Sự Cần Thiết Của Việc Bảo Vệ Môi Trường (Văn Bản Khoa Học Phổ Cập)

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Là Trách Nhiệm Của Cộng Đồng
  • Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường
  • Bài Soạn Lớp 12: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Mẫu 2
  • Con người có thể nhịn ăn trong 1 tháng, nhịn khát trong 3 ngày, và chỉ nhịn thở được trong vòng 3 phút. Không khí là để thở. Nước là để uống. Đất thì cung cấp thức ăn và nhiều thứ khác nữa. Bảo vệ môi trường sống cũng chính là bảo vệ sự sống của mỗi chúng ta.

    Không khí mà không thở được nữa thì không thể coi là không khí. Nước mà các sinh vật không còn sinh sống trong đó được nữa thì cũng không thể gọi là nước. Đất mà cỏ không mọc nổi thì càng không thể gọi đó là đất.

    Mùa đông năm 1952, ở London, khói từ việc đốt bếp lò bằng than để sưởi ấm đã bao trùm toàn bộ thành phố. Người ta không thể nhìn được. Cảnh sát phải huy động toàn bộ lực lượng để điều khiển giao thông. Họ phải đốt đuốc lên và cầm trên tay. Thế nhưng, điều quan trọng hơn cả là mọi người không thể thở được trong bầu không khí bị ô nhiễm đó. 4000 người đã chết chỉ trong vòng 5 ngày đầu tiên. Và 8000 người nữa trong vài tuần sau đó. Nguyên nhân không phải là do thiên nhiên sinh ra. Đây là kết quả của sự lựa chọn về kinh tế.

    Trong suốt thập niên 40, nước Anh luôn đi đầu về phát triển kinh tế. Nước Anh là nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Họ giữ lại than kém chất lượng để sử dụng vì chúng không thể xuất khẩu được. Và chẳng ai thèm quan tâm tới việc đó. Mãi cho tới tận khi toàn bộ thành phố ngập tràn trong khói than. Và họ không thể thở được nữa. Đến lúc này, người dân London mới phát hiện ra rằng, ô nhiễm có ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng tới sức khỏe của không chỉ một mà là của toàn bộ cộng đồng. Và kể từ khi đó, người ta mới bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới việc là phải bảo vệ môi trường.

    Nước là một tài nguyên thiên nhiên. Thế nhưng, nước không phải là tài nguyên vô hạn. Mặc dù rằng, nước là một tài nguyên có thể tái chế lại từ tự nhiên. Hiện nay, có đến trên 1 tỷ người trên trái đất không có đủ nước để sinh hoạt hàng ngày. Thật khủng khiếp làm sao! Vậy mà, chúng ta thì lại cứ lãng phí chúng một cách vô tội vạ.

    Có đến hai phần ba lượng nước trên thế giới này tồn tại là ở dạng băng đá. Thế nhưng đây là lượng nước mà tự nhiên dùng để dự trữ, phòng khi cần. Việc dự trữ này là cần thiết. Nó cũng giống như kiểu, con người chỉ cần sử dụng 1 quả thận là đủ, 1 lá phổi là đủ. Thế nhưng, tại sao ai ai cũng phải có đến 2 quả thận, và 2 lá phổi? Đó là bởi vì, cần dự trữ để bảo tồn sự sống. Trái đất cũng dự trữ nước. Vì trái đất cũng muốn tự duy trì được sự sống của chính nó.

    Nước biển bốc hơi tạo thành mây. Mây gặp lạnh, tụ lại rồi tạo thành mưa. Nước mưa rơi xuống tạo nên nước dạng lỏng, một phần thành tuyết và một phần giữ lại thành băng đá. Nước dạng lỏng chảy một vòng từ sông, hồ, ao, suối,… . Sau đó nó lại chảy ra biển. Một phần lớn nước ngấm vào lòng đất, chúng trở thành nước ngầm. Nếu chỉ nhìn hoặc nghe, ta thấy, vòng tuần hoàn của nước là một vòng lặp hoàn hảo và không bao giờ kết thúc hay suy kiệt. Thế nhưng, thực tế, vòng tuần hoàn này là rất mong manh. Chúng rất dễ bị phá vỡ. Ví dụ như việc con người đào sông dẫn nước từ một nguồn nào đó về phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp, thậm chí là chỉ để chơi cho nó đã. Thế thôi. Việc này dẫn đến lưu lượng nước xuôi theo dòng chảy của các con sông lớn bị thay đổi. Kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề bị thay đổi theo. Ví dụ như các vùng đầm lầy bị thu hẹp lại vì thiếu nước. Sau đó là đến lượt các sinh vật khu đầm lầy bị chết dần. Hệ sinh thái bị mất cân bằng. Thiên nhiên buộc phải tạo lập một hệ cân bằng mới. Thế nhưng, một hệ sinh thái ở đâu đó bị mất cân bằng thì cũng đồng nghĩa là toàn bộ hệ sinh thái trên trái đất bị mất cân bằng. Cho nên, phá vỡ quy trình hoàn hảo của nước là đã gián tiếp đẩy toàn bộ nhân loại vào cánh cửa sinh tử tồn vong.

    Người ta có thể nói là chúng tôi đào kênh trong địa phận nước chúng tôi, can gì tới các anh. Nói thế là không được. Bởi vì nước thì chẳng của riêng ai cả. Thế nhưng nước là sự sống. Sự sống thì phải là của chung. Không ai được phép, hay có quyền tước đoạt sự sống của kẻ khác.(xem lại tuyên ngôn độc lập để biết thêm chi tiết)

    Bảo vệ nước cũng chính là bảo vệ sự sống trên trái đất này vậy!

    Ngày nay, sự ô nhiễm môi trường đã ngày càng lan rộng hơn tới mọi nơi. Trong ba yếu tố kể trên: không khí, nước và đất thì đất là cái bị ô nhiễm đầu tiên. Còn không khí cùng nước thì là hệ quả tất yếu kéo theo sau đó mà thành. Nếu ví tự nhiên như là một cơ thể người thì sự ô nhiễm của trái đất cũng giống như chúng ta bị già đi hay là bị bệnh vậy. Những cái ít quan trọng sẽ bị cơ thể bỏ đi trước, ưu tiên cho sự sống còn. Não và tim là hai yếu tố được đặt lên hàng đầu. Khi hai thứ này không hoạt động nữa, con người ta sẽ chết. Không khí có thể coi như não, và nước có thể coi như là tim. Còn đất đai? Nó giống như gan vậy.

    Thực chất, ngày nay, đất đai đang bị con người ta làm bạc màu một cách nghiêm trọng. Mặc dù nhìn trên bề mặt thì cây cối vẫn lên xanh tốt, nhưng bên dưới thì đất đã bị kiệt quệ do thực hành nông nghiệp một cách sai lầm. Các thảm thực vật đang dần dần biến mất vì nạn phá rừng bừa bãi và việc quy hoạch trồng cây độc canh quy mô lớn. Đấy là chưa kể đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc diệt cỏ,… . Có đến hàng trăm loại hóa chất trên thị trường ngày nay. Trong cuộc đua gia tăng năng suất, thuốc trừ sâu giúp người nông dân mơ về một tương lai tươi sáng khi năng suất tăng cao và cây trái không có côn trùng phá hoại. Mặc dù những thứ hoa quả được làm ra ngấm đầy thuốc sâu nhưng nhìn thì ngon mắt đến tuyệt vời. Vậy đấy, chính con người, chứ không phải ai khác đã và luôn là kẻ chủ mưu đứng sau khiến cho thiên nhiên và con người đều đi từ ‘thiên đường’ đến ‘địa ngục’.

    Các bạn phải biết rằng, cái mà chúng ta gọi là sự tăng trưởng hay là tiến bộ của khoa học xã hội luôn luôn lấy xuất phát điểm là lợi ích của con người. Nghĩa là nếu như có một hành động nào đó phá vỡ sự cân bằng của tự nhiên, nhưng đồng thời, nó cũng mang lại lợi ích to lớn cho con người thì có lẽ chúng ta vẫn chấp nhận hành động đó. Trong khi đó, sự tồn tại của chúng ta lại phụ thuộc hoàn toàn vào một thứ gọi là sự cân bằng của tự nhiên. Nghĩa là, nếu sự cân bằng ấy bị phá vỡ thì tất cả chúng ta, tất cả mọi sự sống trên trái đất này, đều sẽ bị xóa sổ hoàn toàn.

