Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ

--- Bài mới hơn ---

  • Tác Phẩm “báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ” Của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)
  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ (1924)
  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Văn Bản Báo Cáo Lớp 7 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Lớp 7: Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo
  • Mátxcơva, 1924

    Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây.

    Về phía người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức. Về phía bọn chủ, không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ; không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi.

    Cho nên, nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được.

    Nhưng người ta sẽ bảo: thế là chúng ta ở thời Trung cổ à? ồ! Sẽ là quá đáng nếu so sánh người “nhà quê” – và tôi có thể nói: ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây.

    Mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không ? Đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản.

    Thật ra là có, vì sự tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông; – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được.

    Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.

    Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Từ nhiều thế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay sao để đến mức làm cho người châu Âu khinh rẻ họ (lười nhác, mê muội hàng nghìn năm, v.v.)?

    Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xôviết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này). Và các Xôviết sẽ thành công; vì rằng, đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, họ sẽ làm cho thế giới được miễn nghe các lời tầm phào của những Guýtxtavơ Lơbốp và những Hăngri Coócđiê.

    (…)

    Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917: cơ quan của phái lập hiến).

    (…)

    Cương lĩnh của chúng tôi.

    Phương hướng chung.

    Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản. Khẩu hiệu này, do Mátxcơva tung ra, đánh vào các nhà tư sản như một nghịch lý táo bạo, nhưng thật ra điều đó có nghĩa gì? Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp.

    a/ ở Đông Dương.

    Hành động hợp pháp phụ thuộc vào việc nước Pháp thừa nhận các Xôviết. Điều đầu tiên phải làm là sẽ thiết lập các lãnh sự quán Nga ở Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng. Những lãnh sự quán này tự nhiên sẽ là những trung tâm tuyên truyền chủ nghĩa bônsêvích và lựa chọn các chiến sĩ bản xứ để gửi sang Nga. Hoạt động bất hợp pháp sẽ là trợ cấp cho một tờ báo, rải truyền đơn và nhất là các bài đả kích bằng tiếng bản xứ và chữ Hán, là tổ chức những hội kín. Nhân viên tuyên truyền gồm có: người bản xứ, người Pháp và người Nga, nếu có thể được thì, biết tiếng nước này, và làm một nghề khiến họ tiếp xúc được với dân bản xứ (nữ hộ sinh, nữ giáo viên, thầy thuốc ở nông thôn, dân đồn điền. Một luật sư cho người bản xứ sẽ được mọi người biết tiếng ngay). Thành lập ra ở Chợ Lớn một phân bộ cộng sản Trung Quốc.

    b/ ở Nhật Bản, ở Trung Quốc và ở Xiêm.

    Tiếp xúc với những nhóm người di tản. Thành lập một lãnh sự quán ở Vân Nam phủ, thành phố rất quan trọng nằm ở biên giới Bắc Kỳ, trung tâm tuyên truyền đặt ở vị trí đó rất tuyệt. Tranh thủ làm cho các Xôviết được công nhận ở Xiêm nơi mà Anh, Pháp và Mỹ luôn luôn có mưu đồ. Mỹ có 4 cố vấn trực thuộc Bộ Ngoại giao, Anh và Pháp có hai cố vấn trực thuộc Bộ Tư pháp. Tại sao nước Nga lại không có? Hơn nữa, một lãnh sự quán ở Băng Cốc sẽ tìm thấy các ngả đường đi ấn Độ thuộc Anh, Giava thuộc Hà Lan và Đông Dương thuộc Pháp.

    c/ ở Pháp.

    Nhóm cộng sản ở Nghị viện sẽ có hai nhiệm vụ quan trọng:

    1) Thừa nhận các Xôviết; 2) Xoá chế độ bản xứ. Trong nhiệm kỳ, sẽ yêu cầu bỏ thuốc phiện ở Đông Dương; nó sẽ tố giác các vụ bê bối như vụ bê bối của độc quyền ở Sài Gòn. Từ Pháp đến Đông Dương quá xa cách vì vậy sẽ không có vấn đề Nghị viện đi xem xét như có thể làm đối với Angiêri và Tuynidi.

    Ban thuộc địa sẽ lo trước hết việc tổ chức công đoàn. Hội liên hiệp thuộc địa sẽ làm đúng với danh hiệu của mình. Tờ Le Paria sẽ ra mỗi tuần 2 lần.

    Hoạt động thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp hẳn là còn yếu kém nhưng chút ít nó làm được thì chẳng có đảng nào làm được, còn nếu nó chưa quan tâm đến người bản xứ, đó là vì người bản xứ chưa đến với nó được mấy. Nhiệm vụ số một của nó là đào tạo những chiến sĩ bản xứ. Đào tạo không chỉ những nhà tuyên truyền mà cả những nhà cách mạng theo kiểu châu Âu.

    d/ ở Nga.

    Muốn thế, đưa đến Mátxcơva hay đến các trung tâm khác, các sinh viên An Nam (còn sớm để có thể coi thường người trí thức). Cũng đưa cả những người lao động chân tay vì phải đào tạo những quân nhân, thuỷ thủ cho hồng quân bản xứ và các chi bộ xí nghiệp bản xứ, đủ sức thay thế các kỹ thuật viên của chủ nghĩa tư bản.

    (…)

    Kết luận: Khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:

    1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây.

    3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp.

    4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam.

    Nguồn: Hồ Chí Minh. Toàn tập – tập 1. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Phiên bản điện tử: http://dangcongsan.vn/cpv/index.html

    [3] La société Indo – Chinoise.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Hiện Toàn Văn Bản Báo Cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ Của Nguyễn Ái Quốc
  • Báo Cáo Sơ Kết Học Kì 1 Năm Học 2022
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo Sgk Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ (1924)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Văn Bản Báo Cáo Lớp 7 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Lớp 7: Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo
  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo Soạn Ngữ Văn
  • Bài 30. Văn Bản Báo Cáo
  • Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây.

    Về phía người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức. Về phía bọn chủ, không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ; không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi.

    Cho nên, nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được.

    Nhưng người ta sẽ bảo: thế là chúng ta ở thời Trung cổ à? ồ! Sẽ là quá đáng nếu so sánh người “nhà quê” (1) với người nông nô. An Nam chưa bao giờ có tǎng lữ và thuế mười phần trǎm. Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì. Tất nhiên là đã có quan lại rồi. Nhưng có thể so sánh họ với chúa phong kiến không? Không. Trước hết quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì. Hơn nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn.

    Xã hội ấn Độ – China (1) – và tôi có thể nói: ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây.

    Mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không ? Đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản.

    Thật ra là có, vì sự tây phương hoá ngày càng tǎng và tất yếu của phương Đông; – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được.

    Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.

    Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Từ nhiều thế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay sao để đến mức làm cho người châu Âu khinh rẻ họ (lười nhác, mê muội hàng nghìn nǎm, v.v.)?

    Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xôviết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này). Và các Xôviết sẽ thành công; vì rằng, đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, họ sẽ làm cho thế giới được miễn nghe các lời tầm phào của những Guýtxtavơ Lơbốp và những Hǎngri Coócđiê.

    (…)

    Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế nǎm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa nǎm 1917 (1) .

    Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc:

    1. Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá khi chuyển từ giới thượng lưu này sang giới thượng lưu khác. Chính thanh niên An Nam ngày nay đang chỉ đạo nó.

    2. Chủ nghĩa dân tộc ǎn sâu vào quần chúng nhờ sự phát triển của các phần tử thành thị và nhất là nhờ sự tuyển mộ và trở về của “lính tình nguyện”.

    3. Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng cǎm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và người ấn Độ sinh cơ lập nghiệp ở trên đất nước này.

    4. Nó có xu hướng hợp pháp hoá các hình thức biểu hiện và yêu sách của nó. Một mặt, chính quyền nhượng bộ. Mặt khác, lớp thanh niên từ bỏ phương pháp tiến hành những cuộc nổi dậy bột phát của lớp người đi trước, và ngày nay, người ta thiên về chiến thuật của những nhà cách mạng châu Âu: tuyên truyền, tổ chức và khởi nghĩa quần chúng. Trong khi lớp người già muốn độc lập ngay thì lớp trẻ yêu sách những thiết chế chuẩn bị cho độc lập (tờ La Tribune indigène (62) : cơ quan của phái lập hiến).

    (…)

    Cương lĩnh của chúng tôi.

    Phương hướng chung.

    Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản. Khẩu hiệu này, do Mátxcơva tung ra, đánh vào các nhà tư sản như một nghịch lý táo bạo, nhưng thật ra điều đó có nghĩa gì? Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp.

    a/ Ở Đông Dương.

    Hành động hợp pháp phụ thuộc vào việc nước Pháp thừa nhận các Xôviết. Điều đầu tiên phải làm là sẽ thiết lập các lãnh sự quán Nga ở Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng. Những lãnh sự quán này tự nhiên sẽ là những trung tâm tuyên truyền chủ nghĩa bônsêvích và lựa chọn các chiến sĩ bản xứ để gửi sang Nga. Hoạt động bất hợp pháp sẽ là trợ cấp cho một tờ báo, rải truyền đơn và nhất là các bài đả kích bằng tiếng bản xứ và chữ Hán, là tổ chức những hội kín. Nhân viên tuyên truyền gồm có: người bản xứ, người Pháp và người Nga, nếu có thể được thì, biết tiếng nước này, và làm một nghề khiến họ tiếp xúc được với dân bản xứ (nữ hộ sinh, nữ giáo viên, thầy thuốc ở nông thôn, dân đồn điền. Một luật sư cho người bản xứ sẽ được mọi người biết tiếng ngay). Thành lập ra ở Chợ Lớn một phân bộ cộng sản Trung Quốc.

    b/ Ở Nhật Bản, ở Trung Quốc và ở Xiêm.

    Tiếp xúc với những nhóm người di tản. Thành lập một lãnh sự quán ở Vân Nam phủ, thành phố rất quan trọng nằm ở biên giới Bắc Kỳ, trung tâm tuyên truyền đặt ở vị trí đó rất tuyệt. Tranh thủ làm cho các Xôviết được công nhận ở Xiêm nơi mà Anh, Pháp và Mỹ luôn luôn có mưu đồ. Mỹ có 4 cố vấn trực thuộc Bộ Ngoại giao, Anh và Pháp có hai cố vấn trực thuộc Bộ Tư pháp. Tại sao nước Nga lại không có? Hơn nữa, một lãnh sự quán ở Bǎng Cốc sẽ tìm thấy các ngả đường đi ấn Độ thuộc Anh, Giava thuộc Hà Lan và Đông Dương thuộc Pháp.

    c/ Ở Pháp.

    Nhóm cộng sản ở Nghị viện sẽ có hai nhiệm vụ quan trọng:

    1) Thừa nhận các Xôviết; 2) Xoá chế độ bản xứ. Trong nhiệm kỳ, sẽ yêu cầu bỏ thuốc phiện ở Đông Dương; nó sẽ tố giác các vụ bê bối như vụ bê bối của độc quyền ở Sài Gòn. Từ Pháp đến Đông Dương quá xa cách vì vậy sẽ không có vấn đề Nghị viện đi xem xét như có thể làm đối với Angiêri và Tuynidi.

    Ban thuộc địa sẽ lo trước hết việc tổ chức công đoàn. Hội liên hiệp thuộc địa sẽ làm đúng với danh hiệu của mình. Tờ Le Paria sẽ ra mỗi tuần 2 lần.

