Đỗ Phủ Và J.nguyễn – Họ Là Ai?

--- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Luật Tnhh Opic Và Cộng Sự
  • ‘Luật Sư Giả’ Dùng Bằng Dỏm Là Vấn Nạn Ở Canada
  • Các Luật Sư – Tập Đoàn Tư Vấn Hoa Kỳ, Llc
  • Người Trong Cuộc Nói Gì Về Việc Tung Tin Giả ‘Nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu’ Tự Vẫn Vì Vụ Đồng Tâm
  • Vô Cùng Thương Tiếc Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu!
  • Kỳ 1: Đỗ Phủ và J.Nguyễn – họ là ai?

    Luật sư Đỗ Phủ

    – Ngày 15-5-2012, RFA cho biết, tại Hạ viện Hoa Kỳ: “Luật sư Đỗ Phủ của cơ sở truyền thông SBTN ở Hoa Kỳ điều trần về vấn đề chính quyền Hà Nội đàn áp giới truyền thông độc lập trong nước, cả các hoạt động trên các mạng giao tế xã hội như Facebook, Twitter cũng bị cấm đoán… Ông nhắc đến chiến dịch 150 ngàn chữ ký nạp lên tòa Bạch ốc đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam. Luật sư Đỗ Phủ cũng yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ nói chuyện với Việt Nam để hủy bỏ luật lệ Việt Nam buộc công dân Hoa Kỳ phải làm nghĩa vụ của công dân Việt Nam khi về nước, hay cả ở ngoại quốc, ví dụ như làm nghĩa vụ quân sự, vì Hà Nội vẫn đương nhiên coi người Việt hải ngoại như vẫn là công dân Việt Nam… Đỗ Phủ cũng cho rằng hành pháp Hoa Kỳ cả hai nhiệm kỳ vừa qua đều không đủ mạnh mẽ khi bảo vệ cho tự do, nhân quyền tại Việt Nam”!

    – Ngày 16-5-2015, tại lễ Phật đản tổ chức tại thành phố Fountain Valley (Phông-ten Va-lây, California) đã có “cuộc diễu hành đoàn xe Jeeps của các anh em cựu quân nhân quân lực Việt Nam cộng hòa, đoàn xe gắn máy gồm hơn 40 xe phân khối lớn với trưởng đoàn là luật sư Đỗ Phủ và các thành viên Hội VHOC trên xe cắm cờ Việt Nam cộng hòa, Hoa Kỳ, Phật giáo kỳ chạy quanh khu vực”! (haingoaidienbao, ngày 24-5-2015).

    – Ngày 7-12-2015, tại buổi đón Đại sứ Hoa Kỳ T.Osius (Ô-xi-ớt) ở thành phố Westminster (Oét-xmin-tơ): “Luật sư Đỗ Phủ đã đại điện các đoàn thể và đảng phái để trình bày 7 điểm quan tâm của họ về mối bang giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Họ yêu cầu Đại sứ Osius có những chương trình hành động cụ thể để cải thiện vấn đề tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do thành lập công đoàn, tự do tín ngưỡng (đặc biệt là tự do tôn giáo cho đồng bào Thượng), thả các tù nhân chính trị, bảo vệ các nhà dân chủ, bảo vệ quyền lợi của các hãng kinh doanh và truyền thông của Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam”! (vietbao.com, ngày 13-7-2015)!…

    – Ngày 14-4-2015, vì không được treo “cờ vàng” trong phòng, J.Nguyễn đã xuất hiện tại phiên họp của Thượng viện California với khăn choàng có hình hai lá cờ của “thây ma Việt Nam cộng hòa” và Hoa Kỳ, rồi hý hửng: “Họ không cho tôi mang lá cờ vào bên trong, nhưng họ không thể lấy lá cờ trên người tôi”! Tại đây, bà ta phát biểu: “Trong lúc tiếp tục quảng bá cho tự do, dân chủ cho mọi người, chúng ta đừng bao giờ quên tình trạng nhân quyền và tự do tại Việt Nam hiện nay, tiếp tục yêu cầu CSVN phải cải thiện đời sống người dân, bảo đảm quyền tự do ngôn luận của họ… Quý vị nên nhớ, tháng tư này là tưởng niệm 40 năm ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản”. Sau đó J.Nguyễn cho biết “sẽ tu chính SCR.17 để lá cờ VNCH được hiện diện bên trong Thượng viện trong những dịp tháng tư đen sắp tới”! (nguoi-viet.com, ngày 14-4-2015).

    Dù không quy kết động cơ chính trị về đăng tải tin bài, chỉ với các trích dẫn trên cũng đã đủ để đặt câu hỏi: Có nên giới thiệu và để cho Đỗ Phủ, J.Nguyễn xuất hiện trên báo chí trong nước?

    (Còn nữa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hồ Sơ Bảo Lãnh Bị Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ Từ Chối
  • Darren Chuong Ngoc Nguyen # 180588
  • Luật Sư Lê Đình Hồ Cho Vợ Con Về Việt Nam Trước Khi Bị Ám Sát
  • Nguyen Tran & Sons Lawyers
  • Cảnh Sát Tin Rằng Luật Sư Lê Đình Hồ Bị Ám Sát Vì $200,000
  • Văn Bản Là Gì? Có Mấy Loại Văn Bản?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì? Hình Thức Và Ví Dụ Về Văn Bản Nhật Dụng
  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài 11: Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Văn Bản (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Văn bản là khái niệm không còn xa lạ với mội cá nhân, tổ chức. Trong cuộc sống, văn bản xuất hiện ở khắp mọi nơi và trở thành một phương tiện truyền đạt thông tin phổ biến nhất. Văn bản cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học với nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy vậy, không phải ai cũng biết cụ thể Văn bản là gì? Có những loại văn bản nào.

    Thực tế văn bản là một khái niệm tuy gần gũi nhưng lại rất đa dạng về thể loại. Chính vì vậy, người ta có nhiều cách hiểu khác nhau về văn bản. Bạn đọc có thể hiểu văn bản theo hai nghĩa.

    Thứ hai: Văn bản là những giấy tờ, tài liệu được sử dụng trong các cơ quan, đoàn thể và các tổ chức xã hội. Theo đó, những giấy tờ này được sử dụng để điều hành và quản lý các hoạt động của cơ quan, đoàn thể hay để truyền đạt thông tin đến các cá nhân, tổ chức trong xã hội như Quyết định, chỉ thị, báo cáo, công văn,… Hiện nay, văn bản được hiểu theo nghĩa này là phổ biến nhất.

    Văn bản hành chính

    Văn bản hành chính là một trong những loại văn bản được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, đây là văn bản mang tính thông tin quy phạm nhà nước, giải quyết những vụ việc trong quá trình quản lý nhà nước. Văn bản hành chính được chia thành hai loại chính là văn bản hành chính cá biệt và văn bản hành chính thông thường.

    Trong đó văn bản hành chính cá biệt là những văn bản thể hiện quyết định, chỉ thị của cơ quan nhà nước (Quyết định nâng lương, quyết định khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức,…). Còn văn bản thông thường là những văn bản mang tính chất thông tin, nhằm điều hành, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dung để giải quyết những công việc cụ thể, phản ánh tình hình, trao đổi công việc,… (Thông báo, cồn văn, báo cáo, phiếu gửi, phiếu trình,…)

    – Văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là loại văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dựa theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong xã hội dưới nhiều lĩnh vực khác nhau. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản được ban hành dựa trên ý chí của nhà nước, buộc tất cả mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân thủ và chấp hành và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước.

    Văn bản quy phạm pháp luật được chia thành hai loại là Văn bản luật và văn bản dưới luật. Trong đó, văn bản luật là loại văn bản mang tính quyền lực cao nhất bởi nó là loại văn bản mang tính quy định chung, phạm vi áp dụng lớn và tất cả những văn bản dưới luật ban hành không được phép trái với quy định của những văn bản này.

    Văn bản Luật bao gồm Hiến pháp, Các luật, bộ luật, nghị quyết có chứa các quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Trong những văn bản này thì Hiến pháp được coi là “Luật mẹ”, có hiệu lực pháp lý tối cao. Vì vậy, bất kỳ văn bản nào ban hành trái với quy định của Hiến pháp đều không có hiệu lực. Thứ hai là văn bản dưới luật, là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm cụ thể hóa hoặc quy định bổ sung, chi tiết các văn bản luật, bao gồm các văn bản như Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyển, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị – xã hội;…

    – Hợp đồng

    – Hóa đơn

    Hóa đơn là một loại văn bản được sử dụng hàng ngày trong hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Hóa đơn được người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật.