    Thảm họa môi trường không phải là một điều tất yếu phải xảy ra mà đó là kết quả của sự lựa chọn về kinh tế.

    Tất nhiên, cái gì cũng có một quá trình. Giống như người ta ăn sản phẩm có chứa thuốc trừ sâu vậy. Mỗi ngày ăn một tý, mỗi năm tích một tý. Đến lúc cơ thể sử dụng hết mọi nguồn tài nguyên dự trữ của nó để chống lại chất độc này, và không chống được nữa. Lúc này, con người ta mới phát bệnh. Mà lúc này, đi đến bệnh viện thì chẳng ai cứu nổi nữa. Có chăng chỉ là kéo dài hơi tàn của sự sống mà thôi. (nguồn tài nguyên của cơ thể: xem lại ví dụ về thận và phổi ở đoạn nói về nước)

    Tự nhiên cũng giống như con người. Tự nhiên cũng đang phải sử dụng mọi tài nguyên nó có để chống lại những ‘bệnh’ mà nó mắc phải. Ở đây, chính là sự mất cân bằng tự nhiên. Tự nhiên, đang phải cố gắng hết sức để tái lập lại một hệ thống sinh thái cân bằng mới. Cho nên, thay vì tiếp tục phá hoại nó. Tôi nghĩ, đây là lúc chúng ta phải đoàn kết để bảo vệ môi trường, bảo vệ cho sự sống của tất cả chúng ta.

    Thế giới tự nhiên sẽ không bao giờ tự nhiên sản sinh ra những thảm họa thiên nhiên. Cả trong quá khứ và hiện tại, nguyên nhân của sự việc ấy vẫn luôn là con người chúng ta. Chúng ta đã sai lầm trong cách sống và nghĩ suốt 2000 năm qua . Chúng ta phải trở lại cách nghĩ và sống hòa hợp với thiên nhiên. Phải trả lại sự vận hành tự nhiên cho thiên nhiên. Con người không phải là chủ nhân của trái đất này. Chính trái đất này mới là chủ nhân của nhân loại chúng ta. Chỉ khi nào chính chúng ta thay đổi được mình thì lúc đó thiên nhiên mới có thể trở về lại là thiên đường của sự sống như nó đã từng là. CHÚNG TA PHẢI THAY ĐỔI!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Văn Bản Kế Hoạch Tổ Chức Sự Kiện
  • Mẫu Văn Bản Đề Nghị Đăng Ký Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Của Dự Án
  • Thủ Tục Khai Nhận Di Sản Thừa Kế
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Khi Không Phân Chia Di Sản
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế
  • Những Bất Cập Trong Luật Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Mức Tiền Bồi Thường Khi Nhà Nước Thu Hồi Đất
  • Đơn Giá Bồi Thường Khi Thu Hồi Đất Ở Của 63 Tỉnh Thành
  • Quy Định Bồi Thường Khi Nhà Nước Thu Hồi Đất Tại Các Tỉnh Thành
  • Giá Đất Bồi Thường Khi Thu Hồi Được Xác Định Tại Thời Điểm Nào?
  • Xây Nhà Trên Đất Quy Hoạch Có Được Bồi Thường Không?
  • Sau gần 5 năm triển khai thực hiện, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với xu thế phát triển của đất nước.

    Trên cơ sở Điều 43 và 63 Hiến pháp năm 2013, ngày 23/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 thay cho Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 với nhiều quy định tiến bộ như ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành là nguyên tắc của Luật; quy định Quy hoạch môi trường; quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu…

    Sau gần 5 năm triển khai thực hiện, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 bên cạnh những ưu điểm như kiềm chế việc gia tăng ô nhiễm môi trường, là công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, Luật cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với xu thế phát triển của đất nước.

    Quy hoạch môi trường phải cụ thể và khả thi

    Theo phân tích của Tiến sĩ Bùi Đức Hiển, Viện Nhà nước và Pháp luật và Tiến sĩ Huỳnh Minh Luân, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những điểm nổi bật cơ bản của Luật Bảo vệ Môi trường là đã xây dựng mới nội dung, nguyên tắc và trách nhiệm thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường (từ Điều 8 – 12). Theo đó, Quy hoạch bảo vệ môi trường phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản (khoản 1 điều 8): Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia bảo đảm phát triển bền vững; thống nhất với quy hoạch sử dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của Quy hoạch bảo vệ môi trường; bảo đảm nguyên tắc bảo vệ môi trường.

    Quy hoạch bảo vệ môi trường gồm 2 cấp độ là Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và cấp tỉnh. Chu kỳ Quy hoạch bảo vệ môi trường là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm (khoản 2, 3 Điều 8). Có thể thấy, Quy hoạch bảo vệ môi trường là cơ sở quan trọng để bảo vệ môi trường được hiệu quả…

    Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 quy định cụ thể về nguyên tắc lập Quy hoạch, hệ thống Quy hoạch bảo vệ môi trường; kỳ Quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm quyền, trình tự thủ tục lập, thẩm định, lấy ý kiến, tư vấn, quyết định, phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường; điều chỉnh, công bố, tổ chức thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường …

    Hiện Việt Nam đang song song tồn tại nhiều loại quy hoạch, các quy hoạch này đều được xây dựng dựa trên Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội nhưng giữa các quy hoạch lại có sự thiếu thống nhất, thậm chí là chồng chéo, mâu thuẫn với nhau.

    Đánh giá tác động môi trường phải khách quan

    Đây là quy định quan trọng để phòng ngừa ô nhiễm môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Vấn đề đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được quy định từ Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, dần được hoàn thiện trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.

    Nhưng thực tiễn cho thấy còn nhiều bất cập do chưa có cơ chế giám sát và áp dụng trách nhiệm pháp lý hữu hiệu đối với quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện báo cáo ĐTM, nên việc lập báo cáo ĐTM của các chủ đầu tư dự án vẫn mang tính hình thức.

    Việc thẩm định báo cáo ĐTM chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức hội đồng thẩm định, nhưng nhiều năm nay, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý, nên trách nhiệm của các thành viên Hội đồng thẩm định với kết luận thẩm định chưa cao. Các thành viên Hội đồng thẩm định thường do chủ thể có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM thành lập nên có thể chịu sự chi phối mang tính chủ quan của người thành lập Hội đồng.

    Ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp, thống nhất và đồng bộ

    Nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu được quy định tại Chương VI của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, nhưng lại mang tính hệ thống, chưa được thiết kế logic, phù hợp với lý luận về ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Dưới góc độ lý luận, ứng phó với biến đổi khí hậu được chia thành hai nội dung là thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu. Do vậy, các quy định tại Chương IV cũng cần được thiết kế phù hợp với lý thuyết trên để đảm bảo tính thống nhất, toàn diện của các quy định pháp luật.

    Xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường

    Mặc dù pháp luật hiện hành đã phân loại chất thải thành nhóm chất thải nguy hại và nhóm chất thải thông thường để có quy định quản lý phù hợp nhưng trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, các quốc gia trên thế giới coi ngành công nghiệp tái chế chất thải là ngành “béo bở” để thu lợi nhuận hướng tới phát triển bền vững, thì pháp luật và thực tiễn Việt Nam vẫn chưa coi chất thải thông thường là một loại tài nguyên, để có cơ chế sử dụng hiệu quả nhằm phát triển kinh tế đất nước.

    Chu trình quản lý chất thải từ thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải còn bất cập trong thực hiện; quy định về thu hồi, thải bỏ sản phẩm đã qua sử dụng đã có, nhưng chưa triển khai hiệu quả trên thực tiễn; quy định về kiểm soát chất thải nhựa còn bất cập; trách nhiệm pháp lý với chủ thể vi phạm chưa nghiêm.

    Theo khảo cứu của Tiến sĩ Bùi Đức Hiển và Tiến sĩ Huỳnh Minh Luân, chưa có nhiều cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định trong công tác quản lý chất thải. Trong khi đó, trách nhiệm hành chính quy định trong Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường lại quy định quá nhẹ, chưa đảm bảo tính răn đe.

