Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc?

--- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc Chi Tiết Đầy Đủ Lớp 8
  • Thuyết Minh Giới Thiệu Về Nhà Văn Nam Cao Và Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự
  • Bài Văn Em Hiểu Như Thế Nào Về Câu Nói Trong Lão Hạc: Chao Ôi, Đối Với
  • Phân Tích Tác Phẩm Lão Hạc Của Nam Cao
  • “Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện.

    Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.

    Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.

    Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.

    Xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật tôi là người bạn, là chỗ dựa tinh thần của Lão Hạc. Những suy nghĩ của nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người Lão Hạc. Nhân vật Lão Hạc đẹp, cao quý thực sự thông qua nhân vật tôi.

    Cái hay của tác phẩm này chính là ở chỗ tác giả cố tình đánh lừa để ngay cả một người thân thiết, gần gũi với Lão Hạc như ông giáo vẫn có lúc hiểu lầm về lão. Sự thật nhân vật tôi cố hiểu, cố dõi theo mới hiểu hết con người Lão Hạc. Khi nghe Binh Tư cho biết Lão Hạc xin bã **** ông giáo ngỡ ngàng, chột dạ: “Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có cái ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn”. Chi tiết này đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm. Nó đánh lừa chuyển ý nghĩ tốt đẹp của ông giáo và người đọc sang một hướng khác: Một con người giàu lòng tự trọng, nhân hậu như Lão Hạc cuối cùng cũng bị cái ăn làm cho tha hoá, biến chất sao? Nếu Lão Hạc như thế thì niềm tin về cuộc đời về ông giáo sẽ sụp đổ, vỡ tan như chồng ly thủy tinh vụn nát.

    Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bã chó của Lão Hạc, ông giáo mới vỡ oà ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”. Đến đây truyện đi đến hồi mở nút, để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về Lão Hạc và người nông dân… “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi … toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”.

    Có lẽ đây là triết lý sống xen lẫn cảm xúc xót xa của Nam Cao. ở đời cần phải có một trái tim biết rung động, chia xẻ, biết yêu thương, bao bọc người khác, cần phải nhìn những người xung quanh mình một cách đầy đủ, phải biết nhìn bằng đôi mắt của tình thương.

    Với Nam Cao con người chỉ xứng đáng với danh hiệu con người khi biết đồng cảm với những người xung quanh, biết phát hiện, trân trọng, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương. Muốn làm được điều này con người cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác để hiểu đúng, thông cảm thực sự cho họ.

    Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tôi trực tiếp kể lại toàn bộ câu chuyện cho nên ta có cảm giác đây là câu chuyện thật ngoài đời đang ùa vào trang sách. Thông qua nhân vật tôi, Nam Cao đã thể hiện hết Con người bên trong của mình.

    Đau đớn, xót xa nhưng không bi lụy mà vẫn tin ở con người. Nam Cao chưa bao giờ khóc vì khốn khó, túng quẫn của bản thân nhưng lại khóc cho tình người, tình đời. Ta khó phân biệt được đâu là giọt nước mắt của Lão Hạc, đâu là giọt nước mắt của ông giáo: Khi rân rân, khi ầng ực nước, khi khóc thầm, khi vỡ oà nức nỡ. Thậm chí nước mắt còn ẩn chứa trong cả nụ cười: Cười đưa đà, cười nhạt, cười và ho sòng sọc, cười như mếu …

    Việc tác giả hoá thân vào nhân vật tôi làm cho cách kể linh hoạt, lời kể chuyển dịch trong mọi góc không gian, thời gian, kết hợp giữa kể và tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc…

    Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm của mọi thời, bi kịch của đời thường đã trở thành bi kịch vĩnh cửa. Con người với những gì cao cả, thấp hèn đều có trong tác phẩm. Thông qua nhân vật tôi tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Hãy cứu lấy con người, hãy bảo vệ nhân phẩm con người trong con lũ cuộc đời sẵn sàng xoá bỏ mạng sống và đạo đức. Cho nên chúng ta nên đặt nhân vật tôi ở một vị trí tương xứng hơn khi tìm hiểu tác phẩm.

    Nguon: http://az24.vn/hoidap/Thuyet-minh-ve-tac-gia-nam-cao-va-tac-pham-lao-hac-d1479045.html#ixzz1gy85dkiA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao Hay, Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Lão Hạc Môn Văn 8 Trang 38 Ngắn Gọn Nhất: Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Lão Hạc Xung Quanh Việc Bán Chó
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự
  • Đề Số 10 Đề Kiểm Tra 45 Phút (1 Tiết) Học Kì 1 Ngữ Văn 8: Vì Sao Lão Hạc Lại Ân Hận Khi Bán Chó?
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Truyện Lão Hạc
  • Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Thuyết Minh Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài 7. Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Thuyết minh về tác giả và tác phẩm Lão Hạc để hiểu về số phận thê thảm, nghèo khổ, bế tắc của người nông dân Việt Nam nghèo trước Cạch mạng tháng 8. Qua đó, tố cáo sự tàn ác bất nhân của chế độ phong kiến.

    Dàn ý thuyết minh tác phẩm Lão Hạc

      ” Lão Hạc” là một truyền ngắn nổi tiếng của Nam Cao. tác phẩm nói về số phận cực khổ và tủi nhục của con người nghèo khổ thời xưa. Qua tác phẩm ta có thể thấy biết được số phận của các nhân vật xưa.

    II. Thân bài: Thuyết minh về truyện ngắn Lão Hạc

    1. Giới thiệu tác phẩm:

    • Lão Hạc vì quá túng thiếu nên đã bán con chó của mình
    • Dù túng thiếu đến báo nhiêu Lão Hạc cũng không chịu bán mãnh vườn mà ăn khoai ăn sắn để sống qua ngày.
    • Sau đó, lão đã nhờ Ông Giao giữ và ăn bã chó để tự tử

    2. Bố cụ của truyện:

    – Phần 1 : Từ đầu đến “ông giáo ạ!” : Giới thiệu sự việc và cuộc sống Lão hạc

    – Phần 2 : Tiếp đến “Binh Tư hiểu” : Sự việc bán chó và tình cảm của ông dành cho con chó của Lão Hạc.

    – Phần 3 : Còn lại : Kết thúc sự việc, Lão Hạc chết đi nhưng vẫn cố gắng giữ mảnh vườn cho con.

    3. Ý nghĩa truyện ngắn ” Lão hạc”:

    • Tố cáo sự tàn ác, sự đối xử với người dân của chế độ thực dân và phong kiến
    • Ca ngời sự vượt lên, chịu khó, và chịu thương cần cù của người dân thơi xưa

    III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc

    • Đây là câu chuyện lọt tả thân phân thật sự của người dân thời xưa
    • Chúng ta có thể thấy được cuộc sống chân thực của xã hội xưa

    Số phận bi thảm của người nông dân Việt Nam qua tác phẩm Lão Hạc

    Tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính Lão Hạc xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ đè lên những cuộc đời của những con người lương thiện.

    Con chó cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia sẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.

    Cậu Vàng bị bán đi; Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói dẹo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.

    Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người, kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”.

    Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.

    Thuyết minh về một tác phẩm văn học Lão Hạc

    Trong nền văn xuôi hiện đại nước ta, Nam Cao là nhà văn có tài năng xuất sắc và một phong cách độc đáo. Ngòi bút của Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Văn Nam Cao hết sức chân thực, ông coi sự thực là trên hết, không gì ngăn được nhà văn đến với sự thực, vừa thấm đượm ý vị triết lí và trữ tình. Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lí con người. Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông sống động, uyển chuyển, tinh tế, rất gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng. Với một tài năng lớn và giàu sức sáng tạo, Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hoá.

    Tác phẩm Nam Cao để lại chủ yếu là truyện ngắn, trong số những truyện ngắn viết về người nông dân, thì “Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc và tiêu biểu.

    Truyện ngắn “Lão Hạc” được đăng báo lần đầu năm 1943, truyện kể về nhân vật chính – lão Hạc, một lão nông dân nghèo khổ, có phẩm chất trong sạch, vợ lão Hạc mất sớm, để lại lão và cậu con trai, trong nhà tài sản duy nhất của hai cha con lão là một mảnh vườn và “cậu vàng” – con chó do con trai lão mua. Do không đủ tiền cưới vợ, con trai lão chán nản mà làm đơn xin đi mộ phu đồn điền cao su, để lão ở nhà một mình với cậu vàng. Lão Hạc hết sức thương con, lão chăm vườn, làm ăn dành dụm để khi con trai lão về thì cưới vợ cho nó. Thế nhưng, sau một trận ốm nặng, bao nhiêu tiền dành dụm cũng hết, sức khoẻ lão ngày một yếu đi, vườn không có gì để bán, lão Hạc trở nên đói kém hơn, phải lo từng bữa ăn. Lão ăn năn day dứt khi quyết định bán cậu vàng, người bạn thân thiết của lão. Lão gửi số tiền và mảnh vườn cho ông giáo và xin bả chó của Binh Tư để kết thúc cuộc sống túng quẫn của mình. Lão chết một cách đau đớn, nhưng cái chết làm sáng ngời phẩm chất trong sạch của lão Hạc.

    Thông qua số phận và cái chết của lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện một thái độ trân trọng và cái nhìn nhân đạo đối với lão Hạc nói riêng và người nông dân nói chung, những con người nghèo khổ nhưng sống trong sạch, thà chết chứ không chịu mang tiếng nhục, làm những điều trái với lương tâm cao cả của mình. Nam Cao cũng đã nêu lên một triết lí nhân sinh rằng: con người chỉ xứng đáng với danh nghĩa con người khi biết trân trọng và chia sẻ, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương ở con người.

    Đồng cảm với những số phận đáng thương, Nam Cao đã lên tiếng thông qua tác phẩm là tiếng nói lên án xã hội đương thời thối nát, bất công, không cho những con người có nhân cách cao đẹp như lão được sống.

    Tác phẩm “Lão Hạc” cũng mang một giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện được phong cách độc đáo của nhà văn Nam Cao. Diễn biến của câu chuyện được kể bằng nhân vật tôi, nhờ cách kể này câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực với một hệ thống ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, già tính triết lí.

    Trong tác phẩm có nhiều giọng điệu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và trữ tình. Đặc biệt, bút pháp khắc hoạ nhân vật tài tình của Nam Cao cũng được bộc lộ rõ rệt với ngôn ngữ sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và sức gợi cảm.

    Có thể nói “Lão Hạc” là một truyện ngắn hết sức thành công của Nam Cao. Nhà văn vừa thể hiện được tấm lòng nhân đạo của mình, đồng thời đánh bật được nét phong cách nghệ thuật độc đáo hiếm có của ông.

    Văn mẫu 8 thuyết minh truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

    Nam Cao – nhà văn và cũng là những người bạn luôn thấu hiểu, đồng cảm với nỗi lòng của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Khi nhận xét về hình ảnh người nông dân trên trang văn của ông, có nhà nhận định đã đưa ra ý kiến: Truyện của Nam Cao thể hiện một tư tưởng chung là nỗi băn khoăn đến đau đớn trước thực trạng con người bị hủy hoại về nhân phẩm do cuộc sống đói nghèo đẩy tới. Nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên đã thể hiện một nhân cách cao đẹp, dù hoàn cảnh sống khốn cùng nhưng vẫn giữ cho mình những phẩm giá đáng quý.

    Nam Cao sinh ra ở một làng quê nghèo vùng đồng bằng Bắc Bộ và cuộc sống của ông gặp nhiều khốn khó, dòng đời lận đận. Vì vậy, những chất liệu và hình ảnh thực đã đi vào trang văn của ông chân thực và sống động. Hình ảnh người nông dân nghèo khổ bị vùi dập, dồn đế bước đường cùng đã hằn sâu trong tâm trí nhà văn. Cùng với các tác phẩm Chí Phèo, Một bữa no… Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao khi viết về đề tài này và được đăng báo lần đầu năm 1943. Truyện ngắn được giới thiệu trong chương trình sách Ngữ Văn 8 tập 1, với độ dài gần tám trang giấy nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người cha, người nông dân với những phẩm chất cao quý.