    Hoạt động thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp hẳn là còn yếu kém nhưng chút ít nó làm được thì chẳng có đảng nào làm được, còn nếu nó chưa quan tâm đến người bản xứ, đó là vì người bản xứ chưa đến với nó được mấy. Nhiệm vụ số một của nó là đào tạo những chiến sĩ bản xứ. Đào tạo không chỉ những nhà tuyên truyền mà cả những nhà cách mạng theo kiểu châu Âu.

    d/ Ở Nga.

    Muốn thế, đưa đến Mátxcơva hay đến các trung tâm khác, các sinh viên An Nam (còn sớm để có thể coi thường người trí thức). Cũng đưa cả những người lao động chân tay vì phải đào tạo những quân nhân, thuỷ thủ cho hồng quân bản xứ và các chi bộ xí nghiệp bản xứ, đủ sức thay thế các kỹ thuật viên của chủ nghĩa tư bản.

    (…)

    Kết luận: Khả nǎng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:

    1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây.

    3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp.

    4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam.

    In trong sách Hồ Chí Minh,

    Những bài viết 1914-1969

    do Alain Ruscio biên soạn,

    Pari, 1990, tr.69-74.

    cpv.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Phẩm “báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ” Của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)
  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ
  • Phát Hiện Toàn Văn Bản Báo Cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ Của Nguyễn Ái Quốc
  • Báo Cáo Sơ Kết Học Kì 1 Năm Học 2022
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo (Ngắn Gọn)
  • Phát Hiện Toàn Văn Bản Báo Cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ Của Nguyễn Ái Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ
  • Tác Phẩm “báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ” Của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)
  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ (1924)
  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Văn Bản Báo Cáo Lớp 7 Ngắn Gọn
  • Trong hai năm 1995-1996, nhân dịp kỷ niệm 105 năm ngày sinh Chủ tịch Hố Chí Minh, chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sưu tầm, bổ sung và xuất bản bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, gồm 12 tập. Nhiều văn kiện, tác phẩm, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới sưu tầm được bổ sung vào bộ sách. Trong đó tập 1 của bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, trên cơ sở tiếp thu thành quả của lần xuất bản năm 1980, đã bổ sung hơn 30 bài và tác phẩm với hơn 100 trang, khai thác ở kho lưu trữ của Quốc tế Cộng sản trước đây, trên các tập san La Revue Communiste, Inpkorr, các báo L’Humanité, Le Parisa, La Vie Ouvrière, Le Journal du Peuple, Le Libertaire… Trong số những bài mới bổ sung có bản Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Bản báo cáo được lấy từ sách: Hồ Chí Minh: Những bài viết 1914-1969, do Alain Ruscio(1) biên soạn, xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris, năm 1990. Trong sách Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, bản Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, để ở phần Phụ lục, trong phần các văn bản viết chung.

    Từ khi bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ được in trong Hồ Chí Minh toàn tập, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu tác phẩm này và đánh giá rất cao những luận điểm khoa học của Báo cáo.

    Sách Hồ Chí Minh tiểu sử, do Giáo sư Song Thành, nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh, cùng tập thể tác giả là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu lâu năm biên soạn, Nxb. Lý luận chính trị xuất bản năm 2006 đã dành một mục phân tích đánh giá về tác phẩm này. Đây là kết quả sau nhiều năm nỗ lực nghiên cứu của tập thể tác giả. Trên cơ sở tác phẩm in trong Hồ Chí Minh toàn tập các tác giả phân tích và khẳng định: Đây là một tác phẩm lý luận xuất sắc về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam, với hai luận điểm: Cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông và ở Việt Nam không diễn ra giống như ở phương Tây; Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Từ hai luận điểm cơ bản trên, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một luận điểm thứ ba: Về sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác sao cho phù hợp với thực tiễn của mỗi nước.

    Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy từ khi tiếp thu Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa năm 1920, tin theo Lênin và Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc là người dân thuộc địa đầu tiên đi tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. Sau này hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã thúc đẩy Đảng Cộng sản Pháp quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Chính Nguyễn Ái Quốc đề nghị Đảng Cộng sản Pháp mở chuyên mục về thuộc địa đăng trên báo L’Humanité. Tháng 6-1923, rời nước Pháp sang Mátxcơva, tháng 7-1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phê bình Đảng Cộng sản Pháp bỏ mục thuộc địa trên báo L’Humanité. Người yêu cầu: mở lại mục viết về thuộc địa trong báo L’Humanité; Ban nghiên cứu thuộc địa cung cấp tài liệu cho phân bộ thuộc địa và cứ hai hoặc ba tháng một, báo cáo công tác của mình với phân bộ; ở những nơi đã thành lập phân bộ thuộc địa thì khuyến khích các phân bộ này tăng cường công tác tuyên truyền và tuyển thêm người bản xứ; trên tất cả báo chí của Đảng, mở một mục viết về thuộc địa để làm cho độc giả làm quen với các vấn đề thuộc địa; nói đến các thuộc địa trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng; cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa, mỗi khi nền tài chính của Đảng cho phép…

    Trong thời gian sống và hoạt động ở Mát xcơva, trung tâm của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, được theo học một lớp ngắn hạn của trường Đại học Phương Đông, tham dự nhiều đại hội và hội nghị quốc tế, trong đó quan trọng nhất là Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản, nơi diễn ra cuộc trao đổi lớn về đường lối chiến lược, sách lược của phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã nhận thức sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận. Nguyễn Ái Quốc cũng nhận thấy, Quốc tế Cộng sản biết rất ít về tình hình các thuộc địa, do đó đã chủ động viết nhiều báo cáo về tình hình Đông Dương và tình hình nông dân ở một số nước thuộc địa. Trong thư gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, ngày 11-4-1924, Nguyễn Ái Quốc viết: “Những thuộc địa của Pháp nói chung và Đông Dương nói riêng ít được biết đến trong giới vô sản và cộng sản. Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp rất ít được thông tin về những gì xảy ra ở những thuộc địa đó. Cục thông tin của đảng cần phải được thành lập. Còn như ở đây, chúng tôi tuyệt đối không có gì. Nếu chúng ta muốn hoạt động một cách có ích về vấn đề thuộc địa thì nhất thiết phải bắt liên lạc với các thuộc địa đó.” Người đề nghị sớm được trở về Đông Dương, trước hết là tới Trung Quốc để khảo sát và nghiên cứu: “Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản. Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này. Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.”(2). Bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ chính là những thông tin ban đầu về tình hình An Nam của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp.

    Nguyễn Ái Quốc là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, làm việc trong Ban nghiên cứu thuộc địa. Khi rời nước Pháp đến Mátxcơva, Liên Xô, Người vẫn giữ liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp. Trong nhiều thư, báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, gửi Đảng Cộng sản Pháp, Người vẫn coi mình là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp (Thư gửi Quốc tế Cộng sản, 11-9-1924; Thư gửi đồng chí Tơ Ranh, 19-9-1924; Thư gửi cho một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, ngày 19-2-1925)… Trước khi lên đường về gần Đông Dương, ngày 21-5-1928, trong thư gửi Ban Phương đông Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc góp ý nhiều về công việc của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp.

    Trong thời gian hoạt động ở Pháp (1911-1923), đặc biệt là từ khi tiếp xúc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc thuộc địa, gặp gỡ, trao đổi với các đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, đến thư viện đọc sách báo để tìm hiểu những vấn đề mà Người còn chưa hiểu rõ…, nhận thức lý luận của Người tiến bộ rất nhanh. Ngay khi ở nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã có một số bài viết, thể hiện luận điểm cách mạng sáng tạo, như hai bài Đông Dương đăng trên Tạp chí Cộng sản. Nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc, trong khi khả năng cách mạng của nó lại rất lớn, do vậy, trong bài Đông Dương, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 15, năm 1921, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra nhận định hết sức táo bạo: “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay… Trả lời câu hỏi đó, chúng ta có thể khẳng định rằng có” (Bản tiếng Pháp có câu gạch chân này, bản in trong Hồ Chí Minh toàn tập không có). Sau khi phân tích tình hình châu Á về những lý do lịch sử, Nguyễn Ái Quốc dự đoán: “Chủ nghĩa Cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”, và Người đưa ra kết luận: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.”(3).

    Những luận điểm trong bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, chính là đúc rút từ việc nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tế ở các thuộc địa, nhất là các thuộc địa ở phương Đông. Nguyễn Ái Quốc thấy không thể áp dụng một cách rập khuôn, máy móc lý luận đấu tranh giai cấp của Mác vào các nước này mà cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(4). Phân tích các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”, “Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại, và duy nhất trong đời sống của họ”. Chủ nghĩa dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc dùng ở đây là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Luận điểm này thể hiện trong các văn kiện lý luận quan trọng của Đảng ta, từ Chính cương, sách lược vắn tắt và các văn kiện của Hội nghị hợp nhất (1930). Chủ trương đoàn kết rộng rãi dẫn đến việc thành lập Mặt trận phản đế (1930), Mặt trận dân chủ (1936-1939), Mặt trận Việt Minh(1941), Mặt trận tổ quốc Việt Nam(1955), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960). Khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tổng kết ngắn gọn sâu sắc chiến lược đại đoàn kết của Đảng ta, một chân lý làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay, và từ nay về sau.

    Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu nội dung bản Báo cáo đã in trong Hồ Chí Minh toàn tập, chúng ta thấy các nhà nghiên cứu đã hoàn toàn đúng khi xác định đây là tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, và chúng ta có thể yên tâm khi trích dẫn sử dụng tác phẩm này trong các công trình, các bài nghiên cứu của mình.

    Tuy nhiên, Bảo tàng Hồ Chí Minh, với chức năng, nhiệm vụ của mình, vẫn tiếp tục tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, để tìm toàn văn bản báo cáo trên và những tư liệu chung quanh tác phẩm này.

    Rất may là năm 2007, trong chuyến đi sưu tầm tài liệu ở các kho Lưu trữ của Liên bang Nga, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã thu được khá nhiều tài liệu về thời kỳ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở nước ngoài, từ năm 1921 đến năm 1940. Trong số tài liệu mới sưu tầm được, có bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Khi phát hiện được tài liệu này, người được cử đi sưu tầm đã vui mừng bật khóc, và vội nhắn tin ngay về nước.

    Bản Báo cáo được lưu ở Kho lưu trữ Lịch sử Chính trị- xã hội Nga(5), Phông Đảng Cộng sản Pháp. Ngoài bìa hồ sơ ghi Ban Nghiên cứu Thuộc địa, năm 1924(6). So với bản báo cáo đã đưa vào sách Hồ Chí Minh toàn tập, thấy mới chỉ có một số đoạn, tất nhiên là những đoạn quan trọng, thể hiện tư tưởng, quan điểm và tinh thần sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc, nhưng chưa đầy đủ, có thể nói là còn thiếu rất nhiều, và những đoạn đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập, có đoạn lại không ghi tiêu đề, do vậy người đọc không hình dung được bản báo cáo này có mấy phần và mỗi phần đề cập đến vấn đề gì. Bản Báo cáo chúng tôi mới sưu tầm được đầy đủ, gồm 16 trang đánh máy bằng tiếng Pháp. Góc trái, phía trên trang 1 có dấu hình chữ nhật: APXUB UKKU, dịch là Lưu trữ Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, góc phải phía đầu trang ghi: 1924.