    Bên cạnh đó, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường còn nhiều hạn chế, như: Chủ thể được quyền khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường chỉ là các cơ quan nhà nước (UBND cấp xã, huyện, tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường). Thực tế thì các chủ thể này chưa từng khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường, chủ yếu chỉ áp dụng trách nhiệm hành chính. Do vậy, vấn đề đặt ra là có nên mở rộng chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.

    Ví dụ, đại diện cộng đồng có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của cộng đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, tài sản và các lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    Pháp luật hiện hành quy định chủ thể bị thiệt hại phải có trách nhiệm chứng minh bên gây thiệt hại có hành vi vi phạm pháp luật môi trường, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi và thiệt hại.

    Song thực tiễn cho thấy, những người bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường yếu thế hơn bên gây ô nhiễm rất nhiều từ tiềm lực tài chính, quan hệ với các cơ quan nhà nước, hiểu biết pháp luật, cho đến tiềm lực về khoa học, kỹ thuật…

    Những chủ thể bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường khó có thể chứng minh được các điều kiện trên để được bồi thường thiệt hại. Do đó, cần tính đến việc thay đổi nghĩa vụ, chứng minh từ các chủ thể bị thiệt hại sang chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

    Về nguyên tắc, tất cả các chủ thể đều có nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường. Tuy vậy, cần phải xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình này. Trách nhiệm bảo vệ môi trường thuộc về Nhà nước, các chủ nguồn thải, các tổ chức, cá nhân và cộng đồng. Theo đó, Nhà nước phải có trách nhiệm hàng đầu trong bảo vệ môi trường, bởi Nhà nước thay mặt nhân dân để quản lý xã hội, trong đó có quản lý nhà nước về môi trường…

    Bên cạnh Nhà nước, chủ nguồn thải đóng vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường, bởi chất thải do các chủ thể gây ra có chứa đựng chất gây ô nhiễm. Pháp luật hiện hành quy định khá cụ thể về nghĩa vụ của các chủ nguồn thải trong bảo vệ môi trường.

    Vì nhiều lý do trong đó có yếu tố lợi ích tư, nhiều chủ nguồn thải vẫn sẵng sàng xả thải ra môi trường, nghĩa là vi phạm pháp luật về môi trường. Đặc biệt, việc xử lý trách nhiệm của các chủ nguồn thải này vẫn chưa được triệt để.

    Trong bối cảnh khi các cơ quan nhà nước và chủ nguồn thải chưa thực hiện đúng, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, nghĩa vụ thì vai trò của tổ chức, cá nhân, cộng đồng hiện nay chưa được đề cao tương xứng với vai trò của họ.

    Vì thế, Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi cần phải nâng cao vai trò của tổ chức xã hội, cộng đồng trong việc phản biện chính sách, quy hoạch, kế hoạch, pháp luật về môi trường; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường; trong khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường… góp phần bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của cộng đồng đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bất Cập Luật Quy Hoạch : Hàng Loạt Dự Án Điện Mặt Trời Nằm Trên Giấy
  • Bất Cập Của Luật Quy Hoạch: Hàng Loạt Dự Án Điện Sạch Đứng Trước Nguy Cơ Mất Ưu Đãi
  • Đbqh Chỉ Ra Bất Cập Của Luật Quy Hoạch, Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư Nói Gì?
  • Nhà Trong Diện Quy Hoạch Sẽ Được Đền Bù Như Thế Nào?
  • Người Dân Được Thỏa Thuận Giá Đền Bù Khi Thu Hồi Đất?
  • Ứng Dụng Khoa Học Và Công Nghệ Trong Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài: Lão Hạc – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Hướng Soạn Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Và Đầy Đủ
  • Soạn Bài: Mẹ Tôi – Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Chính Phủ, Thủ Tướng Ban Hành 6 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tháng 2/2021
  • Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường (BVMT) là mục tiêu lâu dài, nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Do đó, trong những năm qua, việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) trong BVMT tại tỉnh ta ngày càng trở nên cấp thiết.

    Ứng dụng khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trườngMô hình đổi rác thải nhựa lấy đồ dùng tại huyện Thọ Xuân đã và đang góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

    Hoạt động KH&CN đã có những đóng góp tích cực vào việc dự báo, phòng ngừa, cải tạo, phục hồi, xử lý ô nhiễm môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong lĩnh vực y tế, từ năm 2014, một số cơ sở y tế đã ứng dụng công nghệ mới xây dựng hệ thống cấp nước, xử lý nước thải và tăng cường chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện (BV) đa khoa tuyến huyện như, BV Đa khoa huyện Lang Chánh, BV Đa khoa huyện Như Thanh, BV Đa khoa Hàm Rồng… Các BV đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải với mục đích xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường do nguồn nước thải tại các BV bằng công nghệ vi sinh kết hợp lọc nhỏ giọt. Hệ thống xử lý nước thải tại 2 BV trên có công suất 50m3/ngày, đêm với chi phí đầu tư máy móc, thiết bị gần 1,75 tỷ đồng/hệ thống. Tại BV Đa khoa Hàm Rồng, hệ thống xử lý nước thải công suất 70m3/ngày và hệ thống đốt chất thải y tế công suất 20-35kg/giờ. Theo đánh giá của ngành chức năng cũng như đại diện lãnh đạo các BV, sau khi đầu tư và đưa vào hoạt động, hệ thống xử lý nước thải hoạt động tốt, ổn định, nước thải sau xử lý bảo đảm đạt các yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế – QCVN 28:2010/BTNMT. Đặc biệt, từ thực hiện dự án, Trung tâm Thông tin ứng dụng, chuyển giao KH&CN Thanh Hóa đã thành công trong việc điều chỉnh công nghệ nuôi cấy vi sinh từ dạng nuôi cấy màng sinh học sử dụng cấp khí đối lưu sang dạng nuôi cấy sinh khối hiếu khí sử dụng bơm sục có sẵn góp phần tăng cường hiệu quả xử lý nước thải của toàn bộ hệ thống, lượng nước thải đầu ra bảo đảm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế, giảm thiểu suy thoái môi trường…

    Hay trong lĩnh vực nông nghiệp, các địa phương đã đưa chế phẩm sinh học vào xử lý chất thải gia súc, gia cầm và rơm, rạ thành phân hữu cơ, góp phần cải thiện đáng kể môi trường nông thôn, nâng cao năng suất cây trồng… Cùng với đó, việc xây dựng hầm biogas vừa góp phần giải quyết vấn đề năng lượng vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, các nhiệm vụ KH&CN còn nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ như công nghệ lò đốt rác thải sinh hoạt công suất 2 tấn/giờ tại huyện Nông Cống; công nghệ, thiết bị tái chế rác thải nhựa sản xuất sản phẩm nhựa phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng… Từ đó, có thể khẳng định, tỉnh ta luôn khuyến khích đối với dự án ứng dụng công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; thúc đẩy các doanh nghiệp chế biến sâu, tạo sản phẩm có giá trị bằng chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất vốn vay, cơ sở hạ tầng…

    Theo thống kê, trong 5 năm gần đây, toàn tỉnh có trên 20 nhiệm vụ KH&CN thuộc lĩnh vực BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai thực hiện. Các nhiệm vụ KH&CN đã tập trung nghiên cứu, đánh giá, dự báo một số ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu, đánh giá nguồn phát thải; xây dựng các mô hình sử dụng năng lượng tái tạo, mô hình tiết kiệm năng lượng, đưa ra các giải pháp xử lý, thích ứng cũng như giảm thiểu tác động của các chất thải đến môi trường. Đơn cử như xây dựng mô hình khai thác năng lượng mặt trời và sức gió để tạo ra nguồn điện tại chỗ cung cấp cho bộ đội đảo Mê; mô hình xử lý nước thải sinh hoạt tại nguồn ở TP Sầm Sơn; nghiên cứu xác định được nguyên nhân sụt lún đất, khoanh vùng nguy cơ sụt lún đất tại các huyện Hà Trung, Hậu Lộc, Thường Xuân và thị xã Nghi Sơn, đồng thời đưa ra các giải pháp phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại do sụt lún đất; điều tra đánh giá hiện trạng nguồn nước thải trong nông nghiệp, công nghiệp và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước sông Mã, sông Chu. Một số đơn vị đã đầu tư công trình xử lý nước thải bằng phương pháp vi sinh đem lại hiệu quả cao ở Nhà máy Đường Lam Sơn, Nhà máy Bia Thanh Hóa, BV Đa khoa tỉnh, BV Tâm thần. Bên cạnh đó, nhiều đơn vị đã đầu tư xây dựng hệ thống lọc bụi túi vải, lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi bằng cyclon màng nước, cyclon khô để xử lý bụi, khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động như Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, Nhà máy Xi măng Nghi Sơn…