    Lão Hạc là truyện kể về cuộc đời của người nông dân sống ở làng quê nghèo khó. Lão có một đứa con trai, một mảnh vườn và một con chó mà lão rất yêu quý với tên gọi cậu Vàng. Đứa con trai của lão vì hoàn cảnh nghèo khổ mà không lấy được vợ, phẫn uất nên anh ta bỏ đi đồn điền cao su, bỏ lại người cha cô đơn với cậu Vàng. Sau một trận ốm thập tử nhất sinh, lão Hạc không còn đủ sức đi làm thuê làm mướn, rồi trận bão đã phá sạch sành sanh hoa màu trong mảnh vườn. Cuộc sống ngày càng khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và không nhận sự giúp đỡ của bất kì ai. Và khi không còn kiếm được gì ăn,lão cũng không muốn bán mảnh vườn nên lão phải bán cậu Vàng cho người ta giết thịt và quyết định ấy đã khiến lão đau khổ, day dắt, buồn bã. Lão mang hết tài sản của mình gửi cho ông giáo giữ hộ. Một hôm nọ, lão xin Binh Tư bả chó và nói là để đánh bả một con chó làm thịt. Ông giáo nghe được câu chuyện đó đã rất buồn rồi bỗng dưng nghe tin lão Hạc chết. Một cái chết đau đớn và dữ dội, lão đã dùng bả chó để kết thúc cuộc đời mình. Cả làng không ai hiểu vì sao, chỉ có ông giáo và Binh Tư hiểu.

    Dù với dung lượng khá ngắn và cốt truyện đơn giản nhưng truyện đã rất thành công khi khắc họa hình ảnh người nông dân trước Cách mạng. Lão Hạc trước hết là một người cha mẫu mực, yêu thương con hết lòng. Vợ mất sớm, một mình lão gà trống nuôi con trưởng thành.Khi đứa con không thể cưới vợ vì không có tiền và phẫn uất bỏ đi làm ăn. Người cha như lão Hạc ở hoàn cảnh đó không khỏi đau đớn, day dứt khi không làm tròn trách nhiệm của mình. Vì thế mà ngày đêm lão mong ngóng đứa con trai trở về. Lão thường tâm sự với cậu Vàng như nói về bố của trẻ. Được đồng nào từ hoa màu của mảnh vườn, lão chắt chiu dành cả cho con. Tấm lòng của người cha nghèo khổ thật đáng trân quý biết bao.

    Không chỉ vậy, lão Hạc còn là người có lòng tự trọng và nhân cách cao đẹp. Dù rơi vào hoàn cảnh nghèo khó, không còn gì ăn và sức lực cạn kiệt nhưng lão quyết từ chối sự giúp đỡ của những những người láng giềng. Còn chút tiền tiết kiệm được, lão gửi cả ông giáo để sau này lão chết sẽ lo ma chay cho lão, khỏi phiền hà hàng xóm. Cũng chính bởi lòng tự trọng gần như hách dịch ấy, đã khiến lão tìm đến cái chết như sự giải thoát. Quyết định bán cậu Vàng có lẽ là quyết định khó khăn và đau đớn nhất của lão. “Lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước”, “mặt lão co rúm lại”, “những vết nhăn xô lại với nhau”… những chi tiết miêu tả tâm trạng lão Hạc sau khi bán cậu Vàng thật xúc động. Lão coi con chó như họ hàng, như con cháu vậy mà lão lỡ lừa bán nó. Một nhân cách cả đời sống trung thực, chẳng biết làm hại ai như lão đau khổ, day dứt về việc mình đã làm. Lão đã chọn cái chết để kết thúc cuộc đời mình bằng một liều bả chó mà lão xin của Binh Tư. Cái chết của lão khiến người đọc day dứt, thương xót và cũng đầy suy ngẫm. Lão hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một cách ra đi nhẹ nhàng, thanh thản hơn thay vì cái chết dữ dội, đau đớn ấy. Phải chăng lão muốn tự trừng phạt mình sau khi lão lừa bán cậu Vàng. Cái chết là cách để lão giữ lại vẹn nguyên tấm lòng trong sạch của mình trong bước đường cùng của số phận.

    Nét đặc sắc nhất về nghệ thuật của tác phẩm là tài năng miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và sâu sắc của nhà văn Nam Cao. Ngòi bút của ông đã đã thể hiện được những nỗi lòng, tâm tư sâu kín của nhân vật một cách chân thật. Truyện có giá trị nhân đạo sâu sắc, nâng niu những phẩm giá cao đẹp của con người dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất. Bên cạnh đó, truyện đã lên án xã hội thực dân nửa phong kiến, đẩy những người nông dân lương thiện đến tận cùng của nghèo đói, những giá trị tốt đẹp của con người dần bị chôn vùi.

    Hơn nửa thế kỉ trôi qua nhưng truyện ngắn Lão Hạc vẫn mãi trường tồn với thời gian bởi những giá trị của nó để lại. Truyện cũng cho chúng ta những bài học về cách xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật tuyệt sắc của nhà văn Nam Cao. Vì thế, tác phẩm Lão Hạc trở thành một trong những truyện ngắn tiêu biểu của giai đoạn văn học trước Cách mạng được lựa chọn đưa vào chương trình sách giáo khoa để học sinh nghiền ngẫm và rút ra những lẽ sống cho riêng mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi 14 Ngắn Nhất
  • Em Hãy Giới Thiệu Một Vài Nét Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Gia Văn Phái Và Tóm Tắt Hồi Thứ 14.
  • Những Điều Thú Vị Về Hổ
  • Giới Thiệu Về Loài Hổ Và Con Hổ To Nhất Thế Giới?
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Hiệu Lực Thi Hành Từ Tháng 12 Năm 2022
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Hiệu Lực Thi Hành Trong Tháng 12 Năm 2022
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Hiến Pháp Năm 2013
  • Luật Khiếu Nại Và Các Văn Bản Thi Hành 2022 …
  • Ban Hành 16 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tháng 7/2020
  • 1. Tìm hiểu chung

    a. Hoàn cảnh sáng tác

    – Lão Hạc là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, đăng báo lần đầu năm 1943.

    b. Bố cục3 phần

    – Phần 1 (từ đầu … “nó thế này ông giáo ạ”): Sự day dứt, dằn vặt của lão Hạc sau khi bán con Vàng.

    – Phần 2 (tiếp … “một thêm đáng buồn”): Lão Hạc gửi gắm tiền bạc, trông nom nhà cửa.

    – Phần 3 (còn lại): Cái chết của lão Hạc.

    c. Tóm tắt

           Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cùng một con chó gọi là cậu Vàng. Lão có một người con trai nhưng vì nghèo không có tiền lấy vợ nên đã bỏ đi làm đồn điền cao su. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì nữa, lão đành phải bán cậu Vàng – con chó mà lão hết mực thương yêu như con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó và dành dụm được từ việc bán mảnh vườn gửi nhờ ông Giáo. Mấy hôm sau lão kiếm được gù ăn nấy. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó nói dối là đánh bả con chó hay sang vườn để giết thịt ăn nhưng thực ra là để tự tử. Cái chết của lão Hạc dữ dội, vật vã, chẳng ai hiểu vì sao lão chết ngoại trừ ông Giáo và Binh Tư.

    2. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

    a. Giá trị nội dung

    Thể hiện số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý, tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân.

    b. Giá trị nghệ thuật

    – Sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể là nhân vật hiểu, chứng kiến toàn bộ câu chuyện và cảm thông với nhân vật chính.

    – Nghệ thuật phân tích tâm lí già dặn, kể chuyện chân thực, màu sắc trữ tình đan xen triết lí sâu sắc.

    – Xây dựng được nhân vật có tính cá thể hóa cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đê Khi Tìm Hiểu Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Đề Thi Chọn Học Sinh Năng Khiếu Lớp 8 Năm Học 2010
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tình Cảm Cha Con Trong Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà Của Nguyễn Quang Sáng Và Lão Hạc Của Nam Cao
  • Bài Văn: Thuyết Minh Truyện Ngắn “Lão Hạc” (2)
  • Đề Kiểm Tra Môn Ngữ Văn 8
  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Của Nhà Văn Nam Cao
  • Đóng Vai Lão Hạc Kể Lại Sự Việc Sau Khi Lão Bán Chó, Lão Sang Gửi Ông Giáo Tiền Và Mảnh Vườn
  • Đề Kiểm Tra 45 Phút Ngữ Văn 8: Câu Văn Nào Không Nói Lên Tâm Trạng Hồi Hộp, Bỡ Ngỡ Của Nhân Vật “tôi” Trong Buổi Tựu Trường Đầu Tiên?
  • Trung tâm gia sư sư phạm tphcm xin giới thiệu Nam Cao ( 1915 – 1951), tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc, chuyên viết về đề tài người nông dân và bi kịch của những người trí thức nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao đi theo Cách mạng, ông đã tận tụy đi theo phục vụ kháng chiến. Nam Cao là ngọn đèn sáng trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm ” Lão Hạc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nam Cao với những giá trị nghệ thuật đặc sắc. Nam Cao là một người xuất thân từ nông dân, nên ông rất am hiểu về cuộc sống của người dân chân lấm tay bùn, ông thấu hiểu những nỗi cực khổ và bất công của người nông dân, nên khả năng miêu tả tâm lý nhân vật của Nam Cao thật sự đặc sắc, bởi vậy mà ông rất thành công trong mảng đề tài người nông dân.

    Gia sư ở quận 11 nhận thấy truyện ngắn Lão Hạc có một cách kể chuyện đặc sắc, nhân vật kể chuyện được chọn ở đây là nhân vật ông giáo, là người chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối và đây cũng là nhân vật rất thân thiết với lão Hạc, bởi vậy mà câu chuyện được kể ở đây sẽ rất chân thật cũng như khách quan và có tính xác thực cao, cuộc đời của Lão Hạc như một cuốn phim buồn, là cuộc đời đặc trưng cho rất nhiều người nông dân khác. Nam Cao còn có biệt tài trong cách xây dựng nhân vật, nhân vật Lão Hạc hiện lên qua hai khía cạnh: thứ nhất là qua ngoại hình và diễn biến tâm lý của chính nhân vật. Thứ hai là nhân vật Lão Hạc được miêu tả và đánh giá qua một số nhân vật khác như ông giáo, Binh Tư và vợ ông giáo. Lão Hạc là người có diễn biến tâm lý phức tạp thông qua việc lão luôn đắn đo về việc có bán con chó vàng hay không, nếu bán thì thấy như mình đang lừa một con chó, nếu như không bán thì không đủ tiền để nuôi cả chó lẫn người. Nhưng cuối cùng ông cũng bán được chó, và nội tâm cũng không còn giằng xé như lúc ban đầu chỉ bởi lão có một tình yêu thương và luôn lo lắng cho con trai của lão.

    Gia sư tại quận 4 cho rằng Ông giáo cũng là người chứng kiến hết những bi kịch của cuộc đời lão Hạc, lúc đầu ông giáo cũng nghĩ rằng có mỗi con chó thôi, làm gì mà lão Hạc phải làm quá lên vậy, nhưng sau khi phải bán đi chỗ sách của mình thì ông giáo cũng hiểu. Và ông cũng thấy cuộc đời của lão Hạc đáng buồn, kể cả trước khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, ông giáo đã nghĩa lão Hạc cũng nối gót theo Binh Tư hay sao, và rồi sau khi biết nguyên nhân lão Hạc chết, ông giáo càng cảm thấy xót xa. Lão Hạc còn xuất hiện trong lời nói và suy nghĩ của vợ ông giáo, thị nghĩ rằng đó là ông giáo tự muốn vậy, chứ sao phải sống cực khổ thế làm gì. Và cả Binh Tư, khi lão Hạc qua xin Binh Tư ít bả chó thì đã nghĩ ngay rằng Lão Hạc cũng có ngày nối gót hắn làm nghề ăn trộm. Nhưng hỡi ôi, có ai biết được rằng, lão Hạc dần dần lạnh nhạt với ông giáo là bởi lão không muốn phiền đến gia đình ông giáo, và xin bả chó chẳng phải để làm gì, chỉ để kết thúc cuộc đời của mình mà thôi.

    Gia sư sinh viên tphcm nhận ra nghệ thuật xây dựng cốt truyện độc đáo cũng là yếu tố khiến cho lão Hạc trở thành tác phẩm điển hình, từ những sự việc tưởng chừng như vụn vặt, tác giả đã tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện, từ việc lão Hạc bán con chó vàng, đến việc lão nhờ ông giáo coi sóc mảnh vườn, đến việc lão xin bả chó và cuối cùng là cái chết thê thảm của lão Hạc. Ngoài ra tác phẩm còn có nhiều câu văn mang tính triết lí còn được sử dụng cho đến tận ngày nay.

    Truyện ngắn lão Hạc đã thể hiện được phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nam cao, ông xứng đáng là nhà văn hiện thực nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám.

    Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

    giá trị nghệ thuật của tác phẩm lão hạc

    đặc sắc về nghệ thuật của truyện lão hạc

    nêu nội dung và nghệ thuật bài lão hạc

    nghệ thuật xây dựng nhân vật lão hạc

    cảm hứng nghệ thuật của tác phẩm lão hạc

    hoàn cảnh sáng tác lão hạc

    nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm lão hạc

    tình huống truyện lão hạc

    ý nghĩa của văn bản lão hạc

    Các bài viết khác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc
  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc
  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Phân Tích Tác Phẩm Lão Hạc Của Nam Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • ” Lão Hạc Là Câu Chuyện Cảm Động Về Tình Phụ Tử Thiêng Liêng Cảm Động”
  • Nghị Luận Về Tình Phụ Tử
  • Suy Nghĩ Của Em Về Tình Phụ Tử Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao
  • Sau Khi Học Xong Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao, Em Có Suy Nghĩ Gì Tình Phụ Tử Của Con Người Chúng Ta? Viết Đoạn Văn Khoảng 12 Câu
  • Bài làm

    Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc với những sáng tác để lại trong long người đọc nhiều day dứt và ám ảnh. Mỗi câu chuyện của ông đều mang dáng dấp của một đời người, một kiếp người lầm than trong xã hội. Nam Cao tập trung khai thác số phận người nông dân trước cách mạng tháng Tám, bế tắc, cùng cực đã khiến cho cuộc đời họ chìm vào nước mắt. Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những câu chuyện cảm động về hình ảnh nghèo khó của người nông dân, đồng thời toát lên được vẻ đẹp tinh thần đáng quý của họ. Đây mới chính là giá trị nhân văn của tác phẩm này.

    Nam Cao lấy bối cảnh lịch sử là thời kỳ đất nước đang chìm trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, đói khổ, xơ xác. Ông đã xây dựng nên nhân vật nông dân điển hình trong một xã hội điển hình. Qua nhân vật này tác giả muốn lột tả chế độ thực dân phong kiến và cuộc sống bần hàn của người nông dân.

    Những câu văn giản dị cứ thế đi vào long người đọc một cách chân thật và hiền hòa nhất. Từng mảnh đời cứ chấp chới hiện lên dật dờ, nghèo đói nhưng trong họ ánh lên sự nhân hậu, vị tha và long yêu thương tha thiết.

    Cuộc đời của lão Hạc thật là buồn, buồn đến the thảm. Vợ lão mất sớm, lão ở với đứa con trai. Nhưng từ khi đứa con trai đi làm điền cao su thì lão không còn biết tin tức gì về con nữa. Lão thương con, rồi lão thương cho chính cuộc đời của mình chẳng làm được gì cho con.

    Lão Hạc là hiện than của người nông dân hiền lành, lương thiện, chất phác, chăm chỉ làm ăn. Ai thuê lapx làm gì, lão đều làm. Nhưng cuộc đời khắc nghiệt, cuộc sống khắc nghiệt, sức khỏe của lão yếu đi, lão không muốn cậy nhờ con và hàng xóm.

    Túng quẫn, bế tắc, lão đã nghĩ đến việc bán cậu Vàng. Nhưng tình cảm của lão dành cho cậu Vàng quá than thiết, nên lão không nỡ, bao nhiêu lần mà lão không bán nổi. Sự giằng xé trong tâm hồn đã khiến cho lão ngày càng bệnh tật, ốm đau.

    Nhưng rồi vì cơm cũng chẳng có mà ăn, lấy gì nuôi cậu Vàng. Lão không muốn tiêu vào những đồng tiết tiết kiệm lão dành dụm cho đứa con trai từ việc bán hoa lợi và thu được từ mảnh vườn ba sào bé tý. Vậy là lão đứt ruột bán cậu vàng, nói đúng hơn là lão phải lừa để mới có thể bán cậu vàng.

    Cảnh bán chó thực sự là một cảnh tượng xúc động, đầy dằn vặt và đau đớn của lão Hạc. Lão đã tự thú nhận “già bằng này tuổi đầu còn đi lừa một con chó”. Ông giáo đã kể lại cảnh tượng đó “Mặt lão đột nhiên co rúm lại, những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra ngoài. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc”.Một đoạn văn tràn đầy tình cảm, một đoạn văn khiến người đọc không cầm nổi nước mắt.

    Một người nông dân chất phác, ngay cả trong việc bán chó cũng vậy. Lão không muốn cậu vàng đau long, muốn đó ra đi thanh thản nhất, nhưng thực ra long lão đang quá rối bời. Những tâm sự của lão Hạc khiến người đọc xúc động, cảm thong và rất đỗi khâm phục. Ông dù nghèo nhưng vẫn quyết dành tình cảm cho đứa cn trai duy nhất.

    Lão Hạc yêu thương con hết mực, quyết định hi sinh vì con. Bởi vậy lão mới quyết định kết liễu cuộc đời mình để không lien lụy đến con mình. Một người cha yêu thương con hét mực và là một ngươi suy nghĩ quá thấu đáo, chu toàn. Lão đã định sẵn cho mình một cái chết thanh thản, nhẹ nhàng nhất. Lão đã cậy nhờ chuyện ông giáo sau khi chết giao lại mảnh vườn cho con trai và để lại 30 đồng bạc lẻ.

    Chi tiết ông Giáo kể với vợ về chuyện lão Hạc thì vợ ông đã nói “Cho lão chết! Ai bảo có tiền mà chịu khổ! Lão làm khổ lão chứ ai làm lão khổ. Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão.Chính con mình cũng đói. Bất lực ông giáo chỉ biết ngậm ngùi than thở: Chao ôi, đối với những người ở xung quanh ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ối…toàn những cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ thương”. Thực sự đây là một đoạn hội thoại có giá trị nhân văn sâu sắc, khẳng định một thái độ sống về những con người ở xung quanh mình. Có lẽ Nam Cao ngầm thương xót cho những mảnh đời bất hạnh, sống hiền lương nhưng lại bị ruồng bỏ.

    Cái chết của lão hạc là một cái chết đầy bi kịch, thức tỉnh biết bao nhiêu con người. Cái chết đó đã phản ảnh hiện thực xã hội phong kiến nhiều bất công, đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Sự bế tắc, túng quẫn đã dẫn đến cái chết bi thảm đó.

    Ông giáo đã có suy nghĩ sai lầm thì nghe bảo Lão Hạc sang xin bả chó. Nhưng thực sự là ông đang muốn kết liễu đời mình, không muốn làm gánh nặng cho con trai.

    Tại sao lão lại chọn cai chết đau đớn, đầy thương tâm đó. Có lẽ đây là điều mà rất nhiều người hỏi, nhưng có lẽ có nguyên nhân của nó. Phản ánh sự bế tắc đến cùng cực xã hội phong kiến, đẩy con người vào chỗ chết. Có lẽ lão Hạc muốn trừng phạt chính bản than mình vì đã đi “lừa một con chó”, đồng thời lão muốn yêu thương đứa con trai đến giây phút cuối cùng. Cái chết đó chỉ ông Giáo và Binh tư mới hiểu.

    Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao thực sự ám ánh đến người đọc vì hình ảnh người nông dân cùng cực trong xã hội phong kiến. ĐÔng thời khẳng định vẻ đẹp tinh thần lấp lánh trong con người họ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Em Hiểu Như Thế Nào Về Câu Nói Trong Lão Hạc: Chao Ôi, Đối Với
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự
  • Thuyết Minh Giới Thiệu Về Nhà Văn Nam Cao Và Tác Phẩm Lão Hạc
  • Dàn Ý Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc Chi Tiết Đầy Đủ Lớp 8
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc?
  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Lão Hạc Hay Nhất
  • 3 Bài Văn Mẫu Nêu Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc
  • Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Trung tâm gia sư uy tín tại tphcm nhận thấy Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực nổi tiếng thế kỉ XX, những tác phẩm của ông như những mũi dao chĩa thẳng vào hiện thực của đất nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ông luôn trăn trở về số phận con người trong xã hội cũ và luôn dành một tình thương yêu, trân trọng cho những số phận người nông dân. Lão Hạc là một trong số những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách viết của Nam Cao. Ở tác phẩm này có sự kết hợp độc đáo giữa việc truyền tải những giá trị hiện thực và gửi vào đó những giá trị nhân đạo sâu sắc.

    Tác phẩm “Lão Hạc” kể về cuộc đời của Lão Hạc, một hình tượng nhân vật điển hình cho số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Truyện ngắn này chứa đựng những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, Nam Cao là con người luôn tìm tòi cái mới, ông hết lòng cống hiến cho văn học, ông căm ghét những cái gì rập khuôn, vì vậy những tác phẩm của ông luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong văn đàn Việt Nam.

    Trung tâm gia sư sư phạm tphcm nhận thấy tác phẩm phản ánh hiện thực số phận của người nông dân trước cách mạng tháng Tám thông qua hình tượng Lão Hạc với những bi kịch không thể nghĩ là có thể xảy ra. Lão Hạc là một người nông dân nghèo, ông có một đứa con trai, nhưng vì nhà lão nghèo không có tiền cưới vợ nên đứa con trai phải bỏ nhà đi cao su, quyết chí kiếm đủ tiền mới trở về. Lão Hạc ở lại một mình, sống lẻ loi, may mắn có con chó vàng làm bạn, ngày qua ngày bao biến cố xảy ra, cuối cùng lão Hạc phải bán đi con chó vàng để bảo toàn tài sản cho đứa con trai, và cuối cùng kết thúc cuộc đời mình để khỏi làm phiền hàng xóm, láng giềng. Xót xa làm sao khi cái đói gặm nhấm hết cuộc đời của một con người, khiến cho họ phải chọn cách kết thúc cuộc đời mình trong cùng cực. Qua đó cũng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đã đày đọa cuộc sống của người dân Việt Nam, khiến cho họ cực khổ trên chính mảnh dất quê hương của mình.

    Gia sư ở quận 11 nhận thấy số phận đáng thương của Lão hạc được khắc họa rõ nét nhất, thì nhân vật ông giáo cũng bị rơi vào bi kịch, vì cái đói, cái nghèo bủa vây mà ông lần lượt phải bán đi hết những quyển sách mà ông ấy đã từng nghĩ dù có chết thì cũng không bao giờ bán đi đống sách đó. Không phải chỉ mỗi tầng lớp nông dân mà còn tầng lớp tri thức và các tầng lớp khác đều chịu cảnh sống khắc nghiệt trước Cách mạng tháng Tám.

    Bởi đề cao sự truyền tải giá trị hiện thực đến cho bạn đọc mà Nam Cao viết thật, viết đúng nên chạm vào nỗi đau của nhiều người. Thế nhưng không phải Nam cao phanh phui ra để chạm vào nỗi đau của họ, mà là để dành tình yêu thương vô bờ bến cho họ. Ông dành tấm lòng trân trọng cho lão Hạc vì lão đã chọn cái chết để bảo toàn cho nhân cách của mình, vì ông thà bán con chó để cất tiền cho đứa con trai chứ nhất quyết không bán mảnh vườn, và ông cũng không hề đụng đến một xu nào từ tiền mà ông tính để dành cho con trai, qua đó chúng ta mới thấu được dù trong cảnh khốn cùng hay khó khăn thì tình yêu thương của ông dành cho con trai vẫn luôn luôn bền bỉ.

    Gia sư tại quận 4 thấy Nam Cao cũng trân trọng nhân cách của ông giáo, bởi dù ông là người nhiều chữ, nhưng ông cũng luôn yêu thương con người không kể họ là ai, họ xuất thân từ đâu. Ông không có thái độ khinh khi mà đôi khi ông còn nhún nhường trước lão Hạc và cực kì lễ phép với cụ. Ông giáo và lão Hạc có một tình bạn điển hình và sau khi lão Hạc mất thì ông giáo đã đau khổ cùng cực. Nam Cao luôn trăn trở vì con người, vì cuộc sống của con người và cả cuộc đời ông dành trọn để ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người dù trong tình huống nào họ cũng luôn giữ được nhân cách cao đẹp.

    Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

    giá trị nội dung của tác phẩm lão hạc

    nêu nội dung và nghệ thuật bài lão hạc

    ý nghĩa của văn bản lão hạc

    nghệ thuật xây dựng nhân vật lão hạc

    nội dung văn bản lão hạc

    đặc sắc về nghệ thuật của truyện lão hạc

    cuộc đời lão hạc

    tính hiện thực trong tác phẩm lão hạc

    tóm tắt giá trị nhân đạo của lão hạc

    Các bài viết khác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Hay Nhất
  • 5 Bài Văn Mẫu Hãy Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Con Người Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Cùng Tên Của Nam Cao
  • Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Vẻ Đẹp Và Số Phận Của Người Nông Dân Qua 2 Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ , Lão Hạc ? Ai Giup Mk Ạ Câu Hỏi 29615
  • Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc
  • Vẻ Đẹp Của Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Qua Truyện Ngắn “lão Hạc” Của Nam Cao Và Truyện Ngắn “làng” Của Kim Lân
  • Qua Hai Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc, Chứng Minh Rằng: Dù Gặp Nhiều Đau Khổ Bất Hạnh, Người Nông Dân Trước Cách Mạng Tháng Tám Vẫn Giữ Trọn Những Phẩm Chất Tốt Đẹp Của Mình
  • Đề bài: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    5 bài văn mẫu Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Bài mẫu số 1: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên là một trong những nhân vật “để đời” của Nam Cao.