    Căn cứ vào bản Báo cáo Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ mới sưu tầm được, chúng tôi xác định được thời gian viết bản Báo cáo là năm 1924. Nội dung và một số chi tiết trong Báo cáo cho phép khẳng định bản Báo cáo do một người Việt Nam viết. Mặc dù trong tài liệu mới tìm được này cũng không ghi rõ ai là tác giả, nhưng khi đọc bản Báo cáo, qua phần trình bày khoa học, rõ ràng, với những phân tích, đánh giá tình hình, đưa ra cương lĩnh, và cuối cùng là dự báo tương lai cho cách mạng Việt Nam, chúng tôi lại có thêm cơ sở để khẳng định các nhà nghiên cứu trước đây đã hoàn toàn đúng khi xác định Nguyễn Ái Quốc là tác giả của bản Báo cáo. Bởi vì, vào thời điểm ấy người Việt Nam ở Mátxcơva, không có ai, ngoài Nguyễn Ái Quốc, người có đủ kiến thức, trình độ lý luận và thực tiễn, uy tín để viết bản Báo cáo này. Hơn nữa, qua nghiên cứu tài liệu hiện lưu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh chúng tôi thấy, trong khoảng thời gian từ năm 1923-1940, ở những thời điểm quan trọng, chuẩn bị về gần Tổ quốc, Nguyễn Aí Quốc đã có 3 bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản: Báo cáo về Đông Dương, viết 21-9-1923; Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, năm 1924; Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, 12-7-1940, đều có cấu trúc giống nhau, từ đặc điểm lịch sử-xã hội, tình hình cụ thể của Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã đề ra phương hướng hành động cho cách mạng Việt Nam và dự báo tương lai. Ba bản báo cáo này đều không ký tên, nhưng chúng tôi xác định được là của Nguyễn Ái Quốc, vì ngoài bản đánh máy, còn có bản Nguyễn ái Quốc viết tay. Chỉ riêng bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, chưa tìm thấy bản viết tay của Nguyễn Ái Quốc.

    Toàn văn bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ được viết hết sức ngắn gọn, nhưng khoa học, rõ ràng, gồm 4 phần:

    1. Tình hình người bóc lột.

    2. Tình hình người bị bóc lột.

    3. Cương lĩnh của chúng ta

    Phần 1: Tình hình người bóc lột

    Gồm 7 trang đánh máy, chưa có trong Hồ Chí Minh toàn tập. Rất ngắn gọn, bằng những con số (lấy theo số liệu của năm 1923), Nguyễn Ái Quốc đã nêu doanh thu của Pháp khi bóc lột ở thuộc địa và ở chính quốc; mánh lới của người bóc lột: Tham nhũng, đánh lừa, lợi dụng giới trí thức ở thuộc địa để làm việc cho chúng, thực hiện chính sách ngu dân, sử dụng các chính sách nhằm có lợi cho các doanh nghiệp tư bản thực dân…

    Phần 2: Tình hình người bị bóc lột. Tác giả chia thành 4 mục.

    A.- Các giai cấp xã hội.

    Mục này chưa có trong Hồ Chí Minh Toàn tập. Cũng rất ngắn gọn, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã điểm qua hết các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội, từ trí thức, nông dân, quân đội, phụ nữ, thanh niên đến phu kéo xe…, điều kiện sống và làm việc, khả năng, hạn chế về nhận thức chính trị của họ. Tầng lớp được Nguyễn Ái Quốc đánh giá có tiến bộ hơn là công nhân, phu kéo xe, quân đội. Đây là cơ sở Người đưa ra những nhận định ở mục B của phần 2, nhan đề: Cuộc đấu tranh giai cấp.

    B.- Cuộc đấu tranh giai cấp. (Đã in trong Hồ Chí Minh Toàn tập).

    C. Cuộc xung đột giữa hai thế hệ và hai nền văn minh. Chưa có trong Hồ Chí Minh toàn tập. Theo Nguyễn Ái Quốc, đó là xung đột giữa thế hệ những nhà nho cũ và thế hệ thanh niên An Nam đã Âu hóa, đó chính là xung đột giữa nền văn minh châu Âu do thực dân Pháp thâm nhập và nền văn minh Trung Hoa và Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “thắng lợi thuộc về lớp trẻ An Nam, vì đó là hiện thân của lớp trẻ châu Âu…”

    D.- Chủ nghĩa dân tộc. (Đã in trong Hồ Chí Minh toàn tập).

    Cuối phần 2, có một mục không đánh số, chưa có trong Hồ Chí Minh toàn tập, nhan đề: Trung tâm cách mạng, trong đó Nguyễn Ái Quốc kể đến: Trung Kỳ; Bắc Kỳ; Nam kỳ; Tôkyô, Bắc Kinh, Quảng Châu, biên giới Trung Hoa; ở Pháp (Pariss, Marseille, Bordeaux, Montpellier, Le Havre.)

    Cương lĩnh của chúng tôi. (đã in trong Hồ Chí Minh toàn tập).

    Tương Lai. gồm hơn 4 trang đánh máy tiếng Pháp, hoàn toàn chưa có trong Hồ Chí Minh Toàn tập, gồm các mục sau:

    B.- Đông Dương có theo Chủ nghĩa Bônsêvích không?

    Nguyễn Ái Quốc đề xuất là phải tăng cường công tác tuyên truyền để người An Nam hiểu mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ thực dân, về sự đoàn kết giữa người bản xứ ở các thuộc địa và người vô sản ở chính quốc; tăng cường tuyên truyền về Quốc tế Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc viết: “về mặt nhận thức, chúng ta sẽ rất có lợi nếu hiểu biết tất cả các học thuyết, tất cả các nguyên tắc tác động đến sự phát triển của các dân tộc. Những xã hội được xây dựng theo những nguyên tắc của đạo đức tư sản không dẫn đến những kết quả như vậy, nên họ phải chống lại những xã hội đó để tìm một xã hội tốt hơn”.

    Chú ý tới tầng lớp những người cách mạng trẻ tuổi, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Ngày mà thanh niên An Nam biết rằng ở Mátxcơva có một Trường đại học cho người phương Đông học miễn phí, sẵn sàng tiếp đón họ, kêu gọi họ, tuyển chọn họ, thì tôi khẳng định rằng hàng loạt thanh niên chống đối ở An Nam sẽ ra đi, những thanh niên thông minh và trung thành, đang bị vùi dập trong chế độ ngu dân ở thuộc địa sẽ sôi nổi đi học ở châu Âu! Và khi những nguồn sinh lực như vậy được tự do phát huy, thì không ai biết được điều gì sẽ xảy ra?”

    C.- Thực dân Pháp làm gì để ngăn cản tuyên truyền Bônsêvích

    Cuối cùng là phần Kết luận, Nguyễn Ái Quốc viết về khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Phần này đã được in trong Hồ Chí Minh toàn tập.

    Bản Báo cáo này được viết khi Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị rời Mátxcơva lên đường về gần Tổ quốc. Những điều Người viết trong Báo cáo này và những việc Người làm khi về đến Quảng Châu, Trung Quốc càng khẳng định tác giả của bản Báo cáo chính là Nguyễn Ái Quốc. Chỉ đơn cử một việc, đó là việc gửi người đi học ở Trường Đại học Phương Đông. Theo nguồn tư liệu hiện có, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên học ở Trường Đại học Phương Đông. Sau đó, để chuẩn bị đào tạo cán bộ, xúc tiến việc chuẩn bị về tổ chức, lực lượng cho việc thành lập chính Đảng Mácxít ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ, tác động nhờ gửi những thanh niên ưu tú của Việt Nam sang Mátxcơva học. Đã có khoảng 60 người Việt Nam sang học tại Mátxcơva, bằng hai con đường: qua Pháp, qua Trung Quốc. Sau Nguyễn Ái Quốc, Người đến Mátxcơva học Trường Đại học Phương Đông là Nguyễn Thế Rục (1925-1928), tiếp đó là Ngô Đức Trì (1926-1929), Bùi Lâm (1926-1928), Trần Phú (1927-1929), Bùi Công Trừng (1927-1929), Hà Huy Tập (1929-1932).

    Có một điều trùng hợp là năm 1940, khi chuẩn bị về nước, ngày 12-7-1940, tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc viết bản Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, bằng tiếng Hán về cách mạng Việt Nam. Qua nội dung Báo cáo, chúng ta có thể hiểu những suy nghĩ lớn của Nguyễn Ái Quốc kể từ khi Người quyết định rời Mátxcơva cuối tháng 10-1938, về Tây An, Diên An, Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc. Bản Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản gồm 9 mục, trong đó Nguyễn ái Quốc báo cáo tóm tắt về tình hình: Địa lý, dân tộc, chế độ chính trị, tài nguyên, quốc phòng, nạn bóc lột, phong trào giải phóng ở Việt Nam, các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ, các đảng phái như Tân Việt đảng, Quốc dân đảng và về Đảng Cộng sản, mà tổ chức tiền thân là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được tổ chức ở Quảng Châu, Trung Quốc; về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hồng Kông, Trung Quốc; về tình hình Việt Nam sau khi chiến tranh châu Âu bùng nổ, tình hình sau khi Pháp đầu hàng Đức, đặc biệt là những đánh giá có tính dự báo của Người về tình thế cách mạng mới với Việt Nam và đưa ra phương hướng hành động, yêu cầu được giúp đỡ về súng đạn, kinh phí, cố vấn…

    Hai thời điểm quyết định trở về nước, hai bản báo cáo cách nhau 16 năm, về hình thức đều có chung một cấu trúc, về nội dung toát lên một ý chí quyết tâm, một cương lĩnh hành động.

    Chúng tôi đã tổ chức dịch toàn văn bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ và sẽ công bố toàn văn bảo Báo cáo để bạn đọc có điều kiện đọc và nghiên cứu./.

    . TS. Chu Đức Tính– Phạm Thị Lai

    Bảo tàng Hồ Chí Minh

    (1) Nhà sử học, hiện nay là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam học tại Paris.

    (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t.1, tr.252, 33

    (4) Các đoạn trích từ Bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam Kỳ từ đây đều để trong ngoặc kép và in nghiêng.

    (5) Trước đây là lưu trữ Quốc tế Cộng sản.

    (6) Trong hồ sơ này, xếp sau bản Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, còn có bản báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, nhan đề: Tình hình Đông Dương, ngày 19-12-1924, đã in trong Hồ Chí Minh,Toàn tập, t. 2, tr.10-14.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Sơ Kết Học Kì 1 Năm Học 2022
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo Sgk Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Văn 7: Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo
  • Tác Phẩm “báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ” Của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ (1924)
  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Văn Bản Báo Cáo Lớp 7 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Lớp 7: Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo
  • Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo Soạn Ngữ Văn
  • Tháng 7-1920, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc được tiếp cận với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và tìm thấy trong đó “cái cần thiết cho chúng ta, con đường giải phóng chúng ta”. Tại Đại hội Tua (12-1920) của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và từ người yêu nước trở thành người cộng sản. Từ đây, trong những hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi và phong phú của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam và các nước thuộc địa. Nhận thức của Người về con đường cứu nước và giải phóng dân tộc ta theo con đường cách mạng vô sản từng bước hình thành.

    Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Mátxcơva (Liên Xô) để tham gia những sinh hoạt chính trị quốc tế quan trọng ở đây. Tại Mátxcơva, trung tâm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Người được theo học một khoá ngắn hạn của Trường Đại học Phương Đông, tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và nhiều đại hội các đoàn thể quần chúng khác như Quốc tế Nông dân, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ và Quốc tế Công hội đỏ, v.v.. Tại các diễn đàn này, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia các cuộc tranh luận về các vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người nhận thức thêm được nhiều vấn đề lý luận quan trọng, nhưng cũng nhận thấy Quốc tế Cộng sản hiểu biết rất hạn chế về tình hình thuộc địa. Do vậy, trước khi rời Mátxcơva về phương Đông cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản để trình bày nhiều vấn đề về thuộc địa ở Việt Nam.

    số những tác phẩm lần đầu được bổ sung vào bộ Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là một trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2000, trong đó nêu một số đoạn quan trọng thể hiện tư tưởng, quan điểm và tinh thần sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Năm 2007, Bảo tàng Hồ Chí Minh, trên cơ sở những tài liệu ở các kho lưu trữ của Liên bang Nga, mới sưu tầm được đầy đủ tác phẩm này.

    2. Nội dung chủ yếu của tác phẩm

    Toàn văn tác phẩm được trình bày ngắn gọn, rõ ràng với bốn phần. Phần 1, tình hình người bóc lột, nêu khái quát chính sách bóc lột của người Pháp ở thuộc địa. Phần 2, tình hình người bị bóc lột, chia làm bốn mục về các giai cấp trong xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp; cuộc xung đột giữa hai thế hệ nhà Nho cũ và thanh niên An Nam đã Âu hoá, hai nền văn minh châu Âu (nhất là Pháp) và châu Á (nhất là Trung Hoa); chủ nghĩa dân tộc, v.v.. Phần 3, cương lĩnh của chúng tôi. Phần 4, tương lai, bao gồm ba mục người bị bóc lột có thắng nổi người bóc lột không; Đông Dương có đi theo chủ nghĩa Bônsêvích được không; thực dân Pháp làm gì để ngăn cản tuyên truyền Bônsêvích. Cuối cùng là kết luận, nêu khả năng và điều kiện của khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Tác phẩm phân tích nhiều vấn đề chính trị ở một nước thuộc địa như Việt Nam, trong đó nhấn mạnh một số luận điểm quan trọng sau đây:

    a) Về giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam

    Về mặt giai cấp, trên quan điểm lịch sử – cụ thể, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, ở Đông Dương cũng như ở Trung Quốc và Ấn Độ v.v. tuy có sự phân hoá giai cấp, nhưng không sâu sắc và triệt để như ở phương Tây. Sự đối lập về tài sản, phương tiện sinh hoạt và mức sống giữa địa chủ và nông dân, giữa tư sản và công nhân không lớn, do đó sự xung đột về quyền lợi của họ không những không quyết liệt mà còn được giảm thiểu. Về mặt xã hội, Nguyễn Ái Quốc nêu vấn đề có lẽ các dân tộc Viễn Đông, trong đó có Việt Nam, trong lịch sử không trải qua chế độ nô lệ và chế độ phong kiến nông nô như sự phân tích của C.Mác về sự phát triển các xã hội.

    Chế độ phong kiến ở Việt Nam không có chế độ lãnh địa và quan hệ lãnh chúa – nông nô, không có cát cứ lâu dài và tầng lớp tăng lữ, chứa đựng nhiều yếu tố dân chủ và tính tự trị của làng xã. Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải chống ngoại xâm, phải huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để giành thắng lợi, nên có tính cố kết cộng đồng bền vững. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”. Do vậy, cũng không thể áp dụng rập khuôn lý luận đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác.

    b) Về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam

    Chủ nghĩa dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đề cập trong tác phẩm là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giành độc lập và là một bộ phận của cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc, dựa trên quan điểm mácxít, thừa nhận đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp là một động lực to lớn của lịch sử, nhưng không phải là động lực duy nhất. Là người dân thuộc địa, đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thức đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc. Người xem chủ nghĩa dân tộc là một động lực vĩ đại, thậm chí là duy nhất của các dân tộc thuộc địa, nhấn mạnh vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mà coi nhẹ hoặc bỏ qua vấn đề dân tộc ở thuộc địa là không đúng.

    Các nước thuộc địa, nhất là ở Á – Phi, đều là những nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc kìm hãm và bóc lột tàn bạo. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, họ không có vũ khí nào khác là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Trong đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập, mâu thuẫn dân tộc với đế quốc là mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất; mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc tuy vẫn tồn tại nhưng chưa sâu sắc và đứng sau mâu thuẫn dân tộc với đế quốc. Dù là tư sản hay địa chủ cũng đều là người dân nô lệ, mất nước, bị áp bức và ít nhiều đều có tinh thần chống đế quốc. Nguyễn Ái Quốc chứng minh điều đó bằng những cuộc đấu tranh yêu nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX ở Việt Nam lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia và tất cả đều được thúc đẩy bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. “Giờ đây, người ta sẽ không thể làm được gì cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”.

    Đây là một luận điểm mới mẻ và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc, vì Người đã sớm đề cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở trung tâm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, khi chủ nghĩa dân tộc còn bị phân biệt và bị xem là thuộc phạm trù của hệ tư tưởng tư sản, nhận thức của nhiều Đảng Cộng sản và công nhân về vấn đề dân tộc và chủ nghĩa dân tộc còn hạn chế.

    c) Về phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác ở Việt Nam

    Từ thực tiễn các nước thuộc địa phương Đông và Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề cần vận dụng sáng tạo lý luận của Mác vào thực tiễn của mỗi nước, từ đó bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác. Người nhận định Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng là lịch sử châu Âu, mà châu Âu chưa phải là toàn thể nhân loại. Do đó, cần “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Từ tình trạng các nước thuộc địa và nửa thuộc địa ở phương Đông, ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc nêu lên nhiều vấn đề lý luận làm cơ sở cho đường lối và phương pháp giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản.

    3. Ý nghĩa của tác phẩm

    Tác phẩm Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thể hiện sự am hiểu sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về lý luận và thực tiễn, cũng như khả năng vận dụng sáng tạo những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam. Đứng vững trên quan điểm thực tiễn và vận dụng phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc đã trung thực và dũng cảm, độc lập và sáng tạo trong việc tìm ra chân lý. Những luận điểm trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là sự đúc rút từ việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tế ở các nước thuộc địa, nhất là các thuộc địa ở phương Đông và Việt Nam. Theo nhiều giới nghiên cứu trong và ngoài nước, đây là một trong những tác phẩm lý luận chính trị xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam.

    Theo cuốn Tư tưởng chính trị của C.Mác, Ph.ĂngghenV.I.Lênin và Hồ Chí Minh (PGS.TS Lê Minh Quân)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ
  • Phát Hiện Toàn Văn Bản Báo Cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ Của Nguyễn Ái Quốc
  • Báo Cáo Sơ Kết Học Kì 1 Năm Học 2022
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Và Báo Cáo Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Toàn Văn Báo Cáo Tổng Kết Công Tác Nhiệm Kỳ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Nghe Thẩm Tra Báo Cáo Tổng Kết Công Tác Của Chính Phủ Nhiệm Kỳ 2022 2022
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Phát Triển Kinh Tế
  • 17 Nghị Quyết Mới Được Quốc Hội Khóa Xiv Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8
  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 96/2019 Của Quốc Hội Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật
  • Một Số Kết Quả Sau 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 37
  • (Chinhphu.vn) – Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã trình bày báo cáo tóm tắt tổng kết công tác nhiệm kỳ 2022-2021 của Chủ tịch nước. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo.

    Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác nhiệm kỳ 2022-2021 của Chủ tịch nước

    Kính thưa Quốc hội,

     Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, tôi đã có Báo cáo tổng kết công tác của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2022-2021 gửi tới Quốc hội (bản đầy đủ, chi tiết, dài 44 trang). Để tiết kiệm thời gian, sau đây tôi xin được trân trọng báo cáo vắn tắt trước Quốc hội một số nét chính về hoạt động và công tác của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2022-2021.

    Thưa các quý vị,

    Chúng ta đều đã biết, nhiệm kỳ 2022-2021 vừa qua, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Vào năm cuối của nhiệm kỳ, đại dịch COVID-19 và thiên tai, bão lụt liên tiếp tác động nặng nề đến sự phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sát sao, quyết liệt của Đảng, Chính phủ, sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Quốc hội và sự đoàn kết, chung sức, đồng lòng và quyết tâm cao của toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị, nước ta vẫn đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực.

    Nhiệm kỳ 2022-2021 cũng có sự thay đổi nhân sự Chủ tịch nước. Giữa năm 2022 đồng chí Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh được phân công giữ chức Quyền Chủ tịch nước từ ngày 23/9 đến ngày 23/10/2018. Ngày 23/10/2018 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ chức Chủ tịch nước.

    Trên các cương vị được Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin tưởng giao phó (Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Đại biểu Quốc hội), Chủ tịch nước đã cố gắng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và các nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư phân công, góp phần tích cực cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV.

    Phần thứ nhất:

    KẾT QUẢ CÔNG TÁC NHIỆM KỲ 2022-2021

    I- Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị

    II- Về thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trong hoạt động đối nội

    Chỉ đạo sát sao việc tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; chỉ đạo sơ kết 05 năm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước để báo cáo Quốc hội. Với trách nhiệm là đại biểu Quốc hội khoá XIV, Chủ tịch nước đã tham gia các kỳ họp của Quốc hội, các hoạt động của Đoàn đại biểu nơi ứng cử, tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội.

    Qua thực tiễn các chuyến công tác cơ sở, thăm, làm việc với các ban, bộ, ngành, địa phương, Chủ tịch nước đã tham gia ý kiến với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ lớn mà các nghị quyết của Đảng, Quốc hội đã đề ra, góp phần tích cực vào kết quả hoạt động của bộ máy hành pháp, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.

    Chủ tịch nước luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Chính phủ. Trong nhiệm kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã 4 lần dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị trực tiếp và trực tuyến của Chính phủ với các địa phương; định hướng, trao đổi, tham gia ý kiến với Chính phủ và các địa phương về việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; triển khai, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh và những vấn đề nhân dân, cử tri quan tâm.

    Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch nước đã chủ trì, chỉ đạo các phiên họp của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Đảng uỷ Công an Trung ương; làm việc với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; tham gia chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhiều đề án, chiến lược quan trọng (Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia…), bảo đảm giữ vững chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

    5. Về công tác xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

     Nêu cao tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước luôn quan tâm, chăm lo công tác xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch nước đã dự, phát biểu tại nhiều Lễ kỷ niệm lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phối hợp chặt chẽ, thực hiện có hiệu quả Quy chế phối hợp công tác với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Trong các chuyến công tác địa phương, cơ sở, tiếp xúc cử tri, Chủ tịch nước luôn dành thời gian tìm hiểu tình hình đời sống, sản xuất của nhân dân; lắng nghe, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; thăm và tặng quà các cán bộ lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, đồng bào các dân tộc thiểu số; tặng học bổng cho học sinh nghèo… Qua kiểm tra, tìm hiểu thực tiễn, Chủ tịch nước có ý kiến với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; góp ý, gợi mở nhiều vấn đề với các ban, bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

    III- Về thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trong hoạt động đối ngoại

     Trên cương vị Nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước đã có nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng, góp phần thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Với vai trò chủ nhà Năm APEC 2022 của Việt Nam, Chủ tịch nước đã chủ trì thành công Hội nghị Cấp cao APEC 2022 với sự tham dự của nhiều nguyên thủ và lãnh đạo các nước, để lại dấu ấn sâu sắc đối với bạn bè quốc tế.

    Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Chủ tịch nước đã có các hoạt động đối ngoại chủ động và phù hợp như: phát biểu ghi hình trực tuyến tại một số hội nghị quốc tế quan trọng, điện đàm với lãnh đạo một số nước lớn, láng giềng, một số nước có mối quan hệ hữu nghị đặc biệt với Việt Nam, góp phần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa nước ta với các nước, đồng thời khẳng định Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực, chủ động và có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA năm 2022 và Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2022-2021.

    IV- Về hoạt động của Phó Chủ tịch nước

    Thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật và theo sự phân công của Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực được giao, góp phần quan trọng vào kết quả công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước. Phó Chủ tịch nước đã giúp Chủ tịch nước trong việc bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trên cương vị là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương, Trưởng ban Tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, Phó Chủ tịch nước đã chủ trì nhiều phiên họp thường kỳ, đột xuất của Hội đồng và Thường trực Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương; chỉ đạo tổ chức kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc và Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X thành công tốt đẹp, được nhân dân đánh giá cao.

    Trên cương vị là Chủ tịch Hội đồng bảo trợ Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam, Phó Chủ tịch nước đã chỉ đạo, huy động nhiều nguồn lực, các nhà hảo tâm tham gia công tác trẻ em, mở rộng quy mô, tăng cường hiệu quả và chất lượng hoạt động của Quỹ, góp phần quan trọng để Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam năm 2022 vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Phó Chủ tịch nước đã thực hiện tốt chương trình công tác đối nội và đối ngoại, góp phần tích cực vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường hợp tác quốc tế. Phó Chủ tịch nước đã đảm nhiệm tốt các nhiệm vụ trong thời gian giữ Quyền Chủ tịch nước và các nhiệm vụ được Chủ tịch nước uỷ nhiệm trong những năm gần đây.

    Phần thứ hai

    ĐÁNH GIÁ CHUNG, NGUYÊN NHÂN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI

    I- Đánh giá chung

    1. Ưu điểm

    Mặc dù nhiệm kỳ có sự thay đổi về nhân sự Chủ tịch nước và đặc biệt, từ cuối năm 2022, với trọng trách Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước, trong mọi thời điểm, Chủ tịch nước đều nỗ lực thực hiện đầy đủ và có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân; trong công tác và sinh hoạt luôn phấn đấu thể hiện trách nhiệm, gương mẫu, giản dị, gần dân, trọng dân, toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, khẳng định vị thế của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

    Kết quả công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước đã góp phần quan trọng cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới; quan tâm giải quyết có hiệu quả những vấn đề quốc kế dân sinh và những vấn đề bức xúc trong xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng-an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; thúc đẩy quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    2. Hạn chế

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong nhiệm kỳ còn một số hạn chế như: Việc chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; Chủ tịch nước quyết định ký kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước về ODA mang tính hình thức vì không quản lý trực tiếp, ít nắm được cụ thể tình hình quản lý, sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ODA.

    II- Nguyên nhân

    1. Nguyên nhân của kết quả đạt được

    – Bên cạnh sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm cao của bản thân, Chủ tịch nước đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành, địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân và cử tri trong việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

    – Các cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ Chủ tịch nước đã có nhiều cố gắng trong công tác tổ chức và hoạt động, tăng cường phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương, đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên, đổi mới quy trình xử lý công việc, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nghiên cứu, tham mưu, phục vụ hoạt động đối nội, đối ngoại của Chủ tịch nước.

    2. Nguyên nhân của hạn chế

    – Trong lĩnh vực cải cách tư pháp, một số quy định của pháp luật hiện hành còn chưa thống nhất và đồng bộ; cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp hiệu quả chưa cao.

    – Trong việc Chủ tịch nước quyết định ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước về ODA, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về trách nhiệm, thẩm quyền và quản lý trong quá trình triển khai, thực hiện cũng như trong đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ODA.

    III- Bài học kinh nghiệm

    Từ những kết quả đã đạt được cùng những hạn chế và nguyên nhân trong nhiệm kỳ vừa qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

    Một là, tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quốc hội; đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, bám sát nhiệm vụ được giao, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.

    Hai là, tăng cường công tác phối hợp giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, thực hiện tốt hơn nữa các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

    Ba là, luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; nhân dân là trung tâm; trọng dân, gần dân, hiểu dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

    Bốn là, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

    Năm là, tiếp tục mở rộng, phát triển và nâng cao quan hệ đối ngoại, tạo sự tin cậy chính trị ổn định, bền vững với các đối tác nước ngoài; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác khác; thúc đẩy quan hệ đối ngoại tiếp tục đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; duy trì môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

    IV- Đề xuất phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới

    Trong thời gian tới, Chủ tịch nước sẽ tiếp tục nỗ lực hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, các nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư phân công, trong đó tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

    Hai là, tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt Kết luận số 84-KL/TW, ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022; nghiên cứu, trình Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII xem xét, ban hành Nghị quyết về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có nội dung về cải cách tư pháp.

    Ba là, tham gia chỉ đạo công tác ngoại giao của Đảng, Nhà nước, công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

    Bốn là, tập trung chỉ đạo công tác quốc phòng-an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

    Năm là, quan tâm lãnh đạo và tổ chức, triển khai các phong trào Thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả, gắn các phong trào Thi đua yêu nước với việc “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,” góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2022-2026 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

    [1] Số lượng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới giảm nhiều so với nhiệm kỳ trước (nhiệm kỳ 2011-2016, Chủ tịch nước đã phong tặng 1.086 danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và 101 danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Tổng Kết Công Tác Tư Pháp 2022, Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Công Tác Tư Pháp Giai Đoạn 2022
  • Công Tác Giám Sát Của Quốc Hội Trong Thực Hiện Pháp Luật Để Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Hướng Dẫn: Học Tập Chuyên Đề Năm 2022 “xây Dựng Phong Cách, Tác Phong Công Tác Của Người Đứng Đầu, Của Cán Bộ, Đảng Viên Trong Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Thông Báo Về Kỳ Họp Thứ 21 (Kỳ Họp Chuyên Đề), Hđnd Tỉnh Quảng Ngãi Khóa Xii, Nhiệm Kỳ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 26
  • Nghị Quyết Số 20 Của Hđnd Xã Về Chính Sách Xây Dựng Khu Dân Cư Ntm Của Xã Đức Đồng
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 7 Khoá X Về Nông Nghiệp, Nông Dân, Nông Thôn
  • Giải Quyết Nhà Đất Theo Quy Định Của Nghị Quyết 755/2005/nq
  • Hội Nghị Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Chỉ Thị Số 05 Của Bộ Chính Trị Và Đề Án Số 21 Của Thành Ủy Hà Nội
  • Căn cứ quy định tại Điều 80 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Thường trực HĐND tỉnh quyết định triệu tập kỳ họp thứ 21 (kỳ họp chuyên đề) HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XII, nhiệm kỳ 2022 – 2022.

    I. Thời gian: 01 buổi, ngày 11/11/2020, khai mạc lúc 7 giờ 30 phút.

    II. Địa điểm: Phòng họp số 01 – 52 Hùng Vương, thành phố Quảng Ngãi.

    III. Chương trình kỳ họp:

    1. Bầu, miễn nhiệm một số chức danh thuộc thẩm quyền.

    2. UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về:

    2.1. Về điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 2022-2020 và năm 2022 (bao gồm vốn năm 2022 kéo dài) nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương.

    2.2. Về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2022 – 2022 và kế hoạch năm 2022 (bao gồm vốn năm 2022 kéo dài) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Ngãi.

    2.3. Về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công năm 2022 thực hiện Chưong trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

    2.4. Quyết định chủ trương đầu tư dự án Khu tái định cư Vạn Tường.

    2.5. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống trên địa bàn tỉnh.

    2.6. Bổ sung kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2022.

    2.7. Nghị quyết bãi bỏ Nghị quyết số 22/2010/NQ-HĐND ngày 13/12/2010 của HĐND tỉnh Quy định chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh và quy định mức phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa.

    2.8. Nghị quyết bãi bỏ Nghị quyết số 24/2014/NQ-HĐND ngày 31/7/2014 của HĐND tỉnh Quy định một số mức chi hỗ trợ phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, xóa mù chữ và chống tái mù chữ, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi và hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

    3. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh.

    4. Kỳ họp sẽ biểu quyết thông qua các nghị quyết về những nội dung tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên.

    5. Bế mạc.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sở Nội Vụ Tphcm Đề Xuất Chấm Điểm, Trả Thu Nhập Tăng Thêm Cho Công Chức Dựa Vào Kết Quả Công Việc
  • Quan Điểm Chỉ Đạo Của Đảng Ta Trong Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2022
  • Nghị Quyết Về Phát Triển Kinh Tế
  • Bế Mạc Kỳ Họp Thứ 20, Hđnd Tỉnh Khóa Vii: Thông Qua 22 Nghị Quyết Quan Trọng Về Phát Triển Kinh Tế
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết 01 Và 02/nq
  • Thông Báo Kết Quả Kỳ Họp Thứ 9, Hđnd Tỉnh Quảng Nam Khóa Ix, Nhiệm Kỳ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết An Sinh Xã Hội
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Xin Trợ Cấp Khó Khăn Do Covid
  • Bộ Trưởng Đào Ngọc Dung Báo Cáo Về Việc Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội Tại Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ
  • Thủ Tướng Ký Nghị Quyết Thông Qua Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Triển Khai Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu
  • – Nghị quyết 32/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về bầu chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2022-2021

    – Nghị quyết 33/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về bầu chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2022-2021.

    – Nghị quyết 34/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu.

    – Nghị quyết 35/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022.

    – Nghị quyết 36/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2022.

    – Nghị quyết 37/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về dự toán thu chi và phương án phân bổ ngân sách địa phương năm 2022.

    – Nghị quyết 38/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phê duyệt chủ trương đầu tư một số dự án triển khai thực hiện năm 2022-2019 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 39/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch đầu tư công năm 2022.

    – Nghị quyết 41/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về quyết định biên chế công chức, tổng số người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh năm 2022.

    – Nghị quyết 42/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về thành lập, đổi tên thôn, tổ dân phố thuộc các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 43/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định số lượng, chức danh và mức phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 44/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về bãi bỏ tiết 3, điểm 2 khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 30/2011/NQ/HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh và quy định mức hỗ trợ một lần đối với những người hoạt động không chuyên trách khác ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 45/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 46/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức chi hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2022-2020.

    – Nghị quyết 47/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2025.

    – Nghị quyết 48/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phát triển kinh tế – xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2022-2025.

    – Nghị quyết 49/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ nâng cao mức sống cho một số đối tượng thuộc hộ nghèo đang hưởng chính sách người có công và bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 50/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật đang học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2022-2021.

