014
  • Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Hành Năm 2021
  • Tính Tối Cao Của Hiến Pháp
  • Pháp Luật Quy Định Công Bố Mỹ Phẩm Trong Những Văn Bản Nào?
  • Kiểm Toán Nhà Nước Được Quyền Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Xử Phạt Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Ký Văn Bản Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Văn Bản 493 Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Văn Bản 1627 Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Văn Bản 1117 Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Ngân Hàng Nhà Nước Lưu Ý Việc Cấp Tín Dụng Tại Các Khu Vực Sốt Đất
  • Theo báo cáo của Ủy ban Tài chính ngân sách (UBTCNS) trình UBTVQH sáng 12/8 về một số nội dung còn khác nhau của dự thảo luật, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã thống nhất một số nội dung về phạm vi sửa đổi, bổ sung luật, về quyền khiếu nại báo cáo kiểm toán.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển phát biểu tại phiên họp. Ảnh: PV

    Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu phát biểu tại phiên họp. Ảnh: PV

    Cùng quan điểm về quyền ban hành VBQPPL và xử phạt hành chính, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, luật có thể quy định nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN trong hai vấn đề này, nhưng việc thực thi cụ thể nên để các luật chuyên ngành quy định.

    Về việc xử lý chồng chéo giữa KTNN và cơ quan thanh tra, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng phải làm rõ vấn đề này. Luật phải minh định rõ những nội dung thuộc KTNN phải làm, nếu thực tế có chồng chéo thì phải có cơ chế giải quyết, xử lý. Trường hợp không giải quyết được thì báo cáo lên các cơ quan có thẩm quyền cao hơn quyết định.

    Cho biết đây là vấn đề được nhiều cử tri quan tâm, Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải cho biết mặc dù trong giải trình của KTNN nêu là đã phối hợp với Thanh tra Chính phủ về quy chế phối hợp, nhưng trong trường hợp có xung đột thì quy chế đó có đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đối tượng được kiểm toán hay không? Do đó, bà Nguyễn Thanh Hải đề nghị phải có trọng tài, là một cơ quan có thẩm quyền như là UBTVQH hoặc cao hơn nữa để xử lý vấn đề này.

    Bên cạnh đó, qua thực tế, nhiều địa phương hiện cũng phản ánh việc các cơ quan thanh tra, kiểm toán không kế thừa kết quả của nhau, gây nhiều khó khăn cho địa phương. Nhiều quy định của luật pháp về tránh chồng chéo trong thanh tra, kiểm toán còn chưa được giải quyết thực chất, Trưởng ban Dân nguyện cho biết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Việc Ký Văn Bản Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Luật Kiểm Toán Nhà Nước Và Các Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành
  • Phân Tích Văn Bản Hai Chữ Nước Nhà Của Trần Tuấn Khải
  • Bài Thơ: Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)
  • 3 Bài Văn Phân Tích Văn Bản Hai Chữ Nước Nhà Của Trần Tuấn Khải
  • Luận Văn Thực Trạng Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Các Cơ Quan Nhà Nước Ở Trung Ương

    --- Bài mới hơn ---

  • B: So Sánh Giữa 2 Loại Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Ấp Dụng Pháp Luật So Sanh Van Ban Quy Pham Phap Luat Va Van Ban Ap Dung Phap Luat 9117 Doc
  • Phân Biệt Văn Bản Quy Phạm Với Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Thắc Mắc Về Chỉ Thị
  • Hiệu Lực Của Văn Bản Pháp Luật
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, nhất là vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quan hệ xã hội quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, thiếu tính khả thi; văn bản quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành còn “nợ đọng”; Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Do vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương” với hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Song, trong phạm vi của một đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân, em chỉ dừng lại xem xét, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương, từ đó đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện hoạt động này. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận truyền thống của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, thống kê, kết hợp lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu. Luận văn được trình bày theo bố cục như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành. Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương và một số kiến nghị hoàn thiện. Đây là một đề tài rộng và khó, với kiến thức còn hạn hẹp và thiếu kinh nghiệm thực tế nên mặc dù đã được sự chỉ bảo nhiệt tình và tận tâm của Cô giáo hướng dẫn cùng sự giúp đỡ của bè bạn, luận văn vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các Thầy, Cô giáo và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn!

