Giáo Án Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Tiết 1)

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Siêu Ngắn)
  • Đọc Hiểu Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Ngắn Gọn
  • Đọc Hiểu Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giáo án bài Hoàng Lê nhất thống chí (Tiết 1)

    Tải word giáo án: Hoàng Lê nhất thống chí (Tiết 1)

    I. Mục tiêu bài học

    Thông qua bài học giúp học sinh hiểu đuợc:

    1. Kiến thức

    – Nhữg hiểu biết chung về nhóm t/g thuộc Ngô gia văn phái, về phong trào Tây Sơn và ng anh hùng dân tộc QT-Nguyễn Huệ. Nhân vật ,sự kiện, cốt truyện trong t/p viết theo thể loại tiểu thuyết chương hồi. Một trang sử của d/t ta: QT đại phá 20 vạn quân Thanh, đánh đuổi giặc xâm lược ra khỏi bờ cõi .

    2. Kĩ năng

    – Quan sát các sự việc đc kể trong đoạn trích trên bản đồ.

    – Cảm nhận sức trỗi dậy kỳ diệu của tinh thần dân tộc, cảm quan hiện thực nhạy bén, cảm hứng yêu nước của tác giả trước những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

    3. Thái độ

    – Giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dt về truyền thống chống ngoại xâm.

    II. Chuẩn bị tài liệu

    1. Giáo viên

    + Soạn bài, đọc tài liệu tham khảo, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng, S GV, bồi dưỡng văn 9 bản đồ chiến thắng Đống Đa, Ngọc Hồi.

    2. Học sinh

    + Đọc trước bài, chuẩn bị bài (trả lời câu hỏi sgk)

    III. Tiến trình tổ chức dạy học

    1. Ổn định tổ chức

    Kiểm diện: Sĩ số

    9A:

    9C:

    2. Kiểm tra

    Câu 1: Phân tích cuộc sống xa hoa của chúa Trịnh và bọn quan lại?

    Câu 2: Bọn quan lại đã ỷ thế danh nhà chúa để sách nhiễu dân chúng như thế nào?

    3. Bài mới

    – Nhà Lê suy tàn, không còn bảo vệ được đất nước,quân Thanh nhân cơ hội ấy mang 20 vạn quân sang xâm lược nước ta , Trước tình hình đó, Nguyễn Huệ mang quân từ Phú Xuân- Huế ra Thăng Long dẹp giặc.Hiện thực nước sôi lửa bỏng ấy được TP ” Hoàng Lê..” tái hiện lại một cách chân thực ở hồi thứ 14.Hình ảnh người anh hùng dân tộc QT hiện lên như thế nào? sự thảm bại của quân xâm lược ra sao? Chúng ta cùng tìm hiểu bài học.

    4. Củng cố – luyện tập

    H: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm? Tóm tắt trích đoạn hồi thứ 14? Nêu bố cục?

    5. Hướng dẫn học sinh về nhà: Chuẩn bị tiếp tiết 2 “Hoàng Lê…”

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Giáo án Ngữ văn lớp 9 chuẩn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 theo chuẩn Giáo án của Bộ GD & ĐT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Văn Gia Phái
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Quang Trung
  • Viết Đoạn Văn Về Cảm Nhận Của Em Sau Khi Học Xong Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Câu Hỏi 37459
  • Viết Đoạn Văn Nêu Cảm Nhận Về Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí. (Từ 3
  • Có Ai Biết Cách Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Không?
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Chi Tiết)
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Cảm Nhận Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • + Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống.

    + Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.

    Tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về núi Tam Điệp. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua (hiệu là Quang Trung) ở Phú Xuân, tự mình đốc suất lại binh để chuẩn bị tiến quân ra Bắc diệt Thanh.

    Dọc đường vua Quang Trung cho tuyển thêm lính, mở cuộc duyệt binh lớn và chia quân thành các ngả để tiến ra Bắc. Ra chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp, hẹn đến ngày mồng 7 Tết thắng lợi sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long.

    Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đó khiến quân Thanh đại bại. Rạng sáng ngày mồng 3 Tết, nghĩa quân đã tiến vào Thăng Long, bí mật bao vây đồn Hạ Hồi, dùng mưu để quân giặc đầu hàng và hạ đồn một cách dễ dàng.

    Ngày mồng 5 Tết, nghĩa quân tiến vào công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, cuối cùng phải chịu đầu hàng, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến trốn chạy theo.

    – Phần một: Từ đầu đến ” năm Mậu thân 1788″: Tin quân Thanh đã chiếm thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Phần hai: Tiế theo đến ” kéo vào thành”: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn.

    – Phần ba: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    II. Trọng tâm kiến thức

    + Vua Quang Trung đã khẳng định chủ quyền dân tộc: ” Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta “.

    + Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Lân và Sở, ta thấy: ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân để bảo toàn lực lượng của hai vị tướng này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng “. Nhưng ông hiểu lòng họ, sức ít không thể địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh.

    + Đối với Ngô Thì Nhậm, ông hiểu tường tận năng lực, khả năng ” đa mưu túc trí ” của vị quân sĩ này. Việc Lân và Sở rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao sau này.

    – Đang lo việc đánh giặc, Quang Trung đã tính sẵn cả kế hoạch sau chiến thắng (kế hoạch cho mười năm sau), tìm cách ngoại giao với giặc để có thể dẹp ” việc binh đao“, ” cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng “,…

    + Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

    + Vượt khoảng 350 km đường đèo, núi, đến ngày 29 đã tới Nghệ An.

    + Tổ chức tuyển quân, duyệt binh chỉ trong một ngày.

    + Ngay hôm sau, vượt khoảng 150 km, tiến ra Tam Điệp.

    + Đêm 30 tháng Chạp ” lập tức lên đường ” tiến thẳng Thăng Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và giữ bí mật đến bất ngờ.

    + Ở trận Hạ Hồi, bằng chiến thuật nghi binh đã giúp nghĩa quân chiến thắng vẻ vang mà không tốn một hòm tên, mũi đạn.

    + Ở trận Ngọc Hồi, cho quân làm những tấm ván ghép, bên ngoài phủ rơm dấp nước nên binh lính tiến sát đồn mà không bị đạn hỏa công.

    – Đối lập với hình ảnh của nghĩa quân Tây Sơn:

    + Tướng Tôn Sĩ Nghị: ” sợ mất mật, ngựa không còn kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy “; Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử.

    + Quân ” đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều… đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa “.

    – Cả một đội binh hùng tướng mạnh mấy chục vạn người diễu võ dương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

    – Nguyên nhân của sự thất bại:

    – Họ không còn tư cách của bậc quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh, van xin và kết cục chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: Lê Chiêu Thống cũng vội vã cùng kẻ thân tín chạy bán sống, bán chết, ” luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều mệt lử“, chỉ biết ” nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt “.

    Hoàng Lê nhất thống chí lựa chọn trình tự kể theo diễn biến của các sự kiện lịch sử.

    – Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.

    – Giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của tác giả với vương triều Lê, với chiến thắng của nhân dân, dân tộc với bọn cướp nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Phân Tích Nhân Vật Nguyễn Huệ Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Phân Tích Hồi Thứ 14 Trích Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Gia Văn Phái
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04/vbhn
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04 Bộ Xây Dựng
  • Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện …

    Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái

    Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện một cách sắc nét thông qua hồi mười bốn của tác phẩm.

    Ngô Gia Văn Phái đã tái hiện và điển hình hóa nhân vật lịch sử Quang Trung Nguyễn Huệ thành một biểu tượng anh hùng, có công lao lớn đối với đất nước. Trước hết, Nguyễn Huệ hiện lên là một con người mạnh mẽ, quyết đoán, xông xáo, nhanh gọn có chủ đích. Ngay khi nghe tin quân Thanh tấn công vào miền Bắc của nước ta, Nguyễn Huệ đã nhận định được mối nguy hại của quân thanh và sự cấp thiết của việc đánh đuổi nên ông đã quyết định lên ngôi hoàng đế và thân chinh dẫn quân ra Bắc.

    Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, có tài thao lược, ông đích thân đốc thúc đại quân, trực tiếp lãnh đạo cuộc tấn công ra Bắc. không chỉ vậy,Nguyễn Huệ còn là một người biết trọng dụng hiền tài. Trước quyết định tấn công ra Bắc, ông đã cho mời vào dinh La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một người nổi tiếng học rộng tài cao lúc bấy giờ. Hành động này của Quang Trung cho ta thấy ông là một vị minh quân sáng suốt, mặc dù nắm trong tay quyền quyết định nhưng ông vẫn đặt việc trọng đại của đất nước lên trên hết.

    Lời khẳng định của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng đã thể hiện được sự sáng suốt cũng như khả năng chiến thắng của toàn quân: “…Bây giờ trong nước trống không, lòng người tann rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh hay nên giữ ra sao. Chúa công ra đi chuyến này, không quá mười ngày, quân thanh sẽ bị dẹp tan”.

    Xuất thân từ nhà tướng, Nguyễn Huệ vô cùng linh hoạt trong vệc tổ chức binh lính, từ việc chiêu mộ quân, mở những cuộc duyệt binh lớn ở các doanh trấn, bố chí quân đội thành bốn doanh chính: tiền, hậu,tả, hữu còn những binh lính mới chiêu mộ thì làm trung quân. Qua việc tổ chức quân ta có thể thấy Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, bố trí binh lính quy củ, có tổ chức, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi vang dội trước hai mươi vạn quân Thanh.