    Lão Hạc, một nông dân nghèo khổ, cùng quẫn, nhưng không bị biến chất như Chí Phèo, mà trái lại có một tâm hồn đẹp, một nhân cách cao thượng.

    Lão sống một thân một mình trong cô đơn, vất vả. Lão chỉ có đứa con trai duy nhất để nương tựa tuổi già thì anh ta lại phẫn chí bỏ đi phu đồn điền cao su- “cao su đi dễ khó về”. Lão Hạc đành thui thủi làm thuê, làm mướn kiếm ăn lân hồi, đồng thời cố nhặt nhạnh, dành dụm cho con.

    Nhưng một trận ốm đã làm lão trở nên tay trắng. Sức yếu dần “những công việc nặng không làm được nữa”, việc nhẹ thì “đàn bà tranh hết”. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu trên mảnh vườn bị phá sạch sành sanh. Gạo cứ kém dần. “Một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo mà gia sự còn đói deọ đói dắt. Cuối cùng lão phải ăn khoai. Khoai cũng hết. Bắt đầu từ đây, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ôc.

    Thực ra tình cảnh lão Hạc đã làm gì bế tắc đến thế. Lão còn mảnh vườn đó, con chó vàng đó, có thể bán đi mà tiêu. Nhưng lão sống vì con chứ đâu vì mình. Điều này mấy ai hiểu cho lão. Người ta chỉ thấy lão lẩm cẩm. Có ông giáo hàng xóm là người có lòng ái ngại, nhưng vừa bày tỏ với vợ đã bị thị gạt phắt ngay: “Cho lão chết! Ai bão lão có tiền mà chịu khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Con mình cũng đóiCòn Binh Tư, một gã lưu manh chuyên đánh bả chó thì lại lấy làm khoái chí khi thấy lão đến xin mình một ít bả. Hắn tưởng đâu lão Hạc “đói quá hoá liều” cũng quay sang trộm cắp như hắn. Hắn bĩu môi: “Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chẳng vừa đâu”. Ngay đến ông giáo tuy hiểu lão Hạc hơn cả mà cũng đâm ra nghi ngờ.

    Người ta chỉ hiểu lão khi lão đã chết rồi. Lão tự tử bằng nắm bả chó của Binh Tư. Lão chết đi nhưng sẽ còn sống mãi trong lòng người như một tấm gương đạo đức hiếm có.

    Hiếm có người cha nào thương con như lão Hạc. Nghèo khó nhưng lúc nào cũng nghĩ đến bổn phận làm cha, lo làm tròn bổn phận ấy, dẫu có phải chịu khổ, chịu đói và chết bi thảm. Hình ảnh đứa con trái, nỗi lo chu tất cho con luôn ám ảnh, dằn vặt tâm trí lão. Hồi anh ta còn ở nhà, lão không cho anh ta bán vườn để cưới vợ cũng là xuất phát từ sự tính toán điều hơn lẽ thiệt của bậc làm cha. Thực ra lão dằn lòng lắm. Bởi đạo làm cha phải lo cho con một người vợ, một căn nhà – một tổ ấm gia đình. Song tình cảnh lão thì lo chưa chu toàn được. Anh con trai phẫn chí ra đi, ngày về khó hẹn, lão lại đã già. Đã bao lần, lão ngỏ tâm sự này với ông giáo: tiền hoa lợi trong vườn, tiền bán con chó vàng, mảnh vườn, lão không giám đụng đến, vì đây là tiền của con, là tiền mà người làm cha phảiđể lại cho con. Nếu không, không phải “đạo”. Đã bao lần lão tính tiền bòn vườn sủa con, “không cho bán là ta chỉ có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu!… Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó, đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào cho nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn”. Lão đã làm y như thế. Thà ăn khoai, ăn củ chuối, củ ráy… chứ lão không ăn vào tiền của con, không chịu bán mảnh vườn của con. Bao nhiêu tiền nhặt nhạnh được từ mảnh vườn, lão gửi tất cả nhờ ông giáo giữ hộ. Rồi lão chết để không bao giờ phải đụng đến. ôi, lão Hạc, con người bề ngoài thì có vẻ tiều tuỵ và gàn dở như vậy mà thật giàu tình nặng nghĩa. Mà đâu chỉ đối với đứa con. Tấm lòng nhân hậu của lão còn thể hiện ở cái tình rất nặng với con chó vàng mà lão gọi là “cậu vàng” như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Cứ xem cái cách lão nựng con chó: “À không! À không! Cậu vàng của ông ngoan lắm! ông không cho giết… ông để cậu vàng ông nuôi”…, hay cái vẻ mặt vô cùng đau khổ của lão khi kể cho ông giáo nghe lão đã bán con chó. “Mặt lão tự nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít”, đủ thấy lão thương xót con chó và cảm thấy mình có tội như thế nào khi phải bán nó đi.

    Chân thật, chất phác, đôn hậu, tràn đầy tình thương và trách nhiệm, lão Hạc cũng thật giàu lòng tự trọng. Đối với ông giáo, người lão tin tưởng và quý trọng đến thế, lão cũng vẫn giữ ý để khỏi bị coi thường. Lão đói đấy, lão phàn nàn “kiếp người như lão cũng khổ như kiếp chó” đấy, nhưng khi ông giáo mời lão ăn khoai, uống nước chè tươi, lão đã từ chối. Lão dứt khoát “từ chối tất cả”. Khi ông giáo giấu vợ, thỉnh thoảng muốn ngấm ngầm giúp đỡ lão một chút gì, lão từ chối “một cách gần như hách dịch”. Rồi lão cứ cố ý xa ông giáo dần dần.

    Cuối cùng thì lão Hạc chết. Chủ động tìm đến cái chết, một cái chết bi thảm, khốc liệt như là cái chết của một con người cao quý. Bởi qua cái chết này, tất cả những phẩm giá cao đẹp của lão ánh lên, chiếu sáng thăm thẳm vào lòng người.

    Gần đây người ta đã dựng phim về các nhân vật của Nam Cao – phim Làng Vũ Đại ngày ấy. Nhà văn Kim Lân được mời đóng vai lão Hạc. Kim Lân đã nghiền ngẫm kĩ về nhân vật của mình, ông nói: “Lão Hạc không chỉ là một người nghèo, đó là một con người có nhân cách, tự trọng và bất khuất”. Chúng ta cũng hoàn toàn đồng ý với Kim Lân. Ta còn thấy rằng những phẩm chất ấy của lão Hạc đã cho ta những suy nghĩ sâu sắc. Cái chết của lão Rạc đã để lại cho chúng ta, cùng với nỗi xót thương vô hạn là nhiều bài học quý. Bài học sâu sắc nhất là trong bất kì thân phận nào, hoàn cảnh nào cũng phải giữ danh hiệu con người cao quý. Giữa người với người phải có trách nhiệm với nhau hơn, phải hiểu biết để đánh giá đúng và cảm thông với người khác hơn, phải tin tưởng hơn ở con người và cuộc đời. Và phải biết căm ghét xã hội bất công, những thế lực độc ác vùi dập, đày đọa những con người như lão Hạc.

    Vợ ông giáo từng nói về lão Hạc: “Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ. Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ!”. Nhưng thực ra sống làm người, có những điều dù khổ, dù phải tự làm khổ mình cũng phải giữ. Chết cũng giữ! Đó là những điều thuộc vềđạo lí, nhân cách làm người như lão Hạc đã giữ. Vì thế, đã hơn 60 năm (truyện Lão Hạc ra đời năm 1943), lão Hạc vẫn sống cùng chúng ta,sẽ còn sống cùng chúng ta. Và dẫu cho cuộc đời này còn nhiều nỗi đáng buồn nhưng có những con người như lão Hạc thì cuộc đời “chưa hẳn đã đáng buồn”.

    Như vậy chúng tôi đã gợi ý Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên bài tiếp theo, các em chuẩn bị cho phần Em hãy nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc qua đoạn trích và cùng với phần Em có suy nghĩ gì về cái chết của lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên để có thể hiểu rõ hơn về nội dung này.

    Bài mẫu số 2: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Viết về đề tài nông dân trước cách mạng, “‘Lão Hạc” là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của nhà văn Nam Cao. Một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn bất hạnh và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao ám ảnh khi nghĩ về số phận con người, số phận người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ.

    1. Lão Hạc, một con người nghèo khổ, bất hạnh. Ba sào vườn, một túp lều, một con chó vàng… đó là tài sản, vốn liếng của lão. Vợ chết đã lâu, cảnh gà trống nuôi con, lão lần hồi làm thuê kiếm sống. Đứa con trai độc nhất không có trăm bạc để cưới vợ, cảm thấy “nhục lắm” đã “phẫn chí” đi phu đồn điền cao su Nam Kỳ, biền biệt năm, sáu năm chưa về. Tuổi già, sống cô quạnh, nỗi bất hạnh ngày thêm chồng chất. Lão Hạc chỉ còn biết làm bạn với con chó vàng. Lão bị ốm một trận kéo dài 2 tháng 18 ngày. Không một người thân bên cạnh đỡ đần, săn sóc cho một bát cháo, một chén thuốc! Tinh cảnh ấy thật đáng thương! Tiếp theo một trận bão to, cây trái hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Làng mất nghề sợi. Đàn bà con gái trong làng đi làm thuê rất nhiều, giành hết mọi việc. Sau trận ốm, lão Hạc yếu hẳn đi, chẳng ai thuê lão đi làm nữa. Thất nghiệp! Giá gạo mỗi ngày một cao. Lão và cậu Vàng, mỗi ngày ăn hết ba hào gạo mà vẫn “đói deo đói dắt”. Bao nhiêu tiền bán hoa lợi trong vườn dành dụm được bấy lâu nay, lão đã chi tiêu gần hết trong trận ốm!

    ”Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần (…). Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?”. Nhân vật ông giáo đã nghĩ như thế khi nghe lão Hạc nói về ý định phải bán con chó. Cậu Vàng “ăn khỏe”, mỗi ngày cậu ấy ăn “bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào”. Lão Hạc rất yêu cậu Vàng, nhưng “lấy tiền đâu mà nuôi được?” Lão Hạc phải bán cậu Vàng cho thằng Xiên, thằng Mục… Bán cậu Vàng xong, lão Hạc bị đẩy sâu xuống đáy vực bi thảm. Lão cảm thấy mình là một kẻ “tệ lắm”, đã già mà còn “đánh lừa một con chó”. Đói khổ, túng bấn, cô đơn… ngày một thêm nặng nề… lão Hạc chỉ ăn khoai, ăn củ chuối, ăn sung luộc, ăn rau má, thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai bữa ốc. Lão từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo một cách “gần như là hách dịch”. Lão xa ông giáo dần, chỗ dựa tinh thần của lão bấy lâu nay. Lão Hạc đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm: đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, tru tréo, bọt mép sùi ra… vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết! Cái chết thật là dữ dội!

    Số phận một con người, một kiếp người như lão Hạc thật đáng thương. Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót đối với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết thê thám. Chí Phèo tự sát bằng mũi dao, Lang Rận thắt cổ chết… Và lão Hạc đã quyên sinh bằng cái bả chó! Lão Hạc đã từng hỏi ông giáo: ”… nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?”. Câu hỏi ấy đã thể hiện nỗi đau khố tột cùng của một kiếp người.

    2. Lão Hạc, một con người chất phác, hiền lành, nhân hậu. Lão rất yêu con. Biết con buồn vì không có tiền để cưới vợ lão thương con lắm…. Lão đau đớn khi con sắp đi làm phu đồn điền cao su. Lão chỉ biết khóc: “Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi (…). Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi ?”. “Cao su đi dễ khó về” (Ca dao). Con trai lão Hạc đã đi “bằn bặt” năm, sáu năm chưa về. Hoa lợi trong vườn, bán được bao nhiêu lão dành dụm cho con, hi vọng khi con trở về “có chút vốn mà làm ăn”. Lão tự bảo: “Mảnh vườn là của con ta… Của mẹ nó tậu thì nó hưởng…”. Đói khổ quá, nhưng lão Hạc đã giữ trọn vẹn ba sào vườn cho con. Lão đã tìm đến cái chết, thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Tất cả vì con, một sự hi sinh thầm lặng cực kì to lớn!