    LỜI MỞ ĐẦU Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, nhất là vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quan hệ xã hội quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, thiếu tính khả thi; văn bản quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành còn “nợ đọng”;… Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Do vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương” với hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Song, trong phạm vi của một đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân, em chỉ dừng lại xem xét, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương, từ đó đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện hoạt động này. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận truyền thống của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, thống kê, kết hợp lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu. Luận văn được trình bày theo bố cục như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành. Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương và một số kiến nghị hoàn thiện. Đây là một đề tài rộng và khó, với kiến thức còn hạn hẹp và thiếu kinh nghiệm thực tế nên mặc dù đã được sự chỉ bảo nhiệt tình và tận tâm của Cô giáo hướng dẫn cùng sự giúp đỡ của bè bạn, luận văn vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các Thầy, Cô giáo và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn! Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG BAN HÀNH. 1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội đa dạng, phức tạp và không thể tách rời. Nhà nước hình thành để thực hiện nhiệm vụ tác động tới các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý theo ý chí của giai cấp thống trị. Thực hiện mục tiêu đó, Nhà nước phải sử dụng một công cụ điều chỉnh tồn tại song song với sự tồn tại của Nhà nước, đó là pháp luật. Pháp luật được hình thành, phát triển bằng con đường nhà nước và Nhà nước chỉ tồn tại được khi có pháp luật. Nhà nước sử dụng pháp luật dưới nhiều hình thức như: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật. Trong những hình thức đó, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức tiến bộ nhất. Với những đặc điểm đặc biệt và ưu thế mà tập quán pháp, tiền lệ pháp không có, văn bản quy phạm pháp luật trở thành hình thức pháp luật chủ đạo và phù hợp nhất với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, dù vai trò của văn bản quy phạm pháp luật đã được nhận định từ lâu thì phải tới năm 1996, khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên ra đời, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định cụ thể và thống nhất. Điều 1, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước, năm 2004, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ra đời, vì vậy, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật cũng có sự thay đổi: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này hoặc luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” (khoản 1, Điều 1, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008). Căn cứ vào khái niệm văn bản quy phạm pháp luật nêu trên thì chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải là các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 lại liệt kê các cá nhân có thẩm quyền ban hành như Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Tổng Kiểm toán Nhà nước (khoản 2,5,6,7,8,9, Điều 2). Như vậy, có thể thấy giữa hai Điều luật này đã có sự không thống nhất, dễ tạo ra lầm tưởng về chủ thể ban hành văn bản. Sẽ hợp lý hơn nếu Luật quy định rõ văn bản quy phạm pháp luật do các cá nhân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Với đề tài khóa luận “Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương”, người viết xin đi sâu vào tìm hiểu thực trạng ban hành nhóm văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định của Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (khoản 1,2,4,6,10,11, Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008). 1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành. Các cơ quan nhà nước ở trung ương là những cơ quan đầu não của cả nước, thể hiện tập trung nhất quyền lực của một chế độ xã hội. Vì vậy, văn bản quy phạm pháp luật do những chủ thể này ban hành có một vai trò rất đặc biệt. Nó không chỉ là những văn bản có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất mà còn là cơ sở pháp lý để nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời. Giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành mang những đặc điểm sau: Văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật. Với vai trò quan trọng là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội , là cơ sở cho việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật do đó chỉ được ban hành bởi các chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật. Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định những cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội. Ngoài ra, các cá nhân cũng có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó là: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành là văn bản được ban hành bởi những chủ thể: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và có sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hoặc với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội . Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước ở trung ương có hình thức do pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm hai yếu tố cấu thành là: tên gọi và thể thức của văn bản. Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định tên gọi của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên tịch. Việc quy định tên gọi của văn bản như trên đã thể hiện thẩm quyền về hình thức của các cơ quan ban hành văn bản: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan được quyền ban hành những loại văn bản nào và khi điều chỉnh một vấn đề pháp lý cụ thể, cơ quan ban hành phải ban hành đúng hình thức văn bản đó. Việc tuân thủ quy định về tên gọi nói riêng và hình thức của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nói chung là điều kiện cần để khẳng định nội dung của văn bản (là có chứa quy phạm pháp luật). Đồng thời, nó còn giúp phân biệt với các loại văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước khác cũng như với văn bản do các cá nhân ban hành; xác định thứ bậc, hiệu lực của từng loại văn bản. Bên cạnh tên gọi, pháp luật còn quy định về thể thức của văn bản quy phạm pháp luật. Thể thức văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là kết cấu về hình thức của văn bản. Hiện nay, thể thức của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nói riêng và của các chủ thể có thẩm quyền nói chung được quy định cụ thể trong Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/05/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản và Quyết định số 20/2002/QĐ-BKHCN, ngày 31/12/2002 của Bộ Khoa học và công nghệ ban hành tiêu chuẩn Việt nam số 5700 năm 2002. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định. Với vai trò là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ về mọi mặt, trong đó có trình tự và thủ tục ban hành. Vì thế, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã có những quy định khá chi tiết và hợp lý về thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Các cơ quan Nhà nước ở trung ương có vị trí, chức năng nhất định, ban hành văn bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất và vai trò khác nhau. Chính vì thế, mỗi cơ quan Nhà nước cần tuân theo trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật riêng. Theo đó, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định cụ thể tại chương III (từ Điều 22 đến Điều 57); của Chính phủ được quy định tại chương V (từ Điều 59 đến Điều 66); của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại chương VI (Điều 69); trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được quy định tại chương VII (Điều 73, Điều 74). Việc quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ban hành đối với mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương không chỉ nhằm thống nhất hóa các hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn có vai trò trợ giúp cho người soạn thảo, tạo cơ chế trong việc phối hợp, kiểm tra, giám sát của những cơ quan có thẩm quyền, từ đó hạn chế khiếm khuyết trong hoạt động của Nhà nước. Một văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng cao phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện đúng, đủ, nghiêm túc quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền và sự hoàn thiện của pháp luật trong quy định đối với thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành có nội dung là các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Các quy tắc xử sự là những khuôn mẫu, những chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội được các quy tắc đó điều chỉnh. Với nội dung là các quy tắc xử sự chung, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành cũng giống như các văn bản quy phạm pháp luật khác: đều mang tính bắt buộc chung. Tính bắt buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ thể nằm trong những điều kiện nhất định mà quy phạm pháp luật đó đã dự liệu. Đồng thời, để tính bắt buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả trên thực tế, Nhà nước đã đề ra những biện pháp để bảo đảm thực hiện như: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, hành chính, kinh tế , cưỡng chế,… Hơn nữa, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nhằm dự liệu những trường hợp, tình huống để áp dụng cho mọi đối tượng có đủ điều kiện như trong dự liệu đó. Vì vậy, chúng không như văn bản áp dụng pháp luật chỉ được áp dụng cho một chủ thể hoặc được áp dụng một lần, mà còn được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong thực tế. Văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành thì có nội dung và hiệu lực áp dụng không giống nhau. Thông thường, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành có hiệu lực pháp lý trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, cũng có trường hợp văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành nhưng chỉ có hiệu lực pháp lý trên phạm vi một số địa phương. Và trường hợp ngoại lệ này thường áp dụng đối với các địa phương có đặc thù về điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện địa lý, dân cư,… Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Pháp luật mang tính giai cấp, thông qua pháp luật giai cấp lãnh đạo đã thể hiện ý chí của mình nhằm thực hiện hoạt động quản lý xã hội. Để thực hiện điều đó, việc thực thi pháp luật cũng phải được đảm bảo bằng nhiều biện pháp trên thực tế. Trước hết, Nhà nước thực hiện tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật để mọi chủ thể tự nguyện, tự giác tuân thủ và thực hiện đúng nội dung văn bản quy phạm pháp luật. Nếu các chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì Nhà nước sẽ có những biện pháp cưỡng chế thích hợp buộc các chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước. Ngược lại, nếu các chủ thể thực hiện tốt thì có thể được khích lệ về tinh thần hoặc vật chất như: tặng huân chương, huy chương, bằng khen, thưởng tiền,… Với vai trò là công cụ quản lý của Nhà nước, cũng giống như các văn bản quy phạm pháp luật khác, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành luôn được Nhà nước bảo đảm thực hiện trên thực tế. 1.3 Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động chuyên môn do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoặc phối hợp thực hiện bằng việc xác lập những hình thức văn bản khác nhau. Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, ý chí của nhà nước cùng các giá trị khách quan của xã hội được thể hiện thông qua ý chí chủ quan của những chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, để hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt hiệu quả cao, chất lượng văn bản được bảo đảm thì một trong những vấn đề phải chú ý trước nhất đó là thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện nay, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước ở Trung ương nói riêng được xem xét dưới hai góc độ: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thứ nhất, thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của các chủ thể trong việc ban hành những hình thức văn bản do pháp luật quy định. Theo đó, mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ được ban hành một số loại văn bản nhất định. Vì vậy, vai trò của mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật sẽ khác nhau, được áp dụng phù hợp với từng công việc cụ thể. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2002, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước bao gồm hơn 20 loại văn bản do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, trong đó có những chủ thể có thẩm quyền ban hành từ 2 đến 3 loại văn bản. Quy định đó đã dẫn đến một thực tế là việc xác định thứ bậc hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật gặp không ít khó khăn, đặc biệt trong nhiều trường hợp khó xác định được khi nào và vấn đề gì cần ban hành văn bản dưới hình thức nào. Điều đó đã làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, phức tạp và khó áp dụng. Trước thực tế như vậy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã có sự thay đổi đáng kể, hình thức văn bản quy phạm pháp luật đã được thu hẹp lại, nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ có thẩm quyền ban hành một hình thức văn bản. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương hiện nay bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định của Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008). Thứ hai, Thẩm quyền về nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc do pháp luật quy định. Về thực chất, đó là “giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà pháp luật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước về mỗi loại công việc nhất định”[8,tr.71]. Thẩm quyền này của các cơ quan Nhà nước ở trung ương trước hết được pháp luật quy định trong Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy Nhà nước như Luật Tổ chức Quốc hội 2001, Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002. Hiến pháp nước ta quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Các Giai Đoạn Trong Quá Trình Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Quy Trình Quản Lý Văn Bản Đi Và Văn Bản Đến
  • Quy Trình Xử Lý Văn Bản
  • Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Pháp Luật Của Cơ Quan Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Quan Nào Có Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Pháp Luật?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Khi Văn Bản Dưới Luật “đá” Luật
  • Ban Hành Văn Bản Trái Luật: Cần Cụ Thể Hóa Trách Nhiệm
  • Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Trong Giao Tiếp Công Vụ (Qua Văn Bản Quản Lí Nhà Nước)
  • Hàng năm có rất nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm thay thế những văn bản pháp luật cũ, không còn hiệu lực và không phù hợp với thực tế đời sống xã hội nữa.