    Được biết, cùng với việc nghiên cứu các giải pháp BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu, hàng năm, toàn tỉnh có từ 30-40 dự án đầu tư được xem xét, thẩm tra về công nghệ BVMT, góp phần nâng cao hiệu quả BVMT trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    Bài và ảnh: Trường Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Loại Văn Bản Kế Hoạch
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Khái Niệm Về Văn Bản Tự Sự Là Gì, Văn Tự Sự Là Gì, Đặc Điểm, Yêu Cầu
  • Hướng Dẫn Canh Lề Văn Bản Trong Word
  • Tự Học Ielts 6.0 Bắt Đầu Với Writing Task 2 (Phần 1)
  • Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Soạn Lớp 12: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Mẫu 2
  • Về Vấn Đề Dịch Văn Bản Khoa Học Kĩ Thuật Và Công Nghệ
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Bài: Văn Bản
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao
  • Vụ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường

    Khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay có vai trò to lớn trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức”, phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới, thể hiện ở vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Vai trò của khoa học và công nghệ là nền tảng để phát triển bền vững kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách và định hướng phát triển đất nước.

    – Đại hội XI của Đảng xác định: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế trí thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.”.

    – Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội”.

    – Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng xác định một trong năm giải pháp để thực hiện Nghị quyết làĐẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.

    KH&CN trong lĩnh vực môi trường giữ một vị trí quan trọng trong việc thiết lập các cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn để xây dựng cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường hoặc các giải pháp quản lý nhà nước, giải pháp công nghệ, kỹ thuật phục vụ công tác BVMT.

      Về xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống quản lý trong công tác bảo vệ môi trường

    Các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng cơ chế, chính sách, hệ thống quản lý, nhằm đảm bảo tính khả thi khi triển khai trên thực tế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về công tác bảo vệ môi trường. Luật BVMT 2014, Luật Đa dạng sinh học 2008, Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2021, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược Bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2021 và định hướng đến năm 2030… đều được xây dựng với sự đóng góp tích cực của các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN gắn kết với thực tiễn quản lý.

    Khung Bộ luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được đề xuất là tiền đề quan trọng để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, bộ luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam

    2) Về xây dựng công cụ quản lý

    Song song với việc xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong giai đoạn vừa qua, các nghiên cứu khoa học của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cung cấp cơ sở để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn-quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam là công cụ quản lý hữu hiệu phục vụ đánh giá, kiểm soát chất lượng hoạt động bảo vệ môi trường; xây dựng các công cụ để hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương triển khai hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường (xây dựng quy trình đánh giá tác động môi trường; cơ chế chi trả dịch vụ môi trường; phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường; phương pháp luận tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe; quy trình và phương pháp xác định thiệt hại dân sự, giải quyết bồi thường thiệt hại…).

    3) Góp phần nâng cao năng lực quan trắc môi trường; dự báo, kiểm soát, phòng ngừa, giảm thiểu, xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, khắc phục suy thoái môi trường, phòng chống các sự cố, thảm họa môi trường.

    Kết quả nghiên cứu của nhiều chương trình, đề tài, dự án KH&CN các cấp đã được ứng dụng, triển khai trong thực tế, góp phần không nhỏ trong công tác xử lý, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường:

    – Xây dựng hệ số phát thải phục vụ công tác thống kê nguồn thải lưu vực sông ở Việt Nam; hệ số phát thải phục vụ kiểm soát khí thải đối với một số ngành công nghiệp chính ở Việt Nam;

    – Hướng dẫn kỹ thuật quản lý về bảo vệ môi trường tại các cơ sở nghiên cứu hóa học, sinh học; các quy trình phân tích thông số môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam;

    4) Đóng góp quan trọng trong việc sử dụng hợp lý, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, phát triển bền vững

    – Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác bảo vệ môi trường: thiết lập sơ đồ mô hình cảnh báo, điều khiển từ xa phục vụ quan trắc các thông số môi trường; phương án công nghệ xử lý nước thải có tính thân thiện môi trường; xây dựng phương pháp và tiêu chí đánh giá công nghệ; Ứng dụng GIS và ảnh viễn thám quang học Landsat, Quickbird và ảnh Palsar theo dõi sự biến động của một số thành phần môi trường,….

    – Đề xuất thành lập, thiết kế và quản lý hành lang đa dạng sinh học; đề xuất các mô hình làng sinh thái ….

    – Xây dựng mô hình thử nghiệm khoanh tạo rừng ngập mặn thành công là cơ sở cho việc nhân rộng rừng ngập mặn, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn và đóng góp đáng kể vào quá trình bảo tồn đa dạng sinh học;

    – Xây dựng được bản đồ hiện trạng đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ và đề xuất được Danh lục động, thực vật và hệ sinh thái ưu tiên bảo về đến 2021;

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai có hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp đã có những đóng góp tích cực, tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên theo yêu cầu của thực tiễn công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong công tác xây dựng, hoàn thiện và triển khai hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như xác lập được các công cụ, giải pháp quản lý, công nghệ, kỹ thuật, phục vụ đắc lực và hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước về môi truờng. Các nghiên cứu gắn liền với thực tiễn đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc, bất cập trong việc thực thi các quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đề xuất được những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại Việt Nam.

    Văn kiện Đại hội XI

    Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011)

    Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

    Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

    Luật Đa dạng sinh học 2008.

    Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2021, tầm nhìn đến năm 2030.

    Chiến lược Bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2021 và định hướng đến năm 2030.

    Báo cáo công tác ngành tài nguyên và môi trường năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2021.

    Mua bán piano Nhật

    ………………………………………………………………………………………………….

    , Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Là Trách Nhiệm Của Cộng Đồng
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Sự Cần Thiết Của Việc Bảo Vệ Môi Trường (Văn Bản Khoa Học Phổ Cập)
  • Mẫu Văn Bản Kế Hoạch Tổ Chức Sự Kiện
  • Mẫu Văn Bản Đề Nghị Đăng Ký Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Của Dự Án
  • Nhiều Bất Cập Trong Việc Thu Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải

    --- Bài mới hơn ---

  • Sau Tăng Kịch Khung Thuế Bảo Vệ Môi Trường Với Xăng Dầu Là Đề Án Thu Phí Với Khí Thải?
  • Hội Nghị Triển Khai Nghị Định 25/2013/nđ
  • Dự Thảo Nghị Định Của Chính Phủ Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Nghị Định Của Chính Phủ Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Nghị Định Của Chính Phủ Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường
  • Thu phí BVMT nước thải góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm BVMT đối với các tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường

    Quy định thu phí nước thải theo nghị định 154

    Chính phủ ban hành nghị định 154, quy định việc nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.

    Theo đó, mức phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần thiết áp dụng mức thu cao hơn, HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức cụ thể phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

    Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng (trừ hộ gia đình thuộc trường hợp được miễn phí), mức phí được xác định theo từng người sử dụng nước căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường, thị trấn nơi khai thác và giá bán 1m3 nước sạch trung bình tại xã, phường, thị trấn.

    Nghị định quy định, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp cố định phải nộp là 1,5 triệu đồng/năm, cộng thêm với phí biến đổi, tính theo tổng lượng nước thải ra và hàm lượng thông số ô nhiễm.

    Các trường hợp được miễn phí BVMT đối với nước thải gồm nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các cơ sở sản xuất, chế biến; nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; Nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn và những nơi uchưa có hệ thống cấp nước sạch; Nước làm mát thiết bị, máy móc không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm…

    Nghị định quy định rõ, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và có thể phân cấp cho Phòng TN&MT cấp huyện thực hiện việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn.

    Đơn vị cung cấp nước sạch thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân sử dụng nước sạch. UBND xã, phường, thị trấn thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng.