    Lòng nhân hậu của lão Hạc được thể hiện sâu sắc đối với con chó vàng, mà người con trai để lại. Lão quý nó, đặt tên nó là “cận Vàng”. Cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu. Bắt rận hoặc đem nó ra cầu ao tắm. Lão ăn gì cũng chia cho cậu Vàng cùng ăn. Lão ngồi uống rượu, cậu Vàng ngồi dưới chân, lão nhắm một miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Lão tâm sự với cậu Vàng như tâm sự với một người thân yêu ruột rà: “Cậu Vàng của ỏng ngoan lắm! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi…”. Có thể nói, cậu Vàng được lão Hạc chăm sóc, nuôi nấng như con, như cháu; nó là nguồn vui, chỗ dựa tinh thần, nơi san sẻ tình thương, giúp lão Hạc vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn, cay đắng. Cậu Vàng là một phần cuộc đời lão Hạc. Nó đã tỏa sáng tâm hồn và làm ánh lên bản tính tốt đẹp của ông lão nông đau khổ, bất hạnh này. Vì thế, sau khi bán cậu Vàng đi, từ túng quẫn, lão Hạc chìm xuống đáy bể bi kịch, dẫn đến cái chết vô cùng thảm thương.

    3. Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng. Trong đói khổ cùng cực phải ăn củ chuối, củ ráy… ông giáo mời lão ăn khoai, uống nước chè, lão cười hồn hậu và khất “ông giáo cho để khi khác”. Ông giáo ngấm ngầm giúp đỡ, lão từ chối “một cách gần như hách dịch”. Bất đắc đĩ phải bán con chó; bán xong rồi, lão đau đớn, lương tâm dằn vặt: “thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai, như một lời nguyền đinh ninh: “Cái vườn là của con ta (…). của mẹ nó tậu thì nó hưởng”. Tnrớc khi chết, lão gửi lại ông giáo mảnh vườn cho con, và gửi lại 30 đồng bạc đê “lỡ có chết… gọi là của lão có tí chút…”, vì lão không muốn làm phiền đến hàng xóm. Nam Cao đã tinh tế đưa nhân vật Binh Tư, một kẻ “làm nghề ăn trộm” ở phần cuối truyện, tạo nên một sự đối sánh đặc sắc, làm nổi bật tấm lòng trong sạch, tự trọng của lão Hạc, một lão nông chân quê đáng trọng.

    Tóm lại, cuộc đời của lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất hạnh. Sống thì âm thầm, nghèo đói, cô đơn; chết thì quằn quại, đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có bao phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, vị tha, nhân hậu, trong sạch và tự trọng… Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ được Nam Cao miêu tả chân thực, với bao trân trọng xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết.

    Bài mẫu số 3: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật lão Hạc – dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.

    Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ôm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,…

    Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử…! Cái chết của

    lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên… Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.

    Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.

    Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,… ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,… là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.

    Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!

    Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Caor..) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch” khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn đi. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!

    Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người – kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng. Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, định khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!

    Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.

    Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.

    Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.

    Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.

    Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiệm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!

    Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dân Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.

    Bài mẫu số 4: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Qua nhiều tác phẩm, tác giả đã vẽ nên khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Sự đói khổ ám ảnh nhà văn bởi nó ảnh hưởng không ít tới nhân cách, nhưng trong cảnh nghèo đói thê thảm, phẩm chất tốt đẹp của người nông dân vẫn tồn tại và âm thầm tỏa sáng. Truyện ngắn Lão Hạc thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Trong đó, nhân vật chính là một nông dân gặp nhiều nỗi bất hạnh vì nghèo đói nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng.

    Vợ mất sớm, lão Hạc dồn tất cả tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất. Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được hạnh phúc, nhưng con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ.

    Thương con, lão thấu hiểu nỗi đau của con khi anh nghe lời cha, không bán mảnh vườn để lấy tiền cưới vợ mà chấp nhận sự tan vỡ của tình yêu. Càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện, đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền đất đỏ mãi tận Nam Kì. Mỗi khi nhắc đến con, lão Hạc lại rơi nước mắt.

    Lão Hạc rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai. Lão trìu mến gọi là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn. Suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng. Với lão, con Vàng là hình bóng của đứa con trai yêu quý, là người bạn chia sẻ cô đơn với lão. Vì thế nên bao lần định bán con Vàng mà lão vẫn không bán nổi.

    Nhưng nếu vì nhớ con mà lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát chia tay với nó. Lão nghèo túng quá! Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ cũng mất hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được… Thôi bán phắt đi, đỡ đồng nào hay đồng ấy. Bây giờ, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con. Tiêu lắm chỉ chết nó!

    Thế là vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý. Đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa. Lão kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động cực độ. Lão đau khổ dằn vặt vì cảm thấy mình đã đánh lừa một con chó. Nỗi khổ tâm của lão cứ chồng chất mãi lên. Trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con, thì bây giờ cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm day dứt là đã cư xử không đàng hoàng với một con chó. Lão cố chịu đựng những nỗi đau đớn ấy cũng chỉ nhằm một mục đích là giữ gìn chút vốn cho con.

    Biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con chính là cái chết của lão. Ông lão nông dân nghèo khổ ấy đã tính toán mọi đường: Bây giờ lão chẳng làm gì được nữa… Cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu dành dụm cho nó, ta không được ăn vào của nó… Ta không thể bán vườn để ăn… Chính vì thương con, muốn giữ cho con chút vốn giúp nó thoát khỏi cảnh nghèo mà lão Hạc đã chọn cho mình cái chết. Đó là một sự chọn lựa tự nguyện và dữ dội. Nghe những lời tâm sự của lão Hạc với ông giáo, không ai có thể kìm nổi lòng xót thương, thông cảm và khâm phục. Một con người vì nghèo đói mà bất hạnh đến thế là cùng! Một người cha thương con đến thế là cùng!

    Không chỉ có vậy, qua từng trang truyện, chúng ta còn thấy lão Hạc là người đôn hậu, chất phác. Suốt đời, lão sống quanh quẩn trong lũy tre làng. Trong làng chỉ có ông giáo là người có học nên lão tìm đến ông giáo để chia sẻ tâm sự. Lời lẽ của lão Hạc đối với ông giáo lúc nào cũng lễ phép và cung kính. Đó là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông. Cảnh ngộ lão Hạc đã đến lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, xoay xở, cố giữ nếp sống trong sạch, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn. Thậm chí, lão kiên quyết từ chối sự giúp đỡ chỉ vì lòng thương hại.

    Lão đã chuẩn bị kĩ lưỡng mọi việc. Trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất. Lão không muốn mọi người phải tốn kém vì lão. Rất có thể vì tốn kém mà người ta lại chẳng oán trách lão sao? Không phiền lụy đến mọi người, đó cũng là cách để giữ gìn phẩm giá. Thì ra ông lão có vẻ ngoài gàn dở ấy lại có phẩm chất đáng quý biết nhường nào!

    Nhà văn Nam Cao đã giúp chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, bất hạnh vì nghèo đói cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Từ những trang sách của Nam Cao, hình ảnh lão Hạc luôn nhắc chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà trong sạch với một tình cảm trân trọng và yêu quý.

    Bài mẫu số 5: Hãy phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên

    Cùng với Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nam Cao là tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán, luôn hướng về người nông dân, phản ánh hiện thực đời sống của người nông dân trước Cách mạng. Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm đặc sắc của Nam Cao, nó như một điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông.

    Nam Cao luôn trăn trở về số phận của người nông dân lương thiện trong xã hội phong kiến. Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên là chân dung của một lão nông Việt Nam đáng thương và đáng kính. Số phận của Lão Hạc thật đáng thương bởi cái nghèo nàn, túng thiếu. Vợ mất sớm, lão dồn tình thương nuôi con khôn lớn. Khi đứa con trai đến tuổi lấy vợ, lão tính chuyện cưới vợ cho con, nhưng vì nghèo túng mà người ta lại thách cưới nặng quá nên con trai không cưới được vợ. Thất vọng, đứa con bỏ nhà ra đi làm phu đồn điền ở Nam Kì. Khi con đi rồi, lão cô đơn, sống trong hiu quạnh. Bấy giờ, chỉ có con Vàng là nguồn vui của lão. Cậu Vàng được lão chăm sóc chu đáo. Lão xem cậu Vàng như một đứa trẻ cần sự chăm sóc, yêu thương. Lão nhân hậu ngay cả với con chó của mình. Tội nghiệp cho số phận ông lão. Cuộc đời túng quẫn, nghèo khó cứ đeo đẳng bên ông. Vợ chết để lại mảnh vườn ba sào, nhưng lão nhất quyết không bán dù cho nghèo khó. Lão tự bảo: Cái vườn là của con ta … của mẹ nó tậu thì nó được hưởng. Lão nghĩ vậy và làm đúng như vậy. Tất cả hoa lợi thu được lão bán để dành dụm riêng chờ ngày con về cưới vợ. Cảm thương cho ông lão đã vò võ trông con về làng, lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về cũng có được trăm đồng bạc. Nhưng hy vọng chẳng có, thất vọng lại về, lão bị một trận ốm đúng hai tháng mười tám ngày, bao nhiêu vốn liếng dành dụm được đều sạch nhẵn. Sau trận ốm, người lão yếu quá, không làm được việc nặng, việc nhẹ thì người ta tranh hết, lão phải cầm hơi qua ngày bằng củ chuối, củ ráy, con ốc, con trai…

    Vì không kiếm được tiền để sống, lại sợ tiêu lạm vào tiền của con nên lão quyết định tìm đến cái chết. Lão chết để con lão khỏi trắng tay. Thật cảm động biết bao về tấm lòng yêu thương bao la và đức hi sinh cao cả của một người cha khốn khổ! Số phận của lão thật bi thương. Nghèo đến nỗi phải bán đi con Vàng mà lão yêu thương, gắn bó. Kể lại việc bán chó với ông giáo, lão đau đớn xót xa: mặt lão đột nhiên rúm lại, những nép nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc… lão khóc vì thương chó, và cảm thấy mình là kẻ lừa dối khi bán cậu Vàng. Số phận của lão thật bi thương nhưng lão không đánh mất phẩm giá của mình. Đến bước đường cùng lão luôn nghĩ đến con mà chẳng nghĩ đến mình. Lão đủ can đảm để nghĩ đến chuyện kết thúc cuộc đời để không làm phiền đến ai. Lão từ chối mọi sự thương hại của người khác, cho dù đó là sự cưu mang chân tình. Ngay cả ông giáo, người hàng xóm gần gũi nhất và tin tưởng nhất, ông cũng từ chối sự giúp đỡ. Lão Hạc còn nghĩ đến cái chết không làm phiền lòng người khác. Lão nhịn ăn, tích góp được hai lăm đồng cộng với năm đồng bán chó, lão gửi ông giáo nhờ làm đám ma cho lão. Trước khi chết, lão còn nghĩ đến hạnh phúc của con. Lão viết văn tự nhượng mảnh vườn cho ông giáo để không ai còn mơ tưởng, dòm ngó đến, khi nào con lão về thì sẽ nhận vườn làm. Tuy lão nghèo khó, lại bị xã hội bỏ rơi nhưng lão vẫn giàu đức hi sinh, giàu tình thương và giữ vững phẩm chất cao đẹp của mình.

    Hình ảnh Lão Hạc chết thật thê thảm. Lão mượn miếng bả chó để tự kết liễu đời mình. Tội nghiệp cho lão quá! Lão vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra… Cái chết đau đớn của lão đã làm sáng tỏ thêm phẩm chất cao đẹp của người nông dân hướng thiện. Tuy sống trong cái xã hội đầy bóng tối, nhưng tâm trí lão vẫn sáng ngời, tính cách của lão thật cao quí. Cả đời lão nghèo đói nhưng không làm mất đi tấm lòng đôn hậu, trong sáng của mình.

    Với bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, xen kẽ tự sự, Nam Cao đã gợi cho ta niềm cảm thương vô hạn đối với những người nông dân nghèo khổ. Ngòi viết của Nam Cao là tiếng nói cảnh tỉnh về một xã hội thiếu công bằng, không quan tâm đến người nghèo, chà đạp lên số phận của con người lương thiện.

    Nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài đã được xây dựng vô cùng độc đáo với những đặc điểm tiêu biểu cho số phận và tính cách, phẩm chất của người phụ nữ miền núi Việt Nam. Khi phân tích nhân vật Mị, các em học sinh cần chú ý làm nổi bật những ý chính như vậy. Bên cạnh đó, đề văn phân tích nhân vật Tnú của nhà văn Nguyễn Trung Thành và nêu cảm nhận nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê cũng là những đề văn tương đối quan trọng nhằm hỗ trợ đắc lực em trong quá trình rèn luyện kĩ năng phân tích và phát biểu cảm nghĩ về nhân vật văn học.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/hay-phan-tich-nhan-vat-lao-hac-trong-tac-pham-cung-ten-41583n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Theo Em, Tôi Trong Văn Bản Lão Hạc Là Ai? Em Có Suy Nghĩ Gì Về Nhân Vật “tôi”? ( Viết 3
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 (3 Cột)
  • Đoạn Văn Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên Của Nhà Văn Nam Cao
  • Số Phận Và Tính Cách Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên Của Nhà Văn Nam Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Đoạn Văn Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 (3 Cột)
  • Theo Em, Tôi Trong Văn Bản Lão Hạc Là Ai? Em Có Suy Nghĩ Gì Về Nhân Vật “tôi”? ( Viết 3
  • 5 Bài Văn Mẫu Hãy Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Con Người Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Cùng Tên Của Nam Cao
  • Đề bài: Phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao

    Bài làm

    Nam Cao được biết đến là một trong số nhà văn hiện thực xuất sắc nhất trong giai đoạn văn học năm 1930 – 1945. Đề tài mà nhà văn Nam Cao chọn lựa đó chính là những người trí thức nghèo, những người nông dân nghèo họ bị bần cùng hóa. Tập trung khắc họa hình ảnh người nông dân trong xã hội cũ không thể không nói đến hình ảnh nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của ông.