    – Chứng chỉ, văn bằng

    Văn bằng, chứng chỉ là một loại văn bản chứng nhận của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp một cấp học hoặc một trình độ đào tạo; chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi được hoàn thành một khóa hoặc một chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao học vấn, nghề nghiệp.

    Văn bằng, chứng chỉ phải phản ánh đúng yêu cầu của chương trình giáo dục và trình độ của người học.

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Luyện Gõ Văn Bản 10 Ngón Chuẩn Và Nhanh Nhất
  • Soạn Bài Văn Bản (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Văn Bản Lớp 10
  • Soạn Bài Văn Bản (Chi Tiết)
  • 08 Điểm Mới Về Giấy Phép Xây Dựng Từ Ngày 01/01/2021
  • Cuộc Chơi Wto: Cách Đặt Vấn Đề Của J.e.stiglitz

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Thi Hành Các Hiệp Định Wto Tại Một Số Nước
  • (Wto) Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Wto Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
  • (Wto) Tác Động Của Quá Trình Thực Thi Các Cam Kết Trong Wto Tới Hệ Thống Pháp Luật Và Tư Pháp Trung Quốc
  • Luật Thi Đấu Tranh Biện Theo Mô Hình Karl Popper
  • Life Joe Biden Hot 2022
  •  

    Sau một quá trình đàm phán kéo dài 11 năm, Việt Nam đã trở nên thành viên Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation Đường băng này bằng phẳng, và Việt Nam có cất cánh hay không là do năng lực của bản thân, trước tiến là năng lực cải cách toàn diện: nó tuỳ thuộc vào “những yếu tố nội tại” mà “tư cách thành viên WTO không tạo nên”.

    Cũng có một cách khác để tiếp cận vấn đề, đi từ mặt trái của WTO và cũng là bộ mặt thật của nó, mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không nêu lên hay tránh không muốn nếu ra, chí ít trong thời kỳ đàm phán vào WTO, vì nhiều lý do: có thể do yêu cầu đấu tranh tư tưởng với quan điểm chống gia nhập WTO trong nội bộ của đảng; cũng có thể do yêu cầu tranh thủ ngoại giao những cường quốc tư bản chủ nghĩa có tiếng nói quyết định trong việc kết nạp. Bộ mặt này của WTO được nhà kinh tế Mỹ Joseph Stiglitz vạch ra thẳng thừng trong hai tác phẩm mới đây của ông: Fair trade for all. How trade can promote development, viết cùng với Andrew Charlton .

    Ngoài trường đại học, Stiglitz được tín nhiệm làm chủ tịch của Hội đồng các tư vấn kinh tế (Council of Economic Advisers) của tổng thống Clinton các năm 1993-1997, rồi làm kinh tế gia trưởng và phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank ), ông còn gây cuộc tranh cãi trong nội bộ WB giữa phe “tân cổ diển” và phe “xét lại” mà ông là đại biểu, và cuối cùng ông đã phải từ chức ra đi. Tác phẩm Globalization and its discontents

     

    Tuy hợp tác thường xuyên và tán thành nhiều phân tích của phong trào toàn cầu hoá “theo kiểu khác” (altermondialisme), Stiglitz xác định lập trường riêng biệt của ông, một thứ “con đường thứ ba” bắt nguồn từ nhận thức tính khiếm khuyết của thị trường và vai trò cần thiết của nhà nước. Stiglitz không phủ nhận chủ nghĩa tư bản mà chỉ phê phán hình thái tân tự do hiện tại của nó, và ông chủ trương đấu tranh cải cách WTO “theo kiểu khác”., ông cho rằng toàn cầu hoá là một cơ may cho các nước kém phát triển, nếu nó được cai quản trong một khung định chế quốc tế dân chủ. Ông chủ trương thiết kế “một chế độ mậu dịch quốc tế hướng đến lợi ích của các nước nghèo mà vẫn có hiệu ứng tổng thể tích cực cho các nước công nghiệp tiên tiến – một số lợi ích riêng ở các nước này, tất nhiên, có thể bị thiệt thòi”

    Đó là hình thức bề ngoài. Trên thực tế, lịch sử các hiệp định mậu dịch quốc tế trong WTO và tiền thân của nó – Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariff and Trade Stiglitz vạch rõ “thái độ hai mặt” của các nước phát triển hô hào tự do trao đổi: “Họ đàm phán bãi bỏ trợ cấp và giảm thuế quan trên những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh, nhưng ngại ngừng mở cửa thị trường và từ bỏ trợ cấp trong những lĩnh vực mà lợi thế so sánh thuộc về các nước đang phát triển. Kết quả là chế độ mậu dịch quốc tế hiện nay bất lợi về nhiều mặt đối với các nước đang phát triển” ) năm 1973 là những văn bản công khai vi phạm luật chơi không phân biệt đối xử – nguyên tắc nền tảng của GATT (họ gọi đó là những “ngoại lệ”). Các “thoả thuận” này cho phép Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu hạn chế định lượng nhập khẩu hàng dệt may bằng chế độ hạn ngạch, mục đích là ngăn chận hàng xuất khẩu đến từ châu Á – khởi đầu là từ các “nước công nghiệp hoá mới” (new industrial countries) – Hàn Quốc Đài Loan, Hồng Kông –, sau đó là từ các “nước đang lên” (emerging countries) – Trung Quốc và ASEAN. Tương quan mậu dịch quốc tế ngày càng thêm bất bình đẳng: thế giới phía Bắc thu trên hàng hoá nhập từ các nước phía Nam một mức thuế quan bình quân cao gấp bốn lần so với hàng hoá thuộc các nước phía Bắc;.

    Đối với vấn đề mà các nước đang phát triển bức xúc nhất, là hồ sơ nông nghiệp, Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu lờ đi các cam kết: họ khư khư duy trì chế độ trợ cấp nông nghiệp (khoảng 300 tỷ USD/năm) và tiếp tục cạnh tranh bất chính với các nước đang phát triển: do được trợ cấp, giá nông sản do Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu xuất khẩu ở dưới mức giá sản xuất của những nước đang phát triển. Tại hội nghị WTO đầu tiên họp tại Singapore năm 1996, Bộ tứ lại lái chưong trình nghị sự vào những vấn đề không hề là trọng tâm của các nước phía Nam: đầu tư quốc tế, chính sách cạnh tranh, chế độ mua sắm của công, điều kiện làm cho thương mại dễ dàng (gọi là “những vấn đề Singapore”). Năm năm sau khi vòng Uruguay kết thúc, thế giới phía Nam nhận thức rõ rằng nó bị đánh lừa trong “cuộc mặc cả lớn”. Hội nghị Seattle năm 1999 đánh dấu một bước ngoặt: lần đầu tiên, các nước đang phát triển đã đương đầu với các nước phát triển và bác bỏ đề xuất của Bộ tứ mở ra một vòng đàm phán mới về tự do hoá thương mại (mang tên vòng Thiên niên kỷ). Trong khi đó, bên ngoài hội nghị, các tổ chức của xã hội dân sự thế giới xuống đường biểu tình ồ ạt, phản kháng WTO.

    Với chuyển biến trong tương quan sức mạnh, từ nay, Bộ tứ phải thuyết phục các nước đang phát triển bằng cách quan niệm lại vòng đàm phán WTO: trọng tâm phải đặt vào phát triển, tự do hoá thương mại chỉ là một phương tiện. Thông qua tại hội nghị Doha năm 2001, tuyên bố khai mạc của vòng đàm phán “về phát triển” xác định “đặt nhu cầu và lợi ích của các nước đang phát triển vào trung tâm chương trình làm việc”, và “thương mại quốc tế có thể giữ vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế và giảm bớt đói nghèo”. Lập trường chung của các nước phía Nam: từ chối giảm thuế quan và mở cửa những thị trường hàng công nghiệp và dịch vụ, ngày nào mà Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu chưa từ bỏ chính sách phá giá hàng nông nghiệp và chưa mở cửa thị trường nông sản của họ. Liên minh của các nước đang phát triển, thực hiện ở Cancun, có ý nghĩa lịch sử, bởi nó chấm dứt thế bá chủ của Bộ tứ trong WTO. Một thời kỳ dài, hơn nửa thế kỷ, đã kết thúc – thời kỳ mà các nước phát triển, liên minh với nhau, có thể áp đặt lên phần còn lại của thế giới những thoả thuận về mậu dịch quốc tế. Đối với Stiglitz, thế giới cần có một WTO theo kiểu khác để trả lời thách thức chân chính của vòng Doha: tổ chức thương mại thế giới như thế nào để nó phục vụ mục tiêu phát triển của các nước nghèo, chứ không phải chỉ là sân chơi ưu đãi các nước giàu.