    – Nghị quyết 51/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ người lao động tỉnh Quảng Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2022-2021.

    – Nghị quyết 52/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức chi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 53/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định nội dung và mức chi thực hiện thực hiện chế độ dinh dưỡng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành tích cao trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 54/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định nội dung, mức chi, định mức phân bổ kinh phí đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 55/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 bổ sung điểm d khoản 6 Điều 11 Nghị quyết 24/2018/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 quy định về nội dung, định mức chi và điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND các cấp tỉnh Quảng Nam.

    – Nghị quyết 56/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về thành lập đoàn giám sát tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022-2018 trên địa bàn tỉnh.

    – Nghị quyết 57/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp vào mục đích công ích trên địa bàn tỉnh.

    – Nghị quyết 58/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh năm 2022.

    – Nghị quyết 59/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch tổ chức các kỳ họp trong năm 2022 của HĐND tỉnh khóa IX.

    – Nghị quyết 60/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức hỗ trợ người hoạt động không chuyên trách thôn, tổ dân phố thôi đảm nhận chức danh sau khi sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42/2017: Còn Không Ít Vướng Mắc
  • Quyền Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Là Nợ Xấu Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”
  • Kết Luận Của Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Về Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 42/nq
  • Hướng Dẫn Triển Khai Thực Hiện Hỗ Trợ Theo Nq 42/nq
  • Sự Khác Biệt Giữa Cờ Tướng Việt Nam Và Tượng Kỳ Trung Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Chơi Cờ Up Online Và Những Thuật Ngữ Trong Đánh Cờ Tướng Up
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Cờ Úp
  • Nghệ Thuật Chơi Game Cờ Tướng Úp Cho Các Tân Thủ
  • Những Luật Cơ Bản Trong Thi Đấu Cờ Tướng (Phần 2)
  • Giải Vô Địch Cờ Tướng Nhanh Và Chớp Nhoáng Toàn Quốc Năm 2022
  • Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lưu Đức Hải nguyên là thành viên của Tiểu ban Huấn luyện của Liên đoàn từ năm 1980. Ông cũng là đấu thủ lưỡng kỳ (cờ Tướng và cờ Vua), vô địch cờ Tướng Hà Nội 1975, vô địch cờ Vua Hà Nội 1980, 1981, vô địch cờ Vua quốc gia đầu tiên 1980. Nhân dịp Xuân Giáp Ngọ, chúng tôi Lưu Đức Hải đã gửi đến bạn đọc Vietnamchess như một món quà đầu Xuân, một bài viết về sự khác nhau giữa cờ Tướng Việt Nam và cờ Tượng Trung Hoa.

    SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CỜ TƯỚNG VIỆT NAM VÀ TƯỢNG KỲ TRUNG HOA

    Trong số các quốc gia có môn cờ Tướng phát triển thì Việt Nam và Trung Hoa là 2 quốc gia nằm trong số đó, với thời gian khoảng trên 1.300 năm, bởi cờ Tướng hình thành ở 2 nước từ thế kỷ 7-8.

    Mặc dù có tới trên 1000 năm Bắc thuộc (từ năm 179TCN-939), cờ Tướng ở Việt Nam và Trung Hoa đã hình thành và phát triển ở thế kỷ 7-8 (trong thời kỳ Bắc thuộc bởi phong kiến phương Bắc xâm chiếm Việt Nam) song vẫn có những sự khác biệt giữa cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa, nhất là ở thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn của Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền xưng vương vào năm 939.

    1. Sự khác nhau về tên gọi của môn cờ

    Từ cổ xưa cho đến tận bây giờ người Việt Nam vẫn dùng thuật ngữ “Cờ Tướng” để chỉ môn cờ mà ở đó có 32 quân (mỗi bên gồm 16 quân viết bằng chữ Hán với 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt), được bày trên một bàn cờ với 10 đường kẻ ngang và 9 đường kẻ dọc, có cửu cung ở giữa và có dòng sông (được gọi là hà) ngăn đôi ở giữa bàn cờ. Người Việt Nam gọi tên môn cờ này theo tên gọi của quân Tướng là quân quan trọng nhất trên bàn cờ, đó là “Cờ Tướng” (General Chess).

    Cũng môn cờ đó ở Trung Hoa từ xa xưa người ta gọi môn cờ này là “Tượng kỳ” theo nghĩa chữ Hán là cờ hình tượng (không phải vì có quân Tượng trên bàn cờ). Cách gọi này ở Trung Hoa có từ thời trò chơi Chaturanga mới du nhập vào Trung Hoa, khi đó các quân cờ có hình tượng và có độ cao như cờ Vua ngày nay (Hình 1). Sau này khi chuyển đổi thành quân cờ tròn và dẹt, có chữ Hán viết ở trên, người Trung Hoa vẫn giữ nguyên tên gọi là “Tượng kỳ” (Xiangqi).

    Đó là sự khác nhau thứ nhất về tên gọi của môn cờ.

    Hình 1: Bộ quân Tượng kỳ thời kỳ quân cờ có hình tượng (Ảnh: Tác giả, 2013).

    2. Sự khác nhau về tên gọi của các quân cờ

    Hình 2: Bộ bài “Tam cúc” ở Việt Nam có 7 loại quân được viết chữ Hán giống hệt nhau cho cả 2 bên

    (Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt) đỏ và đen (Ảnh: Tác giả, 2013). Hình 3: 7 loại quân cờ Tướng trong bộ cờ Tướng của Việt Nam là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt

    có chữ Hán viết giống hệt nhau cho cả 2 bên và chỉ khác nhau bằng màu sắc (Ảnh: Tác giả, 2013).Hình 4: Bàn cờ treo trong Giải cờ Tướng chợ phiên Hà Nội 1953, với chữ Hán viết trên 7 loại quân cờ ở hai bên giống hệt nhau,

    chỉ khác nhau về màu sắc (Ảnh: Tác giả sưu tầm từ Trịnh Đình Tạo).

    Từ xa xưa ở Việt Nam có 2 loại trò chơi mà quân của chúng gần giống hệt nhau, đó là “Cờ Tướng” và trò chơi bài lá có tên gọi là “Tam cúc”.

    Trong bộ bài Tam cúc có 32 quân, gồm 16 quân đỏ và 16 quân đen. Mỗi bên có 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt. Chữ Hán dùng để thể hiện 7 loại quân này giống hệt nhau ở cả 2 bên và chỉ khác nhau về mầu sắc (đỏ và đen)

    Từ cổ chí kim 7 loại quân cờ trên bàn cờ Tướng Việt Nam vẫn thống nhất với tên của 7 loại lá bài trong bộ Tam cúc Việt Nam là: Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt và cách viết chữ Hán cổ (Tiếng Việt cổ của người Việt Nam bao gồm 3 loại chữ: Hán, Nôm và chữ quốc ngữ) trên 7 loại quân cờ Tướng và trên bộ bài lá Tam cúc là thống nhất hoàn toàn cho cả 2 bên và chỉ phân biệt bằng màu (đỏ và đen, trắng và đen, đỏ và xanh…): Đó là bộ quân cờ Tướng của Việt Nam (Hình 3 và Hình 4).

    Trong bàn cờ cổ Chaturanga và trong bàn cờ Vua hiện đại, 6 loại quân (Vua, Hoàng Hậu, Xe, Tượng, Mã, Tốt) của 2 bên là giống hệt nhau và chỉ khác nhau về màu sắc (trắng và đen). Đó là cách làm khoa học và công bằng nhất.

    Về tên gọi của quân cờ trong cách ghi biên bản ván cờ Tướng bằng tiếng Việt hiện nay và trước đây, ghi ký hiệu viết tắt thống nhất cho cả 2 bên, được quy ước như sau:

    Tướng = TgSĩ = SXe = XMã = MTượng = TPháo = PTốt = B

    Hình 5: Sự khác nhau của 7 loại quân cờ ở 2 bên của bộ Tượng kỳ đang được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông

    (phía Đông Nam Trung Hoa, Hồng Kông, Ma Cao) (Ảnh: Tác giả, 2013).

    Trong tiếng Việt có 3 quân cờ mà chữ viết tắt bị trùng nhau, đó là Tướng, Tượng và Tốt. Vì thế Luật cờ Tướng của Việt Nam đã quy định Tướng viết tắt là Tg.

    Có một thời (ở nửa sau của thế kỷ 20) chúng ta đã quy định Tượng viết tắt là V (tức Voi) và Tốt viết tắt là T. Cách quy định này tránh được sự trùng lặp và lại giữ được sự trong sáng của tiếng Việt. Song từ năm 1999, sau khi có Luật cờ Tướng sửa đổi cách ghi biên bản với quân Tượng là T và với quân Tốt là B (tức Binh, âm Hán cũng có nghĩa là người lính, tức Tốt). Ghi theo cách này chúng ta đã vay mượn chữ Hán (tức Trung Hoa hóa) cả 2 từ Tượng và Binh để chỉ tên gọi của quân cờ.

    Trong khi đó quân “Tượng kỳ” (cờ Tượng) của Trung Hoa lại có sự khác nhau trong cả cách viết chữ Hán lẫn mầu sắc của 7 loại quân cờ của 2 bên. Từ nhiều thế kỷ qua đến tận bây giờ ở Trung Hoa tồn tại 2 loại bộ quân Tượng kỳ có cách viết chữ Hán khác nhau.

    Loại thứ nhất, một bên có 7 loại quân là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Binh (Hình 5, nhóm 7 quân bên dưới), còn bên kia có 7 loại quân là Soái, Sĩ, Tương, Xe, Pháo, Mã, Tốt (Hình 5, nhóm 7 quân bên trên).

    Hình 6: Sự khác nhau của 7 loại quân cờ ở 2 bên của bộ Tượng kỳ đang được lưu hành ở vùng nói tiếng phổ thông Trung Hoa

    (phía Bắc, Trung, Tây Nam Trung Hoa, Đài Loan) (Ảnh: Tác giả, 2013).

    Như vậy cả 7 loại quân cờ của 2 bên khác nhau hoàn toàn về chữ viết. Loại quân Tượng kỳ này thường được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông, chủ yếu là ở vùng Đông Nam Trung Hoa xưa, Hồng Kông, Ma Cao… Hiện nay một số người Hoa sinh sống ở Việt Nam, có nguồn gốc, quê hương xa xưa từ Quảng Đông, Phúc Kiến thường hay sử dụng loại quân Tượng kỳ này.

    Loại thứ hai, một bên có 7 quân là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt (Hình 6, 7 quân bên trên), còn bên kia có 7 loại quân là Soái, Sĩ, Tương, Xe, Pháo, Mã, Binh (Hình 6, 7 quân bên dưới). Như vậy 2 bên có 3 loại quân Xe, Pháo, Mã viết chữ Hán giống hệt nhau, song 4 loại quân còn lại có chữ Hán viết khác nhau. Loại quân Tượng kỳ này thường được lưu hành ở khu vực nói tiếng phổ thông Trung Hoa (miền Bắc, Trung và Tây Nam Trung Hoa, là khu vực đa dạng ngôn ngữ được biết đến dưới tên chung là tiếng Quan Thoại; Đài Loan; Đây cũng là 1 trong 4 ngôn ngữ chính thức tại Singapore).