    Có thể cảm nhận được chính sự đói khổ ám ảnh nhà văn bởi nó ảnh hưởng không ít tới nhân cách của những người dân lương thiện. Thế nhưng trong cảnh nghèo đói thê thảm, thì dường như các phẩm chất tốt đẹp của người nông dân vẫn tồn tại và âm thầm tỏa sáng biết bao nhiêu. Nhân vật Lão Hạc là một nhân vật như vậy. Lão Hạc chính là một người nông dân gặp nhiều nỗi bất hạnh vì nghèo đói nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng và luôn luôn biết giữ gìn nhân phẩm của chính mình.

    Lão Hạc được khắc họa lên là một nhân vật đáng thương, hoàn cảnh. Vợ lão mất sớm, Lão Hạc dường như cũng đã dồn tất cả tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất của mình. Và chắc chắn là Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được hạnh phúc. Thế nhưng sự thật đáng buồn biết bao nhiêu khi người con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ cho con nữa. Lão Hạc thương con, lão thấu hiểu nỗi đau của con trai khi nghe lời cha, không bán mảnh vườn để dành lấy tiền cưới vợ mà anh cũng chấp nhận sự tan vỡ của tình yêu. Có thể nói rằng Lão Hạc càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện được. Cho đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền cao su ở mãi tận Nam Kì với biết bao nhiêu là khó nhọc. Để rồi khi nhắc đến con lão thì lão cũng ứ nước mắt ra khóc vì thương con.

    Anh con trai đi đồn điền cao su, ở nhà Lão Hạc chỉ có duy nhất con chó làm bạn. Lão Hạc cũng rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai để lại cho lão. Lão Hạc dường như yêu thương con chó lắm, lão cứ trìu mến gọi là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn và hay gắp thức ăn cho nó lắm. Cứ suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng kể chuyện. Thực sự giờ đây thì với lão, con Vàng cũng chính là hình bóng của đứa con trai yêu quý, đồng thời cũng chính là người bạn chia sẻ cô đơn với lão Hạc.

    Nhưng điều gì đến thì nó vẫn đến, nếu vì nhớ con mà Lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì đó cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát phải bán cậu Vàng đi. Lão Hạc như cũng thật nghèo túng hơn, Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ ra thì cũng mất hai hào đấy. Lão Hạc nghĩ cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được cậu Vàng. Lão Hạc bán cậu Vàng để đỡ đồng nào hay đồng ấy, lão luôn luôn sợ tiêu vào tiền của con trai số tiền mà lão dành lại cho con.

    Lão Hạc hiện lên là một người cha có tình yêu thương vô bờ bến. Lão Hạc cũng chỉ vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà dường như chính Lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý, một người bạn gần gũi với lão nhất. Có thể nhận thấy được rằng mặc dù là lão Hạc cũng đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa. Lão Hạc dường như cũng đã lại kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động và buồn tủi biết bao nhiêu. Lão Hạc khi bán cậu Vàng cũng luôn luôn đau khổ dằn vặt lắm bởi vì cảm thấy mình đã đánh lừa một con chó. Thực sự cũng chính nỗi khổ tâm của lão cứ chồng chất mãi lên khiến cho lão òa khóc như một đứa con nít. Có thể nói trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con đã khiến cho lão day dứt lắm thì bây giờ cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm đau khổ khi đã trót đánh lừa một con chó. Có thể nhận thấy được ở lõa Hạc dường như hiện lên là một người nông dân lương thiện và có được tấm lòng nhân hậu, yêu thương.

    Người đọc cũng còn nhận thấy được chính với biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con chính là cái chết của lão. Lão Hạc – một lão nông dân nghèo khổ ấy đã tính toán mọi đường cho đến khi lão cảm nhận thấy được “Bây giờ lão chẳng làm gì được nữa” ngay cả cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu dành dụm cho nó, ta không được ăn vào của nó, lão Hạc cũng càng không thể bán vườn để ăn được. Xuất phát từ tình thương con và mong muốn có được một chút vốn để mong cho con thoát được cái đói nghèo mà lão Hạc đã chọn cho mình cái chết. Có thể coi cái chết của lão Hạc cũng chính là một sự chọn lựa tự nguyện và dữ dội biết bao nhiêu. Trong xã hội cũ khi có biết bao nhiêu thân phận của những người nông dân họ cũng đã bị bần cùng hóa và nếu như phản kháng lại cũng không được cho nên người người đã chọn con đường tha hóa còn ở lão Hạc thì lão lại chọn cho mình cái chết. Một cái chết vô cùng dữ dội để có thể bảo vệ được lòng tự trọng của chính mình, bảo vệ được số tiền mà lão đã để dành bấy lâu cho con trai lão.

    Nhân vật lão Hạc còn hiện ra chính là một người đôn hậu, chất phác. Suốt đời lão Hạc dường như cũng sống quanh quẩn trong lũy tre làng mà thôi. Lão cũng đã tìm đến nhà ông giáo để chia sẻ tâm sự. Lời lẽ của Lão Hạc đối với ông giáo lúc nào cũng lễ phép và cung kính nữa. Và thực chất đó cũng chính là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông chịu thương chịu khó và hiền lành. Có thể nhận thấy được chính cảnh ngộ Lão Hạc đã đến lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, cũng tư xoay xở, cố giữ nếp sống trong sạch, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn của một bộ phận người nông dân trong xã hội cũ. Người ta còn nhận thấy ở lão Hạc luôn luôn có lòng tự trọng cao, lão luôn từ chối mọi sự giúp đỡ chỉ vì lòng thương hại.

    Lão Hạc còn là một người lo xa và cẩn thận. Ngay cả lúc trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để có thể giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất cho mình nữa. Lão Hạc dường như cũng không muốn mọi người phải tốn kém vì lão nữa. Thông qua đây người ta cũng nhận thấy được ở nhân vật lão Hạc có những phẩm chất vô cùng đáng quý biết nhường nào, nhất là trong bối cảnh xã hội đen tối lúc bấy giờ.

    Nhà văn Nam Cao cũng thật tài tình biết bao nhiêu khi ông cũng đã giúp chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, biết bao nhiêu những bất hạnh vì nghèo đói cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Thông qua hình ảnh Lão Hạc luôn nhắc chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà ở họ dường như vẫn giữ được lối sống trong sạch với một tình cảm trân trọng và yêu quý biết bao nhiêu.

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Phận Và Tính Cách Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Tác Phẩm Lão Hạc Có Đáp Án
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Lão Hạc
  • Kể Lại Truyện Lão Hạc Theo Lời Văn Của Em
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Tác Phẩm Lão Hạc Có Đáp Án

    --- Bài mới hơn ---

  • Số Phận Và Tính Cách Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên Của Nhà Văn Nam Cao
  • Đoạn Văn Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 (3 Cột)
  • Theo Em, Tôi Trong Văn Bản Lão Hạc Là Ai? Em Có Suy Nghĩ Gì Về Nhân Vật “tôi”? ( Viết 3
  • Tham khảo các đề văn về tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao hay nhất có lời giải chi tiết và bài văn mẫu do Đọc Tài Liệu sưu tầm, chọn lọc và tổng hợp nhằm biết thêm nhiều dạng bài có thể sẽ gặp trong các đề kiểm tra, đề thi học kỳ hay đề thi học sinh giỏi.

    Đề 1

    Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

    Hướng dẫn làm bài

    Chúng ta đã từng học qua những truyện như Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lần nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lý thú. Nó cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gọi về chan chứa những yêu thương.

    Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Nó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trân trọng người lao động của Nam Cao. Giống như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hy sinh.

    Trước cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thâm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn.

    Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến: thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỳ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống? Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân ta trước cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác.

    Lão Hạc chết. Cái chết của Lão Hạc sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nồng dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Cái chết của Lão Hạc thay cho lời tố cáo cái xã hội phi nhân đạo – một thứ sản phẩm hỗn tạp của phong kiến, thực dân.

    Đọc Lão Hạc ta thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Những hạng người như Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Đó là ông giáo, một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo, đói cơm. Cái nghèo khiến ông giáo đã phải rứt ruột bán đi từng cuốn sách vô giá của mình. Nhưng cái thứ ấy bán đi thì được mấy bữa cơm? Vậy ra ở trong truyện tất cả đã đều là Lão Hạc. Lão Hạc phải oằn mình mà chết trước thử hỏi những người kia có thể cầm cự được bao lâu?

    Ở tác phẩm Lão Hạc, ta có thấy niềm tin và sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Nó cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người. Từ chiều sâu của nội dung tư tưởng, tác phẩm nói lên tính cấp bách và yêu cầu khẩn thiết phải thay đổi toàn bộ môi trường sống để cứu lấy những giá trị chân chính và tốt đẹp của con người.

    Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh khỏng phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách

    2. Giải thích nhận định của tác giả Hoàng Thị Thương: khẳng định phẩm chất của nhân vật lão Hạc: giàu lòng tự trọng và tình yêu thương.

    3. Khái quát hoàn cảnh nhân vật lão Hạc: là một người nông dân nghèo: sống cô đơn, cùng quẫn, chết một cách đau đớn, số phận của lão thê thảm.

    4. Phẩm chất của nhân vật:

    a. Lão Hạc là một người cha giàu lòng yêu thương con.

    – Khi con trai không lấy được vợ phẫn chí bỏ đi, lão rất thương con; ngày đêm mong ngóng tin tức của con, lão day dứt vì chưa làm tròn bổn phận của người cha.

    – Lão chăm sóc, yêu thương con Vàng vì một phần đó là kỉ vật con lão để lại, lão hi vọng ngày con trở về.

    – Tình yêu thương con của lão Hạc được thể hiện rõ nhất qua việc: Lão tìm mọi cách để giữ lại mảnh vườn cho con trai, lão thà chết chứ nhất định không bán đi một sào. Tình cha con của lão Hạc là một tình cảm thiêng liêng và cảm động, lão đã chết để trọn đạo làm cha.

    b. Lão Hạc là một người nông dân giàu lòng tự trọng:

    – Lão không muốn phiền luỵ hàng xóm, đã nhịn đói để dành tiền nhờ hàng lo ma chay cho mình.

    – Khi bị đẩy vào hoàn cảnh túng quẫn, lão không chấp nhận sự thương hại của mọi người. Lão đã từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo.

    – Lão lựa chọn cái chết một phần cũng vì lão không muốn sống cuộc sống bất lương như Binh Tư.

    – Cái chết của lão xuất phát từ lòng tự trọng đáng kính.

    5. Đánh giá, tổng hợp:

    – Khẳng định những phẩm chất của lão Hạc ngời sáng trong hoàn cảnh tăm tối nhất; đói khổ, đớn đau không khuất phục nổi.

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn: lựa chọn ngôi kể, miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện

    – So sánh, đối chiếu, mở rộng các nhân vật khác.

    Đề 3

    Nỗi đau đớn và vẻ đẹp của người nông dân trước cách mạng tháng Tám qua hình tượng nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn”(Ngô Tất Tố) và Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

    Hướng dẫn làm bài

    A. Mở bài:

    Giới thiệu nhân vật chị Dậu với tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và nhân vật Lão Hạc với tác phẩm ” Lão Hạc” của Nam Cao.

    B. Thân bài:

    – Phân tích số phận của của chị Dậu, lão Hạc để thấy được nỗi đau đớn về thể xác lẫn tinh thần của họ…( Dẫn chứng)

    – Phân tích những phẩm chất làm nên vẻ đẹp của người nông dân: Lão Hạc đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương yêu con. Chị Dậu thông minh, đảm đang, tháo vát , yêu chồng, thương con ,…( Dẫn chứng)

    – Khái quát: Chị Dậu và lão Hạc chính là hình ảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, họ bị xã hội Phong kiến bần cùng hoá, đau đớn về thể xác lẫn tinh thần….. nhưng tâm hồn họ vẫn trong sáng, thuỷ chung, giàu lòng tự trọng….. Đó là nét đẹp ngàn đời của người nông dân Việt nam…..