    Trước tiên, cho rằng lợi ích của một nước tham gia ngoại thương là phát triển xuất khẩu, và hạn chế hàng nhập khẩu từ những nước cạnh tranh bất chính, là một cách đặt vấn đề thuần tuý trọng thương. Bởi, theo thuyết cổ điển và tân cổ điển thuần tuý, lợi ích của một nước xúc tiến tự do trao đổi không ở chỗ xuất khẩu mà ở chỗ nhập khẩu: đó là lợi ích mà ta có được khi mua một mặt hàng nước ngoài có giá thấp hơn món hàng đó nếu ta sản xuất nó ở trong nước. Cho nên, khác với tinh thần đàm phán của GATT và WTO, chủ thuyết chính thống về tự do trao đổi không hề đặt vấn đề có đi, có lại hay trả đũa nước đối tác khi nó bảo hộ thị trường của nó. Một nước bao giờ cũng có lợi khi quyết định loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của nó, bất luận các nước khác chọn lựa làm gì. Tinh thần của tự do trao đổi, đúng ra, là “tự do trao đổi đơn phương”.) – gắn liền ban đầu với dự án ngân hàng trung ương thế giới, phát hành tiền tệ quốc tế bancor (International Clearing Union) – được tiến hành trong khuôn khổ của Liên hiệp quốc và đưa đến ký kết Hiệp ước La Havana 1948: Thượng viện Hoa Kỳ không phê chuẩn nó, cho nên chỉ có chương 4 của hiệp ước này được đưa vào thực hiện dưới tên GATT, mà WTO là tổ chức thừa kế. So với thời kỳ thế chiến thứ hai kết thúc, cục diện thế giới vào đầu những năm 90 đã thay đổi hoàn toàn: Liên Xô và hệ thống mang tên “xã hội chủ nghĩa” biến mất, chủ nghĩa tư bản toàn thắng, thế giới song cực không còn, các nước gọi là “thế giới thứ ba” phải một mình đối đầu với các nước tư bản phát triển. Trong những điều kiện đó, các nước này đã áp đặt quan điểm “tân tự do”, mà biểu tượng là Đồng thuận Washington (giữa ba định chế: Bộ tài chính Hoa Kỳ, IFM, WB). Biểu hiện điển hình ở WTO là những hiệp định TRIPs về thương mại hoá quyền sở hữu trí tuệ và GATS về thương mại hoá dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ công (giáo dục, ý tế, điện, nước, bưu điện, đường sắt…). Và tuy không hề khớp với quan niệm và thực tiễn của WTO, hệ tư tưởng tự do trao đổi chế ngự các vòng đàm phán từ đó.

    Stiglitz cho rằng những người cổ vũ cho tự do trao đổi, ở WTO và các định chế quốc tế khác, vận dụng thổ thiển một kết luận của học thuyết cổ điển và tân cổ điển về mậu dịch quốc tế, theo đó “tự do hoá thương mại mang phúc lợi đến cho mọi nước”. Điều mà họ lờ đi là kết luận này của Ricardo trong thuyết về lợi thế so sánh, được công thức hoá sau đó vơí mô hình Hecksher – Ohlin – Samuelson, tuỳ thuộc vào nhiều giả định, trong đó Stiglitz nhấn mạnh đến giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mà đặc điểm là không có thất nghiệp và không có bất trắc.

    * Học thuyết Ricardo về trao đổi quốc tế giả định rằng các nước đều ở trong trạng thái toàn dụng lao động trước khi mở cửa mua bán với nước ngoài. Lúc mở cửa và chuyên môn hoá theo lợi thế so sánh, mỗi nước phân phối lại lao động, chuyển lực lượng lao động từ một ngành có năng suất tương đối thấp sang một ngành có năng suất cao hơn, và sự gia tăng hiệu quả sử dụng lao động này tạo phúc lợi thêm cho các nước. Trong trường hợp một nước ở vào trạng thái khiếm dụng lao động – và đó là hoàn cảnh phổ biến ở các nước đang phát triển – lợi ích của nó có phải là chuyên môn hoá và dẹp bỏ ngành sản xuất không có lợi thế so sánh, trong khi thất nghiệp còn đầy dẫy? Hay là nước đang phát triển nên khai thác thương mại quốc tế để giảm thất nghiệp, phát triển ngành có lợi thế so sánh đồng thời duy trì ngành không có lợi thế đó?.

    * Nối tiếp Ricardo, học thuyết tân cổ điển xây dựng mô hình tự do trao đổi trong khung lý luận về thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà giả định cơ bản là không có bất trắc; còn nếu có bất trắc, thì phải có những thị trường rủi ro hoàn hảo. Stiglitz cho đó là “thế giới huyền thoại”, bởi những bắt trắc không thể quy thành xác suất là bản chất của nền kinh tế thị trường. Thị trường bảo hiểm hoàn hảo không hề hiện hữu tại các nền kinh tế thị trường phát triển, huống chi là ở những nền kinh tế thị trường đang phát triển. Hơn thế, hiệu ứng trực tiếp rõ nhất của tự do hoá thương mại quốc tế là tăng tính bất ổn định kinh tế và tính bất an xã hội: nó giải thích vì sao bao nhiêu người phản kháng WTO ở mọi nơi trên thế giới. Stiglitz đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề lao động: ở các nước tư bản phát triển, người lao động không thể mua bảo hiểm để đối phó với rủi ro mất việc làm, song cuộc đấu tranh của phong trào công nhân đã đưa đến một chế độ bảo hộ xã hội bù đắp đôi phần những mất mát của người thất nghiệp; còn tại các nước đang phát triển, nhà nước không có phương tiện và người thất nghiệp phải tự xoay xở lấy. Trong những điều kiện kinh tế đầy bất trắc, có thể chứng minh rằng “tự do trao đổi đưa mỗi cá nhân đến một trang thái tồi tệ hơn, theo tiểu chuẩn Pareto, so với khi còn tự cung, tự cấp” .

    Xét về mặt lịch sử kinh tế, không có nước giàu hiện nay nào đã công nghiệp hoá bằng con đường tự do hoá mậu dịch – từ Anh, Mỹ cho đến Nhật Bản, Hàn Quốc. Tất cả đã phát triển với những chính sách mà hiện nay họ ngăn cản các nước nghèo sử dụng để phát triển: bảo hộ ngành công ghiệp non trẻ, trợ giúp xuất khẩu, kiểm soát đầu tư nước ngoài, giới hạn quyền sở hữu trí tuệ. Nhắc lại “quá khứ bảo hộ chủ nghĩa” của các nước phát triển, tất nhiên, không có nghĩa là các chính sách thương mại đề ra mang tính tối ưu và nhà nước vận dụng chúng không có khiếm khuyết. Nhưng, chí ít, nó cho thấy con đường phát triển lịch sử không ăn nhập gì với lý luận tân cổ điển. Stiglitz quan tâm đến hai ví dụ hiện nay:

    – Trung Quốc, nước hội nhập thành công vào hệ thống thương mại quốc tế với chiến lược riêng, không theo chỉ dẫn của Đồng thuận Washington. Trong chiến lược phát triển của Bắc Kinh, “tự do hoá thương mại không hề là nguyên nhân của tăng trưởng”: nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng nhanh vào cuối thập niên năm 70; tự do hoá thương mại khởi đầu vào cuối thập niên 80 và chỉ thật sự vận động trong thập niên 90, tức là sau khi tăng trưởng kinh tế đã tăng tốc mạnh

    – Mêhicô, nước tham gia Hiệp định tự do trao đổi Bắc Mỹ (North American Free Trade Agreement .. WTO không nên hạn chế chủ quyền các nước phía Nam chọn lựa con đường phát triển của họ. Trong hướng đó, WTO cần trước hết đáp ứng yêu cầu lâu nay và cấp thiết của phía Nam và xã hội dân sự thế giới: tổng kết một cách chi tiết và rõ ràng kết quả thực hiện các hiệp định vòng Uruguay – đặc biệt là hiệu ứng đối với các nước đang phát triển –, trước khi bàn tới một vòng đàm phán mới (hiệp định thành lập WTO hứa tiến hành tổng kết đó trễ nhất vào năm 1999). Điều khẩn trương hiện nay không phải là tự do hoá thương mại, mà là làm rõ sự thật về công cuộc tự do hoá trong mười hai năm qua.