    Như vậy khi thi đấu cờ Tướng ở Việt Nam mà lại dùng quân của 1 trong 2 loại bộ Tượng kỳ Trung Hoa thì thật là khập khiễng, nhất là khi ghi biên bản ván cờ, chữ viết tắt của 2 bên như nhau (Tướng: Tg, Sĩ: S, Tượng: T, Xe: X, Pháo: P, Mã: M, Tốt: B), trong khi tên quân cờ chữ Hán lại khác nhau, nghĩa dịch sang tiếng Việt cũng khác nhau thì quả là điều bất cập!

    Vậy là ở Việt Nam chỉ có 1 loại bộ quân cờ Tướng truyền thống, với 7 loại quân Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo (bộ thạch), Mã, Tốt được viết bằng chữ Hán, giống nhau cho cả 2 bên, song chỉ khác nhau về màu sắc. Còn ở Trung Hoa có 2 loại bộ quân Tượng kỳ, với 7 loại quân cờ được viết bằng chữ Hán khác nhau cho cả 2 bên, đồng thời cũng khác nhau về mầu sắc. Một loại bộ quân Tượng kỳ thường dùng ở vùng nói tiếng Quảng Đông, loại bộ quân Tượng kỳ còn lại thường dùng ở vùng nói tiếng phổ thông Trung Hoa.

    Đó là sự khác nhau thứ 2, giữa bộ quân cờ Tướng Việt Nam và bộ quân Tượng kỳ Trung Hoa.

    3. Sự khác nhau về cách ghi biên bản ván cờ

    Bên đi trước: Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội), Bên đi sau: Đặng Đình Yến (Hà Nội)

    Từ năm 1954 trở về trước, cách ghi biên bản ván cờ Tướng của Việt Nam khác hẳn với cách ghi biên bản ván cờ ngày nay. Trên bàn cờ Tướng Việt Nam xưa, 9 cột dọc được ký hiệu bằng chữ in hoa, thứ tự từ trái qua phải là: A, B, C, D, Đ, E, G, H, I; Còn 10 hàng ngang được ký hiệu bằng số, thứ tự từ dưới (bên đi trước) lên (bên đi sau) là: 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1 (xem hình 4 bên trên).

    Hình 4 là ảnh chụp ván cờ của trận chung kết Giải vô địch cờ Tướng chợ phiên Hà Nội 1953, thi đấu tại khu vực Võ sĩ đoàn, đối diện với nhà hàng Thủy Tạ bên bờ hồ Hoàn Kiếm, giữa danh thủ Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội, bên đi trước) và danh thủ Đặng Đình Yến (Hà Nội, bên đi sau, người đã thắng ván cờ này và đoạt giải quán quân 1953). Sau 4 nước đi đầu tiên biên bản ván cờ được ghi (theo 3 cách để có sự so sánh: trước 1955, trước 1999 và từ 1999 đến nay) như sau:

    Cách ghi biên bản Cách ghi biên bản Cách ghi biên bản

    từ năm 1999 đến nay

    trước năm 1999

    trước năm 1955

    1. Mg8 (Mã g8)

    … Mc3 (Mã c3)

    2. Tg6 (Tốt g6)

    … Tc5 (Tốt c5)

    3. Xi9 (Xe i9)

    … Mg3 (Mã g3)

    4. Xd9 (Xe d9)

    1. M2+3 (Mã 2 tiến 3)

    … M2+3 (Mã 2 tiến 3)

    2. T3+1 (Tốt 3 tiến 1)

    … T3+1 (Tốt 3 tiến 1)

    3. X1+1 (Xe 1 tiến 1)

    … M8+7 (Mã 8 tiến 7)

    4. X1.6 (Xe 1 bình 6)

    1. M2.3 (Mã 2 tiến 3)

    … M2.3 (Mã 2 tiến 3)

    2. B3.1 (Tốt 3 tiến 1)

    … B3.1 (Tốt 3 tiến 1)

    3. X1.1 (Xe 1 tiến 1)

    … M8.7 (Mã 8 tiến 7)

    4. X1-6 ( Xe 1 bình 6)

    Qua cách ghi biên bản ván cờ của 3 thời kỳ khác nhau ta thấy rằng cách ghi biên bản ván cờ Tướng truyền thống của Việt Nam trước năm 1955 là hết sức khoa học: ghi theo tọa độ của điểm mà quân cờ sẽ đi đến mà không cần có thêm các ký hiệu tiến, thoái, bình nữa. Cách ghi biên bản này gần giống với cách ghi biên bản cờ Vua ngày nay.

    Trong khi đó cách ghi biên bản ván Tượng kỳ của Trung Hoa gần giống cách ghi biên bản của Việt Nam từ sau năm 1999. Đó là sự khác nhau thứ 3 về cách ghi biên bản ván cờ giữa cờ Tướng truyền thống của Việt Nam và Tượng kỳ Trung Hoa.

    4. Sự khác nhau về tính phù hợp của 4 binh chủng hợp thành

    Môn chơi thời cổ Chaturanga ở Ấn Độ có nghĩa là 4 binh chủng quân đội thời đó hợp thành: chiến xa, tượng binh, kỵ binh và bộ binh, trong đó 3 loại binh chủng chiến xa, kỵ binh và bộ binh thì rất phổ biến và hầu như quốc gia nào cũng có. Chỉ có tượng binh là binh chủng rất đặc biệt bởi đầu tiên nước đó phải có nhiều voi và sau đó voi phải được huấn luyện để tham gia chiến đấu.

    Voi chiến (tượng binh) là voi được huấn luyện dưới sự chỉ huy của con người để giao chiến. Mục đích chính là tấn công đối phương, dày xéo và phá vỡ hàng ngũ của quân địch. Chúng được sử dụng đầu tiên ở Ấn Độ, sau phép dùng voi chiến lan sang vùng Đông Nam Á và Trung Đông tới tận Địa Trung Hải. Theo sử cũ Hy Lạp cổ đại, quân Ấn Độ đã dùng tượng binh chống trả khi Nữ hoàng Semiramis của Đế quốc Assyria mở cuộc hành chinh đánh sang Ấn Độ. Cyrus Đại Đế của Đế quốc Ba Tư (năm 530 TCN) và Alexandros Đại Đế của Vương quốc Macedonia (năm 326 TCN) cũng gặp phải đoàn tượng binh của Ấn Độ. Thời kỳ cổ đại, văn minh Ấn Độ đề cao giá trị của loài voi trong chiến tranh. Họ ví rằng “Quân đội mà không có tượng binh thật đáng coi thường, khác gì rừng không có sư tử, nước không có vua, hay lòng can đảm mà đánh bằng tay không” (Wikipedia, 2013). Voi chiến còn phát triển mạnh ở Myanmar, Thái Lan…

    Tại Việt Nam, kỹ thuật sử dụng voi chiến đã có từ khá sớm. Các tài liệu Việt Nam và Trung Quốc từng ghi nhận trong cuộc khởi nghĩa ở Mê Linh của Hai Bà Trưng năm 40 (thế kỷ 1 sau Công nguyên) đã sử dụng lực lượng voi chiến đánh lại quân nhà Đông Hán. Rất nhiều hình ảnh ghi nhận Hai Bà chỉ huy trên mình voi (Hình 7). Một hình ảnh tương tự ghi nhận rằng Bà Triệu năm 248 cũng sử dụng voi chiến trong cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô (thời Tam Quốc).

    Hình 7: Năm 40, Hai Bà Trưng (Việt Nam) đánh đuổi Tô Định (Đông Hán, Trung Hoa)

    (Nguồn: Tranh dân gian Đông Hồ, Bắc Ninh).

    Hình 9: Voi được đưa ra sân đấu tại Hổ quyền ở kinh thành Huế (Ảnh: Wikipedia, 2013).

    Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, voi chiến được xem là một lực lượng đặc biệt sử dụng trong chiến trận. Do thế phòng thủ trước các triều đại phương Bắc, vốn không có tượng binh, thì ưu thế của phía Việt Nam về lực lượng tượng binh là rõ rệt, chẳng hạn như việc sử dụng tượng binh trong chiến dịch nghĩa quân Lam Sơn ra Bắc hay quân Tây Sơn công phá thành Ngọc Hồi vào ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/1/1789. Sự phát triển vượt bậc chính là sự kiện vua Quang Trung đã đặt pháo trên lưng voi trong chiến dịch đánh thành Ngọc Hồi làm quân Mãn Thanh phải khiếp sợ. Thực tế là các lực lượng quân sự Việt Nam đã huấn luyện và sử dụng lực lượng voi chiến trong cả nghìn năm lịch sử.

    Khi hình thái chiến tranh hiện đại bắt đầu, voi chiến trở nên lỗi thời trước sức mạnh của đại bác, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục huấn luyện lực lượng voi chiến trong đội tượng binh của quân đội nhà Nguyễn. Các cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và người dân vẫn được tổ chức tại Hổ Quyền (kinh thành Huế). Trận đấu voi – hổ cuối cùng được ghi nhận vào năm 1904, dưới triều vua Thành Thái (Hình 8 và 9).

    Hình 8: Nghi vệ voi chầu của triều đình Huế (Ảnh: Wikipedia, 2013).

    Ở Trung Hoa, việc sử dụng những con voi chiến tương đối hiếm so với các nơi khác. Những ghi chép sớm nhất về việc sử dụng voi của họ diễn ra vào cuối năm 554 khi nhà Tây Ngụy triển khai hai con voi chiến mặc giáp sắt từ Lĩnh Nam trong trận chiến, điểu khiển bởi những nô lệ Mã Lai, và được trang bị tháp bằng gỗ và những thanh gươm gắn chặt vào cái vòi của chúng. Các con voi đã phải quay đầu bỏ chạy bởi các mũi tên của cung thủ.

    Mặc dù có tới trên 1000 năm Bắc thuộc (từ năm 179TCN-939), cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa đã hình thành và phát triển ở thế kỷ 7-8 (trong thời kỳ Bắc thuộc bởi phong kiến phương Bắc xâm chiếm Việt Nam) song vẫn có những sự khác biệt giữa cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa, nhất là ở thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn của Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền xưng vương vào năm 939.

    Với ý nghĩa đó tác giả đề xuất đưa cờ Tướng và cờ Vua Việt Nam bổ sung vào bản đồ Cờ Thế giới với tên đầy đủ tiếng Việt và tiếng Anh để làng cờ thế giới hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa – lịch sử của cờ Tướng nước ta (Hình 10).

    Hình 10: Bản đồ phân bố các môn cờ trên thế giới

    (Ảnh: Google, 2013 và tác giả bổ sung phần Việt Nam, 2013).

    Vì sự trong sáng của Tiếng Việt và vì sự giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam trong môn cờ Tướng, mong rằng ngành Thể dục thể thao và Liên đoàn Cờ Việt Nam sớm có những điều chỉnh thích hợp với các bộ quân cờ đang được sử dụng thi đấu và cách ghi biên bản ván cờ bằng tiếng Việt trong các giải đấu phong trào và đỉnh cao ở Việt Nam./.