    C. Kết bài:

    – Suy nghĩ về số phận người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.

    – Liên hệ hình ảnh người nông dân ngày nay….

    Đề 4

    Cuộc đời và tính cách của người nông dân Việt Nam qua hai văn bản: Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Lão Hạc (Nam Cao)

    Hướng dẫn làm bài

    a. Mở bài.

    – Giới thiệu về Ngô Tất Tố, Nam Cao và đề tài trong sáng tác của hai nhà văn.

    – Hai tác phẩm thành công của hai nhà văn viết về đề tài người nông dân là Tắt đèn và Lão Hạc.

    – Điểm giống và khác nhau giữa hai tác phẩm viết về cùng một đề tài.

    b. Thân bài. b1. Hai tác phẩm đều cho người đọc thấy được về tình cảnh nghèo khổ, bế tắc của người nông dân bần cùng trong xã hội thực dân nửa phong kiến.

    * Cuộc sống khổ cực của lão Hạc.

    – Lão Hạc là một lão nông quay quắt trong nghèo đói và cô quạnh, cả cuộc đời lão là một chuỗi mất mát và bất hạnh.

    + Vợ lão mất sớm, lão phải sống trong cảnh gà trống nuôi con.

    + Khi con trưởng thành, do nghèo quá không cưới nổi vợ, uất ức bỏ nhà đi đồn điền cao su.

    + Cô đơn trong tuổi già, lão chỉ biết làm bạn với cậu vàng – kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại.

    + Nhưng rồi mất mùa, đói kém, ốm đau, lão lâm vào đường cùng phải bán cậu vàng đi. Đây là chấn thương lớn trong tâm hồn và cuộc sống của lão.

    + Lão chết vì dằn vặt, đau khổ, tuyệt vọng.

    * Cuộc sống khổ cực của chị Dậu.

    + Không khí căng thẳng, ngột ngạt của làng Đông Xá trong mùa sưu thuế đã đẩy gia đình chị Dậu vào mức đường cùng: Chị phải bán chó, bán đứa con đứt ruột đẻ ra- chị đứt từng khúc ruột – mà cùng không trả được món nợ nhà nước.

    + Anh Dậu bị chúng đánh trói gần chết nên chị đã liều mạng chống cự lại tên cai lệ. Bị bắt giải lên huyện, chị Dậu vẫn không thoát khỏi những thế lực đen tối của xã hội thực dân phong kiến như tri phủ Tư Ân. Kết thúc truyện là hình ảnh chị Dậu vùng chạy ra ngoài trong khi trời tối đen như mực để chạy trốn lão già.

    b2. Từ hai tác phẩm này chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn cao quý, lòng tận tụy hi sinh vì người thân của những người nông dân ấy.

    * Vẻ đẹp của lão Hạc.

    – Lão Hạc giàu lòng yêu thương và giàu lòng tự trọng.

    + Lão Hạc giàu lòng yêu thương.

    /. Với cậu Vàng: Lão là người nặng tình nghĩa, có tấm lòng mến thương loài vật, con người chung thủy. Lão chăm sóc cậu Vàng, trò chuyện với nó… Khi phải bán cậu Vàng đi, lão lâm vào bi kịch tinh thần đau đớn. Lão đã chọn cái chết đau đớn vật vã như để tự trừng phạt mình và chia se với nỗi đau của cậu Vàng.

    /. Lão Hạc là câu chuyện về tình phụ tử thiêng liêng, cảm động.

    – Lão Hạc luôn canh cánh nỗi nhớ con, mong ngóng con trở về.

    – Mọi hành động của lão đều hướng về con: Sống tằn tiện, chăm chỉ làm việc để vun vén cho con, bán cả cậu Vàng để không phạm vào số tiền dành cho con. Dù đói kém triền miên, lão cũng không bán mảnh vườn. Lão đã chọn cái chết để trọn đạo làm cha, để lại tiếng thơm cho con.

    + Lão Hạc giàu lòng tự trọng.

    – Từ chối sự giúp đỡ của ông Giáo.

    – Gửi ông Giáo tiền để nhờ hàng xóm lo ma chay.

    * Vẻ đẹp của chị Dậu.

    – Chị Dậu là hình tượng đep đẽ, tiêu biểu cho vẻ đẹp của người phụ nữ nông dân trong xã hội xưa.

    + Chị Dậu là người phụ nữ yêu thương chồng: Chăm sóc chồng ân cần, chu đáo, cứu anh khỏi thần chết. Đó là cách yêu thương của một người đàn bà luôn biết che chở và tận tụy . Phẩm chất ấy là

    của người đàn bà tự lực cánh sinh và hết lòng vì trọng trách gia đình.

    + Chị là người phụ nữ không cam chịu, chị có sức mạnh của trí tuệ và lòng can đảm, có sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng tiềm tàng, khi bị đẩy tới bước đường cùng, chị đã vùng dậy chống trả quyết liệt, thể hiện thái độ bất khuất.

    b3. Cuộc đời và tính cách của người nông dân đã được hai nhà văn thể hiện bằng những nét nghệ thuật độc đáo: Khắc họa nhân vật qua lời nói, cử chỉ, nội tâm, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn… c. Kết bài.

    – Khẳng định lại giá trị của hai tác phẩm và rút ra bài học

    Đề 5

    Viết đoạn văn nêu nhận xét của em về nhân vật ông giáo trong truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao.

    Hướng dẫn làm bài

    Đoạn văn đảm bảo được các ý chính sau đây:

    – Ông giáo không phải là nhân vật trung tâm của tác phẩm nhưng sự hiện diện của ông đã làm cho “Bức tranh quê” càng thêm đầy đủ.

    – Là người trí thức được mọi người quý trọng nhưng cuộc sống gia đình cũng cùng quẫn phải bán cả những cuốn sách quý nhất của mình để nuôi sống gia đình.

    – Là người giàu lòng cảm thông, nhân hậu với những người nông dân nghèo

    + Thương yêu lão Hạc: chuyện trò tâm tình, gần gũi, động viên để lão Hạc khuây khỏa bớt nỗi nhớ con, âm thầm giúp đỡ,: thương lão Hạc như thương thân…

    + Không nỡ giận vợ vì ông hiểu con người ta khi quá khổ thì cái bản tính tốt đẹp bị những cái lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.

    Ngoài những ý có tính định hướng trên, GK cần trân trọng những cách đánh giá khác mà thấy hợp lí thì cho điểm phù hợp.

    Hướng dẫn làm bài

    Chi tiết lão Hạc xin Binh Tư được Nam Cao sắp xếp vào phần sau của câu chuyện như là một chi tiết có ý “đánh lừa” dòng cảm xúc của người đọc. Kể về lão Hạc với ông giáo, Binh Tư cho rằng lão “cũng ra phết chứ chẳng vừa đâu”. Sự việc và lời nhận xét ấy đã đẩy những suy nghĩ tốt đẹp của người đọc và ông giáo sang hướng khác (hoài nghi, buồn). Thế nhưng cái chết bất ngờ của lão lại khiến cho cả ông giáo và chúng ta nữa phải giật mình suy ngẫm về số kiếp con người trong xã hội xưa. Cách sắp xếp tình tiết như vậy đã làm nổi bật lên giá trị nhân cách cũng như cái tình thế quẫn bách tột cùng của lão Hạc. Đồng thời cũng hiểu được sự cảm thông sâu sắc của ông giáo đối với lão Hạc. Ý nghĩ của nhân vật “tôi” (có thể coi là tác giả): “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn là những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương (…) Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất” thể hiện một quan niệm và một triết lí sống sâu sắc và tiến bộ. Đây là một thái độ yêu thương, trân trọng nhằm khám phá những nét tốt đẹp của con người.

    Đề 7

    Nhận xét về người nông dân trong văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng 8-1945 có ý kiến cho rằng: “Người nông dân tuy nghèo khổ, lam lũ, ít học nhưng không ít tấm lòng”.

    Bằng hiểu biết của em về nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

    Hướng dẫn làm bài

    1. Mở bài.

    – Dẫn dắt , nêu vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến, nêu phạm vi dẫn chứng.

    2. Thân bài. a. Giải thích.

    – Khái quát hình ảnh người nông dân trước cách mạng tháng 8:

    Họ có cuộc sống nghèo khổ lam lũ, ít học, một cổ hai tròng: Chị Dậu- Tắt đèn- Ngô tất Tố, anh Pha trong Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan, Lão Hạc, Chí Phèo- Nam Cao nhưng họ không ít tấm lòng. Dù cuộc sống và số phận có đẩy họ vào bước đường cùng nhưng họ không ít tấm lòng- giàu tình yêu thương, lòng tự trọng, cứng cỏi mạnh mẽ, nhân hậu… Dù có phải chết, người nông dân vẫn giữ được phẩm tốt đẹp của mình.

    – Lão Hạc là tác phẩm xuất sắc của Nam cao viết về đề tài người nông dân. Từ cuộc đời của Lão Hạc , Nam Cao đã thể hiện chân thực cảm động về số phận đau thương , cuộc sống nghèo khổ lam lũ ít học nhưng vẫn sáng ngời phẩm chất lương thiện, tốt đẹp. Lão là con người không chỉ khổ mà còn rất đẹp.( Quế Hương)

    b. Chứng minh.

    * Lão Hạc là người nông dân nghèo khổ lam lũ ít học.

    – Cảnh ngộ của Lão Hạc thật bi thảm: Nhà nghèo, vợ chết, hai cha con lão sống lay lắt rau cháo qua ngày.

    – Vì nghèo nên lão cũng không đủ tiền cưới vợ cho con nên khiến con trai lão phải bỏ đi làm ở đồn điền cao su.

    – Chính vì nghèo khổ nên ông không có điều kiện học hành vì thế mà lão không biết chữ, mỗi lần con trai viết thư về lão lại phải nhờ ông giáo đọc hộ và cả đến khi muốn giữ mảnh vườn cũng lại nhờ ông giáo viết văn tự hộ.

    – Sự túng quẫn ngày càng đe dọa lão nên sau trận ốm kéo dài, không có việc, rồi bão ập đến phá sạch hoa màu…không lấy tiền đâu để nuôi con Vàng nên lão đã phải dằn lòng quyết định bán cậu Vàng – kỉ vật mà đứa con trai lão để lại.

    – Lão sống đã khổ chết cũng khổ.

    (Hs lấy dẫn chứng phân tích, chứng minh)

    *. Lão Hạc là người nông dân giàu có ở tấm lòng yêu con, giàu đức hi sinh và lòng nhân hậu, trung thực, giàu lòng tự trọng.

    – Lão Hạc cả đời yêu con một cách thầm lặng, chả thế mà từ ngày vợ chết lão ở vậy nuôi con đến khi trưởng thành. Lão chắt chiu dè sẻn để có tiền lo cưới vợ cho con ấy vậy mà cả đời dành dụm cũng không đủ vì thế mà khi chứng kiến nỗi buồn nỗi đau của con lão luôn day dứt đau khổ. (HS lấy dẫn chứng chứng minh)

    – Yêu và thương con nên khi xa con tình yêu con của lão được thể hiện gián tiếp qua việc chăm sóc con chó- kỉ vật mà đứa con để lại. Lão vô cùng đau đớn dằn vặt khi bán con chó vàng. Qua đó thấy được tấm lòng nhân hậu của lão, trung thực, giàu lòng tự trọng.( HS lấy dẫn chứng chứng minh)

    – Thương con lão chọn cho mình một cách hi sinh, đặc biệt là hi sinh cả mạng sống của mình cho con. Mọi hànhđộng của lão đều hướng về con. Lão chọn cái chết để giữ tài sản cho con để trọn đạo làm cha. Lão đã lựa chọn đạo lí: chết trong còn hơn sống đục. (HS lấy dẫn chứng chứng minh)

    – Qua cuộc đời khốn khổ và phẩm chất cao quý của lão Hạc nhà văn đã thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng đối với người nông dân.

    * Nghệ thuật

    – Truyện được kể ở ngôi thứ nhất người kể chuyện là ông Giáo làm câu chuyện dẫn dắt tự nhiên sinh động hấp dẫn

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm.

    c. Đánh giá.

    – Nhận xét trên hoàn toàn xác đáng. Lão Hạc có thể xem là nhân vật đẹp nhất đời Nam Cao. Bởi lão còm cõi xơ xác chịu nhiều đau thương, bất hạnh nhưng chưa bao giờ vì hoàn cảnh mà tha hoá thay đổi bản chất tốt đẹp lương thiện của mình..

    – Nam Cao đã phản ánh số phận bi thảm của người nông dân, ca ngợi phẩm chất, trân trọng yêu thương và tố cáo xã hội gây ra những bất hạnh cho họ. Lão Hạc tiêu biểu cho”Người nông dân tuy nghèo khổ, lam lũ, ít học nhưng không ít tấm lòng”.