    III. Sân chơi và luật chơi WTO

    Đối với các nước phía Nam, WTO thường giới thiệu nó như là một hệ thống đa phương vận động theo quy tắc pháp chế, chứ không phải theo tương quan về quyền lực. Nó giảm bớt tính bất bình đẳng giữa nước nghèo và nước giàu trong các thương lượng song phương: “Thiếu một cơ chế đa phương như WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý muốn của họ cho các nước yếu hơn”. và định nghĩa như sau: “Mọi thoả thuận gây hại nhiều hơn cho các nước đang phát triển, hoặc mang lợi nhiều hơn cho các nước phát triển (thu hoạch ròng của một nước được tính theo phần trăm tổng sản phẩm trong nước . Một chủ trương được coi là công bằng khi nó mang đến cho nước nghèo một phần lợi, theo tỷ lệ, lớn hơn phần của nước giàu. Cho đến nay, các nước phát triển đã hưởng phần lớn những lợi ích do các hiệp định thương mại tạo nên, sự công bằng đòi hỏi bây giờ họ đóng góp nhiều hơn cho các nước đang phát triển. Nói cách khác, tinh thần thương lượng mậu dịch giữa nước phát triển và nước đang phát triển không thể là “có đi, có lại” hoàn toàn.

    Vấn đề đã từng được nêu lên trong phần IV của Hiệp định GATT (“Thương mại và phát triển”) theo đó các nước phát triển “không được đòi hỏi có đi có lại” trong đàm phán thương mại với các nước đang phát triển.. Và khi đặt trọng tâm vòng đàm phán vào “phát triển”, tuyên bố Doha năm 2001 đương nhiên phân biệt nước nghèo với nước giàu với tinh thần nước giàu phải đối xử ưu đãi với nước nghèo: điều 44 của bản tuyến bố xác định rằng “những quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt nằm trong các hiệp định WTO” và sẽ được vòng đàm phán xem xét lại “nhằm củng cố chúng, làm cho chúng rõ ràng hơn, hiệu quả hơn và mang tính tác chiến nhiều hơn”.

    – Những nước hô hào tự do trao đổi mạnh nhất cũng là những nước biết vận dụng chế độ bảo hộ một cách hệ thống nhất, căn cứ vào quyền bảo vệ mậu dịch mà WTO công nhận, chống lại cạnh tranh không chính đáng: quyền tự vệ, quyền chống trợ cấp, quyền chống phá giá. Song, các biện pháp nhằm bảo đảm mậu dịch công bằng thường biến dạng để phục vụ thương mại phi công bằng, và chận đứng những mặt hàng có tính cạnh tranh của phía Nam đã chiếm được thị phần ở phía Bắc: khi sản phẩm của một nước đang phát triển xâm nhập thành công thị trường Hoa Kỳ hay Liên hiệp châu Âu, biện pháp chống phá giá, hay một chướng ngại phi thuế quan khác, lập tức đánh vào nó. Stiglitz nhắc lại vụ cá ba sa của Việt Nam: Vào những năm 90, Việt Nam đã xâm nhập thị trường cat-fish Hoa Kỳ, thị phần lên đến 20%. Thượng viện Mỹ ra đạo luật quy định rằng chỉ có cat-fish của Mỹ mới được bán dưới tên gọi “cat-fish”. Một cách khá thông minh, Việt Nam trở lại thị trường Mỹ với tên cá mới là “ba sa”, và hình ảnh của một sản phẩm chất lượng cao, bán với giá cũng cao hơn, đánh bại catfish của Mississipi. Cùng đường, Hoa Kỳ rút ra vũ khí chống phá giá, tố cáo Việt Nam xuất khẩu cá dưới giá thành của nó. Điều quyết định ở đây là đưa ra chứng cứ theo đó chi phí sản xuất hàng cao hơn giá xuất khẩu của nó sang Mỹ: lấy cớ rằng kinh tế Việt Nam, Trung Quốc và Đông Âu cựu xã hội chủ nghĩa chưa phải là những nền “kinh tế thị trường,” Hoa Kỳ từ chối căn cứ vào chí phí sản xuất nội địa, và lấy chi phí sản xuất của “một nước thay thế” làm chuẩn (trong hồ sơ chống phá giá đối với túi kéo đựng gậy golf nhập khẩu từ Ba Lan, họ đã chọn Canada làm chuẩn, trong khi giá cả ở nước này cao đến mức mà nó không có khả năng sản xuất loại túi kéo đó). Stiglitz vạch rõ cách xử lý khác nhau của luật pháp chống phá giá Hoa Kỳ đối với nội thương và ngoại thương: nếu lấy chuẩn tắc xét xử hàng nội hoá mà áp dụng cho hàng nhập khẩu thì Mỹ sẽ bị xử phạt trong hầu hết các vụ kiện nước ngoài phá giá; và nếu mang chuẩn tắc, mà Hoa Kỳ dùng trong ngoại thương, để xét các vụ kiện nội thương thì phần lớn các hãng ở Mỹ sẽ bị kết án là phá giá. Với kinh nghiệm làm việc trong chính quyền Clinton, Stiglitz không ngần ngại cho rằng: “Chúng ta .

    – Tự hào là một tổ chức căn cứ trên những quy tắc chung, WTO lại không có tiêu chuẩn khách quan và thủ tục rõ ràng để kết nạp thành viên. Khuyết điểm này tạo cơ hội cho các nước phía Bắc áp đặt thêm những điều kiện gia nhập mà các nước đã là thành viên không phải tôn trọng, gọi là “WTO-cộng”. Riêng Hoa Kỳ thường áp đặt trong các hiệp định song phương những điều kiện không có ở WTO, rồi biến chúng thành những điều kiện gia nhập WTO. Như trong hiệp định mậu dịch Viêt-Mỹ, Việt Nam đã chấp nhận những cam kết về quyền sở hữu trí tuệ cao hơn những điều trong hiệp định TRIPs, gọi là “TRIPs-cộng”: khi Việt Nam được kết nạp vào WTO, cam kết này trở thành một ràng buộc cho các nước sẽ vào sau. Còn trong hiệp định đầu tư Việt-Nhật, ta chấp nhận từ bỏ những điều kiện buộc nhà đầu tư nước Nhật phải xuất khẩu 50% sản phẩm và mang vào những công nghệ mới nhất (điều khoản này sẽ tự động chuyển thành cam kết của Việt Nam với mọi nước khác chứ không chỉ dành riêng cho Nhật Bản).), Campuchia cũng phải chấp nhận: từ bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản (Hiệp định về nông nghiệp AoA quy định đó là quyền của các LLDCs); áp dụng hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ TRIPs trong thời hạn ba năm (Tuyên bố Doha quy định các thành viên LLDCs được thời hạn đến năm 2022); có cam kết về dịch vụ nghe nhìn và dịch vụ phát hành trong hiệp định GATS (không một nước đang phát triển nào có cam kết trong lĩnh vực này cả). Cũng phải nói phạm trù phân biệt đối xử “kinh tế thị trường / phi thị trường”, không có trong các văn kiện WTO, mà Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu tự đặt ra để vận dụng một cách tuỳ tiện trong các vụ kiện Việt Nam hay Trung Quốc bán phá giá (thay vì so sánh giá xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ với giá bán ở Việt Nam, Hoa Kỳ dùng giá bán ở một nước khác, miễn là có lợi cho nó).

    Thay lời kết luận

    1. Hai tác phẩm năm 2005 và 2006 của Stiglitz không phải là những văn bản lý luận, mà nhắm đến công chúng rộng rãi. Cho nên có thể và đã có những phê phán trên bình diện học thuật, khi Stiglitz sử dụng thống kê đôi lúc thiếu chính xác; hay lúc ông đưa ra lập luận đôi khi thiếu chặt chẽ. Song điều quan trọng, ở đây, là cách đặt vấn đề của Stiglitz có xác đáng hay không? Cải cách WTO cho nó “công bằng” hơn, nhằm tạo điều kiện để các nước nghèo phát triển, thay vì chỉ làm sân chơi ưu đãi của các nước giàu – theo tôi – là một cách đặt vấn đề vừa xác đáng, vừa chính đáng. Tất nhiên, tương quan về quyền lực trên thế giới hiện nay, tuy có chuyển biến từ Cancun, chỉ cho phép tiến từng bước. Đó là mục tiêu đấu tranh mà Stiglitz đề nghị không riêng cho các nước phía Nam. Ông nhắm trước hết dư luận sáng suốt ở các nước phía Bắc: bởi cái mà những nước tư bản phát triển đã làm sau thế chiến thứ hai – điều tiết nền kinh tế thị trường với những định chế chính trị – xã hội trong khuôn khổ của mỗi nước , tại sao họ không thể xây dựng trong khuôn khổ toàn cầu với những định chế chính trị – xã hội quốc tế thích ứng?