    Thu phí BVMT nước thải là quy định nhằm giúp nâng cao nhận thức về trách nhiệm BVMT đối với các tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường. Mặt khác, thông qua việc thu phí sẽ giúp cơ quan quản lý về môi trường kiểm soát các nguồn thải chặt chẽ hơn. Song, trên thực tế, việc triển khai thực hiện những quy định trong Nghị định 154 vẫn còn vướng nhiều khó khăn trong xác định đối tượng, mức phí… mà các tổ chức, cá nhân phải nộp.

    Theo Nghị định 154 về phí BVMT đối với nước thải thì nước thải từ các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung; nuôi trồng thủy sản; khai thác khoáng sản được quy định là đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.

    Tuy nhiên, trên thực tế rất khó có thể xác định được quy mô tập trung như thế nào thì phải nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Tại các vùng nông thôn, hầu hết các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm hay nuôi trồng thủy sản chủ yếu chỉ ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún, lượng nước thải phát sinh cũng không lớn, nên sẽ rất khó khăn nếu buộc nông dân phải kham thêm khoản phí cố định 1,5 triệu đồng/năm.

    Ngoài ra, trong hoạt động khai thác khoáng sản, nước thải từ khai thác khoáng sản chủ yếu là nước mưa hoặc với các loại hình như khai thác cát thì không sử dụng nước nhưng lại nằm trong đối tượng phải nộp phí BVMT với nước thải. điều này khiến cho các chủ doanh nghiệp bức xúc, các ngành chức năng khó khăn trong việc tính toán lưu lượng nước thải và áp dụng mức thu cho các đơn vị này.

    Đối với các hộ gia đình sử dụng nước cấp từ hệ thống cấp nước tập trung, việc đóng phí BVMT đối với nước thải hoặc đóng phí dịch vụ thoát nước đều đóng cho đơn vị cung cấp nước sạch. Các đối tượng chịu phí khác sẽ do các Sở TN&MT hoặc chủ sở hữu hệ thống thoát nước tính toán, xác định và trực tiếp thu. Như vậy cần phải xác định thêm cơ quan trả lương cho đội ngũ thu phí và ban hành cơ chế vận hành cho đội ngũ thu phí.

    Nhiều ý kiến cho rằng, những nghị định về thu phí BVMT với nước thải có phạm vi áp dụng quá rộng mà lực lượng của các Chi cục Bảo vệ môi trường lại ít, nên rất khó có thể rà soát đúng và đủ danh sách thuộc diện thu phí.

    Nhiều quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được kỳ vọng sẽ là cơ sở pháp lý giúp công tác quản lý, bảo vệ môi trường chặt chẽ hơn, song, việc triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa thật sự triệt để theo quy định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sẽ Quy Định Rõ Mức Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải Được Thay Đổi Trong Nghị Định 53
  • Quy Định Mới Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Sẽ Có Nghị Định Mới Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Các Văn Bản Pháp Luật Hiện Hành Về Môi Trường
  • Đường Lối Của Đảng Về Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Văn Bản Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Thực Sự Đi Vào Cuộc Sống
  • Cần Tuyên Truyền, Phổ Biến Rộng Rãi Các Văn Bản Mới Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Ký Nháy Là Gì? Quy Định Về Ký Nháy? Trách Nhiệm Của Người Ký Nháy?
  • Cách Dùng Ký Nháy, Ký Chính Thức
  • Người Ký Nháy Phải Chịu Trách Nhiệm Gì?
  • a) Mục tiêu, quan điểm bảo vệ môi trường

    – Mục tiêu đến năm 2021, tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường.

    Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn.

    Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, trước tiên đối với các vùng dễ bị ảnh Hưởng, các vùng ven biển.

    – Quan điểm bảo vệ môi trường:

    Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường:

    Để phát triển bền vững, cần tập trung phát triển mạnh các ngành nghề tạo ra sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao, mặt khác cần bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên, môi trường.

    Cần khai thác, sử dụng đúng tài nguyên, tiết kiệm nhiên liệu, nguyên liệu, bảo vệ môi trường.

    Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế ngành, vùng, lĩnh vực và các chương trình, dự án đầu tư. Mọi công trình xây dựng mới bắt buộc phải thực hiện nghiêm quy định bảo vệ môi trường.

    Hai là, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, điều kiện cốt yếu đế thoát khỏi đói nghèo, phát triển con người toàn diện:

    Cần kết hợp cân đối, hài hoà giữa phát triển kinh tế, thận trọng xử lý triệt để việc thải vào môi trường chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường.

    Khuyến khích phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường, triển khai mạnh mẽ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở lưu vực sông, các khu công nghiệp, làng nghề.

    Các cấp, các ngành, mọi cơ quan, trường học, khu dân cư… phải quan tâm, có đề án thực hiện bảo vệ môi trường trong đề án phát triển kinh tế của mình.

    Ba là, coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và thảm hoạ thiên nhiên:

    Những năm gần đây, tình trạng biến đổi khí hậu, những thảm hoạ môi trường ngày càng nhiều. Với mực nước biển dự báo sẽ dâng cao gần 1,0 mét vào cuối thế kỷ này, 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long bị ngập, 30% diện tích đồng bằng sông Hồng nằm dưới mực nước biển; 10% – 12% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP Bởi vậy, cần đẩy nhanh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đối khí hậu, nước biển dâng.

    Triển khai phát triển và hiện đại hoá ngành khí tượng thuỷ văn phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái…

    Trên thế giới, điển hình là cơn địa chấn ở Thái Bình Dương gây sóng thần ở Dông Nam Á và Đông Á ngày 26/12/2004, làm 200.000 người chết và mất tích. Trận động đất ở Tứ Xuyên (Trung Quốc ngày 12/5/2008 đã làm trên 80.000 người chết. Thiệt hại do sóng thần, động đất ở Nhật Bản ngày 11/3/2011. Hãng tin AFP cho biết đến sáng ngày 21/3/2011, số người thiệt mạng là 8.450 người 12.931 người mất tích, tổng thiệt hại lên đến 300 tỷ USD, tương đương 4% GDP của Nhật Bản. Mưa lớn trái mùa ở Hà Nội (11/2008), mưa 3-4 ngày, bằng lượng mưa cả năm ở miền Trung (2010).

    Bốn là, xử lý triệt để những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đẩy mạnh cải tạo môi trường:

    Hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm bảo vệ môi trường. Các cơ sở sản xuất kinh doanh cần nghiêm chỉnh chấp hành các văn bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường.

    Nhà nước và người dân thường xuyên kiểm tra, thanh tra các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

    Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng cỏ hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác:

    Hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất đai, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Coi phòng ngừa và ngăn chặn kết hợp với xử lý ô nhiễm môi trường.

    Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường. Tiếp tục hoàn thiện chính sách về đất đai. chính sách khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước; đổi mới công tác quản lý khai thác, sử dụng khoáng sản…

    Sáu là, bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của mọi công dân:

    Chủ trương bảo vệ môi trường cần được thể chế hoá thành pháp luật. Khắc phục tư tưởng vì lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ bảo vệ môi trường.

    Các chỉ tiêu về môi trường phải được sử dụng để đánh giá chất lượng, hiệu quả và tính bền vững trong sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của quốc gia, ngành, địa phương và cơ quan. Trong bảo vệ môi trường phải lấy phương châm phòng ngừa là chính. Thúc đẩy sự hình thành ngành công nghiệp môi trường.

    Ngành tài nguyên và môi trường cần đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nâng cao năng lực dự báo thời tiết; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế

    Quản lý tài nguyên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; hoàn thiện, vận lành thông suốt cơ chế quản lý biển, hải đảo; khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường.

    b) Công dân với việc bảo vệ môi trường

    Bảo vệ môi trường “xanh, sạch, đẹp” là bảo vệ chính mình, là vấn đề sống còn, là trách nhiệm của bất kỳ nước nào, cơ quan, tổ chức hay cá nhân con người.

    Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, nhất là thể hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về môi trường và sự cần thiết của bảo vệ môi trường đồng nghĩa với việc bảo vệ sự sống của chính mình; mọi công dân rèn cho được ý thức bảo vệ môi trường trở thành thói quen, nếp sống hàng ngày.

    Mỗi công dân phải gương mẫu tích cực giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường nơi cư trú, nơi học tập, công tác và mọi nơi trong xã hội.

    Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, có ý thức trồng cây, trồng rừng, ngăn chặn nạn phá rừng, bảo tồn thiên nhiên. Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái.

    Tham gia tích cực trong phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Tự giác thực hiện và khuyến khích mọi người áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường.

    Bảo vệ môi trường là phát triển bền vững đòi hỏi quyết tâm cao, nhận thức và hành động thường xuyên của từng người, cả cộng đồng. Điều đó hình thành nên đạo đức và là tiêu chí của xã hội văn minh trong thời đại mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giữ Vững An Ninh Quốc Gia Và Đảm Bảo An Ninh Kinh Tế Trong Tình Hình Mới
  • Quan Điểm Của Đảng Về Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế
  • Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưở
  • Ư Tưởng Quan Điểm Của Đảng Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị Nội Bộ Kinh Tế Văn Hóa Tư Tưởng
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hoá Tư Tưởng
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Tờ Trình Dự Án Nghị Định Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Khai Thác Khoáng Sản
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Và Đáp Án Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 Và Nghị Định 19/2015/nđ
  • Luật Bảo Vệ Môi Trường Và Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành
  • Nội Dung Chương Iv Nghị Định 38/2015/nđ
  • Nghị Định Sửa Đổi Bổ Sung Hướng Dẫn Thi Hành Luật Bảo Vệ Môi Trường
  • Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản là: Đá, tràng thạch, sỏi, sét, thạch cao, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên và sa khoáng titan (ilmenet).

    Đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân khai thác các loại khoáng sản nêu trên.

    Tờ khai phí bảo vệ môi trường áp dụng đối với cơ sở khai thác khoáng sản theo mẫu số 01/BVMT ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.

    Tờ khai phí bảo vệ môi trường áp dụng đối với cơ sở thu mua khoáng sản nộp phí thay người khai thác theo mẫu số 02/BVMT ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính .

    Hồ sơ kê khai phí bảo vệ môi trường là Tờ khai phí bảo vệ môi trường áp dụng đối với cơ sở khai thác khoáng sản theo mẫu số 01/BVMT và Tờ khai phí bảo vệ môi trường áp dụng đối với cơ sở thu mua khoáng sản nộp phí thay người khai thác theo mẫu số 02/BVMT.

    Tờ khai gửi đến cơ quan thuế được coi là hợp lệ khi:

    Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải nộp hồ sơ kê khai tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp

    Tổ chức, cá nhân thu mua gom khoáng sản đăng ký nộp thay người khai thác thì nộp hồ sơ kê khai với chi cục thuế quản lý nơi có khoáng sản khai thác.

    Phí bảo vệ môi trường là loại kê khai theo tháng.

    Thời hạn nộp hồ sơ kê khai tháng chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ phí bảo vệ môi trường.

    Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán năm chậm nhất là ngày thứ chín mươi, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính.

    Người nộp phí bảo vệ môi trường chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc lập tờ khai phí bảo vệ môi trường. Trường hợp cơ quan thuế qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện các số liệu trên tờ khai là không trung thực, không chính xác, Người nộp phí bảo vệ môi trường sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

    Người nộp phí bảo vệ môi trường phải ghi đầy đủ các thông tin của kỳ kê khai phí (tháng) và các thông tin đã đăng ký thuế với cơ quan thuế theo hướng dẫn sau.

    – Người nộp thuế: Người nộp phí phải ghi chính xác tên như tên đã đăng ký trong tờ khai đăng ký thuế.

    – , Địa chỉ, Quận/Huyện, Tỉnh/Thành phố: Ghi rõ số nhà, tổ, đường phố, Quận/Huyện, tỉnh/Thành phố theo địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế.

    – , đến mã số cho đến [09] công ty kê khai đầy đủ như hướng dẫn trên

    Số tiền phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản phải nộp vào NSNN trong kỳ này là Bốn triệu hai trăm ngàn đồng chẵn.

    Tôi cam đoan số liệu kê khai trên là đúng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về số liệu đã kê khai./.

    Người nộp thuế (ký tên, đóng dấu)

    ? Hoặc tổng đài giải đáp của Kế Toán Hà Nội 1900 6246

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ 01/7/2020, Áp Dụng Quy Định Mới Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Với Nước Thải
  • Tư Vấn Lập Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Theo Nghị Định 18/2015
  • Hướng Dẫn Lập Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường 2021
  • Lập Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Theo Nghị Định 18/2015/nđ
  • Lập Đề Án Bảo Vệ Môi Trường Theo Nghị Định 18/2015/nđ
  • Môi Trường Là Gì ? Vai Trò Của Môi Trường Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Pháp Luật Và Các Dòng Luật
  • Ảnh Hưởng Của Môi Trường Pháp Luật Trong Kinh Doanh Quốc Tế
  • Tư Vấn Pháp Luật Thương Mại Uy Tín Luật Quốc Huy
  • Trọng Tài Thương Mại Là Gì? Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?
  • Mục Đích Chính Trị Và Sự Phản Khoa Học Từ Bài Tập Luyện Của Pháp Luân Công
  • 1. Môi trường là gì ?

    Môi trường là các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.

    2. Khái niệm môi trường bao gồm các nội dung sau:

    Môi trường được tạo thành bởi các yếu tố (hay còn gọi là thành phần môi trường) sau đây: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.

    Trong đó, không khí, đất, nước, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên… là các yếu tố tự nhiên (các yếu tố này xuất hiện và tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người); khu dân cư, khu sản xuất, di tích lịch sử… là yếu tố vật chất nhân tạo (các yếu tố do con người tạo ra, tổn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người). Không khí, đất, nước, khu dân cư… là các yếu tố cơ bản duy trì sự sống của con người, còn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh… có tác dụng làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú và sinh động.

    3.1 Môi trường nhân tạo là gì ?

    Khái niệm môi trường nhân tạo là tất cả các yếu tố do con người tạo như thành phần hoá học, tính chất vật lý… Những yếu tố này do con người tạo ra và bị con người chi phối.

    Một số ví dụ tiêu biểu về môi trường nhân tạo:

    Tại Singapore con người đã tạo ra một khu rừng nhiệt đới dưới dạng công viên vịnh nơi đa phần các cây tự nhiên không thể tồn tại ở quốc đảo này.

    Hay kho hạt giống được chôn sâu bên trong một ngọn núi trên quần đảo Nauy 130 m, kho dự bị được thiết kế để bảo vệ những hạt giống quý giá nhất thế giới khỏi thảm hoạ, để đảm bảo tương lai của nguồn cung lương thực toàn cầu. Và rất nhiều công trình nhân tạo khác của con người có thể tạo ra những môi trường sống khác biệt, tách biệt và riêng có với thế giới tự nhiên.

    3.2 Môi trường xã hội là gì ?

    Khái niệm môi trường xã hội là mối quan hệ giữa người với người. Đó là các luật lệ, cam kết, thể chế, ước định… ở các cấp khác nhau. Môi trường xã hội có nhiệm vụ định hướng con người theo một khuôn khổ nhất định để cho sự phát triển được thuận lợi, khiến cuộc sống của con người khác với sinh vật khác.

    Cũng theo một góc nhìn rộng hơn thì Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch sử, giáo dục… xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình. Môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợ cho nhau, con người sống sẽ được hưởng đầy đủ các quyền: sống, làm việc, cống hiến, hưởng thụ. Mặt trái của môi trường xã hội là các tệ nạn xã hội.

    3.2 Môi trường sống là gì ?

    Môi trường sống được hiểu là không gian sống, cung cấp tất cả nguồn tài nguyên thiên nhiên, đây cũng là nơi chứa đựng các phế thải do chính con người tạo ra trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, môi trường sống có trong lành thì con người mới đảm bảo có sức khỏe.

    Môi trường sống hiểu một góc độ rộng hơn có thể bao hàm cả môi trường sống của các loại động vật, các loại sinh vật, vi sinh vật … cùng tồn tại, sinh tồn trên trái đất nơi chứa đựng các sự sống nói chung.

    + Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 số 52/2005/QH11);

    + Môi trường biển là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật (theo Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hải đảo).

    + Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch (theo Luật du lịch năm 2005);

    + Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin (Theo luật công nghệ thông tin năm 2006);

    + Môi trường rừngbao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác (căn cứ theo nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng).

    + Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (theo luật bảo vệ môi trường năm 2005);

    Và rất nhiều khái niệm đã được luật hóa khác liên quân đến môi trường như: Môi trường nông nghiệp nông thôn, môi trường xây dựng, môi trường tiêu chuẩn…

    4. Vai trò của môi trường đối với con người ?

    Để đảm bảo sự sống của con người thì môi trường là yếu tố đầu tiên và quan trọng bậc nhất, bởi lẽ:

    Thứ nhất, Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. Rất dễ dàng nhận thấy mọi ngành sản xuất đều gắn với các tài nguyên của người mẹ thiên nhiên như:

    + Trồng lúa cần có đất nông nghiệp, ngành xây dựng cần vật liệu xây dựng thô như đất, đá và các vật liệu xây dựng qua chế biến như xi măng, sắt, thép…;

    + Rừng tự nhiên phục mụ chức năng cung cấp nước, gỗ, bảo vệ sự đa dạng sinh học và thông qua đó cải thiện môi trường chung của hệ sinh thái;

    + Biển cung cấp các nguồn hải sản, nước… phụ vụ nhu cầu sinh tồn của con người….

    + Động vật và thực vật cung cấp nguồn lương thực dồi dào trực tiếp phụ vụ đời sống của con người.

    + Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió… là nguồn cung cấp điện năng, sự sống trực tiếp cho con người.

    Do vậy, có thể thấy rằng con người phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp vào môi trường. Không có môi trường sẽ không có sự sống của con người.

    Thứ hai, môi trường cũng chính là nơi chứa đựng các chất phế tại do con người tạo ra.

    Trong quá trình sinh sống, còn người gần như đảo thải tất cả các chất rác thải, phế thải vào môi trường. Các chất này dưới tác động của ác vi sinh vật sẽ phân hủy, biến đổi theo các quá trình sinh địa hóa rất phức tạp khác nhau. Qua các quá trình biến đổi tự nhiên các chất thải có thể tái sử dụng dưới các dạng thức khác nhau và một phần tạo thành các độc tố gây hại cho môi trường sống.

    Thứ ba, Môi trường giữ chức năng lưu trữ và cung cấp các thông tin cho con người.

    Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:

    – Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.

    – Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…

    – Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác.

    Thứ tư, Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài.

    Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời.

    Và rất nhiều các vai trò quan trọng khác mà chúng tôi chưa thể phân tích kỹ trong một bài viết cụ thể.

    5. Tại sao cần phải bảo vệ môi trường ?

    Như đã phân tích ở trên, môi trường là không gian sống quan trọng nhất của con người, sinh vật, thực vật nên bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống nói chung và bảo vệ sự phát triển lâu dài của con người nói riêng.

    Bảo vệ môi trường là việc sử dùng hài hòa các nguồn tài nguyên có giới hạn như (nước, than, đá, dàu mỏ …) và tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo phù hợp với môi trường sống bền vững như năng lượng điện, gió … Sử dụng các nguồn nặng lượng hóa thạch sẽ góp phần tạo ra khí thải làm trái đất nóng lên, nếu không có sự vào cuộc ngay theo dự kiến trong 100 năm tới trái đất sẽ tăng từ 1,5 đến 5,8 độ C. Như vậy, các thảm họa thiên nhiên sẽ không thể tránh khỏi và thiệt hại từ các thảm họa sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.

    6. Các biện pháp bảo vệ môi trường hiện nay là gì ?

    Dưới góc nhìn quốc tế, quốc gia thì bảo vệ môi trường là việc làm của mọi quốc gia cần tham gia và phê duyệt các công ước, điều ước quốc tế.

    Hiện nay, với Việt Nam chúng ta đã tham dự nhiều hiệp định về bảo vệ môi trường như:

    + Hiệp định thương mại tự do ASEAN (ASEAN FTA) có quy định về việc vận chuyển sản phẩm hàng hóa nguy hiểm đến môi trường, hoặc Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN – Ấn Độ có quy định các lĩnh vực hợp tác kinh tế trong đó có lĩnh vực môi trường. Vấn đề môi trường đã được đề cập cụ thể như tại Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Trong 30 chương của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), 12 nước đã thống nhất dành hẳn 1 chương để cam kết các vấn đề về môi trường như ô nhiễm môi trường, buôn bán động vật hoang dã, khai thác, đánh bắt trái phép thủy hải sản. Hai hiệp định Việt Nam – EU, Việt Nam – Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) chủ yếu đề cập đến một số vấn đề môi trường bao gồm: BĐKH, các vấn đề môi trường (nói chung), bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải, đào tạo và giáo dục về môi trường.

    Các Hiệp định đa phương về môi trường mà Việt Nam là thành viên được chia thành 8 lĩnh vực sau:

    Lĩnh vực 1: Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học

    Lĩnh vực 2: Quản lý đất

    Lĩnh vực 3: Quản lý các nguồn nước quốc tế

    Lĩnh vực 4: Bảo vệ môi trường biển

    Lĩnh vực 5: Bảo vệ tầng zone

    Lĩnh vực 6: Ứng phó với biến đổi khí hậu

    Lĩnh vực 7: Quản lý rác thải

    Lĩnh vực 8: Quản lý hóa chất

    Dưới góc nhìn mỗi cá nhân việc bảo vệ môi trường có thể được thực hiện dưới những hành vi nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn như:

    + Hạn chế sử dụng túi nhựa, túi nilon;

    + Tiến hành phân loại rác tại nhà, tái sử dụng những loại chai nhựa, giấy và túi nilon

    + Trồng cây xanh tại nơi đất trống đồi trọc, nơi đầu nguồn để chống xói mòn, sạt lở đất và trồng cây xanh xung quanh nơi ở để điều hòa không khí, cân bằng hệ sinh thái

    + Không vứt rác bừa bãi, đặc biệt là vứt tại sông, suối, ao, hồ, bờ biển, … tránh gây ô nhiễm nguồn nước

    + Thực hiện xử nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường

    + Sử dụng phương tiện giao thông chạy bằng điện hoặc năng lượng mặt trời, … để giảm khí thải CO2 gây ô nhiễm không khí và rất nhiều biện pháp, việc làm nhỏ, đơn giản, dễ thực hiện nhưng mang lại hiệu quả cao khác nữa …

    7. Một số văn bản pháp luật về môi trường của Việt Nam

    + Luật bảo vệ môi trường năm 1993; Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (văn bản mới nhất và đang có hiệu lực: Luật bảo vệ môi trường năm 2014)

    + Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2021;

    + Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010;

    7.2 Các nghị định hướng dẫn luật môi trường:

    – Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định quy hoạch bảo vệ moi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

    – Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

    – Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bao vệ môi trường do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2021.

    – Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường;

    7.3 Một số thông tư hướng dẫn nghị định, luật môi trường:

    – Thông tư 25/2019/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 40/2019/NĐ-CP dịch vụ quan trắc môi trường

    – Thông tư 26/2015/TT-BTNMT bảo vệ môi trường chi tiết đề án bảo vệ môi trường đơn giản

    – Thông tư số 78/2017/TT-BTNMT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ngày 29 tháng 12 năm 2021;

    – Thông tư 27/2015/TT-BTNMT đánh giá môi trường chiến lược tác động môi trường bảo vệ môi trường.

    Rất mong nhận được sự hợp tác!

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    Câu hỏi: Ô nhiễm môi trường là gì ?

    Trả lời:

    Câu hỏi: Chức năng của môi trường là gì ?

    Trả lời:

    Câu hỏi: Ô nhiễm không khí là gì ? Vì sao không khí bị ô nhiễm?

    Trả lời:

    + Nguồn tự nhiên:

    + Nguồn nhân tạo:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Ví Dụ Về Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Xã Hội
  • Bài Tập Học Kỳ Xã Hội Học Pháp Luật
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức
  • #1 Phân Tích Ví Dụ Về Việc Phân Loại Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Pháp Luật
  • Đề Thi Môn Xã Hội Học Pháp Luật
  • Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Slide Bài Giảng Tuyên Truyền Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường
  • Luật Bảo Vệ Môi Trường Quy Định Mới Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường
  • Các Văn Bản Pháp Luật Hiện Hành Về Môi Trường
  • Sẽ Có Nghị Định Mới Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Quy Định Mới Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải
  • Tương tự Báo cáo đánh giá tác động môi trường (DTM), là hồ sơ pháp lý quan trọng nhất trong bộ “hồ sơ môi trường” mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần có. Đối với các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ hơn, thay vì lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường, các bạn sẽ thực hiện . Kế hoạch bảo vệ môi trường là báo cáo mang tính dự báo những hoạt động gây ô nhiễm khi các bạn đưa doanh nghiệp của mình vào vận hành, khai thác thương mại. Dựa trên những dự báo đó, các doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động. Tất cả các dự báo cũng như biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trong Kế hoạch bảo vệ môi trường đều được thông qua dưới sự thẩm tra của Phòng Tài nguyên Môi trường và các chuyên gia trong ngành môi trường. Đây cũng là nền tảng quan trọng nhất, song song với các Nghị định, Thông tư về môi trường mà doanh nghiệp cần lấy làm căn cứ để thực thi.