    3. Kết luận.

    Khẳng định và nâng cao vấn đề nghị luận.

    Đề 8

    Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc về một vấn đề nhân sinh”. Từ truyện ngắn Lão Hạc, hãy bày tỏ quan niệm của mình về ý kiến trên.

    Hướng dẫn làm bài

    a) Mở bài:

    – Truyện ngắn là thể loại được ưa thích cả với người sáng tác văn xuôi và người thưởng thức.

    – Sức hấp dẫn đặc biệt của thể loại này chính là chiều sâu nghệ thuật rất đặc biệt và độc đáo của nó ( So với các thể loại tự sự khác.)

    – Chứng minh bằng truyện ngắn Lão Hạc

    b) Thân bài: 1. Giải thích ý kiến

    – “Một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của một nhân vật nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc về một vấn đề nhân sinh”: Có tính chất ước lệ nó chỉ cái số ít của truyện ngắn so với thế giới phức tạp, đồ sộ và bề bộn của tiểu thuyết. Có nghĩa là truyện ngắn có khuôn khổ ngắn, ít nhân vật, ít sự kiện. Nó chỉ là mảnh nhỏ, một lát cắt của đời sống.

    + Tác giả truyện ngắn thường hướng đến phát hiện và khắc họa một hiện tượng, một nét bản chất nhất trong quan hệ nhân sinh hoặc trong đời sống tâm hồn của con người.

    + Nhân vật trong truyện ngắn không phải là một cá tính điển hình đầy đặn và phức tạp. Nhiều khi đó chỉ là một mảnh đời, một khoảnh khắc của một số phận.

    + Hành văn của truyện ngắn do đó mang nhiều ẩn ý, cô đọng và hàm súc, tạo ra chiều sâu không nói hết của tác phẩm.

    + Truyện ít nhân vật, tình huống truyện đơn giản nhưng kết thúc bất ngờ đầy ẩn ý.

    + Lời văn của truyện đầy chất triết lí lẫn cảm xúc trữ tình: Triết lí về cuộc sống, triết lí về cách ứng xử, cách nhìn nhận đánh giá con người.

    3. Chứng minh “thông qua một truyện ngắn nhà văn bao giờ cũng muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”

    – Để sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật cho một tác phẩm nhà văn phải trải qua bao dằn vặt, trăn trở, hy vọng, đau đớn từ đó hình thành nên một quan niệm, một niềm tin nhất định của mình.

    – Đằng sau bức tranh cuộc sống được tái hiện, miêu tả bao giờ cũng chứa đựng một quan niệm, một khát vọng thiết tha muốn bạn đọc đồng tình, sẻ chia , cùng suy ngẫm và sáng tạo.

    – Chứng minh qua truyện ngắn Lão Hạc:

    + Sự thương cảm đến xót xa đối với người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ.

    + Sự trân trọng, tin tưởng vẻ đẹp tâm hồn đối với người nông dân cho dù hoàn cảnh túng quẫn, bi đát.

    + Khơi gợi phương pháp đúng đắn, sâu sắc khi đánh giá con người: Ta cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của họ thì mới có thể hiểu đúng, cảm thông đúng. ( Thể hiện rõ qua các ý nghĩ đầy chất triết lí của nhân vật ông Giáo.)

    – Người viết truyện ngắn phải có khả năng và biệt tài nắm bắt những hiện tượng tưởng như bình thường trong cuộc sống song lại chứa đựng những ý nghĩa lớn lao, sâu sắc.

    – Ý nghĩa của truyện ngắn tuỳ thuộc vào khả năng dồn nén, khám phá và thể hịên cuộc sống một cách hàm súc và cô đọng.

    c, Kết bài:

    – Nhấn mạnh sức mạnh riêng, kì diệu của truyện ngắn.

    – Ý nghĩa tác động sâu xa của truyện ngắn đối với tư tưởng, tình cảm, thái độ, niềm tin của tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Lão Hạc
  • Kể Lại Truyện Lão Hạc Theo Lời Văn Của Em
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Bài: Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1 (Siêu Ngắn)
  • Thuyết Minh Giới Thiệu Về Nhà Văn Nam Cao Và Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự
  • Bài Văn Em Hiểu Như Thế Nào Về Câu Nói Trong Lão Hạc: Chao Ôi, Đối Với
  • Phân Tích Tác Phẩm Lão Hạc Của Nam Cao
  • Phân Tích Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • ” Lão Hạc Là Câu Chuyện Cảm Động Về Tình Phụ Tử Thiêng Liêng Cảm Động”
  • Văn mẫu lớp 9: Thuyết minh giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

    Giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 1

    Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn 1930 – 1945, là một cây bút viết về người nông dân hết sức chân thực, có đóng góp nhiều cho sự thành công của dòng văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915, mất năm 1951, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao là cây bút luôn suy nghĩ, tìm tòi để “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Vì thế, đề tài của ông tuy không mới nhưng tác phẩm vẫn có những đặc sắc tâm lí. Tác phẩm của Nam Cao chủ yếu xoay quanh hai đề tài chính: người nông dân và người trí thức tiểu tư sản nghèo, ở đề tài người trí thức tiểu tư sản có những tác phẩm: Trăng sáng, đời thừa, mua nhà, nước mắt… và những truyện đáng chú ý khi ông viết về người nông dân như: Lão Hạc, Chí Phèo, Một bữa no, Lang Rận… Có thể nói dù viết về trí thức nghèo hay về người nông dân cùng khổ thì Nam Cao vẫn luôn day dứt, đau đớn trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí huỷ diệt cả nhân tính trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời. Nam Cao là người có ý thức trách nhiệm nhất về ngòi bút của mình, suốt cuộc đời lao động văn học, nhà văn luôn suy nghĩ về sống và viết.

    Trong nền văn xuôi hiện đại nước ta, Nam Cao là nhà văn có tài năng xuất sắc và một phong cách độc đáo. Ngòi bút của Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Văn Nam Cao hết sức chân thực, ông coi sự thực là trên hết, không gì ngăn được nhà văn đến với sự thực, vừa thấm đượm ý vị triết lí và trữ tình. Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lí con người. Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông sống động, uyển chuyển, tinh tế, rất gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng. Với một tài năng lớn và giàu sức sáng tạo, Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hoá.

    Tác phẩm Nam Cao để lại chủ yếu là truyện ngắn, trong số những truyện ngắn viết về người nông dân, thì “Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc và tiêu biểu.

    Truyện ngắn “Lão Hạc” được đăng báo lần đầu năm 1943, truyện kể về nhân vật chính – lão Hạc, một lão nông dân nghèo khổ, có phẩm chất trong sạch, vợ lão Hạc mất sớm, để lại lão và cậu con trai, trong nhà tài sản duy nhất của hai cha con lão là một mảnh vườn và “cậu vàng” – con chó do con trai lão mua. Do không đủ tiền cưới vợ, con trai lão chán nản mà làm đơn xin đi mộ phu đồn điền cao su, để lão ở nhà một mình với cậu vàng. Lão Hạc hết sức thương con, lão chăm vườn, làm ăn dành dụm để khi con trai lão về thì cưới vợ cho nó. Thế nhưng, sau một trận ốm nặng, bao nhiêu tiền dành dụm cũng hết, sức khoẻ lão ngày một yếu đi, vườn không có gì để bán, lão Hạc trở nên đói kém hơn, phải lo từng bữa ăn. Lão ăn năn day dứt khi quyết định bán cậu vàng, người bạn thân thiết của lão. Lão gửi số tiền và mảnh vườn cho ông giáo và xin bả chó của Binh Tư để kết thúc cuộc sống túng quẫn của mình. Lão chết một cách đau đớn, nhưng cái chết làm sáng ngời phẩm chất trong sạch của lão Hạc.

    Thông qua số phận và cái chết của lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện một thái độ trân trọng và cái nhìn nhân đạo đối với lão Hạc nói riêng và người nông dân nói chung, những con người nghèo khổ nhưng sống trong sạch, thà chết chứ không chịu mang tiếng nhục, làm những điều trái với lương tâm cao cả của mình. Nam Cao cũng đã nêu lên một triết lí nhân sinh rằng: con người chỉ xứng đáng với danh nghĩa con người khi biết trân trọng và chia sẻ, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương ở con người.

    Đồng cảm với những số phận đáng thương, Nam Cao đã lên tiếng thông qua tác phẩm là tiếng nói lên án xã hội đương thời thối nát, bất công, không cho những con người có nhân cách cao đẹp như lão được sống.

    Tác phẩm “Lão Hạc” cũng mang một giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện được phong cách độc đáo của nhà văn Nam Cao. Diễn biến của câu chuyện được kể bằng nhân vật tôi, nhờ cách kể này câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực với một hệ thống ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, già tính triết lí.

    Trong tác phẩm có nhiều giọng điệu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và trữ tình.

    Đặc biệt, bút pháp khắc hoạ nhân vật tài tình của Nam Cao cũng được bộc lộ rõ rệt với ngôn ngữ sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và sức gợi cảm.

    Có thể nói “Lão Hạc” là một truyện ngắn hết sức thành công của Nam Cao. Nhà văn vừa thể hiện được tấm lòng nhân đạo của mình, đồng thời đánh bật được nét phong cách nghệ thuật độc đáo hiếm có của ông.

    Giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 2

    Ai đã đọc qua ‘Lão Hạc”, một truyện ngắn xuất sắc người nông dân trước cách mạng tháng tám của nhà văn Nam Cao, hẳn là không thể nào quên được hình ảnh lão nông dân gầy guộc, râu tóc bơ phờ, cặp mắt nhìn xuống đầy u uẩn, khuôn mặt hằn sâu bao nhiêu là nếp nhăn của suy tính, muộn phiền về nhiều nỗi cơ cực ở đời. Đây là một lão nông dân chân lấm tay bùn không tuổi, không tên trong các làng quê tiêu điều, hẻo lánh thời ấy..

    Lão Hạc nghèo khổ, bất hạnh nhưng có tấm lòng yêu thương sâu sắc, tự trong, đặc biệt là có tấm lòng cao thượng hơn con người. Trang sách đã đóng lại nhưng hình ảnh lão Hạc vẫn lồ lộ hiện ra trông thật tội nghiệp. Đó là một nông dân nghèo khổ cùng quẫn. Vợ mất sớm, lão sống một thân một mình trong những ngày tháng xế bóng cô đơn và vất vả.Đứa con trai duy nhất của lão chỉ vì quá nghèo ma` người con gái anh yêu lại trở thành vợ người khác.Người ấy hơn anh chỉ vì có nhiều tiền. Quá phấn chí, anh ra đi nuôi mộng:” Cố chí làm ăn bao giờ có bạc trăm mới về”.”

    Không có tiền sống khổ. sống sở ở cái làng này nhục lắm”. Nhưng nơi anh đến lại là đồn điền cao su ở tận Nam kì. một địa ngục trần gian:”Cao su đi dễ khó về”. Lão Hạc chỉ còn cách thui thủi với ” cậu Vàng” làm bạn cho khuây khỏa nỗi nhớ mong. Ngày lại ngày lão lo làm thuê kiếm sống. Nhưng rồi bị một trận ốm nặng phải tiêu sạch hết tiền dành dụm từ hoa lợi mảnh vườn mà lão có ý định để dành tiền cho con trai khi nó trở về. Sau trận ốm, sức khỏe lão sút hẳn đi, không làm thuê nổi nữa thì lại gặp bão, hoa màu bị phá sạch, giá gạo lại lên cao nghe chừng còn đói dai dẳng… vì thế mà lão phải làm một việc làm trái lòng là phải bán “cậu Vàng”, người bạn thân thiết trong những ngày tàn bóng xế.Hơn thế nữa, đó còn là con vật gợi nhớ về đứa con trai đã đi xa… Thế mà lão phải dứt ruột bán”cậu Vàng” đi bởi vì không thể mỗi ngày có đủ một ngày ba bữa gạo cho mình và con chó. Lúc này, lão không còn có thể làm ra tiền nên tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu nó. Tình cảnh của lão thật là khốn quẫn.

    Nam Cao (29 tháng 10, 1917 – 30 tháng 11, 1951) là một nhà văn Việt Nam hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Sáng tác của Ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng. Thời gian càng lùi xa, tác phẩm của Nam Cao càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo. Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20. Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri . Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam – nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.[1] Xuất thân từ một gia đình bậc trung Công giáo, cha Nam Cao là ông Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc, mẹ là bà Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải. Nam Cao học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung. Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi.

    Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh. Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Ông gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư. Có thể nói, các sáng tác “tìm đường” của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc Chi Tiết Đầy Đủ Lớp 8
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc?
  • Bài Văn Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao Hay, Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Lão Hạc Môn Văn 8 Trang 38 Ngắn Gọn Nhất: Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Lão Hạc Xung Quanh Việc Bán Chó
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100