    Có thể mỗi chúng ta đều đã từng nghe rất nhiều đến các loại văn bản pháp luật, tuy nhiên không phải ai cũng biết đến thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cụ thể ra sao.

    – Để biết được thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật thuộc về cơ quan nhà nước nào thì trước tiên ta cần hiểu “văn bản pháp luật” là gì?

    Văn bản pháp luật hay văn bản quy phạm pháp luật là một loại giấy tờ tồn tai dưới hình thức văn bản với một số đặc điểm cơ bản sau đây:

    + Về nội dung: là các quy tắc xử sự chung, mang tính chất bắt buộc chung phải thực hiện.

    + Về đối tượng áp dụng: Tùy thuộc vào phạm vi điều chỉnh của mỗi văn bản pháp luật mà có đối tượng điều chỉnh là các cá nhân, tổ chức, cơ quan khác nhau có trách nhiệm cũng như nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp từ khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và bắt đầu có hiệu lực.

    + Về phạm vi điều chỉnh: Có thể là trên cả nước, toàn lãnh thổ Việt Nam hoặc cũng có thể chỉ có hiệu lực điều chỉnh trong phạm vi một hay một số đơn vị hành chính nhất định nào đó.

    + Về thẩm quyền ban hành: là các cơ quan nhà nước nói chung và một số người cụ thể có quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói riêng.

    + Những văn bản quy phạm pháp luật này thì sẽ được đảm bảo thực hiện dựa trên chính quyền lực và sức mạnh của Nhà nước.

    – Tiếp đến, khi đi vào nội dung chính về thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước thì theo như quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với mỗi văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì thẩm quyền ban hành cũng thuộc về chủ thể khác nhau tương ứng.

    Cụ thể như sau:

    Cơ quan nhà nước (chủ thể ban hành)Văn bản quy phạm pháp luật

    Quốc hội

    Hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết

    Ủy ban thường vụ quốc hội

    Nghị quyêt liên tịch, nghị quyết, pháp lệnh

    Chính phủ

    Nghị quyết liên tịch, nghị định

    Chủ tịch nước

    Lệnh, quyết định

    Bộ trưởng,

    Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

    Thông tư,

    Thông tư liên tịch

    Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao

    Nghị quyết

    Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

    Thông tư, thông tư liên tịch

    Viện trưởng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Thông tư, thông tư liên tịch

    Tổng kiểm toán nhà nước

    Quyết định

    Hội đồng nhân dân

    Nghị quyết

    Uỷ ban nhân dân

    Quyết định

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp
  • Nguyên Tắc Đảm Bảo Tính Hợp Hiến, Hợp Pháp Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Và Cho Ví Dụ Minh Họa
  • Tham Nhũng Và Xử Lý Tham Nhũng Dưới Góc Nhìn Của Sinh Viên Luật
  • Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Xử Lý Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bộ Xây Dựng Công Bố Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Hết Hiệu Lực Toàn Bộ Hoặc Một Phần Thuộc Lĩnh Vực Quản Lý Nhà Nước Của Bộ Xây Dựng Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Tư Pháp Lên Tiếng Về Văn Bản ‘cá Biệt’ Thành Lập Bqt Chung Cư Hapulico
  • Bộ Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Bộ Xây Dựng Tổ Chức Hội Nghị Phổ Biến Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luật Đấu Thầu 2021 Và Nghị Định, Thông Tư Hướng Dẫn
  • Bộ Xây Dựng Tổ Chức Hội Nghị Phổ Biến Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Xây Dựng
  • Thứ hai, 20/01/2020 16:02

    Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ năm 2021 do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm: 01 Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015. Văn bản QPPL do Bộ Xây dựng ban hành và liên tịch ban hành gồm: 27 Thông tư (Thông tư 06/2000/TT-BXD ngày 04/7/2000; Thông tư 13/2000/TT-BXD ngày 01/11/2000; Thông tư 16/2000/TT-BXD ngày 11/12/2000; Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18/01/2001; Thông tư liên tịch 02/2002/TTLT-BXD-TCCBCP ngày 08/3/2002; Thông tư 02/2004/TT-BXD ngày 22/4/2004; Thông tư 07/2005/TT-BXD ngày 15/4/2005; Thông tư liên tịch 18/2005/TTLT-BXD-TTCP ngày 04/11/2005; Thông tư 03/2006/TT-BXD ngày 22/5/2006; Thông tư 06/2006/TT-BXD ngày 10/11/2006; Thông tư 08/2006/TT-BXD ngày 24/11/2006; Thông tư 01/2007/TT-BXD ngày 31/01/2007; Thông tư 10/2007/TT-BXD ngày 22/11/2007; Thông tư 08/2008/TT-BXD ngày 10/04/2008; Thông tư 15/2008/TT-BXD ngày 17/6/2008; Thông tư 03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009; Thông tư 06/2009/TT-BXD ngày 17/4/2009; Thông tư 26/2009/TT-BXD ngày 29/7/2009; Thông tư 28/2009/TT-BXD ngày 14/8/2009; Thông tư liên tịch 30/2009/TTLT-BXD-BKHĐT ngày 27/8/2009; Thông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009; Thông tư 01/2011/TT-BXD ngày 27/01/2011; Thông tư 05/2011/TT-BXD ngày 09/6/2011; Thông tư 06/2011/TT-BXD ngày 21/6/2011; Thông tư 12/2011/TT-BXD ngày 01/9/2011; Thông tư 12/2011/TT-BXD ngày 01/9/2011; Thông tư 11/2013/TT-BXD ngày 31/7/2013; Thông tư 02/2015/TT-BXD ngày 02/4/2015; Thông tư 25/2016/TT-BXD ngày 09/9/2016) và 29 Quyết định (Quyết định 02/1999/QĐ-BXD ngày 11/01/1999; Quyết định 15/2000/QĐ-BXD ngày 24/7/2000; Quyết định 28/2000/QĐ-BXD ngày 15/12/2000; Quyết định 09/2001/QĐ-BXD ngày 25/5/2001; Quyết định 37/2002/QĐ-BXD ngày 26/12/2002; Quyết định 07/2003/QĐ-BXD ngày 26/3/2003; Quyết định 08/2003/QĐ-BXD ngày 26/3/2003; Quyết định 06/2004/QĐ-BXD ngày 21/4/2004; Quyết định 13/2004/QĐ-BXD ngày 13/5/2004; Quyết định 14/2004/QĐ-BXD ngày 14/5/2004; Quyết định 25/2005/QĐ-BXD ngày 08/8/2005; Quyết định 36/2005/QĐ-BXD ngày 24/10/2005; Quyết định 37/2005/QĐ-BXD ngày 02/11/2005; Quyết định 11/2006/QĐ-BXD ngày 11/4/2006; Quyết định 15/2006/QĐ-BXD ngày 02/6/2006; Quyết định 16/2006/QĐ-BXD ngày 05/6/2006; Quyết định 25/2006/QĐ-BXD ngày 05/9/2006; Quyết định 29/2006/QĐ-BXD ngày 14/9/2006; Quyết định 30/2006/QĐ-BXD ngày 14/9/2006; Quyết định 31/2006/QĐ-BXD ngày 14/9/2006; Quyết định 33/2006/QĐ-BXD ngày 05/10/2006; Quyết định 12/2007/QĐ-BXD ngày 23/03/2007; Quyết định 13/2007/QĐ-BXD ngày 23/04/2007; Quyết định 14/2007/QĐ-BXD ngày 23/04/2007; Quyết định 18/2007/QĐ-BXD ngày 15/05/2007; Quyết định 25/2007/QĐ-BXD ngày 30/7/2007; Quyết định 05/2008/QĐ-BXD ngày 08/4/2008; Quyết định 12/2008/QĐ-BXD ngày 26/9/2008; Quyết định 678/2008/QD-BXD ngày 09/5/2008; Quyết định 13/2006/CT-BXD ngày 23/11/2006. 01 Chỉ thị (Chỉ thị 13/2006/CT-BXD ngày 23/11/2006).

    Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực một phần năm 2021 do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm: 03 Nghị định (Nghị định 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị; Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng; Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở), 01 Quyết định( Quyết định 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 (Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ- TTg giai đoạn 2)).

    Văn bản do Bộ Xây dựng ban hành và liên tịch ban hành gồm: 07 Thông tư (Thông tư 04/2014/TT-BXD ngày 22/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong hoạt động đầu tư xây dựng; Thông tư 09/2015/TT-BXD ngày 29/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn quản lý sử dụng nhà công vụ); Thông tư 10/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư); Thông tư 11/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Quy định việc cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản, hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản, việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch bất động sản); Thông tư 14/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấp giấy phép hoạt động xây dựng và quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam); Thông tư 19/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Luật Nhà ở và Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở); Thông tư 20/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội); Thông tư 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng); Thông tư 28/2016/TT-BXD ngày 15/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 10/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 quy định về việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư); Thông tư số 11/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản: hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản: việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch bất động sản và một số quy định của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng); Thông tư 04/2017/TT-BXD ngày 30/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình); Thông tư 05/2018/TT-BXD ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dụng); Thông tư 08/2018/TT-BXD ngày 5/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng và quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam); Thông tư 10/2018/TT-BXD ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 quy định về việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư và Thông tư số 28/2016/TT-BXD ngày 15/12/2016 về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 10/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 quy định về việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư, Thông tư số 11/2015/TT- BXD ngày 30/12/2015 quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản, hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản, việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch bất động sản và một số quy định của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư 02/2016/TT-BX ngày 15/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Hợp Nhất Số 02 Bộ Xây Dựng
  • Thêm 3 Văn Bản Hợp Nhất Của Bộ Xây Dựng
  • Bộ Xây Dựng Ủng Hộ Vnrea Tổ Chức “giải Thưởng Bất Động Sản Việt Nam Lần I’
  • Văn Phòng Công Chứng Dương Thị Cẩm Thủy
  • Vụ Xin Chào: Báo Động Pháp Luật ‘tù Mù’
  • Đặc Điểm Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Sửa Thế Nào Để Có Một Hiến Pháp Đích Đáng?
  • Văn Bản Pháp Luật Quy Định Về Hộ Kinh Doanh
  • Quy Định Về Hộ Kinh Doanh
  • Pháp Luật Về Hộ Kinh Doanh
  • Các Quy Định Pháp Luật Về Hộ Kinh Doanh
  • Kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy pháp luật ra đời năm 1996 đến nay thì cách hiểu thứ nhất ít được sử dụng bởi lẽ do được định nghĩa trong luật này nên văn bản quy phạm pháp luật đã trở thành một thuật ngữ pháp lý, được sử dụng thống nhất trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ban hành văn bản. Cùng tìm hiểu thêm những khái niệm văn bản quay phạm phát luật trong bài viết sau đây:

    + Trả lời “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”

    + Quản lý hành chính nhà nước là gì? Các hình thức quản lý hành chính nhà nước

    1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước

    1.1 Khái niệm văn bản pháp luật

    Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

    Hai hiện tượng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, Nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu lực bằng con đường Nhà nước.

    Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải tác động tới các quan hệ xã hội nhằm đạt mục tiêu quản lý được đặt ra trong từng thời kỳ. Sự tác động đó là nhu cầu tất yếu của Nhà nước và được tiến hành bởi nhiều chủ thể, nhiều cách thức, nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động ban hành văn bản pháp luật, phương tiện chủ yếu và quan trọng nhất để quản lý Nhà nước.

    Chất lượng của văn bản ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đến sự vận động phát triển của xã hội bởi vì các quyết định pháp luật, các văn bản pháp luật chính là bản thân pháp luật. Do có vai trò quan trọng như vậy nên cần làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm văn bản pháp luật làm cơ sở cho việc xác định nội dung, hình thức, thủ tục ban hành, xử lý và những vấn đề khác của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật trong thực tiễn.

    Khái niệm văn bản pháp luật

    Lý luận chung về Nhà nước, pháp luật và khoa học pháp lý chuyên ngành cũng như thực tiễn lập pháp ở Việt Nam đã nghiên cứu vấn đề này từ lâu nhưng đến bây giờ vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất và thỏa đáng.

    Kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy pháp luật ra đời năm 1996 đến nay thì cách hiểu thứ nhất ít được sử dụng bởi lẽ do được định nghĩa trong luật này nên văn bản quy phạm pháp luật đã trở thành một thuật ngữ pháp lý, được sử dụng thống nhất trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ban hành văn bản.

    Bên cạnh đó, nếu xét về cấu trúc ngôn ngữ thì thuật ngữ văn bản quy phạm pháp luật rườm rà hơn những nhà làm luật lại sử dụng mà không sử dụng thuật ngữ văn bản pháp luật là do khả năng biểu đạt chính xác hơn nghĩa cần mô tả của cụm từ này.

    Vì thế cách hiểu thứ hai là quan điểm phổ biến ở nhiều cơ sở nghiên cứu, giảng dạy về luật, được các cơ quan nhà nước sử dụng và được thể hiện trong các quy định của pháp luật, có ý nghĩa nhất định cho việc nghiên cứu kỹ thuật xây dựng văn bản, giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản và có giá trị thiết thực hơn.

    Như vậy, văn bản pháp luật là một khái niệm chung dùng để chỉ văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật, có đặc điểm riêng, khác với văn bản hành chính thông dụng là có nội dung chứa đựng ý chí Nhà nước và được các chủ thể quản lý ban hành để áp đặt với đối tượng quản lý. Có thể nói, cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật đều đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong quản lý Nhà nước.

    Đặc biệt ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp thì văn bản quy phạm pháp luật trở thành một công cụ quản lý hữu hiệu, một phương tiện điều chỉnh được sử dụng thường xuyên nhằm duy trì trật tự xã hội tạo điều kiện cho xã hội ổn định và phát triển. Cho nên, cần phải xem xét khái niệm văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ khoa học.

    Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    1.2 Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật

    Trong lịch sử đã có ba hình thức được các giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó văn bản quy phạm pháp luật được coi là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, cơ bản nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa vì nó có những ưu thế mà tập quán pháp và tiền lệ pháp không có nhờ tính chất đặc biệt của quy phạm pháp luật, phù hợp với bản chất của kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    Tuy nhiên, trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ra đời năm 1996. pháp luật điều chỉnh hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước ta mặc dù được chú trọng nhưng vẫn còn ở mức độ khiêm tốn; trong hệ thống pháp luật khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chưa hề được định nghĩa mà chỉ quy định về tên gọi và vai trò của văn bản quy phạm pháp luật do mỗi cơ quan nhà nước ban hành.

    Mặt khác, chưa có sự phân biệt rõ ràng văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản mang tính chất pháp lý khác. Trong Hiến pháp, các luật về Tổ chức bộ máy nhà nước và các văn bản dưới luật mới đề cập một cách chung chung mà không xác định cụ thể văn bản nào là văn bản quy phạm pháp luật.

    C ó chăng, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chỉ được định nghĩa trong sách báo pháp lý nhưng rất tiếc lại không thống nhất với nhau . Ngày 12/11/1996, với việc Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên khái niệm văn bản quy phạm pháp luật được ghi nhận và định nghĩa chính thức trong hình thức văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao.

    Điều này có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước tiến bộ đáng kể trong thực tiễn lập pháp ở Việt Nam. Ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tại điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung định nghĩa: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật

    2. Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước

    Trong lịch sử phát triển của nhân loại, vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định. Quyền lực nhà nước có thể chủ yếu tập trung trong tay một cá nhân hoặc một cơ quan, hay được phân công cho nhiều cơ quan khác nhau thực hiện.

    Ở nước ta, theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước thì tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua QH và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Xuất phát từ việc các cơ quan đại diện hình thành do kết quả bầu cử trực tiếp, thể hiện ý chí của nhân dân, vì vậy chúng nhân danh quyền lực nhân dân và mang tính chất là hệ thống cơ quan quyền lực.

    Một trong những hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực là xây dựng pháp luật tức là hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động này có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng cũng như hiệu quả của quản lý Nhà nước. Đóng vai trò quan trọng tạo nên “xương sống” của hệ thống pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước mang những đặc điểm cơ bản sau:

    – Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành.Không phải mọi cơ quan nhà nước hoặc mọi cá nhân đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 đã quy định rõ,những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: QH, UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao, Chính phủ, HĐND các cấp, UBND các cấp; có sự phối hợp giữa những cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị- xã hội để ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch.

    Những cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là Thủ tướng chính phủ, chánh án Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định một văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước là văn bản đó phải được ban hành bởi QH và HĐND các cấp.

    – Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được ban hành theo thủ tục, trình tự luật định. Xuất phát từ tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành đối với hoạt động quản lý nhà nước, từ yêu cầu đảm bảo sự chặt chẽ, thống nhất trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn đóng vai trò hết sức quan trọng.

    Cho nên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2002, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND 2004 đã quy định trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa phương khá đầy đủ và hợp lý. Theo đó, một văn bản quy phạm pháp luật của QH hay HĐND được ban hành qua các bước: lập chương trình, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản, thẩm tra, thẩm định, đến thông qua, ký, công bố tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của luật ( mục 2 đến mục 9 chương III của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và chương III Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND). Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước là điều kiện để đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    – Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước chứa đựng các quy định xử sự chung (quy phạm pháp luật). Các quy tắc xử sự chính là những khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh. Về mặt hình thức,quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trong mối quan hệ này, quy phạm pháp luật là nội dung còn văn bản quy phạm pháp luật là hình thức. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của văn bản quy phạm pháp luật.

    Do chứa đựng và thể hiện ý chí của nhà nước với nội dung là các quy tắc xử sự cho nên văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực luôn luôn có giá trị bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước với nhiều biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, hành chính, kinh tế và đặc biệt là biện pháp cưỡng chế.

    – Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước có đối tượng áp dụng chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn. Với nội dung là các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực tác động lên nhiều đối tượng, đó là một nhóm chủ thể lớn có chung một hoặc một số yếu tố nào đó như: quốc tịch, địa bàn cư trú… hoặc là mọi chủ thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật quy định.

    Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính phổ biến, nên quy tắc xử sự chung mà các đối tượng tác động của pháp luật phải tuân theo khi rơi vào tình huống dữ liệu, tình huống đó có tính lặp đi lặp lại trên thực tế nên các quy phạm được sử dụng nhiều lần. Nói cách khác, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được sử dụng nhiều lần, nó khác với văn bản áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần trên thực tế đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiến Pháp Dân Chủ Là Tất Yếu Của Nhà Nước Pháp Quyền
  • Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng
  • Văn Bản Pháp Luật Quy Định Những Vấn Đề Cơ Bản Nhất Quan Trọng Nhất Của N
  • Các Văn Bản Pháp Lý Logistics Bắt Buộc Người Trong Ngành Phải Nắm Rõ
  • Một Số Bất Cập Về Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Văn Bản Luật Nào Sau Đây Của Nước Ta Có Hiệu Lực Pháp Lí Cao Nhất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Từ 1/1/2019
  • Các Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Thi Hành Từ Tháng 5/2015
  • Lưu Trữ Văn Bản Pháp Luật Nước Ngoài
  • Văn Bản Pháp Luật Quản Lý Người Nước Ngoài
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư Ra Nước Ngoài
  • Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Trong giờ làm việc tại xí nghiệp X, công nhân H đã rủ các anh M, S, Đ cùng chơi bài ăn tiền.
    • Ông A là người có thu nhập cao, hằng năm ông A chủ động đến co quan thuế để nộp thuế thu nhập cá nhân.
    • Lực lượng nòng cốt của kinh tế tập thể là
    • X vi phạm pháp luật bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt là thể hiện đặc trưng nào của pháp luật?
    • Sự tồn tại nhiều chủ sở hữu với tư cách là những đon vị kinh tế độc lập, tự do sản xuất, kinh doanh; có điều
    • Trong tư liệu lao động, yếu tố nào sau đây là quan trọng nhất?
    • Trên thị trường, khái niệm cầu được hiểu là nhu cầu
    • Do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, lực học lại ở mức trung bình nên Z dự định sau khi tốt nghiệp THPT sẽ xin làm công
    • Sự phân phối lại các yếu tố tư liệu sản xuất,…phân phối mặt hàng này sang mặt hàng khác là tác động nào sau đây của quy luật giá trị
    • Văn bản luật nào sau đây của nước ta có hiệu lực pháp lí cao nhất?
    • Một trong những chức năng của tiền tệ là
    • Việc làm của M thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu lao động nào sau đâu?
    • Trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, cạnh tranh giữ vai trò
    • Những yếu tố tự nhiên mà lao động con người tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp với mục đích của con người được gọi là
    • Người phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình gây ra có độ tuổi từ
    • Sự tác động của con người vào tự nhiên, biến đổi các yếu tố tự nhiên để tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình gọi là
    • Nếu em là người mua hàng trên thị trường, để có lợi, em chọn trường hợp nào sau đây?
    • Giá cả của hàng hóa trên thị tmòng biểu hiện
    • P và Q là bạn thân thời đi học, sau mấy chục năm không gặp, bây giờ vô tình mới gặp lại…trong trường hợp này ai phải chịu trách nhiệm dân sự
    • Ông K lừa chị H bằng cách muợn của chị 10 luợng vàng nhưng đến ngày hẹn, ông K đã không chịu trả. Chị H làm đơn kiện là sử dụng hình thức thực hiện pháp luật nào?
    • Công cụ lao động của người thợ mộc là
    • Một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là
    • Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ…có nên hao phí lao động cá biệt thấp hơn… nhờ tác động nào của quy luật giá trị
    • Giá trị xã hội của hàng hóa được xác định bởi
    • Mối quan hệ giữa số lượng cung và giá cả hàng hoá vận động
    • Chị H nuôi bò để bán lấy tiền rồi dùng tiền đó để mua xe máy. Vậy tiền đó của chị H đã thực hiện chức năng nào sau đây?
    • K đang bán hãng bia X tại tỉnh Y nhưng thị trường tỉnh Y lại ưa chuộng hãng bia Z…Để phù hợp với quy luật giá trị và để việc kinh doanh có lãi
    • Công ty K kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng làm ảnh hưởng tới đời sống nhân dân là biểu hiện của nội dung nào?
    • Tháng 09 năm 2021, 1 USD đổi được 22 300 VNĐ, tỉ lệ này được gọi là
    • Anh A trồng rau ở khu vực vùng nông thôn nên anh mang rau vào khu vực thành phố để bán vì giá cả ở đó cao hơn.
    • Các tổ chức, cá nhân không làm những việc bị pháp luật cấm là
    • Luật Hôn nhân và gia đình khẳng định quy định: cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con”.
    • Qua mùa trung thu, nhu cầu về bánh trung thu của người tiêu dùng giảm xuống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đôi Điều Về Giải Thích Pháp Luật Theo Nghĩa Rộng
  • Các Văn Bản Pháp Luật Về Môi Trường
  • Chính Sách Mới Nổi Bật Có Hiệu Lực Tháng 01/2020
  • Văn Bản Pháp Luật Mới Có Hiệu Lực
  • Xây Dựng Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Liên Quan Đến Phát Triển Thủ Đô Hà Nội
  • Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất Ở Nước Ta Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Hiệu Lực Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Khi Nào Một Văn Bản Pháp Luật Hết Hiệu Lực?
  • Văn Bản Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Trích Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Văn Bản Pháp Luật Hình Sự
  • Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng , Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Văn Bản Pháp Luật Quy Định Những Vấn Đề Cơ Bản Nhất Quan Trọng Nhất Của N, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Nông Nghiệp Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nhất Eu, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Nông Nghiệp Phát Triển Nhất Châu âu, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nông Nghiệp Nhất Eu, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Nhà Nước Pháp Luật, Bộ Luật Dân Sự Nước Pháp, Văn Bản Pháp Luật Nhà Nước, Kỷ Luật Không Nước Mắt Theo Cách Mẹ Nhật, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Đất Đai, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai Mới Nhất, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nông Nghiệp Nhất Trong Liên Minh Châu âu, Bài Tập Về Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 1, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Bài Thi Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Lý Luận Pháp Luật Và Nhà Nước, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Bài Tập Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Đề Thi Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư Ra Nước Ngoài, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Hình Sự Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Pccc, Lịch Sử Nha Nước Va Pháp Luật The Gioi, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật, Ebook Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Tieu Luận Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Hình Thức Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Pháp Luật Các Nước Viễn Đông, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Tập Tình Huống Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Thế Giới Pdf, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Trắc Nghiệm Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Lý Luận Chung Nhà Nước Và Pháp Luật, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Giáo Trình Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Bài Giảng Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Chương 8, Văn Bản Pháp Luật Quản Lý Người Nước Ngoài, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Slide Bài Giảng Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Giáo Trình Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Giáo Trình Lý Luận Nha Nước Và Pháp Luật 2021, Văn Bản Pháp Luật Liên Quan Đến Kiểm Toán Nhà Nước, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Nào Trong Thời Kỳ Phong Kiến Nước Ta Được Cho Rằng Phát Triển Nhất, Vấn Đề Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Nước Ngoài, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Người Nước Ngoài Vi Phạm Pháp Luật, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, Tuyên Truyền Vận Động Nhân Dân Thực Hiện Đường Lối Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh,

    Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng , Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Văn Bản Pháp Luật Quy Định Những Vấn Đề Cơ Bản Nhất Quan Trọng Nhất Của N, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Nông Nghiệp Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nhất Eu, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Nông Nghiệp Phát Triển Nhất Châu âu, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nông Nghiệp Nhất Eu, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Nhà Nước Pháp Luật, Bộ Luật Dân Sự Nước Pháp, Văn Bản Pháp Luật Nhà Nước, Kỷ Luật Không Nước Mắt Theo Cách Mẹ Nhật, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Đất Đai, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai Mới Nhất, Dựa Trên Cơ Sở Nào Để Pháp Trở Thành Nước Phát Triển Nông Nghiệp Nhất Trong Liên Minh Châu âu, Bài Tập Về Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 1, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật 2, Bài Thi Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Lý Luận Pháp Luật Và Nhà Nước, Lý Luận Về Nhà Nước Và Pháp Luật Pdf, Bài Tập Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Đề Thi Môn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương, Bài Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư Ra Nước Ngoài, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Hình Sự Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Pccc, Lịch Sử Nha Nước Va Pháp Luật The Gioi, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Giáo Trình Nhà Nước Và Pháp Luật, Ebook Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Tieu Luận Môn Nhà Nước Và Pháp Luật,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất
  • Văn Bản Pháp Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Gì
  • Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Loại Nào
  • Cổng Tích Hợp Hỗ Trợ Công Tác Bảo Vệ, Chăm Sóc Trẻ Em
  • Biểu Mẫu Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Do Cơ Quan Nhà Nước Ban Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định (Phân Tích) Cấu Trúc Của Quy Phạm Pháp Luật. Ví Dụ?
  • Phạt Tiền Đối Với Người Lao Động Vi Phạm Nội Quy Công Ty Là Đúng Hay Sai?
  • Phạt Tiền Theo Nội Quy Công Ty: Có Phạm Luật?
  • Mẫu Tổng Hợp Vi Phạm Nội Quy, Quy Chế Mới Và Đầy Đủ Nhất!
  • Mẫu Nội Quy Lao Động, Nội Quy Công Ty Cập Nhật Năm 2021
  • 1. QĐ Số 64/2009/QĐ-UBND quy hoạch kinh doanh nông sản, thực phẩm

    2. Nghị Định 108/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư

    3. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản

    4. Mẫu Quyết định của Ủy Ban Nhân Dân

    5. Mẫu Thông tư

    6. Mẫu Thông tư (tt)

    8. Mẫu Nghị Định của Chính phủ

    9. Mẫu Nghị định của Chính phủ

    10. Mẫu Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

    11. Mẫu Nghị Quyết Của Chính Phủ

    12. Mẫu Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

    13. Mẫu Quyết định của Chủ tịch nước

    14. Mẫu Quyết định của Bộ Trưởng Bộ..

    15. Mẫu Quyết định của Bộ Trưởng Bộ…(tt)

    16. Mẫu Lệnh của Chủ tịch nước

    17. Mẫu chỉ thị của Ủy Ban Nhân Dân

    18. Mẫu Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

    19. Mẫu Nghị Định của Chính phủ

    20. Mẫu Điều lệ của Chính phủ

    21. Mẫu Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (tt)

    22. Mẫu Quy chế (Quy Định)

    23. Mẫu Nghị Quyết của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

    24. Mẫu pháp lệnh của Quốc Hội

    25. Biểu mẫu tờ khai đăng ký lại việc sinh

    26. Biểu mẫu tờ khai cấp lại bản chính Giấy khai sinh

    27. Biểu mẫu tờ khai đăng ký lại việc tử

    28. Biểu mẫu Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ-bản sao-sử dụng tại SởTư pháp

    29. Biểu mẫu Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ-Bản chính-sử dụng tạiSở Tư pháp

    30. Biểu mẫu Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ-Bản sao-sử dụng tại UBND xã

    31. Biểu mẫu Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ-Bản chính- sử dụng tại UBND xã

    32. Biểu mẫu tờ khai đăng ký chấm dứt việc giám hộ

    33. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc giám hộ-Bản sao- sử dụng tại Sở Tư pháp