    2. Riêng đối với Việt Nam, cách đặt vấn đề của Stiglitz về WTO không đối lập với cách đặt vấn đề hiện nay của đảng cầm quyền. Chúng bổ sung cho nhau. Vấn đề của Việt Nam không chỉ là thực thi những cam kết mà ta đã thoả thuận; đó không chỉ là tôn trọng các luật chơi mà ta đã công nhận. Vấn đề của Việt Nam còn là đấu tranh cải cách sân chơi WTO cho nó bình đẳng hơn; đó còn là thay đổi luật chơi để WTO công bằng hơn đối với các nước đang phát triển.

    Đặt vấn đề này ra, chí ít, có một hệ luận. Trước hết, đàm phán WTO không chỉ là vấn đề của nhà nước, mà còn là vấn đề của xã hội dân sự Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh cải cách WTO, nhà nước có những ràng buộc của nó, cho nên cần một xã hội dân sự để thúc đẩy nó; cần những tổ chức phi chính phủ có tính phản biện cao. Đó là điều kiện để đảm bảo thành công tại WTO. Và, trước mắt, điều có thể tiến hành ngay là cung cấp cho dư luận bản dịch tiếng Việt của hai bộ sách Stiglitz.

    Bởi vì, nói cho cùng, WTO là gì, nếu không phải là cái mà các thành viên của nó tạo ra? WTO là cái mà các nhà nước và xã hội dân sự những nước thành viên của nó làm nên.

    Tháng 7 2007

    Chú thích

    Bài viết của Phan Minh Ngọc, khoa kinh tế, trường đại hoc Kyushu, Nhật Bản (Thời báo kinh tế Sài Gòn, 24.8 2006)

    J. Stiglitz, Fair trade for all. How trade can promote development, (viết cùng với Andrew Charlton), Oxford University Press 2005; bản dịch tiếng Pháp: Pour un commerce mondial plus juste, Fayard 2007. J. Stiglitz, Making globalization work, W.W. Norton 2006; bản dịch tiếng Pháp: Un autre monde. Contre le fanatisme du marché, Fayard 2006. Các chỉ dẫn về trang trong bài viết là của bản dịch tiếng Pháp.

    , Stiglitz vận dụng kinh tế học thông tin để phân tích sự thất bại của mô hình về chủ nghĩa xã hội áp dụng vào các nước Đông Âu. Đồng thời ông cũng phê phán sai lầm của mô hình tân cổ điển về cạnh tranh thị trường sử dụng để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản. Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Quang A, Chủ nghĩa xã hội đi về đâu (Tủ sách SOS², 2003). Xem:www.talawas.org

    Stiglitz gắn liền “con đường thứ ba” với một số gương mặt lãnh đạo chính trị: Bill Clinton (đảng Dân chủ Mỹ), Tony Blair (Công đảng Anh), Gerhard Schroeder (đảng Dân chủ xã hội Đức).

    WTO, Mười điều thường hiểu sai về WTO, www.wto.dddn.com.vn

    .

    Theo Stiglitz, hiệu ứng của những hiệp định WTO là gây cho các nước châu Phi phía Nam Sahara mất mát 1,2 tỷ USD/năm.

      WTO, Hội nghị bộ trưởng Doha 2001: Tuyên bố của các bộ trưởng, WT/MIN(01/DEC/1 2001.

    Xu hướng hiện nay là hình thành mộ Bộ tứ “mới” gồm Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu, đại biểu cho các nước phát triển, Brasil và Ấn Độ, đại biểu cho các nước đang phát triển.

    Trong hướng ngược lại, M. Abbas J.M. Siroen, L’OMC et la mondialisation des économies, IRES và CFE-CGC, 1998.

    Khác biệt đáng chú ý nhất đối với WTO hiện nay là ITO gắn mậu dịch thế giới với những mục tiêu về phát triển, toàn dụng lao động, tiến bộ xã hội. Nó nhấn mạnh đến những phương tiện nhằm giảm thất nghiệp, cải thiện tiền lương, ấn định quy chuẩn lao động.

    Kinh tế gia trưởng của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc .

    , Pincus còn lên tiếng cảnh giác Việt Nam: “Vào WTO: Đừng để Việt Nam trở thành Mêhicô thứ hai”.

    John Rawls, A theory of justice, Harvard Press University 1971. Trong một khung triết học khác, Amartya Sen đi đến những kết luận tương tự trong Development and freedom (Oxford University Press 1999).

    WTO, Hội nghị Doha 2001: Tuyên bố các bộ trưởng, WT/MIN(01)/DEC/1 2001.

    Được hỏi về điều khoản này, Stiglitz khuyên Việt Nam “tìm cách sáng tạo để đặt lại những điều kiện đó với nhà đầu tư mà không vi phạm cam kết” (!). Xem bài phỏng vấn J. Pincus, VietNamNet 13.12 2004.

    [36]Cũng trong hướng này, xem bài của F. Gendreau (chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt), ‘Le Vietnam, l’OMC et la mondialisation’,Courrier du Vietnam, 7.3 2004.

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Wto) Các Nguyên Tắc Wto Với Việc Định Dạng Các Tiêu Chuẩn Mới Trong Kinh Doanh Ở Việt Nam
  • Những Điểm Mới Về Cán Bộ, Công Chức Trong Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ, Công Chức Và Luật Viên Chức Năm 2022
  • Hỏi Đáp Một Số Quy Định Củaluật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ, Công Chức Và Luật Viên Chức Năm 2022
  • Chi Cuc Thu Y Dong Nai
  • Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Thú Y (Phần 5) .công An Tra Vinh
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính Về Môi Trường
  • Quy Định Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường
  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính Về Đất Đai
  • Quyết Định 1118/qđ Năm 1996 Ban Hành Các Mẫu Văn Bản Thanh Tra, Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Bảo Vệ Môi Trường Do Bộ Trưởng Bộ Khoa Học, Công Nghệ Và Môi Trường Ban Hành
  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính
  • Hằng ngày, chúng ta tiếp xúc với hàng hoạt văn bản như quyết định nâng lương, quyết định kỷ luật hoặc giấy mời họp, thông báo,…căn cứ vào nội dung của các văn bản đó mà chúng ta phải thi hành áp dụng theo, đó là loại văn bản hành chính. Bài viết sau đây, Việt Nam Sau Tay Lái sẽ giải thích chi tiết văn bản hành chính là gì cho bạn đọc một cách chi tiết nhất!

    Văn bản hành chính là loại văn bản mang tính thông tin quy phạm Nhà nước, cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý.

    Các loại văn bản hành chính

    Văn bản hành chính thông thường

    Là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong cơ quan, tổ chức. Hệ thống loại văn bản này rất đa dạng và phức tạp, có thể phân thành 2 loại chính:

    Văn bản có tên gọi: Thông báo, báo cáo, biên bản, tờ trình, đề án, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, các loại giấy (giấy đi đường, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy ủy nhiệm,…) các loại phiếu (phiếu gửi, phiếu báo, phiếu trình…). Những văn bản loại này thường thể hiện loại tên gọi cụ thể. Ví dụ:

    • Báo cáo: Dùng để trình bày cho rõ tình hình hay sự việc. Ví dụ: Báo cáo tuần, báo cáo tháng, báo cáo quý, báo cáo năm, báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề, báo cáo hội nghị;
    • Biên bản: Bản ghi chép lại những gì đã xảy ra hoặc tình trạng của một sự việc để làm chứng về sau. Ví dụ: biên bản hội nghị, biên bản nghiệm thu, biên bản hợp đồng, biên bản bàn giao.

    Văn bản không có tên gọi: Công văn là văn bản dùng để giao dịch về công việc giữa các cơ quan đoàn thể. Đối với loại văn bản này thì ở đầu văn bản không thể hiện tên loại văn bản. Đây cũng là cách để phân biệt công văn với loại văn bản hành chính khác.

    Ví dụ: Công văn đôn đốc, công văn trả lời, công văn mời họp, công văn giải thích, công văn yêu cầu, công văn kiến nghị, công văn chất vấn.

    Văn bản hành chính cá biệt

    Là phương tiện thể hiện các quyết định quản lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở những quy định chung, quyết định quy phạm của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc quy định quy phạm của cơ quan mình nhằm giải quyết các công việc cụ thể.