    Trước cuộc hành quân, để động viên tinh thần chiến đấu của binh lính, Nguyễn Huệ đã đưa ra chỉ dụ trước toàn binh lính, ông nói về âm mưu cùng thủ đoạn thâm độc của quân nhà Thanh,nêu ra những tấm gương chống giặc lừng lẫy trong lịch sử từ đó đưa ra lời động viên, dăn đe những binh lính chưa có tinh thần, ý chí đánh giặc: “…Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi…Các người đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như ta phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta không nói trước”.

    Mưu lược hơn người của Quang Trung Nguyễn Huệ còn thể hiện ở cuộc tiến công thần tốc ra Bắc cùng chiến thuật tinh vi trong cuộc tấn công quân Thanh ở Ngọc Hồi. Trong cuộc chiến, vua Quang Trung đã cho người lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân Thanh quá hoảng loạn trước sự xuất hiện bất ngờ cùng sức mạnh của quân ta mà dẫm đạp lên nhau chạy về nước, đại quân toàn thắng.

    Không chỉ xây dựng hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ mà các tác giả nhà Ngô Gia Văn Phái còn tái hiện lại sinh động tình cảnh thảm hại,nhục nhã của lũ cướp nước Tôn Sĩ Nghị và vua tôi Lê Chiêu Thống. Chúng vẫn luôn chủ quan về sự hùng mạnh của đội quân mình mà không ngờ được sức công phá khủng khiếp của quân ta, thất bại ở Ngọc Hồi khiến chúng sợ hãi mà chạy về nước, vua tôi Lê Chiêu Thống để bảo toàn tính mạng cũng chạy theo thuyền cá về phía Bắc lẩn trốn.

    Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, đặc biệt là hồi mười bốn Đánh Ngọc Hồi, quân thanh thua trận, bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài, tác giả Ngô Gia Văn Phái đã dựng lên được không khí ác liệt mà không kém phần hào hùng của dân tộc ta trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, cùng với đó là sự ca ngợi chiến thắng của vua Quang Trung.

    TỪ KHÓA TÌM KIẾM

    HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

    HOANG LE NHAT THONG CHI

    NGÔ GIA VĂN PHÁI

    LÊ CHIÊU THỐNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Mẫu Đơn Giải Trình Như Thế Nào Đúng Chuẩn?
  • Ôn Tập Văn Bản “hoàng Lê Nhất Thống Chí”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn 9 Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giải Đáp: Quản Trị Hành Chính Văn Phòng Tiếng Anh Là Gì?
  • Công Tác Soạn Thảo Văn Bản, Ban Hành Và Quản Lý Văn Bản Tại Cty, Hay!
  • Văn Bản Hành Chính Doanh Nghiệp
  • : Ngô Gia Văn Phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn.

    2. Thể loại : (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

    Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi.

    3. Hoàn cảnh : hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.

    Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    * Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân.

    – Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.

    – Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai đạo thuỷ – bộ.

    – Ngày : ” 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang Trung đã khẳng định Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh“. Cũng trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.

    – “Hoàng Lê nhất thống chí” là một cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán được viết theo thể chương hồi do nhiều tác giả trong Ngô Gia Văn Phái (Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du…) sáng tác. Đây là một bức tranh sâu rộng vừa phản ánh được sự thối nát, suy tàn của triều đình Lê Trịnh, vừa phản ánh được sự phát triển của phong trào Tây Sơn.

    – Trong hồi thứ 14 của tác phẩm, hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹp với khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người.

    – Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.

    – Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao núng ” định thân chinh cầm quân đi ngay “.

    – Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: ” tế cáo trời đất “, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…

    * Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước ” ngàn cân treo sợi tóc “, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung.

    – Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác“. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: ” Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.

    – Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…

    – Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

    – Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.

    – Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ ” đa mưu túc trí ” việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.

    – Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột ” phương lược tiến đánh đã có tính sẵn “.

    – Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu ” chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng “.

    Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.

    – Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.

    – Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.

    – Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.

    – Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh ” khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua ” cưỡi voi đi đốc thúc ” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

    – Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

    Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác giả Ngô Gia Văn Phái là những cựu thần chịu ơn sâu, nghĩa nặng của nhà Lê, nhưng họ đã không thể bỏ qua sự thực là ông vua nhà Lê yếu hèn đã cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn, làm nổi bật hình ảnh vua Quang Trung – người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn của cả dân tộc. Bởi thế họ đã viết thực và hay đến như vậy về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.

    Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:

    + Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng ” ngày đi đêm nghỉ” như ” đi trên đất bằng“, cho là vô sự, không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm.

    + Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết ” chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc “, cho quân lính mặc sắc vui chơi.

    – Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết, ” quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều“, ” đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa“. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

    * Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi của Sơn Tây.

    – Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vọng quốc.

    – Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín ” đưa thái hậu ra ngoài“, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, ” luôn mấy ngày không ăn “. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.

    : Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê.

    – Tất cả đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau:

    – Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hảngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”, “tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…“, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê, sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.

    – Ở đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọt nước mắt thương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống, cuộc theíet đãi thịnh tình ” giết gà, làm cơm” của kẻ bề tôi… âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót. Là những cựu thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòng trước sự sụp đổ của một vương triều mà mình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kết cục không thể tránh khỏi.

    Bài tập 2: Đọc đoạn trích ” Quân Thanh sang……không nói trước”

    a. Những lời trên Quang Trung nói ở đâu?

    b. Đọc đoạn văn này em thấy giống thể loại gì trong văn học cổ?

    c. Đọc đến hai câu cuối, em liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài nào của văn học cổ? do ai viết? mục đích viết?

    d. Nội dung đoạn văn gồm mấy ý chính? Đó là những ý gì?

    Hai câu cuối khiến ta liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài ” Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.Mục đích viết : kêu gọi quân sĩ học tập ” Binh thư yếu lược” để đánh giặc Nguyên- Mông

    Bài tập 3: Trong hồi thứ 14 có đoạn viết ” chúng tôi Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván….máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại”

    a. Nhận xét nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích trên?

    b. Đoạn trích trên cho em hiểu gì về người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ?

    a. Nghệ thuật đặc sắc : Trần thuật theo diễn biến sự việc; trần thuật xen lẫn miêu tả: tả việc làm -tả hình ảnh Quang Trung, tả quân sĩ Quang Trung, tả quân Thanh, tả không gian chung của trận đánh

    b. Đoạn trích cho ta hiểu :

    Nguyễn Huệ là người có tài thao lược, sáng tạo ra phương tiện độc đáo để chiến đấu

    Là vị tướng có tài tổ chức trận đánh: bố trí quân lính, lúc thì sử dụng binh khí, lúc thì đánh giáp lá cà

    Quang Trung không những là một vị tướng có tài mà còn là một người anh hùng trực tiếp xông pha chiến trận từ lúc bắt đầu trận đánh cho đến khi trận đánh kết thúc

    → Miêu tả chính xác chân dung kẻ cướp nước. Cả đội quân trước đây hùng hổ, huyênh hoang, ngạo mạn thì giờ đây xộc xệch, bấn loạn, dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn. Quả là sự thảm bại nhục nhã

    → Đường đường là vua của một nước nhưng tự biến mình thành kẻ thù của cả dân tộc → cuối cùng đã phải trả giá

    Bài tập 5: Viết đoạn văn khoảng 10 câu theo kiểu qui nạp, trình bày cảm nhận của em về trí tuệ nhạy bén,sáng suốt của người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ thể hiện trong đoạn trích hồi thứ 14 của ” Hoàng Lê nhất thống chí”. Trong đoạn văn có sử dụng cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp?

    Trước hết, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của Quang Trung thể hiện trong việc lên ngôi. Trước biến cố lớn của đất nước, Nguyễn Huệ lên ngôi là điều cần thiết để chính vị hiệu yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, tập hợp sức mạnh đoàn kết để đánh đuổi giặc Thanh. Không những vậy, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của vua còn thể hiện trong việc phân tích thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An,với trí tuệ sáng suốt,ông đã nêu bật dã tâm của địch: người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác Bên cạnh đó ông đã khéo léo nhắc lại truyền thống đánh giặc để kích thích lòng quân,từ đó phân tích rõ cái được,cái mất,cái lợi,cái hại: mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Cách phân tích sáng suốt, thấu tình đạt lí ấy đã giúp quân sĩ thấy được thời cuộc, từ đó có hành động cứu nước.Ông còn thấy rõ tình hình lúc này Bắc Hà mới yên,lòng người chưa phục,Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có núi sông để nương tựa, người trong kinh kì làm nội ứng cho giặc thì làm sao mà có thể cử động được. Qua những lời phân tích ấy, có thể thấy rõ vua Quang Trung là người sắc sảo, sáng suốt trong việc xác định thế tương quan chiến lược giữa ta và địch.Trong cách dùng người, Quang Trung cũng rất sáng suốt nhạy bén. Khi Sở, Lân mang gươm trên lưng mà xin chịu tội, ông đã không trách tội mà còn khen ngợi rằng họ đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu,bên trong thì kích thích lòng quân,bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng,kế ấy là rất đúng Qua lời khen ấy ta càng thấy rõ trí tuệ của người anh hùng trong việc xét đoán và dùng người. Tóm lại, qua đoạn trích hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chí, với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ là người có trí tuệ nhạy bén,sáng suốt.