    34. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc giám hộ – Bản chính -sử dụng tại Sở Tư Pháp

    35. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc giám hộ- Bản sao – UBND cấp xã

    36. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc giám hộ- Bản chính – sử dụng tại UBND cấp xã

    37. Biểu mẫu Giấy cử người giám hộ

    38. Biểu mẫu Giấy xác nhận về việc đã ghi nhận vào sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

    39. Biểu mẫu Quyết định thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc,xác định lai giới tính- Bản sao, sử dụng tại Sở Tư pháp

    40. Biểu mẫu Quyết định thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định giới tính- Bản sao, sử dụng tại UBND cấp xã, Huyện

    41. Biểu mẫu tờ khai đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giơi tính

    42. Biểu mẫu Giấy ủy quyền

    43. Biểu mẫu hợp đồng đặt cọc

    44. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng mua bán

    45. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng mượn tài sản

    46. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng tặng cho

    47. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng thuê tài sản

    48. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng trao đổi tài sản.

    50. Biểu mẫu hợp đồng mua bán phương tiện thủy nội địa

    51. Biểu mẫu hợp đồng mua bán xe

    52. Biểu mẫu hợp đồng mượn tài sản

    53. Biểu mẫu hợp đồng sữa đổi, bổ sung hợp đồng mượn tài sản

    54. Biểu mẫu hợp đồng sữa đổi, bổ sung hợp đồng tặng cho

    55. Biểu mẫu hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng trao đổi tài sản

    56. Biểu mẫu hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng mua bán

    57. Biểu mẫu hợp đồng thay đổi bổ sung hợp đồng thuê tài sản

    59. Biểu mẫu hợp đồng tặng cho phương tiện thủy nội địa

    60. Biểu mẫu hợp đồng tặng cho xe

    61. Biểu mẫu hợp đồng thanh lý hợp đồng thuê tài sản

    62. Biểu mẫu hợp đồng thuê khoán

    63. Biểu mẫu hợp đồng thuê tài sản

    64. Biểu mẫu hợp đồng trao đổi tài sản

    65. Biểu mẫu hợp đồng vay tài sản không có biện pháp bảo đảm

    67. Biểu mẫu hợp đồng góp vốn bằng động sản

    68. Biểu mẫu hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền

    69. Biểu mẫu hợp đồng ủy quyền

    70. Biểu mẫu văn bản đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền

    71. Mẫu văn bản đề nghị nhận thừa kế

    72. Biểu mẫu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( dùng cho công dân Việt Nam đangcư trú ở nước ngoài)

    73. Biểu mẫu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( dùng cho công dân Việt Namtrong nước)

    74. Biểu mẫu tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( dùng cho công dân Vit Nam đang cư trú ở nước ngoài)

    75. Biểu mẫu tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ( dùng cho công dân Việt Nam trong nước)

    76. Biểu mẫu tờ khai đăng ký lại việc kết hôn

    77. Biểu mẫu Quyết định công nhận cha,mẹ, con.Bản chính (sử dụng tại UBND cấp xã)

    78. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con.Bản sao (sử dụng tại UBND cấp xã)

    79. Biểu mẫu tờ khai đăng ký việc nhận con

    80. Biểu mẫu tờ khai đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.(Dùng cho trường hợp cha/mẹ/người giám hộ nhận mẹ/cha cho con chưa thành niên

    81. Biểu mẫu tờ khai đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.Dùng cho trường hợp con đã thành niên nhận cha, mẹ

    82. Biểu mẫu Giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi

    83. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi.Bản chính – đăng ký lại – sử dụng tại Sở Tư pháp

    84. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi.Bản sao – đăng ký lại – sử dụng tại Sở Tư pháp

    85. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi.Bản chính – đăng ký lại- sử dụng tại UBND cấp xã

    86. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Bản chính – sử dụng tại UBND cấp xã

    87. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Bản sao – đăng ký lại- sử dụng tại UBND cấp xã

    88. Biểu mẫu Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Bản sao – sử dụng tại UBND cấp xã

    89. Biểu mẫu hộp đồng cung ứng lao động

    90. Mẫu cấp giấy phép LĐ

    91. Biểu mẫu Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

    92. Biểu mẫu Lệnh Chủ tịch nước

    93. Biểu mẫu Điều lệ

    94. Biểu mẫu Di chúc

    95. Biểu mẫu Biên bản xác định giá trị còn lại của nhà ở

    96. Biểu mẫu Biên bản thẩm tra hồ sơ đất đai

    97. Biểu mẫu cấp giấy phép xây dựng

    98. Biểu mẫu đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhà chung cư

    99. Biểu mẫu đơn xin giao đất

    100. Biểu mẫu Đơn xin thuê lại đất

    101. Biểu mẫu Mẫu công điện

    102. Biểu mẫu Nghị Quyết Chính phủ

    103. Biểu mẫu Nghị quyết Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    104. Biểu mẫu Quy chế (Quy định ) của Bộ trưởng Bộ

    105. Biểu mẫu Quyết định của Bộ trưởng

    106. Biểu mẫu Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

    107. Biểu mẫu Quy định (Quy chế) của Thủ tướng Chính phủ

    108. Biểu mẫu Thông tư Liên tịch của Bộ trưởng

    109. Biểu mẫu Văn bản nhận tài sản thừa kế

    110. Biểu mẫu Văn bản phân chia tài sản thừa kế

    111. Biểu mẫu Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế

    112. BM Quyết định kỷ luật …

    113. BM Quyết định xử lý kỷ luật..

    114. BM giấy nhận giữ di chúc

    115. BM giấy chứng nhận điều chỉnh..

    116. BM phiếu báo yêu cầu bổ sung …

    117. BM yêu phiếu yêu cầu bổ túc …

    118. BM phiếu hẹn trả kết quả …

    119. Mẫu Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân

    120. Biểu mẫu phiếu chuyển đơn tố cáo

    121. Biểu mẫu quyết định của ủy ban nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giangt Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Bồi Ưoỡng Cbql Nâng Cao Năng Lực Qltc( P3)
  • Chương 3: Quá Trình Quản Lý Tài Chính
  • 7 Điều Cần Thiết Để Phát Triển Kỹ Năng Ra Quyết Định
  • Quyết Định Quản Lí (Managerial Decision) Là Gì? Yêu Cầu Đối Với Quyết Định Quản Lí
  • Tin tức online tv