    Văn bản hành chính có vai trò chủ yếu là cụ thể hóa văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn cụ thể các chủ trương, chính sách của nhà nước, hỗ trợ cho quá trình quản lý hành chính nhà nước và thông tin pháp luật.

    Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng văn bản hành chính với văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, được quy định cụ thể tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thể Thức Và Kỹ Thuật Trình Bày, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Trong Các Cơ Quan, Đơn Vị Tuyển Chọn, Tham Khảo Các Mẫu Hợp Đồng
  • Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản
  • Công Chứng Văn Bản Chuyển Nhượng Hợp Đồng Mua Bán Nhà Ở
  • Văn Bản Hành Chính Thông Báo
  • Văn Bản Hành Chính Thông Thường Là Gì
  • Phê Bình Văn Bản Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Hành Chính Là Gì?
  • Soạn Bài: Văn Bản Báo Cáo
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn Lớp 7 Tập Hai
  • Mẫu Báo Cáo Công Việc Theo Tháng, Tuần, Ngày
  • Pháp Luật Và Văn Bản Quy Phạm Nội Bộ
  • Câu hỏi: Phê bình văn bản là gì?

    Trả lời: Nói một cách đơn giản, phê bình văn bản là một phương pháp được sử dụng để xác định điều bản thảo gốc của Kinh Thánh nói. Bản thảo gốc của Kinh Thánh đã bị mất, che giấu, hoặc không còn tồn tại nữa. Những gì chúng ta có là hàng chục ngàn bản sao của những bản thảo gốc có niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Tân Ước) và có niên đại từ thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Cựu Ước). Trong những bản thảo này, có nhiều sự khác biệt nhỏ và một vài khác biệt đáng kể. Phê bình văn bản là sự nghiên cứu của những bản thảo này nhằm xác định xem bản gốc thực sự là gì.

    Có ba phương pháp chính để phê bình văn bản. Đầu tiên là Textus Receptus. Textus Receptus là một bản thảo của Kinh Thánh được biên soạn bởi một người tên là Erasmus vào những năm 1500 sau Công Nguyên. Ông lấy số lượng bản thảo có giới hạn mà ông đã truy cập và biên soạn chúng thành thứ cuối cùng được gọi là Textus Receptus.

    Phương pháp thứ hai được gọi là Majority Text. The Majority Text lấy tất cả các bản thảo có sẵn ngày nay, so sánh sự khác biệt và chọn bản có khả năng chính xác dựa trên việc bản nào xuất hiện nhiều nhất. Ví dụ, nếu 748 bản thảo đọc “ông ấy nói” và 1429 bản thảo đọc “họ nói” thì Majority Text sẽ chọn “họ nói” là bản gốc có khả năng. Không có bản dịch Kinh Thánh chính nào dựa trên Majority Text.

    Phương pháp thứ ba được gọi là phương pháp phê bình hoặc chiết trung. Phương pháp chiết trung bao gồm việc xem xét các bằng chứng bên ngoài và bên trong để xác định văn bản gốc có khả năng. Bằng chứng bên ngoài làm cho chúng ta hỏi những câu hỏi này: trong đó có bao nhiêu bản thảo có bài đọc xuất hiện? Niên đại của những bản thảo này là gì? những bản thảo này được tìm thấy ở những khu vực nào trên thế giới? Bằng chứng bên trong nhắc nhở những câu hỏi này: điều gì có thể đã gây ra những bài đọc khác nhau? Bài đọc nào có thể có khả năng giải thích nguồn gốc của các bài đọc khác?

    Phương pháp nào là chính xác nhất? Đó là nơi cuộc tranh luận bắt đầu. Khi các phương pháp được mô tả lần đầu tiên cho một người nào đó, thì người đó thường chọn phương pháp Majority Text làm phương pháp nên được sử dụng. Về cơ bản nó là “quy tắc đa số” và phương pháp “dân chủ”. Tuy nhiên, có một vấn đề khu vực để xem xét ở đây. Trong vài thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, đại đa số các Cơ Đốc nhân đã nói và viết bằng tiếng Hy Lạp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, tiếng La-tin bắt đầu trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất, đặc biệt là trong nhà thờ. Bắt đầu với bản Latin Vulgate, Tân Ước bắt đầu được sao chép bằng tiếng La-tin thay vì tiếng Hy Lạp.

    Tuy nhiên, trong thế giới Cơ Đốc phương đông, tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ chủ đạo của nhà thờ trong hơn 1.000 năm nữa. Kết quả là, phần lớn các bản thảo tiếng Hy Lạp đến từ khu vực phương Đông/Đế quốc Đông La Mã. Những bản thảo Đế quốc Đông La Mã này đều rất giống nhau. Tất cả chúng đều có nguồn gốc từ cùng một vài bản thảo tiếng Hy Lạp. Mặc dù rất giống nhau, nhưng các bản thảo Đế quốc Đông La Mã có nhiều sự khác biệt so với các bản thảo được tìm thấy ở các khu vực phía Tây và trung tâm của nhà thờ. Tóm lại: nếu bạn bắt đầu với ba bản thảo, và một bản được sao chép 100 lần, một bản khác được sao chép 200 lần, và bản thứ ba được sao chép 5.000 lần, nhóm nào sẽ có quy tắc đa số? Tất nhiên là nhóm thứ ba. Tuy nhiên, nhóm thứ ba không có khả năng có bản gốc nhiều hơn nhóm thứ nhất hoặc nhóm thứ hai. Nó chỉ có nhiều bản sao hơn. Phương pháp phê bình/chiết trung của phê bình văn bản đưa ra “trọng lượng” bằng nhau cho các bản thảo từ các vùng khác nhau, mặc dù các bản thảo từ phương Đông có đa số áp đảo.

    Phương pháp phê bình/chiết trung hoạt động như thế nào trong thực tế? Nếu bạn so sánh Giăng 5:1-9 trong nhiều bản dịch khác nhau, bạn sẽ nhận thấy rằng câu 4 bị thiếu trong các bản dịch dựa theo phương pháp chiết trung. Trong phương pháp Textus Receptus, Giăng 5:4 đọc, “Vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động, lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kì mắc bệnh gì, cũng được lành”. Tại sao câu này lại thiếu trong bản dịch Kinh Thánh sử dụng phương pháp chiết trung? Phương pháp chiết trung hoạt động như sau: (1) Bản văn của Giăng 5:4 không xảy ra trong hầu hết các bản thảo cổ nhất. (2) Bản văn của Giăng 5:4 xảy ra trong tất cả các bản thảo của Đế quốc Đông La Mã, nhưng không có nhiều bản thảo không phải của phương Đông. (3) Có khả năng là người sao chép bản thảo sẽ thêm một lời giải thích hơn là sẽ loại bỏ một lời giải thích. Giăng 5:4 làm cho nó rõ ràng hơn tại sao người bại muốn vào trong ao. Tại sao người sao chép bản thảo lại xóa câu này? Điều đó không có ý nghĩa. Nó có ý nghĩa về mặt truyền thống của lý do tại sao người bại muốn đi xuống ao sẽ được thêm vào. Theo kết quả của những khái niệm này, phương pháp phê bình/chiết trung không bao gồm Giăng 5:4.

    Trở lại trang chủ tiếng Việt Phê bình văn bản là gì?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Văn Bản Là Gì
  • Thông Báo Là Gì? Mẫu Thông Báo Và Hướng Dẫn Cách Viết Thông Báo?
  • Thông Báo Là Gì? Các Loại Thông Báo?
  • Bố Cục Của Văn Bản
  • Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản
  • Văn Bản Điện Tử Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Gửi, Nhận Văn Bản Điện Tử Giữa Các Cơ Quan Trong Hệ Thống Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Quản Lý Văn Bản Đi Và Đến Trong Doanh Nghiệp
  • Tổng Hợp Quy Trình Quản Lý Văn Bản Đến Và Văn Bản Đi
  • Quản Lý Văn Bản Đi, Văn Bản Đến Và Quản Lý Con Dấu
  • Quản Lý Văn Bản Đi, Đến, Nội Bộ
    • Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp thì Văn bản điện tử được hiểu như sau:

      Văn bản điện tử là dữ liệu điện tử được tạo trực tuyến hoặc được quét (scan) từ văn bản giấy theo định dạng “.doc” hoặc “.pdf” và thể hiện chính xác, toàn vẹn nội dung của văn bản giấy.

      Ngoài ra, Nghị định này còn quy định một số định nghĩa khác như:

      1. Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.