    (1): Lời dân trực tiếp

    (2): Lời dẫn gián tiếp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hồi Thứ 14 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài Tóm Tắt: Hoàng Lê Nhất Thống Chí Cực Hay, Ngắn (5 Mẫu).
  • Dàn Ý Cảm Nghĩ Của Em Về Hình Ảnh Bọn Cướp Nước, Bán Nước Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04/vbhn
  • 1.1. Tìm hiểu chung

    • Ngô gia văn phái, thuộc dòng họ Ngô Thì, trong đó có hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753 – 1788) và Ngô Thì Du (1772 – 1840).
    • Quê quán: làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
    • Họ sống và làm quan dưới triều Nguyễn.
    • Hoàng Lê nhất thống chí được viết bằng chữ Hán.
    • Là cuốn tiểu thuyết viết theo lối chương hồi.
    • Tất cả có 17 hồi, đoạn trích trên phần lớn là hồi 14.

    c. Bố cục: 3 phần

    • Văn bản được bố cục thành ba phần.
    • Phần 1: Từ đầu đến “năm Mậu Thân“: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.
    • Phần 2: Tiếp đến “rồii kéo vào thành“: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
    • Phần 3: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    1.2. Đọc hiểu văn bản

    a. Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ

    • Con người hành động mạnh mẽ, quyết đoán, xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết.
      • Chỉ trong vòng 1 tháng từ khi quân Thanh vào Thăng Long, Nguyễn Huệ đã hành động nhanh chóng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến quân ra Bắc.
      • Tế cáo lên ngôi hoàng đế.
      • Xuất binh ra Bắc.
      • Tuyển mộ quân lính.
      • Mở cuộc tập duyệt binh ở Nghệ An.
      • Kêu gọi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
    • Là người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, là nhà lãnh đạo chính trị, quân sự, ngoại giao có tầm nhìn xa trông rộng.

      • Nhận định tình hình và đưa ra những quyết định quan trọng đúng lúc.
      • Sáng suốt nhạy bén xét đoán và dùng người. Ông biết khen chê đúng người đúng việc.
      • Khi được tin quân Thanh đã vào thành Thăng Long, ông vẫn không hề lo lắng. Ở Tam Điệp, Quang Trung phỏng đoán chính xác tình hình và đánh giá đúng kế sách của Ngô Thì Nhậm, hiểu sở trường sở đoản của từng tướng, dùng người vào đúng việc”.
    • Ý chí quyết thắng và tài dụng binh như thần.
        Trước khi xuất quân, Quang Trung đã tính kĩ mọi chiến lược tiến đánh, tin chắc vào thắng lợi chỉ trong vòng 10 ngày, hẹn với chiến sĩ ngày 7/1 cùng có mặt ở thành Thăng Long ăn mừng chiến thắng.
    • Quang Trung là một hình ảnh lẫm liệt trong trận chiến.
      • Nhiều chiến lược, mưu kế trong chiến trận.
      • Lãnh đạo tài tình.
      • Bắt sống quân do thám, giữ bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín đồn Hà Hồi, công phá đồn Ngọc Hồi thật oai phong lẫm liệt“.

    → Quang Trung là người anh hùng quả cảm, mạnh mẽ, trí tuệ, sáng suốt, nhạy bén, tài dụng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

    b. Hình ảnh bọn cướp nước và bán nước

    • Nhân vật Tôn Sĩ Nghị
      • Kiêu căng, chủ quan, tự mãn.
      • Kinh địch, cầm quân mà không nắm được tình hình.
      • Bất tài, không lo đến việc bất trắc chỉ lo vui chơi.
      • Khi quân Tây Sơn đến, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kíp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, vất cả ấn tín, bàn bèn bỏ chạy thục mạng qua cầu phao sông Hồng“.
      • Quân lính rụng rời sợ hĩãi xin hàng, bỏ chạy.
    • Số phận của triều đình bán nước Lê Chiêu Thống
      • Chịu chung số phận thảm hại với bọn xâm lược, thậm chí còn ê chề, nhục nhã hơn.
      • Lê Chiêu Thống, Thái hậu chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông, luôn mấy ngày không được ăn.
      • May gặp người thổ hào cứu giúp chỉ đường cho chạy trốn- gặp được Tôn Sĩ Nghị vua tôi chỉ còn biết ”nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt

    ⇒ Tất cả cho thấy tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống.

    • Đoạn văn miêu tả chân thực, khách quan hàm chứa vẻ hả hê, sung sướng của người thắng trận trước kẻ xâm lược.
    • Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động, cụ thể, gây ấn tượng mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Mẫu Đơn Giải Trình Như Thế Nào Đúng Chuẩn?
  • Mẫu Văn Bản Giải Trình Sự Việc
  • Đọc Hiểu Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Ngắn Gọn
  • Đọc Hiểu Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tìm Hiểu Về “hoàng Lê Nhất Thống Chí”
  • Đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Dựa Vào Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Hồi Thứ Mười Bốn, Kết Hợp Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Nội Tâm,
  • I- TÌM HIỂU CHUNG

    1. Tác giả:

    Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái, một tập thể tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.

    – Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng Trung hưng sách bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó ông được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong, lập nghĩa binh chống Tây Sơn, nhưng trên đường đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Nhiều tài liệu nói ông viết bảy hồi đầu của tác phẩm.

    – Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đỗ đạt gì. Dưới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam). Thời nhà Nguyễn, ông ra làm quan, được bổ Đốc học Hải Dương, đến năm 1827 thì về nghỉ. Ông là tác giả bảy hồi tiếp theo của Hoàng Lê nhất thống chí.

    2. Tác phẩm:

    Văn bản bài học được trích từ Hồi 14  tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái  tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung  Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

    3. Thể loại:

    – Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính chất văn học vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê, vào thời điểm anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa, tiêu diệt nhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. ý nghĩa tiêu đề của tác phẩm là như thế nhưng sau khi vua Lê dành lại được quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn, dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đánh tan hai mươi vạn quân Thanh xâm lược. Tất cả đã được ghi chép lại một cách khá đầy đủ và khách quan trong tác phẩm.

    4. Tóm tắt:

    Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương rất giận, liền họp các tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân, vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mươi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng tài chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trước hết trong văn bản này là tác giả. Khi sáng tạo tác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể hiện những tư tưởng, tình cảm, quan điểm chính trị, xã hội… của mình. Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái  một nhóm tác giả rất trung thành với nhà Lê. Nếu xét theo quan điểm phong kiến thì trong con mắt của Ngô gia, vua Quang Trung là kẻ nghịch tặc. Thế nhưng trong tác phẩm, hình ảnh Quang Trung  Nguyễn Huệ lại được miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân “bách chiến bách thắng”, tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác. Điều đó một phần bởi triều đại nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là bề tôi trung thành đến mấy thì các tác giả trong Ngô gia văn phái cũng khó có thể phủ nhận. Mặt khác, có thể chính tài năng và đức độ của vua Quang Trung đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của mình, từ đó đã tái hiện lại các sự kiện, nhân vật,… một cách chân thực.

    Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo, mềm mỏng vừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí. Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ ngồi (một cử chỉ biểu lộ sự gần gũi mặc dù ông đã xưng vương), từng lời nói đều giản dị, dễ hiểu. Sau khi lấy lịch sử từ các triều đại trước ra để cho binh sĩ thấy nỗi khổ của nhân dân dưới ách thống trị ngoại bang, ông không quên tuyên bố sẽ trừng phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng. Điều đó khiến cho binh sĩ thêm đồng lòng, quyết tâm chống giặc.

    Đó cũng là cách ứng xử của ông đối với các tướng lĩnh. Khi quân đến Tam Điệp, hai tướng Sở và Lân mang gươm trên lưng đến xin chịu tội, ông thẳng thắn chỉ ra tội của họ nhưng lại cho mọi người hiểu họ cũng là người đã có công lớn trong việc bảo toàn được lực lượng, chờ đợi thời cơ  điều đó không những khiến cho quân ta tránh được những thương vong vô ích mà còn làm cho giặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh chúng sau này.

    Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là hợp với lòng người. Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi ích của quốc gia và của dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm phục, càng quyết tâm chống giặc. Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những chiến thắng liên tiếp của quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung.

    Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có thể diễn tả bằng từ “thần tốc”. ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí chiến trận rất khẩn trương, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự kiện nhưng không vì thế mà làm mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh. Lời hứa chắc chắn trước lúc xuất quân của ông đã được đảm bảo bằng tài thao lược, xử trí hết sức nhạy bén, mưu trí trong những tình huống cụ thể: đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ướt để tấn công đồn Ngọc Hồi,… Tài dùng binh khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khi chúng biết được tin tức thì đã không thể chống cự lại được nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên nhau mà chạy.

    Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của đám quan quân nhà Thanh. Ra đi “binh hùng tướng mạnh”, vậy mà chưa đánh được trận nào đã phải tan tác về nước. Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị (trước đó là hai mươi vạn) vẫn còn đông hơn quân của vua Quang Trung nhưng trước sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của một vị tướng tài ba và quyết đoán, chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả.

    Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sướng. Khi miêu tả tài “xuất quỷ nhập thần” của quân Tây Sơn, các tác giả viết: “Thật là: “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên”…

    Ngược lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì: “Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp…”. Đó không còn là giọng của một người ghi chép lại các sự kiện một cách khách quan mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc sau khi đã khiến cho bọn xâm lược ngoại bang, vốn trước ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút chạy nhục nhã.

    Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết tác phẩm này. Mặc dù luôn đề cao tư tưởng trung nghĩa nhưng trước sự nhu nhược, hèn hạ của đám vua tôi nhà Lê, các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai, châm biếm. Số phận những kẻ phản dân, hại nước cũng thảm hại chẳng kém gì những kẻ cậy đông, đem quân đi xâm lược nước khác. Đó là số phận chung mà lịch sử giành cho lũ bán nước và lúc cướp nước.

    Cuộc đại phá quân Thanh xâm lược là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Người làm nên kì tích ấy là Quang Trung  Nguyễn Huệ, vị “anh hùng áo vải” vừa có tài thao lược vừa luôn hết lòng vì dân, vì nước.

    Trang sử hào hùng ấy đã được ghi lại bởi Ngô gia văn phái  nhóm tác giả đã vượt qua những tư tưởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân thực.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Giáo Án Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Tiết 1)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Văn Gia Phái
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Quang Trung
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Top 7 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Có Ai Biết Cách Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Không?
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí hồi thứ 14 lớp 9 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 1

    Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân.

    Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vùi giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị nghe tin sợ hãi không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàng thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 2

    Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) liền họp các tướng sĩ tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc. Ông thân hành vừa đi vừa tuyển lính. Ngày 30 tháng chạp đến Tam Điệp, vua đã mở tiệc khao quân và đến mùng 7 năm mới sẽ vào thành Thăng Long.

    Bằng sự chỉ huy tài tình của Quang Trung, đạo quân Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc chạy toán loạn, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chạy về biên giới phía Bắc. Vua quan bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy thoát thân.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 3

    Lo sợ trước sự lớn mạnh ko ngừng của nghĩa quân Tây Sơn, Lê Chiêu Thống hèn hạ cầu cứu nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị dẫn 20 vạn quân Thanh vào Thăng Long mà không mất một mũi tên hòn đạn nên rất kiêu căng tự đắc. Tôn Sĩ Nghị hứa với Lê Chiêu Thống mùng 6 sẽ làm cỏ quân Tây Sơn.

    Tướng Lân và Sở theo kế của Ngô Thì Nhậm rút về Tam Điệp, mặt khác sai Văn Tuyết đi báo tin cho Bắc Bình vương ở kinh đô Huế. Nghe tin đó, Nguyễn Huệ vô cùng tức giận và lập tức lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung. Xuất quân ngày 25 thì 29 đến Nghệ An. Tại đây Quang Trung chiêu lính cứ 3 suất đinh thì lấy 1 suất lính chẳng mấy chốc đã được một đội quân tinh nhuệ. Nhà Vua chia quân thành 5 đạo và đọc hịch dụ binh. 30 tháng chạp nghĩa quân hội tại Tam Điệp, trách phạt tướng bại trận nhưng nhà vua không quên động viên, khích lệ lòng quân.

    Tại Tam Điệp, Quang Trung đã nhìn thấu vận nước 10 năm sau và nhìn ra nhân tài Ngô Thì Nhậm giao trọng trách hòa hiếu giữa hai nước cho ông. Vua cho quân ăn tết trước, hẹn mùng 7 ca khúc hải hòan. Rạng sáng mùng 3 tết, đọa quân tiến sát và diệt gọn đồn Hà Hồi, tiếp tục mùng 5 tết tiến đến đồn Ngọc Hồi tiến vào Thăng Long mà quân Thanh vẫn không hề biết, nghĩa quân đại thắng.

    Lại nói về Tôn Sĩ Nghị và vua tôi nhà Lê, chúng đón tết mà không hề hay biết sự vũ bão của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật ngựa không kịp đóng yên người ko kịp mặc áo giáp chạy về Phương Bắc. Đám tàn quân chạy theo làm gẫy cầu phao nòi rơi xuống tắc nghẽn sông Nhị Hà. Vua Lê sợ hãi đưa thái hậu cùng tùy tùng bỏ chốn cướp cả thuyền của dân, đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị nước mắt lã chã rơi vô cùng thê thảm.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 4

    Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người. Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung.

    Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.

    – Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệt binh. Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo. Đúng tối 30 tết lập tức lên đường.

    -Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống.

    Ngày 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ. Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh đại bại. Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật. Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết. Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 5

    Khi Quang Trung – Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai để bắt Vũ Văn Nhậm, sợ thanh thế Tây Sơn, sau khi Nguyễn Huệ đã rút về Phú Xuân, vua Lê Chiêu Thống sợ hãi sang cầu cứu triều đình Mãn Thanh. Giặc Thanh ồ ạt kéo sang, nhân cơ hội này muốn thôn tính nước ta làm quận, huyện. Được tin, vua Quang Trung rất giận, bèn bàn bạc với tướng sĩ, sắp sẵn kế hoạch tiến đánh, mở cuộc duyệt binh, đích thân an ủi và kêu gọi binh sĩ đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm.

    Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân thành 5 đạo, thân hành cầm quân ra trận, tối 30 tết lên đường, hẹn ngày mồng 7 tết sẽ mở tiệc ăn mừng thắng lợi ở kinh thành Thăng Long.

    Quân Tây Sơn ra đến sông Gián, quân giặc trấn thủ ở đó tan vỡ, toán quân Thanh đi do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm mồng 3 tết Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tới Hà Hồi, Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín thành. Quân giặc bấy giờ mới biết, rụng rời sợ hãi xin hàng.

    Mờ sáng ngày mồng 5 tết, quân Tây Sơn dàn trận “chữ nhất” tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh chống cự không nổi, bỏ chạy tán loạn, giẫm đạp lên nhau mà chết. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Phía đông thành Thăng Long, vua Quang Trung nghi binh dồn giặc xuống đầm Mực, cho voi giày đạp khiến quân giặc kinh hồn bạt vía, chết như ngả rạ. Giữa trưa hôm ấy, quân Tây Sơn tới thành Thăng Long. Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đang vui yến tiệc, nghe tin cấp báo, sợ mất mật. Tướng sĩ chen chúc, giẫm đạp lên nhau chạy trốn về nước. Vua Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn sang Trung Quốc. Quân Tây Sơn toàn thắng trước sự đại bại của quân Thanh.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Hồi Thứ Mười Bốn, Kết Hợp Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Nội Tâm,
  • Kể Lại Đoạn Trích Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Đóng Vai Người Anh Hùng Quang Trung Kể Lại Chiến Công Thần Tốc Của Mình Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Câu Hỏi 29273
  • Kể Lại Hồi Thứ 14 Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Đóng Vai Học Sinh Được Học, Được Đọc Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Để Kể Lại Bằng Suy Nghĩ Của Em
  • “Hoàng Lê nhất thống chí” là tiểu thuyết lịch sử chương hồi nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại mà có lẽ là ai yêu văn chương và có quan tâm đến lịch sử đều biết. “Hoàng Lê nhất thống chí” đã được dạy trong nhà trường phổ thông từ xưa đến nay. Qua mấy lần cải cách sách giáo khoa, bây giờ “Hoàng Lê nhất thống chí” được dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 9.

    “Hoàng Lê nhất thống chí” có nghĩa là cuốn sách ghi chép về sự nhất thống của nhà Lê. Từ “chí” trong tiếng Hán có nghĩa là ghi chép, miêu tả. Tác phẩm được viết vào nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, gồm 17 hồi. “Hoàng Lê nhất thống chí” còn có những tên gọi khác là “Nhất thống chí” và “An Nam nhất thống chí” nhưng hai tên sau không mấy phổ biến.

    Như vậy, ở buổi khởi đầu, “chí” được dùng để chỉ những tác phẩm lịch sử hay địa lý. Về sau, nó còn được dùng để chỉ những cuốn tiểu thuyết mang tính chất lịch sử. Ở Trung Quốc như đã nói có bộ sử “Tam quốc chí”, nhưng cũng có tác phẩm văn học như “Tống chí truyện” hay “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ở Việt Nam, ngoài “Hoàng Lê nhất thống chí”, còn có thể kể đến cuốn sách miêu tả lịch sử Việt Nam là “Việt Nam thế chí” của tác giả Hồ Tông Thốc, hay cuốn sách miêu tả địa lý miền Đại Nam là “Đại Nam nhất thống chí”.

    Nếu so sánh với Trung Quốc thì quả thật Việt Nam không có những “danh tác” hay “kỳ thư” kiểu như “Đông Chu liệt quốc” hay “Tam quốc diễn nghĩa”. Nhưng “Hoàng Lê nhất thống chí” là cuốn tiểu thuyết chương hồi mang tính chất lịch sử được đánh giá rất cao và rất nổi tiếng.

    Tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là nhiều danh gia nhà họ Ngô Thì, nên được gọi là “Ngô gia văn phái”. Ngày nay nhiều nhà văn bản học xác định 4 tác giả chính của bộ tiểu thuyết này là những tên tuổi: Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Thiến. Trong đó tên tuổi của Ngô Thì Chí và Ngô Thì Nhậm vốn rất quen thuộc với các bạn nào hay đọc sách sử.