    Kế hoạch bảo vệ môi trường được lập và trình phê duyệt trước khi triển khai xây dựng hoặc vận hành sản xuất. Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề sản xuất đặc biệt như sản xuất hoá chất, phân bón, tái chế phế liệu,… thì các bạn cần được “chấp thuận chủ trương đầu tư” trước khi thực hiện KHBVMT. Một nhà máy, cơ sở kinh doanh dịch vụ chỉ được thực hiện các bước tiếp theo sau khi được cơ quan có thẩm quyền xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường.

    Cơ quan nào xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    Có 02 cấp xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường như sau:

    • Sở TNMT tỉnh/thành phố;
    • Phòng TNMT quận/huyện.

    Đối tượng nào sẽ phải lập Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    Để biết được doanh nghiệp của mình có thuộc đối tượng phải lập Báo cáo DTM hay không, các bạn tra cứu theo Phụ lục II, Nghị định 40/2019/NĐ-CP. Cách thức tra cứu như sau:

    • Tra cứu cột (2): loại hình dự án.
    • Tra cứu cột (5): quy mô dự án.

    Nếu dự án của bạn thuộc cột (2) và quy mô nằm trong quy định tại cột (5) thì dự án này thuộc đối tượng phải lập Kế hoạch bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, nếu dự án của bạn không thuộc cột (2) của Phụ lục II, Nghị định 40/2019/NĐ-CP thì bạn xem xét đến lượng phát thải của dự án như sau:

    • Dự án có phát sinh nước thải (cả nước thải sinh hoạt lẫn nước thải sản xuất) từ 20m3/ngày đến dưới 500m3/ngày;
    • Dự án có phát sinh khí thải từ 5.000m3 khí thải/giờ đến dưới 20.000m3 khí thải/giờ;
    • Dự án có phát sinh chất thải rắn từ 1 tấn/ngày đến dưới 10 tấn/ngày;

    Hướng dẫn phân cấp loại dự án thuộc phê duyệt của Sở TNMT hay Phòng TNMT như sau:

    Dự án thuộc cột (5) Phụ lục II – Nghị định 40/2019/NĐ-CP

    Dự án thuộc cột (5) Phụ lục II – Nghị định 40/2019/NĐ-CP

    Dự án có phát sinh nước thải (cả nước thải sinh hoạt lẫn nước thải sản xuất) từ 50m3/ngày đến dưới 500m3/ngày

    Dự án có phát sinh nước thải (cả nước thải sinh hoạt lẫn nước thải sản xuất) từ 20m3/ngày đến dưới 50m3/ngày

    Dự án có phát sinh khí thải từ 10.000m3 khí thải/giờ đến dưới 20.000m3 khí thải/giờ

    Dự án có phát sinh khí thải từ 5.000m3 khí thải/giờ đến dưới 10.000m3 khí thải/giờ

    Dự án có phát sinh chất thải rắn từ 5 tấn/ngày đến dưới 10 tấn/ngày

    Dự án có phát sinh chất thải rắn từ 1 tấn/ngày đến dưới 5 tấn/ngày

    Dự án thuộc loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm cao (tra cứu theo Phụ lục IIa – Nghị định 40/2019/NĐ-CP)

    Dự án thực hiện trên 02 địa bàn huyện trở lên

    Căn cứ lập Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    • Luật Bảo vệ môi trường;
    • Nghị định 40/2019/NĐ-CP;
    • Thông tư 25/2019/TT-BTNMT.

    Hồ sơ cần thiết phải có để lập Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    Tuỳ vào mỗi loại dự án và nơi triển khai dự án mà chúng ta sẽ cần có những hồ sơ pháp lý khác nhau để lập Kế hoạch bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Chúng tôi liệt kê bên dưới những hồ sơ cơ bản nhất cần có để lập Kế hoạch bảo vệ môi trường như sau:

    • Giấy chứng nhận đầu tư;
    • Giấy đăng ký kinh doanh;
    • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thay thế bằng: Hợp đồng thuê đất, Quyết định giao đất;
    • Các bản vẽ kỹ thuật về nhà xưởng/ cơ sở kinh doanh.

    Quy trình lập Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    Kế hoạch bảo vệ môi trường có được tạo lập bởi chủ dự án mà không phải thông qua đơn vị tư vấn. Quy trình thực hiện như sau:

    • Khảo sát hiện trạng dự án & các đối tượng tự nhiên, kinh tế xã hội xung quanh;
    • Thu thập giấy tờ, thông tin số liệu của dự án;
    • Lập Kế hoạch BVMT;
    • Kiểm tra Kế hoạch BVMT tại dự án dưới sự tham gia của lãnh đạo Sở TNMT/ Phòng TNMT và các chuyên gia;
    • Hoàn thiện chỉnh sửa Kế hoạch BVMT và trình xác nhận.

    Thời gian lập & phê duyệt Kế hoạch bảo vệ môi trường?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Lập Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Cơ Sở Y Tế Theo Nghị Định 40/2019/nđ
  • Hướng Dẫn Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Theo Nđ 40/2019/nđ
  • Hướng Dẫn Lập Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Theo Nghị Định 40
  • Một Số Điểm Mới Và Các Văn Bản Hướng Dẫn Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014
  • Nghị Định Hướng Dẫn Thi Hành Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 Cần Khả Thi Hơn
  • Sóc Trăng Tập Huấn Các Văn Bản Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Năm 2021
  • Tổng Hợp Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Trong Tháng 3/2020
  • Văn Bản Pháp Luật Chính Phủ
  • Văn Bản Pháp Luật Có Mấy Loại
  • Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật
  • Từ đầu năm 2021 đến nay, mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19, nhưng Chi cục đã tổ chức được tổng cộng 4 buổi tập huấn các văn bản pháp luật về BVMT cho hàng trăm cán bộ là lãnh đạo Phòng TN&MT các huyện, thị xã, thành phố; Chủ tịch, Phó Chủ tịch và công chức môi trường cấp xã; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thành viên của 6 Tổ cộng đồng dân cư tham gia BVMT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

    Cùng với đó, các văn bản pháp luật như: Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa; Quyết định số 09/QĐ-TTg ngày 18/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế ứng phó sự cố chất thải; Kế hoạch số 124/KH-UBND và Chỉ thị số 14/CT-UBND của UBND tỉnh Sóc Trăng về tăng cường thực hiện các biện pháp giảm thiểu rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng cũng được truyền tải đến các đại biểu.

    Hiện nay, rác thải nhựa đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đời sống con người. Do vậy, thông qua các buổi tập huấn này, những cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, người dân sẽ nhận thức được trách nhiệm, từ đó có những hoạt động góp phần giảm thiểu rác thải nhựa trên địa bàn.

    Cũng theo ông Nguyễn Quang Hậu, sau khi được tham gia tập huấn, các thành viên Tổ cộng đồng dân cư tham gia BVMT sẽ tuyên truyền lại cho người dân. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đồng thời, thông tin đến cơ quan chức năng kịp thời xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh.

      (TN&MT) – Ngày 24/10, UBMTTQ Việt Nam xã Nhơn Châu, thành phố Quy Nhơn tổ chức chương trình đổi chai nhựa lấy quà, vẽ tranh bích họa tuyên truyền bảo vệ môi trường và phát động “Chống rác thải nhựa” trên địa bàn xã năm 2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Bộ Tài Chính
  • Văn Bản Pháp Luật Bộ Xây Dựng
  • Bộ Y Tế Dự Kiến Bãi Bỏ 70 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Bộ Y Tế
  • Văn Bản Pháp Luật Bằng Tiếng Anh
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100