      3. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là cổng thông tin điện tử để các tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử; truy cập thông tin về đăng ký doanh nghiệp; công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp và phục vụ công tác cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh.

      4. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tập hợp dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và tình trạng pháp lý của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về doanh nghiệp.

      5. Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Điện Tử Là Gì? Những Xoay Quanh Văn Bản Điện Tử
  • Văn Bản Pháp Luật: Văn Bản Từ Bộ Tài Chính
  • Thể Thức, Kỹ Thuật Trình Bày Thông Tư Liên Tịch Do Bộ Công An Chủ Trì Về An Ninh Trật Tự Được Quy Định Thế Nào?
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Văn Bản Tại Dịch Thuật 123
  • Phần Mềm Dịch Văn Bản Tiếng Anh Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Văn Bản Pháp Quy Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • “văn Bản Pháp Quy” Là Gì? Nghĩa Của Từ Văn Bản Pháp Quy Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Khai Bổ Sung Mục: Mã Văn Bản Pháp Quy
  • Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền
  • Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn
  • Văn bản pháp quy là văn bản bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước từ cơ quan đến địa phương ban hành theo phạm vi thẩm quyền của mình, những quy phạm trong văn bản pháp quy dung để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong đời sống, dựa trên ý chí của nhà nước và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.

    Các quy phạm trong văn bản pháp quy không được trái với các quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Sở dĩ những văn bản này được gọi là văn bản pháp quy bới trong đó chưa các quy định của pháp luật và để phân biệt loại văn bản này – là một văn bản dưới luật với Hiến pháp và các văn bản Luật do Quốc hội hành.

    Đặc điểm của văn bản pháp quy

    Văn bản pháp quy cũng là văn bản quy phạm pháp luật, nên nó mang những đặc điểm của một văn bản quy phạm pháp luật nối chung, bao gồm:

    – Văn bản pháp quy được nhận diện bằng ngôn ngữ viết. Trong việc quản lý bộ máy nhà nước, cơ quan nhà nước ban hành văn bản pháp quy phải có nội dung đầy đủ, được thể hiện bằng ngôn ngữ viết (tiếng Việt). Nội dung yêu cầu phải đề ra được những vấn đề quan trọng bao gồm những quy tắc xử sự cụ thể về mặt nội dung.

    Việc thể hiện văn bản pháp quy thông qua ngôn ngữ viết có ý nghĩa trong việc giúp chủ thể quản lý được một cách rõ nét, mạch lạc các ý chí của mình cũng như thể hiện được đầy đủ những vấn đề xảy ra trong công tác điều hành, quản lý nhà nước. Ngoài ra, văn bản pháp quy còn có thể được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ nói và bằng hành động. Tuy nhiên hình thức này không phổ biến bởi tính áp dụng thực tế không cao.

    – Nội dung trong văn bản pháp quy bao gồm các quy tắc xử sự chung, dung để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, được cơ quan nhà nước ban hành theo thủ tục, trình tự nhất định, thể hiện ý chí của nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Văn bản pháp quy tuy thể hiện ý chí của cơ quan nhà nước nhưng không phải ban hành một cách tùy tiện mà phải theo một trình tự, thủ tục nhất định và phù hợp với nội dung của Hiến pháp và các vabw bản pháp luật hiện hành, đặc biệt, phải phù hợp với mong muốn của nhân dân, tình hình thực tế của đất nước.

    – Văn bản pháp quy được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mỗi cơ quan khác nhau sẽ có thẩm quyền khác nhau về ban hành các văn bản pháp quy khác nhau và chỉ được quyền ban hành các văn bản thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.

    – Hình thức của văn bản pháp quy được pháp luật quy định

    Về vấn đề hình thức của văn bản pháp luật thì sẽ được cấu thành bởi thể thức và tên gọi. Đầu tiên đó là về thể thức thì các văn bản pháp luật ban hành luôn đảm bảo việc tuân thủ về cách thức trình bày theo một khuôn mẫu cũng như kết cấu mà pháp luật quy định đối với từng loại văn bản khác nhau để mục đích đó là tạo ra sự liên kết một cách chặt chẽ giữa nội dung văn bản và hình thức, đảm bảo được sự thống nhất cho toàn bộ hệ thống văn bản cũng như đảm bảo hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước. Tiếp theo về tên gọi thì hiện nay pháp luật rất nhiều loại văn bản có các tên gọi khác nhau như nghị định, nghị quyết, hiến pháp, pháp lệnh, công điện, công văn …, các văn bản cụ thể này được ban hành dựa trên thẩm quyền ban hành của từng văn bản cụ thể.

    Văn bản pháp quy tiếng Anh là gì?

    Văn bản pháp quy tiếng Anh là Legal Documents.

    Văn bản pháp quy trong tiếng Anh được định nghĩa như sau:

    Legal document is a document including legal documents promulgated by state agencies from agencies to localities within their competence, rules in legal documents to regulate relationships. generation arising in life, based on the will of the state and guaranteed to be exercised by state power.

    Regulations in legal documents must not be contrary to those in the Constitution and legal documents promulgated by the National Assembly, the National Assembly Standing Committee and superior state agencies. The reason that these documents are called by law documents in which there are no provisions of law and to distinguish these types of documents – is a sub-law document with the Constitution and law documents promulgated by the National Assembly.

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thứ Bậc Hiệu Lực Pháp Lý Và Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất
  • Văn Bản Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất
  • Văn Bản Có Hiệu Lực Cao Nhất
  • Văn Bản Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất
  • Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Thuyết Minh Là Gì, Phương Pháp Thuyết Minh, Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Thế Nào Là Văn Thuyết Minh?
  • Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Khi viết báo cáo, thông tin, hợp đồng,… có nhiều loại văn bản được sử dụng để diễn đạt thông tin đó. Có thể là văn bản hành chính, công vụ, văn bản nghị luận nhưng loại văn bản hay được sử dụng nhất là văn bản thuyết minh. Trong seri hướng dẫn học và ôn tập ngữ văn trung học cơ sở này mình sẽ giới thiệu về loại văn bản này.

    Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nó cung cấp tri thức khách quan về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân … của sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giải thích.

    Có 6 phương pháp thuyết minh chính mà các bạn cần ghi nhớ gồm:

    Phương pháp thuyết minh định nghĩa, giải thích

    Định nghĩa, giải thích về một danh từ, tính từ, sự việc, sự vật… Ví dụ như định nghĩa tam giác là gì hay giải thích vì sao một tam giác là tam giác vuông ….

    Phương pháp liệt kê

    Là liệt kê những thông tin mà đối tượng có như một chiếc xe đạp thì có các bộ phận như bánh xe, yên xe, sườn xe, cổ xe…

    Phương pháp nêu ví dụ

    Nêu một ví dụ cụ thể về một việc nào đó. Ví dụ nêu ra ví dụ về sự nguy hiểm của virus corona vớ: Sử dụng số liệu cho trước hoặc có sẵn để thuyết minh

    Phương pháp so sánh

    So sánh theo tính chất tương đồng để làm nổi bật đối tượng cần thuyết minh.

    Phương pháp phân loại, phân tích

    Là phương pháp quan trọng nhất, vì nó thể hiện được tính sâu sắc và cụ thể để làm một bài văn thuyết minh ấn tượng và đầy đủ nhất.

    Lưu ý: Có thể kết hợp nhiều phương pháp thuyết minh trong cùng một bài, nhưng lưu ý cần lựa chọn và sử dụng thích hợp.

    Cũng như các loại văn bản khác, khi viết văn bản thuyết minh cũng chia thành 3 phần gồm:

    Ví dụ 1: giới thiệu về một danh lam thắng cảnh của quê hương em.

    Ta có thể giới thiệu vị trí, địa điểm, các cảnh đẹp nổi bật nhất về thắng cảnh đó. Những giá trị văn hóa và kinh tế mà thắng cảnh đó mang lại.

    Ví dụ 2: Thuyết minh về một văn bản mà em đã học

    Ta có thể chọn bất kỳ một bài thơ, bài văn nào đã từng học trước đó như bài mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải. Sau đó giới thiệu sơ qua về tác giả, năm sáng tác và mục đích sáng tác. Sau đó mô tả nội dung và các biện pháp nghệ thuật mà tác phẩm có.