    Ngoài ra, thời kỳ phong kiến ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử có giá trị, tuy nhiên không được biết đến nhiều như “Hoàng Lê nhất thống chí”. Có thể kể đến những cuốn như “Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh thị Hoan Châu ký”, “Nam triều công nghiệp diễn chí”, Hoàng Việt long hưng chí”…

    “Hoàng Lê nhất thống chí” thật ra là một bộ tiểu thuyết rất hấp dẫn đối với những ai quen với lối viết kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc. Nhà Đông phương học người Nga nổi tiếng thế giới là B.L.Riftin đã có hẳn một bài viết đánh giá cao tác phẩm này. Đó là bài viết “Hoàng Lê nhất thống chí và tiểu thuyết chương hồi Viễn Đông”. Ông cho rằng cái hay, cái độc đáo, cái vượt trội của “Hoàng Lê nhất thống chí” so với những tiểu thuyết cùng kiểu ở Trung Quốc hay Triều Tiên chính là ở chỗ các tác giả của họ Ngô Thì đã xây dựng được một cuốn tiểu thuyết về những sự kiện chính trị, lịch sử của ngay thời đại mà họ đang sống, tức là những năm cuối thế kỷ XVIII đầy biến động và đến khi Gia Long lên ngôi. Đây là điều rất hiếm thấy. Điều này cho thấy cảm quan lịch sử cũng như ngòi bút sáng tạo nghệ thuật tinh nhạy của các văn gia họ Ngô Thì.

    So sánh với những tác phẩm khác, chúng ta thấy: La Quán Trung viết “Tam quốc chí” khoảng 1000 năm sau thời Tam quốc. “Tống chí truyện” có nội dung nói về nhà Tống thì được viết vào thời Minh. “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoy với rất nhiều trường đoạn miêu tả chiến tranh chỉ ra đời sau khi những sự kiện đó qua đi hơn nửa thế kỷ. Còn “Hoàng Lê nhất thống chí” ra đời ngay trong thời đại mà tác phẩm miêu tả.

    “Hoàng Lê nhất thống chí” đáng được ca ngợi trên những phương diện sau:

    “Hoàng Lê nhất thống chí” vừa là sử học, vừa là văn học. Tác phẩm vừa trình bày những sự kiện lịch sử có thật, vừa có sự sáng tạo nghệ thuật trong đấy. Tác phẩm ghi lại chân thực, chính xác về những con người thật, những việc thật, thời gian, thời điểm, nơi chốn xảy ra sự kiện, nhưng đồng thời tác phẩm cũng dã làm tròn nghĩa vụ trong việc khám phá các mối quan hệ giữa con người với con người (đặc biệt là những con người có thật), chọn lọc các chi tiết, tình tiết đắt giá, tập trung xây dựng những tính cách nhân vật nổi bật.

    Về nội dung, tác phẩm tập trung khắc họa những ngày cuối của chế độ phong kiến Lê – Trịnh cũng như cuộc khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn mà đỉnh cao là chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung. Tác phẩm cũng nói về sự nhất thống của nhà Nguyễn với sự lên ngôi của Gia Long. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy bão giông của đất nước. Nhiều cơ hội đã bị bỏ qua, nhiều trận chiến đã xảy đến, nhiều gương mặt độc đáo xuất hiện trong lịch sử, từ vua cho đến quan, cho đến dân…

    Bút pháp tác phẩm cực kỳ đa dạng, học được nhiều từ truyền thống “bao biếm” của các sử gia phương Đông, lúc hài hước sâu cay, lúc nhẹ nhàng, phóng khoáng, thậm chí có lúc mang tính chất anh hùng ca.

    Hình tượng nhân vật được xây dựng cực kỳ thành công, độc đáo, dù chỉ qua một, hai chi tiết miêu tả. Trịnh Sâm cuối đời thành kẻ lụy tình; Tuyên phi Đặng Thị Huệ lẳng lơ xảo trá, khéo dùng sắc đẹp che mắt chúa; Thế tử Tông thèm khát cơ nghiệp tổ tiên nhưng trí óc và hành động không hơn một con rối; Nguyễn Hữu Chỉnh có nét gian hùng như Tào Tháo; Dương Trọng Tế nhát chết nhưng to miệng; Ngô Thì Nhậm cương quyết dám nghĩ dám làm; Nguyễn Huệ thông minh, oai vệ, vũ dũng, nhưng vẫn phảng phất nét thô lỗ kiểu nông dân áo vải; Nguyễn Nhạc mộc mạc; Lê Chiêu Thống đớn hèn…

    Một câu hỏi do các nhà nghiên cứu văn học đặt ra nhiều thập kỷ qua là Ngô Thì Nhậm có viết “Hoàng Lê nhất thống chí” hay không? Công lao của Ngô Thì Nhậm đối với nhà Tây Sơn thì đã quá rõ ràng, còn công lao của ông với văn học thì sao?

    Chuyện những ai là tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là một chuyện tranh luận nhiều năm qua, thu hút nhiều nhà nghiên cứu sử học và văn học, trong đó chủ yếu dựa vào những cứ liệu văn bản học để đoán định và kết quả cuối cùng là chưa đi đến được kết luận nào. Thế nên, người ta chỉ nhắc đến các tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” dưới một cái tên gọi chung là “Ngô gia văn phái”. Văn bản học ở đây là một ngành khoa học trong văn học, ngôn ngữ học, nghiên cứu các tác phẩm, tác giả nhằm tái tạo lại bản gốc của tác phẩm, hoặc tìm ra tác giả đích thực của tác phẩm.

    Hiện nay đã thống kê được 14 dị bản “Hoàng Lê nhất thống chí”, trong đó có 7 bản còn đủ 17 hồi; 3 bản cũng còn đủ 17 hồi nhưng đã thất lạc văn bản; 4 dị bản không còn đủ 17 hồi. Trong đó nhiều dị bản ghi tác giả là “Ngô gia văn phái”. Cũng có dị bản ghi tác giả là Ngô Thì Chí, có dị bản ghi tác giả là Ngô Thì Thiến và nhiều dị bản không ghi tác giả. “Dị bản” là một thuật ngữ quen thuộc trong ngành văn bản học, dùng để chỉ các bản in, bản thảo… khác nhau của cùng một tác phẩm, có thể có nội dung không trùng khớp với nhau ở một vài hay nhiều chi tiết. So sánh, đối chiếu các dị bản với nhau có thể giúp tìm ra một văn bản gần với bản gốc nhất của tác phẩm.

    Nói tác giả là Ngô Thì Chí, thì có bản “Ngô gia thế phả” (tức là gia phả của dòng họ Ngô Thì); Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tùy bút”, Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”. Nhiều nhà nghiên cứu có chung quan điểm cho rằng người viết phần đầu “Hoàng Lê nhất thống chí” là Ngô Thì Chí như Ngô Tất Tố, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Văn Hoàn, Emile Gaspardonne, B.L. Riftin. Nói tác giả là Ngô Thì Du, người viết tiếp Ngô Thì Chí thì có bản “Ngô gia thế phả”. Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch cho rằng người viết “Hoàng Lê nhất thống chí” là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du. Nói tác giả là Ngô Thì Nhậm, có sách “Đăng khoa lục sưu giảng” (không rõ tác giả) và những tên tuổi như Nguyễn Đăng Tấn, Văn Tân, Tạ Ngọc Liễn. Nói tác giả là Ngô Thì Thiến, có Nguyễn Hữu Thường.

    Sau rất nhiều tranh cãi, hiện nay quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thời kỳ trung đại cho rằng việc Ngô Thì Nhậm có tham gia viết “Hoàng Lê nhất thống chí” hay không vẫn còn là điều đáng bàn. Cuốn sách “Hoàng Lê nhất thống chí – văn bản, tác giả, nhân vật” của GS. Phạm Tú Châu ở Viện Văn học, xuất bản năm 1997 viết rất kỹ về vấn đề này.

    Không có bằng cớ khoa học khẳng định chắc chắn Ngô Thì Nhậm có tham gia viết “Hoàng Lê nhất thống chí”. Ngược lại, cũng không có bằng cớ nào bác bỏ chuyện này cả. Nhưng chắc chắn một điều là khi xem xét văn bản nội dung của “Hoàng Lê nhất thống chí”, các nhà nghiên cứu đều cho rằng ít nhất nếu Ngô Thì Nhậm không tham gia viết một số chương hồi nào đó, thì những người viết khác của dòng họ Ngô Thì cũng đã sử dụng rất nhiều tài liệu, ghi chép của ông để lại. Đó chính là công lao lớn của Ngô Thì Nhậm đối với bộ “Hoàng Lê nhất thống chí”. Văn học cũng như sử học, có nhiều vấn đề chỉ có thể đoán định mà chưa tìm ra câu trả lời cuối cùng. Trường hợp các tác giả của “Hoàng Lê nhất thống chí” là như vậy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về “hoàng Lê Nhất Thống Chí”
  • Đọc Hiểu Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Ngắn Gọn
  • Đọc Hiểu Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Siêu Ngắn)
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngô Gia Văn Phái

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Hai Cây Phong Trong Đoạn Trích Hai Cây Phong
  • Giáo Án Dạy Học Ngữ Văn 8 Tiết 33, 34: Hai Cây Phong (Trích ”người Thầy Đầu Tiên”) (Ai
  • Bài Văn: Soạn Bài: Hai Cây Phong
  • Chữ Đậm, Chữ Nghiêng, Gạch Chân, Chỉ Số Trên/ Dưới Trong Microsoft Word
  • Hướng Dẫn Cách In Trong Excel
  • I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

    1. Tác giả

    – Ngô gia văn phái: Một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Thanh Oai (tỉnh Hà Tây cũ). Trong đó có hai tác giả chính là:

    + Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống.

    + Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.

    – Họ là những nhà nho mang nặng tư tưởng trung quân, ái quốc. Ngô Thì Chí từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai. Ông cũng chính là người dâng “Trung hưng sách” bàn kế để khôi phục nhà Lê và chống lại nhà Tây Sơn.

    – Họ là những cây bút trung thực và có tư tưởng tiến bộ. Họ đã phản ánh được một cách chân thực, sống động những sự kiện lịch sử dân tộc trong khoảng ba mươi năm cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.

    2. Tác phẩm

    a. Thể loại

    – Hoàng Lê nhất thống chí được viết theo thể chí – một thể văn ghi chép sự vật, sự việc. Một thể loại văn vừa có tính văn học, vừa có tính lịch sử lại vừa mang tính triết lí (hiện tượng văn – sử – triết bất phân).

    – Nếu xét về tính chân thực, tác phẩm có thể được xếp loại kí sự lịch sử. Song, nếu xét về phương diện nghệ thuật: kết cấu, giọng điệu trần thuật… thì tác phẩm thuộc vào loại tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm được viết theo kiểu chương hồi, trong đó gồm 17 hồi.

    b. Hoàn cảnh sáng tác

    Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm được viết bằng chữ Hán, ghi chép về sự thống nhất đất nước của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh.

    – Tác phẩm được viết ở nhiều thời điểm nối tiếp nhau, từ giai đoạn cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn và do một số tác giả kế tục nhau viết.

    Hoàng Lê nhất thống chí được viết bởi hai tác giả chính: Ngô Thì Chí viết bảy hồi đầu, Ngô Thì Du viết bảy hồi tiếp sau, còn ba hồi cuối có thể do một người khác viết vào khoảng cuối hoặc đầu triều Nguyễn.

    c. Vị trí đoạn trích

    – Đoạn trích trong sách giáo khoa thuộc hồi thứ mười bốn của tác phẩm, ca ngợi chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung cùng nghĩa quân Tây Sơn. Đồng thời, miêu tả sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh cùng số phận của bè lũ vua tôi hại nước, hại dân Lê Chiêu Thống.

    d. Tóm tắt văn bản Hồi 14 – Hoàng Lê nhất thống chí

    Tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về núi Tam Điệp. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua (hiệu là Quang Trung) ở Phú Xuân, tự mình đốc suất lại binh để chuẩn bị tiến quân ra Bắc diệt Thanh.

    Dọc đường vua Quang Trung cho tuyển thêm lính, mở cuộc duyệt binh lớn và chia quân thành các ngả để tiến ra Bắc. Ra chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp, hẹn đến ngày mồng 7 Tết thắng lợi sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long.

    Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đó khiến quân Thanh đại bại. Rạng sáng ngày mồng 3 Tết, nghĩa quân đã tiến vào Thăng Long, bí mật bao vây đồn Hạ Hồi, dùng mưu để quân giặc đầu hàng và hạ đồn một cách dễ dàng.

    Ngày mồng 5 Tết, nghĩa quân tiến vào công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, cuối cùng phải chịu đầu hàng, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến trốn chạy theo.

    e. Bố cục: Ba phần

    – Phần một: Từ đầu đến “năm Mậu thân 1788”: Tin quân Thanh đã chiếm thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Phần hai: Tiế theo đến “kéo vào thành”: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn.

    – Phần ba: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Hình tượng người anh hùng Quang Trung

    a. Nhà lãnh đạo quyết đoán, mạnh mẽ và bản lĩnh phi thường

    – Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn hành động một cách mạnh mẽ, nhanh gọn và rất quyết đoán: Nghe tin giặc chiếm thành Thăng Long, không hề nao núng mà “định thân chinh cầm quân đi ngay”.

    – Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được rất nhiều việc lớn:

    + Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung để yên lòng dân rồi thân chinh cầm quân ra Bắc.

    + Tuyển mộ được hơn một vạn tinh binh và mở cuộc duyệt binh lớn.

    + Ra phủ dụ tướng sĩ: Vạch trần âm mưu xâm lược của nhà Thanh, cho thấy bộ mặt tàn bạo của kẻ thù; giữ nghiêm kỉ luật, khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính.

    b. Bậc minh vương có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén

    – Là một bậc quân vương, thống lĩnh cả vạn tinh binh, vua Quang Trung đã tỏ ra được là một người sáng suốt, nhạy bén trong việc nhận định tình hình thế cuộc và tương quan lực lượng giữa ta và địch. Điều đó được thể hiện trong lời phủ dụ với quân lính khi ở Nghệ An:

    + Vua Quang Trung đã khẳng định chủ quyền dân tộc: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta”.

    + Tiếp đó, ông lên án hành động ngang ngược, phi nghĩa của giặc trái với đạo trời của quân Thanh: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải”.

    + Để khích lệ tinh thần tướng sĩ dưới quyền, ông đã nhắc lại truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của các bậc minh vương trong lịch sử: “Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ…”

    + Từ những gương trên, ông kêu gọi quân lính hãy “đồng tâm hiệp lực”.

    + Cuối cùng, ông ra kỉ luật nghiêm khắc theo phép nhà binh: “Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

    – Đó còn là một bậc minh quân sáng suốt, nhạy bén trong việc dùng người và xét đoán bề tôi:

    + Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Lân và Sở, ta thấy: ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân để bảo toàn lực lượng của hai vị tướng này. Đúng ra thì “quân thua chém tướng”. Nhưng ông hiểu lòng họ, sức ít không thể địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh.

    + Đối với Ngô Thì Nhậm, ông hiểu tường tận năng lực, khả năng “đa mưu túc trí” của vị quân sĩ này. Việc Lân và Sở rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan.  Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao sau này.

    c. Bậc quân vương có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng

    – Quang Trung tự tin vào tài cầm quân của mình, tin vào các tướng lĩnh và tin ở chính nghĩa của dân tộc. Bởi vậy, mới khởi binh, ông đã chắc thắng và dự kiến cả ngày chiến thắng: “Phương lược tiến đánh đã tính sẵn. Chẳng qua mười ngày có thể đuổi được người Thanh…”

    – Đang lo việc đánh giặc, Quang Trung đã tính sẵn cả kế hoạch sau chiến thắng (kế hoạch cho mười năm sau), tìm cách ngoại giao với giặc để có thể dẹp “việc binh đao”, “cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”,…

    d. Bậc kì tài về quân sự – có tài thao lược hơn người

    – Vua Quang Trung thân chinh cầm quân, đốc suất quân sĩ, tổ chức chiến dịch làm nên cuộc hành quân thần tốc nổi tiếng trong lịch sử. Cuộc hành quân thần tốc đến nay vẫn còn khiến chúng ta khâm phục:

    + Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

    + Vượt khoảng 350 km đường đèo, núi, đến ngày 29 đã tới Nghệ An.

    + Tổ chức tuyển quân, duyệt binh chỉ trong một ngày.

    + Ngay hôm sau, vượt khoảng 150 km, tiến ra Tam Điệp.

    + Đêm 30 tháng Chạp “lập tức lên đường” tiến thẳng Thăng Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và giữ bí mật đến bất ngờ.

    – Hành quân xa liên tục và gấp gáp, lại là đi bộ hẳn sẽ mệt mỏi, rã rời, song quân đội của Quang Trung vẫn chỉnh tề. Mặc dù quân đội đó không phải toàn lính thiện chiến nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của vua Quang Trung, tất cả đã trở thành quân đội dũng mãnh, “tướng ở trên trời rơi xuống, quân chui ở dưới đất lên”, đánh đâu thắng đó.

    – Ông dùng chiến thuật một cách linh hoạt, ít hao tổn binh lực:

    + Ở trận Hạ Hồi, bằng chiến thuật nghi binh đã giúp nghĩa quân chiến thắng vẻ vang mà không tốn một hòm tên, mũi đạn.

    + Ở trận Ngọc Hồi, cho quân làm những tấm ván ghép, bên ngoài phủ rơm dấp nước nên binh lính tiến sát đồn mà không bị đạn hỏa công.

    e. Một vị anh hùng lẫm liệt trong chiến đấu

    – Vua Quang Trung là một tổng chỉ huy thực sự của chiến dịch. Ông hoạch định đường lối chiến lược, chiến thuật, tự mình thống lĩnh một mũi tiên phong, xông pha nơi chiến trận,…

    – Dưới sự lãnh đạo của Quang Trung, nghĩa quân Tây Sơn đã chiến thắng áp đảo quân thù.

    – Hình ảnh nhà vua lẫm liệt trên lưng voi, trực tiếp chỉ huy trận đánh, dũng mãnh, tài ba được khắc họa nổi bật và là linh hồn của cuộc tiến công vĩ đại của dân tộc.

    2. Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của bọn vua tôi phản dân hại nước

    a. Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh

    – Đối lập với hình ảnh của nghĩa quân Tây Sơn:

    + Tướng Tôn Sĩ Nghị: “sợ mất mật, ngựa không còn kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy”; Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử.

    + Quân “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy  nhau rơi xuống mà chết rất nhiều… đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa”.

    – Cả một đội binh hùng tướng mạnh mấy chục vạn người diễu võ dương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.

    – Nguyên nhân của sự thất bại:

    + Tướng lĩnh thì kiêu căng, chủ quan, bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của vua tôi Lê Chiêu Thống, chỉ lo ăn chơi, hưởng lạc trên chiến thắng.

    + Do sự bất tài, tham sống sợ chết, nên chưa đánh đã chạy.

    + Lính tráng thì ô hợp, buông lỏng kỷ cương: Rời doanh trại để đi kiếm củi và buôn bán ở chợ.

    b. Số phận thảm bại của bọn vua tôi phản nước, hại dân

    – Lê Chiêu Thống và bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà mù quáng “cõng rắn cắn gà nhà” và đặt vận mệnh của dân tộc vào tay kẻ thù xâm lược.

    – Họ không còn tư cách của bậc quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh, van xin và kết cục chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: Lê Chiêu Thống cũng vội vã cùng kẻ thân tín chạy bán sống, bán chết, “luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều mệt lử”, chỉ biết “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    Hoàng Lê nhất thống chí – hồi mười bốn – “Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận, bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài” là bức tranh sinh động về người anh hùng Nguyễn Huệ  -vị vua văn võ song toàn. Đồng thời, cũng thấy được tình cảnh thất bại ê chề, khốn đốn, nhục nhã của bọn vua quan bán nước Lê Chiêu Thống.

    2. Nghệ thuật

    Hoàng Lê nhất thống chí lựa chọn trình tự kể theo diễn biến của các sự kiện lịch sử.

    – Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.

    – Giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của tác giả với vương triều Lê, với chiến thắng của nhân dân, dân tộc với bọn cướp nước.

    Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

    Tác giả: Phạm Trung Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Cái Hay Của Hồi Mười Bốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bộ Câu Hỏi Ôn Tập Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Vài Nét Cơ Bản Về Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Đồng Tháp
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Chi Tiết)
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Cảm Nhận Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm

    Hoàng Lê nhất thống chí (hay An Nam nhất thống chí) là một cuốn sách viết bằng chữ Hán. Ngô Gia Văn Phái (Tập hợp các tác phẩm sáng tác và nghiên cứu của các tác giả họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)).

    Hoàng Lê nhất thống chí đã dựng lên được một bức tranh rộng lớn, phức tạp và chân thực về xã hội nước ta những năm cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đây là một kí sự về lịch sử. Thành công của tác phẩm là à chỗ đã kết hợp khá hài hoà chăn lí lịch sử với chân lí nghệ thuật. Và mặc dù các sự kiện có vai trò quan trọng đầu tiên, nhưng các nhân vật củng được xây dựng với một diện mạo khá rõ nét. Có khi, chỉ cần một câu nói, một vài nét phác hoạ, tác giả củng để lại cho người đọc những ấn tượng không thể quên về một nhân vật. Tuy nhiên, ở một sô’đoạn, tác giả còn rơi vào kể lể sự kiện khô khan mà chưa đi vào chiều sâu tâm lí nhân vật.

    1. Câu hỏi 1 (SGK, trang 72)

    Dù sao, trong văn xuôi chữ Hán của nước ta, trước và sau Hoàng Lê nhất thống chí, không có một tác phẩm nào có quy mô đồ sộ và đạt được nhiều thành tựu như vậy.

    Hồi thứ 14 kể về việc quân Thanh bị đại bại trong trận Ngọc Hồi, vua Lê Chiêu Thông bỏ thành Thăng Long trôn chạy. Đoạn đầu của hồi này nói về việc Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long, thấy dễ dàng, cho là vô sự, không đề phòng gì cả. Điều đó làm cho vua Lê Chiêu Thống vốn đã biết rất rõ tài cầm quân của Nguyễn Huệ, rất lo lắng.

    Có thể chia đoạn trích thành 3 phần:

    Phần 1: Từ “Nhắc lại, Ngô Văn sở… vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788)”: Chuẩn bị kế hoạch tiến quân vào thành Thăng Long của Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ), và việc lên ngôi hoàng đế của Nguyễn Huệ.

    Phần 2: Từ “Vua Quang Trung tự mình… tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”: Cuộc tiến công thần tốc, bất ngờ của vua Quang Trung vào thành Thăng Long, quân Thanh đại bại.

    Phần 3: Đoạn còn lại: Tin quân Tây Sơn kéo vào thành Thăng Long đã làm cho Lê Chiêu Thống hoảng sợ, tìm mọi cách trốn chạy ra ngoài.

    2. Câu hỏi 2 (SGK, trang 72)

    Hình ảnh người anh hùng áo vải (Nguyễn Huệ) được tác giả khắc hoạ chủ yếu qua đoạn văn: “Nhắc lại, Ngô Văn sở sau khi… Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”, cần đọc kĩ văn bản và các chú thích trong SGK đê hiểu nội dung của các từ khó. Hình ảnh nhân vật được tác giả khắc hoạ qua những chi tiết nào: ngoại hĩnh, cử chỉ, lời nói…

    Đọc những câu thơ:

    Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài.

    Ta như được sống lại những giờ phút lịch sử hào hùng của dân tộc vào cuối, năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỉ Dậu (1789) khi Lê Chiêu Thống đã rước 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu, kéo sang xâm lược nước ta. Trong không khí lịch sử ấy, hình ảnh người anh hùng áo vải (Nguyễn Huệ) đất Tây Sơn xuất hiện như một vị cứu tinh của dân tộc.

    Đoạn trích mở đầu bằng sự kiện Ngô Văn sở – một tướng của đội quân Tây Sơn – lui quân về án ngữ tại Biện Sơn và Tam Điệp. Một tình thế khá nguy cấp. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ xuất hiện với vai trò một vị thủ lĩnh đại tài, có tầm nhìn chiến lược và quyết đoán. Khi nghe tin Nguyễn Văn Tuyết cấp báo Ngô Văn sở đã lui về Tam Điệp thì Nguyễn Huệ “giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay”. Là một vị thống lĩnh đại quân Tây Sơn đang trên đà tiến quân đánh bại giặc Thanh cưốp nước và bè lũ bán nước Lê Chiêu Thống, nhưng lại phải tạm thời lui quân hỏi sao Nguyễn Huệ không sốt ruột, lo lắng cho được. Nhưng với sự sáng suốt, điềm tĩnh, luôn lắng nghe ý kiến của cấp dưới, Nguyễn Huệ đã cân nhắc lời khuyên của tướng sĩ: “Trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa muộn”. Lời khuyên đó được vị chủ soái chấp nhận. Bởi Nguyễn Huệ lúc đó mới chỉ là một thủ lĩnh của phong trào nông dân, đại diện cho một giai cấp.

    Dường như thần tốc, dứt khoát là phẩm chất hàng đầu ở vị thủ lĩnh tôi cao này, ngay hôm sau lễ đăng quang, vua Quang Trung đã ra lệnh xuất binh và tự mình thống lĩnh đại quân theo hai đường thuỷ, bộ tiến ra Bắc. Mới nghe thì tưởng như lệnh xuất quân ấy có vẻ nóng vội. Nhưng thật ra, lệnh xuất bmh ấy đã dựa trên những cơ sỏ thực tế của nó, từ sự xem xét, đánh giá hết sức kĩ lưỡng. Mặc dù ở vị trí lãnh đạo tối cao nhưng Quang Trung không chủ quan quyết định một cách liều lĩnh bởi cuộc tiến công này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đôi với sự nghiệp giải phóng đất nước, báo hiệu những nguy cơ, khó khăn rất lớn khi phải chọc thẳng vào sào huyệt của giặc và đối chọi với 29 vạn quân “chuyên nghiệp” của Tôn Sĩ Nghị. Quang Trung đã cẩn thận chia sẻ lo toan của mình cho cố vấn quân sự La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Trước lời quả quyết của vị cố vấn: “Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan” vua Quang Trung thấy được sự đồng lòng, đồng tâm và càng tin tưởng vào quyết định của mình.

    Tài thao lược của Nguyễn Huệ không chỉ thể hiện việc điều binh khiển tướng mà còn ở việc chăm lo đến công tác động viên chính trị hết sức kịp thời bằng nhiều biện pháp rất linh hoạt và hiệu quả. Đe khích lệ tinh thần quyết tâm chiến đấu của quân sĩ, vua Quang Trung đã vạch trần tội ác dã man của giặc Thanh “mấy phen cưốp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải”, chúng còn có âm mưu hết sức thâm độc: “lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện” của chúng. Như vậy, đại quân Tây Sơn khởi nghĩa là thuận theo lẽ trời, đại diện cho nhân nghĩa, cho toàn thể dân tộc vùng lên giải phóng đất nước. Đó chính là sự noi gương tiếp nốì truyền thống tốt đẹp hào hùng của dân tộc. Những lời lẽ ấy thể hiện tầm nhìn sâu rộng và tấm lòng yêu nước thương dân của ngươi anh hùng áo vải (Nguyễn Huệ).