    Ví dụ 3: giới thiệu cách làm một đồ dùng học tập mà em đang sử dụng

    Ta giới thiệu về chất liệu, cách làm theo đúng trình tự và yêu cầu thành phẩm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?
  • Khái Niệm Về Văn Thuyết Minh
  • Http Là Gì? Tìm Hiểu Về Giao Thức Http Và Https
  • Lớp 9: Bài 3 Tổ Chức Và Truy Cập Trên Internet
  • Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuật Ngữ Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài 11: Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Văn Bản (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Văn Bản (Tiếp Theo)
  • Mẫu Đoạn Văn Tiếng Anh Theo Các Chủ Đề Cho Trước
  • Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sử dụng rất nhiều về văn bản nhật dụng, tuy nhiên hiểu rõ về văn bản nhật dụng thì không phải ai cũng nắm được. Văn bản nhật dụng là loại văn bản đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá, … về những vấn đề, những hiện tượng gần gũi, bức xúc với cuộc sống về con người và cộng đồng.

    Văn bản nhật dụng đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật của văn bản. Nói đến văn bản nhật dụng là nói đến tính chất của văn bản đó. Do đó, văn bản nhật dụng có thể sử dụng mọi thể loại, mọi kiểu văn bản.

    Một số đề tài điển hình trong văn bản nhật dụng: môi trường, tham nhũng, nhân quyền, bình đẳng giới, trẻ em, an toàn giao thông, ma túy, ….

    Tính cập nhật trong văn bản nhật dụng

    + Văn bản nhật dụng có tính cập nhật, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, thể hiện rõ đề tài và chức năng của nó.

    + Văn bản nhật dụng cập nhật những vấn đề nóng của xã hội, phản ánh hiện thực xã hội. Dù là tiêu cực hay tích cực đem đến cho học sinh cái nhìn tổng quát về xã hội, giúp học sinh dễ dàng hòa nhập với cuộc sống thực tế, nâng cao ý thức xã hội.

    Tính văn chương của văn bản nhật dụng

    Văn bản nhật dụng không yêu cầu cao về tính văn chương, thay vào đó tập trung vào cách truyền tải thông điệp sao cho người đọc dễ hình dung thấm thía về tính chất thời sự nóng hổi mà văn bản đề cập.

    2. Đặc điểm của văn bản nhật dụng

    Nội dung

    Đề tài mà các văn bản nhật dụng hướng đến đều gắn liền với cuộc sống hàng ngày, những vấn đề gây nhức nhối, xã hội đang quan tâm. Những vấn đề đó có thể là thiên nhiên, con người, văn hóa, đạo đức, … được các phương tiện thông tin đại chúng nhắc đến.

    Nội dung của các văn bản nhật dụng còn có thể là nội dung chính của các chỉ thị, nghị quyết của đảng, cơ quan nhà nước, thông báo, công bố của các tổ chức quốc tế. Ví dụ như chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của đảng, của nhà nước về việc ứng phó với covid-19, …

    Hình thức

    Hình thức biểu đạt của văn bản cũng rất đa dạng, nó có thể là thư, bút ký, hồi ký, thông báo, công bố, …

    Phương thức biểu đạt của văn bản nhật dụng khá là phong phú và đa dạng. Thay vì sử dụng một phương pháp biểu đạt, bạn có thể kết hợp nhiều phương thức biểu đạt trong một văn bản.

    Ví dụ: Kết hợp tự sự với miêu tả, Thuyết minh với miêu tả, Nghị luận với biểu cảm hay kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm.

    3. Ví dụ về văn bản nhật dụng

    Các văn bản nhật dụng được học trong chương trình trung học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì? Hình Thức Và Ví Dụ Về Văn Bản Nhật Dụng
  • Văn Bản Là Gì? Có Mấy Loại Văn Bản?
  • Hướng Dẫn Cách Luyện Gõ Văn Bản 10 Ngón Chuẩn Và Nhanh Nhất
  • Soạn Bài Văn Bản (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Văn Bản Lớp 10
  • Văn Bản Pháp Lý Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Điều Gì Là Quan Trọng
  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 11 Môn Văn
  • Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Văn Năm 2022 Bạc Liêu
  • Đề Thi Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Sở Gd&đt Vĩnh Phúc Năm Học 2022
  • Quản Lý Văn Bản Và Những Điều Cần Biết
  • Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, 9bai Thuyet Giang Phap Luan Dai Phap Cua Su Phu Ly Hong Chi Tai Quang Chau Trung Quoc, Tiểu Luận Giáo Lý Ngũ Uẩn Trong Pháp Học Và Pháp Hành, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao, Tư Cách Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1) Pdf, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80, 7 Bài Pháp Luận Của Thuyết Pháp Về Kinh Phật, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1), Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Vũ Mai Phương, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 2) Pdf, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh, Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 Tập 1, Nghe Giảng Pháp Luân Đại Pháp, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, 9 Bài Giảng Pháp Luân Công – Đại Pháp, Vi Deo Bài Giảng Về Pháp Luân Đại Pháp Của Sư Phụ Lí Hồng Chí, Bài Giảng 2 Pháp Luân Đại Pháp, Tải 9 Bài Giảng Pháp Luân Đại Pháp , Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp, Sách Pháp Luân Đại Pháp, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Sách Nói Pháp Luân Đại Pháp, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Quốc Tịch Của Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Pháp Luân Đại Pháp , Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, ôn Ngữ Pháp N4, ôn Ngữ Pháp N5, Văn Bản Có Giá Trị Pháp Lý Là Gì, Ngữ Pháp ôn Thi Đại Học Môn, Ngữ Pháp Due To, Ngữ Pháp Đảo Ngữ, ôn Ngữ Pháp N3, Bộ Tư Pháp, Ngữ Pháp Bài 9, Từ Bi Sám Pháp, Ngữ Pháp Bài 8, Ngữ Pháp Bài 26, Ngữ Pháp Despite, Ngữ Pháp Anh Văn Lớp 8, Ngữ Pháp Anh Văn Lớp 6, Ngữ Pháp Câu Ao ước, Bài Tập Ngữ Pháp ôn Thi Đại Học, Tư Pháp, Từ Ngữ Pháp, Ngữ Pháp Pet, Ngữ Pháp Other Another, ôn Ngữ Pháp, Ngữ Pháp Ought To, Ngữ Pháp Cơ Bản, Ngữ Pháp Câu ước, Ngữ Pháp Anh Văn Cơ Bản, Ngữ Pháp ôn Thi Đại Học, Ngữ Pháp I Wish, Ngữ Pháp It Took, Ngữ Pháp It Is Said That, Ngữ Pháp If, Bìa Hồ Sơ Pháp Lý, Ngữ Pháp Hsk 4, Ngữ Pháp Hsk 3, Ngữ Pháp Học, Ngữ Pháp Have To, Ngữ Pháp Lớp 9 Hk1, Ngữ Pháp Lớp 9, Ngữ Pháp Lớp 7 Học Kì 2, Ngữ Pháp Lớp 8, Ngữ Pháp Lớp 6, Ngữ Pháp Lớp 5, Ngữ Pháp Lớp 12, Ngữ Pháp Lớp 11, Ngữ Pháp Lớp 10, Pháp Y, Ngữ Pháp Hán Văn, Pháp, Ngữ Pháp Hán Cổ, Ngữ Pháp Enough, Ngữ Pháp N5,

    Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, 9bai Thuyet Giang Phap Luan Dai Phap Cua Su Phu Ly Hong Chi Tai Quang Chau Trung Quoc, Tiểu Luận Giáo Lý Ngũ Uẩn Trong Pháp Học Và Pháp Hành, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao, Tư Cách Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1) Pdf, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80, 7 Bài Pháp Luận Của Thuyết Pháp Về Kinh Phật, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1), Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Vũ Mai Phương, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 2) Pdf, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh, Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 Tập 1, Nghe Giảng Pháp Luân Đại Pháp, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, 9 Bài Giảng Pháp Luân Công – Đại Pháp, Vi Deo Bài Giảng Về Pháp Luân Đại Pháp Của Sư Phụ Lí Hồng Chí, Bài Giảng 2 Pháp Luân Đại Pháp, Tải 9 Bài Giảng Pháp Luân Đại Pháp , Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp, Sách Pháp Luân Đại Pháp, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Sách Nói Pháp Luân Đại Pháp, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Quốc Tịch Của Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế, Pháp Luân Đại Pháp , Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, ôn Ngữ Pháp N4,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Cơ Sở Pháp Lý Là Gì? Nâng Cao Hiểu Biết Về Các Định Nghĩa Pháp Lý
  • Thứ Tự Sắp Xếp Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật
  • Pdf Là Gì? Cách Đọc File Có Đuôi .pdf Trên Máy Tính Pc & Laptop
  • Sự Khác Nhau Giữa Pdf Và Doc, Văn Bản Pdf Và Word
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100