    Nhưng Quang Trung còn thu phục lòng người bằng chính sự chính trực, nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng. Trong những lời trách mắng rất dứt khoát, nghiêm khắc nủa vua Quang Trung vối hai tướng sở và Lân: “Tội của oác ngươi đều đấng diết một vạn lần” vẫn chứa đựng sự khoan dung, tấm lòng cao cả của một thủ lĩnh. Đó cũng là một “bí quyết” trong cách dùng ngươi của Nguyễn Huệ khiến quân sĩ vừa nể sợ lại vừa yêu mến kính phục, một lòng một dạ cùng vị thủ lĩnh vào sinh ra tử, chịu bao khổ cực gian nan. Thấu hiểu lòng trung thành của quân sĩ, Nguyễn Huệ thường xuyên chăm lo đời sống và động viên tinh thần của họ hết sức kịp thời. Dù trong những ngày tháng chiến đấu gian nan, cấp bách nhưng vua Quang Trung vẫn mở tiệc khao quân cho tất cả quân sĩ ăn Tết trước để chuẩn bị cho cuộc tiến công quyết chiến chiến lược cuối cùng. Quyết định tấn công giặc đúng vào tối 30 Tết là một quyết định thiên tài của nhà quân sự kiệt xuất Nguyễn Huệ. Bởi đó là lúc quân tướng của Tôn Sĩ Nghị vẫn đang say sưa chè chén, chìm đắm trong “niềm tin chiến thắng” (nhất là khi Nguyễn Huệ gửi thư giả hàng). Chớp thời cơ là một yếu tố vô cùng quan trọng trong nghệ thuật quân sự. Và trên cơ sở sự chuẩn bị kĩ lưỡng, sự phân tích sáng suốt về thế của ta và địch, Nguyễn Huệ khẳng định niềm tin tất thắng: “Đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng”. Một tiên đoán thiên tài và cũng là một quyết tâm sắt đá. Quyết tâm đó đã biến thành hành động thực tế bằng cuộc tiến công thần tốc vào kinh thành Thăng Long của năm đạo quân tinh nhuệ.

    Đoạn văn miêu tả về thế tiến công như vũ bão, như nước triều dâng của đại quân Tây Sơn như một bản ca hùng tráng. Lời văn dồn dập, trào dâng cùng thế tiến công quân thù. Các chiến thắng liên tiếp vang dội ngày càng mạnh mẽ, rộng lớn: từ Hạ Hồi đến Ngọc Hồi, Đống Đa và cuối cùng là tiến binh đến Thăng Long. Một sức mạnh như vũ bão, một sức tấn công bất ngờ không thể chống được và sự đại bại của quân Thanh Ịà hoàn toàn tất yếu.

    Với niềm tự hào mãnh liệt, cảm hứng hùng tráng, tác giả Hoàng Lê nhât thống chí đã dựng lại hình ảnh ngưòi anh hùng áo vải (Nguyễn Huệ) oai phong, lẫm liệt. Chỉ qua đoạn trích cũng đủ cho chúng ta thấy tài năng quân sự vào loại bậc nhất của dân tộc, của vị thủ lĩnh kiệt xuất. Quang Trung – Nguyễn Huệ đã đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng chói lọi về tài năng, đức độ và lòng yêu nước của con người Việt Nam.

    Người đọc càng say sưa, hào hứng theo dõi cuộc tiến công thần tốc của đại quân Tây Sơn tiến vào kinh thành Thăng Long, thì càng ghê tởm, căm tức khi bắt gặp hình ảnh của quân tướng nhà Thanh và bè lũ bán nước Lê Chiêu Thống. Bằng biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập, các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã miêu tả và nêu bật sự thảm hại của quân Thanh xâm lược và số phận nhục nhã, bi đát của bọn vua quan bán nước hại dân.

    Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân tinh nhuệ sang xâm lược nước ta, sau khi chiếm được thành Thăng Long không mất một mũi tên, như vào chỗ không người, càng kiêu căng, với bản chất huênh hoang, tự đắc, hắn càng được thể khoác lác: “Việc gì mà phải vội vã như vậy? … Giặc gầy mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt”. Vì quá tự tin vào khả năng phòng thủ của mình, nên hắn đã cho bọn tướng tá, binh lính ăn uống no say, chơi bòi tiệc tùng thoả thích, không hề để ý đến cơ sự bên ngoài là đại quân Tây Sơn đã tiến sát vào thành. Đến lúc đó mà chúng vẫn huênh hoang tuyên bố là đầu xuân sẽ kéo quân thắng đến sào huyệt của quân Tây Sơn để “bắt sống, không một tên nào lọt lưới!”. Nhưng thảm hại thay, chúng chưa kịp hành sự, còn đang đắm chìm trong men say thì quân Tây Sơn đã ập đến. Trước sức tiến công như vũ bão, xuất thần “tướng từ trên trời xuống, quân chui dưới đất lên” của quân Nguyễn Huệ, hệ thống phòng thủ kiên cố, niềm tự hào kiêu hãnh của chúng bị đập tan như tổ kiến hổng ở thân đê sập toang trước một cơn sóng dữ. Thất bại dồn dập. Đồn Hạ Hồi phải đầu hàng, Ngọc Hồi bị đập nát. Những tên lính tinh nhuệ ngày thường vẫn nghênh ngang đi lại, cướp bóc, đánh đập dân lành nay bỗng trở nên thảm hại, kẻ rụng rời sợ hãi, kẻ bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Thì ra đội quân mà bấy lâu nay nhà Thanh nuôi dưỡng, tin tưởng, tự hào đến lúc này chỉ biết cố sức chạy thoát thân đến mức sẵn sàng gịẫm đạp, giày xéo lên nhau. Quân đã thê, tướng cũng chẳng hơn gì. sầm Nghi Đông tự thắt cổ chết còn Tôn Sĩ Nghị huênh hoang, khoác lác là thế cũng sợ mất mật và tìm cách trốn thoát, bỏ mặc lại quân lính đang tan tác như “rắn mất đầu”. Thảm hại nhất là cảnh hàng vạn tên giặc tán loạn, tranh nhau chạy thoát thân mà cuối cùng đều bị rơi xuống nước, thây chất đầy đến nỗi nựớc sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn.

    Bọn bán nước cầu vinh Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Trịnh Hiến cũng chịu chung một số phận. Dựa vào thế của Tôn Sĩ Nghị, chúng cũng thả sức tiệc tùng ăn chơi, chè chén: “tuyệt nhiên không nghe tin cấp báo gì cả”. Nhưng đến khi quân Tây Sơn tiến vào đập tan đội quân của Tôn Sĩ Nghị thì số phận của chúng cũng bị định đoạt. Chẳng còn con đường nào khác, vua tôi, quân thần cuốn gói tháo chạy để bảo toàn tính mạng. Thật thảm hại, bi đát và nhục nhã cho những kẻ mắc tội tày trời “rước voi về giày mả tổ”. Hình ảnh Lê Chiêu Thống và bọn cận thần “than thở, oán giận, chảy nước mắt” nhìn nhau là màn kết thúc độc đáo của một tấn bi hài kịch về thân phận của những kẻ bán nước cầu vinh, hại dân hại nước. Đúng như lời người Bắc Hà khi ấy than rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế”.

    4. Câu hỏi 4 (SGK, trang 72)

    Đọc lại đoạn văn từ “Nửa đêm ngày mồng 3…” đên hết để tìm những chi tiết cụ thể miêu tả sự thất bại thảm hại của giặc Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống. Chú ý hình ảnh của chúng được miêu tả trong thế tương phản với hình ảnh lẫm liệt, hào hùng của quân Tây Sơn. Nhưng cách tả về hai thế lực đó có sự khác nhau căn bản.

    Với thái độ phê phán, khinh bỉ, tác giả Hoàng Lê nhât thống chí đã vẽ nên bức tranh thảm hại của lũ giặc bán nước và cướp nước sau trận đại phá Thăng Long của vua Quang Trung. Quân Thanh từ binh sĩ đến tướng lĩnh đều bị tan tác trước sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn. Vì chủ quan, khinh thường không đánh giá được sức mạnh của đối phương, lại bị đánh vào lúc không thể ngò tới nên chúng tan rã rất nhanh. Mỗi kẻ một vẻ nhưng chúng đều tỏ rõ sự sợ hãi đến kinh hồn bạt vía, chẳng còn sức chống cự mà chỉ lo tìm đường thoát thân. Ngòi bút miêu tả của nhà văn tỏ ra rất sắc sảo khi vừa điểm mặt chỉ tên từng tên tướng lĩnh như Tôn Sĩ Nghị, sầm Nghi Đông, vừa khái quát cảnh chết chóc với scí lượng đông đảo của quân lính. Với những chi tiết “ai nấy đều rụng rời”, “chết đến hàng vạn ngưòi”, “quân lính Vơi xuống nước, đến nỗi sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn” đã cho ta thấy một bức tranh về sự thất bại thảm hại của toàn bộ đội quân hung hăng, tàn bạo, ngông cuồng nhà Thanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Phân Tích Nhân Vật Nguyễn Huệ Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Phân Tích Hồi Thứ 14 Trích Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Gia Văn Phái
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100