    PGS.TS Lưu Đức Hải

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Luật Di Chuyển Trong Cờ Tướng Chinese Chess
  • Trung Quốc Làm Khó Việt Nam Bằng Luật Đấu Ở Giải Vđtg Cờ Tướng
  • Bài 5: Luật Chơi Cờ Tướng
  • Luật Cờ Tướng Việt Nam Cơ Bản, Người Chơi Cần Phải Biết
  • Luật Cờ Tướng Việt Nam Cơ Bản Nhất Cho Người Mới
  • Báo Cáo Kiểm Điểm Giữa Nhiệm Kỳ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ Trường Thpt Đại Ngãi Nhiệm Kỳ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Đại Hội Các Chi Bộ Trực Thuộc Nhiệm Kỳ 2022
  • Nghị Quyết Đại Hội Nhiệm Kỳ 2022
  • Báo Cáo Kết Quả Giữa Nhiệm Kì Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ Nhiệm Kì 2010
  • Bài 1: Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Sức Chiến Đấu Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên
  • Kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội chi bộ trường THPT Đại Ngãi nhiệm kỳ 2022 – 2022

    Thực hiện Kế hoạch số 121-KH/HU ngày 15 tháng 3 năm 2022 của huyện ủy Long Phú về việc kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện và nghị quyết đại hội các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy nhiệm kỳ 2022-2020. Chi ủy Chi bộ trường THPT Đại Ngãi báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết đại hội chi bộ nhiệm kì 2022 – 2022 như sau:

    Nhiệm kì 2022 – 2022 là nhiệm kì có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chỉ đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu chung của ngành về việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, chi bộ cũng gặp không ít khó khăn trong công tác lãnh đạo điều hành: hoàn cảnh gia đình của một bộ phận người dân có ảnh hưởng tới ý thức học tập của một số học sinh, một số em còn ham chơi, thiếu ý chí phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện, cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, tay nghề đội ngũ chưa thật đồng đều, …. nhưng với quyết tâm cao của chi uỷ, ban giám hiệu, và sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ giáo viên, nhân viên đã tạo bước chuyển biến và có kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực.

    Nhiệm kỳ này, đại hội đề ra 25 chỉ tiêu, đến nay đạt 16 chỉ tiêu, còn lại 07 chỉ tiêu đến cuối nhiệm kỳ có khả năng đạt, 02 chỉ tiêu khả năng đến cuối nhiệm kỳ không đạt là: trường có được Khu hiệu bộ và trường có đủ điều kiện đạt Chuẩn quốc gia.

    2.1.1. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng

    Trong 03 năm qua, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở nhà trường được cấp ủy, chi bộ quan tâm thực hiện tốt. Kết quả 100% cán bộ, đảng viên, giáo viên và nhân viên đều có quan điểm lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, vào sự đổi mới và phát triển của đất nước.

    Đạt được kết quả như trên là do cấp ủy, chi bộ đã làm tốt những việc sau đây:

    – Nhà trường đã xây dựng và luôn củng cố quy chế làm việc, nội quy cơ quan, quy tắc ứng xử; xây dựng cơ quan đơn vị văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh nơi công sở; thực hiện tinh thần đoàn kết trong nội bộ cơ quan.

    – Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục đội ngũ CB, GV, NV và học sinh về ý nghĩa lịch sử và tinh thần dân tộc các ngày lễ lớn như ngày thành lập Đảng 3/2; ngày Quốc tế phụ nữ 8/3; ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 26/3; ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3; kỷ niệm ngày giải phóng miền nam 30/4 và sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5.

    – Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức, học sinh về nêu cao tinh thần cảnh giác, nâng cao ý thức cảnh giác trước mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng của đội ngũ, giải quyết dứt điểm từng việc vướng mắc, tồn tại. Nâng cao ý thức của cán bộ, công chức, viên chức trong việc xây dựng, giữ gìn và quảng bá hình ảnh của nhà trường.

    Chi bộ đã lập kế hoạch số 15-KH/CBTĐN ngày 11/02/2016 về tổ chức học tập chuyên đề năm 2022 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm; Gắn bó với nhân dân; Đoàn kết xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Kế hoạch này được triển khai thực hiện đến toàn thể đảng viên, cán bộ, giáo viên và học sinh.

    Cán bộ, đảng viên, giáo viên, nhân viên của trường đều có sổ đăng ký học tập và làm theo Bác, hàng tháng có báo cáo, đánh giá những mặt làm được, chưa làm được.

    Chi bộ chỉ đạo thực hiện triển khai tài liệu “Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng đến cán bộ, giáo viên.

    Chi bộ đã chỉ đạo chính quyền tổ chức tuyên truyền trong toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh thông qua các buổi họp Hội đồng sư phạm, sinh hoạt dưới cờ. Qua thực hiện, đã phát hiện và giới thiệu các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác. Trong đó, có 03 cá nhân được chọn đề nghị cấp trên nêu gương điển hình tiên tiến: thầy Lê Quan Tuấn, cô Nguyễn Xuân Đào và em Hồng Châu Toàn lớp 12A1.

    Triển khai giảng dạy các tài liệu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; sử dụng bộ tài liệu “Bác Hồ và những bài học về đạo đức, lối sống dành cho học sinh” từ lớp 10 đến lớp 12, lồng ghép trong giảng dạy các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động Đoàn.

    Tổ chức cuộc thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kể chuyện về Bác trong các giờ sinh hoạt dưới cờ, có câu hỏi đố vui về bài học giáo dục qua mỗi câu chuyện.

    – Chế độ sinh hoạt Đảng: Được duy trì thường xuyên theo định kỳ từng tháng, trong sinh hoạt đảm bảo nguyên tắc theo Điều lệ Đảng như tập trung dân chủ, phê bình và tự phê bình, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Qua đó đã tạo ra sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất trong cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng các Nghị quyết lãnh đạo và triển khai nhiệm vụ chính trị trong nhà trường.

    – Chi bộ ban hành Quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và chế độ làm việc của đảng viên; phân công phó Bí thư chi bộ phụ trách nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và một số nội dung biện pháp thực hiện cho phù hợp với tình hình mới.

    – Chi bộ quán triệt các văn bản, nghị quyết của cấp ủy cấp trên. Triển khai thực hiện đầy đủ, đúng quy trình các cuộc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật theo chương trình công tác đề ra. Phối hợp tốt giữa công tác giám sát Đảng với Ban thanh tra nhân dân trong đơn vị. Tăng cường kiểm tra Đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, học tập các Nghị quyết của Đảng cấp trên và nhiệm vụ của chi bộ.

    * Chỉ tiêu về phát triển Đảng: có từ 03 cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trở lên được kết nạp Đảng/năm hành chính.

    Từ năm 2022 đến nay, đã gửi hồ sơ đề nghị xem xét kết nạp: 06 hồ sơ, đã ra quyết định kết nạp 06 đồng chí.

    * Chỉ tiêu về phân loại đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng:

    – Có từ 80% đảng viên trở lên đạt mức xếp loại “Đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ”/năm hành chính.

    Năm 2022: 31 đồng chí

    Năm 2022: 31 đồng chí

    Năm 2022: 31 đồng chí

    – Có từ 04 đảng viên trở lên đạt mức xếp loại “Đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”/năm hành chính.

    Năm 2022: 02 đồng chí

    Năm 2022: 05 đồng chí

    Năm 2022: 05 đồng chí

    – Chi bộ đạt “Trong sạch vững mạnh”/năm và phấn đấu trong cả nhiệm kỳ có ít nhất 01 năm đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh tiêu biểu”.

    Năm 2022: Trong sạch vững mạnh

    Năm 2022: Hoàn thành tốt nhiệm vụ

    Năm 2022: Hoàn thành tốt nhiệm vụ

    * Phấn đấu trong nhiệm kỳ đề nghị và được Huyện ủy thành lập Đảng bộ Trường THPT Đại Ngãi.

    – Chỉ đạo tổ chức Công đoàn quan tâm: thường xuyên thăm hỏi động viên cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên trong học tập và lao động, hàng năm đều đạt danh hiệu cơ quan văn hóa .

    Gồm có 06 chỉ tiêu, trong đó Đạt 06 chỉ tiêu (Phụ lục 1).

    Một bộ phận cha mẹ học sinh ít quan tâm đến việc học tập của con em, khoán trắng trách nhiệm giáo dục các em cho nhà trường.

    1. Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; chú trong giáo dục lòng yêu quê hương đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội; lấy nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động; tăng cường cảnh giác âm mưu phá hoại bằng ” Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phòng chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng ” Tự diễn biến“, ” Tự chuyển hóa ” tư tưởng trong nội bộ Đảng. Tiếp tục quán triệt quan điểm mà đại hội đảng viên chi bộ nhiệm kỳ 2022- 2022 đã xác định, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ mà nghị quyết của đại hội đề ra.

    4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo kế hoạch để mỗi đảng viên đều có ý thức trong việc chấp hành ” 19 điều đảng viên không được làm” theo Quy định số 47 của Bộ Chính trị, Quy định 76-QĐ/TW, việc tham gia học tập Nghị quyết của đảng viên. Tăng cường việc thực hiện Quy định 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Phấn đấu trong suốt nhiệm kỳ không có đảng viên vi phạm kỉ luật, vi phạm những quy định của Đảng, đặc biệt là vi phạm đạo đức nhà giáo.

    5. Tổ chức cho Cán bộ, Đảng viên, Viên chức học tập, nắm vững nội dung Chỉ thị 05/CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, các văn bản hướng dẫn của Trung ương, tỉnh ủy Sóc Trăng và Huyện ủy Long Phú, đồng thời xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nghiêm túc tại đơn vị. Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ đảng viên, trước hết là trong chi uỷ trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đưa công tác tự phê bình và phê bình thực sự đi vào nề nếp, thực hiện nghiêm quy chế làm việc của chi bộ.

    6. Trong công tác cán bộ, công tác củng cố kiện toàn nâng cao chất lượng chi bộ, phấn đấu xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, chính quyền các đoàn thể tiếp tục giữ vững thành tích. Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ đi vào nề nếp.

    7. Tiếp tục triển khai, thực hiện tốt các văn bản về tinh giản biên chế như:

    – Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/ 2022 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

    – Đề án số 1590/ĐA-SGDĐT ngày 09/9/2015 của Sở GD&ĐT Sóc Trăng về việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/NĐ-CP của Chính phủ tại cơ quan Sở và các đơn vị trực thuộc; Kế hoạch số 1172/KH-SGDĐT ngày 19/5/2017 tiếp tục triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/NĐ-CP đối với các đơn vị thuộc và trực thuộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Bộ Vụ Kế Hoạch Tổ Chức Đại Hội Nhiệm Kỳ 2022
  • Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Viên Chi Bộ Nhiệm Kỳ 2022
  • Nghị Quyết Đại Hội Đảng Viên Chi Bộ Trường Thpt Đại Ngãi Lần Thứ V, Nhiệm Kỳ 2022
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Bộ Luật Dân Sự Nam Kỳ Là Gì ? Tìm Hiểu Về Bộ Luật Dân Sự Nam Kỳ ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Thế Chấp Tài Sản Để Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự, Hot
  • Luật Di Trú Mỹ 2022 Có Gì Mới?
  • Luật Di Trú Và Định Cư Mới Ở Mỹ 2022
  • Cải Cách Di Trú Mỹ Năm 2022?
  • Định Cư Mỹ : 2022 Có Những Thay Đổi Gì Trong Luật Định Cư Mỹ ?
  • Bộ luật dân sự nam kỳ là bộ dân luật giản yếu được ban hành ngày 26.3.1884 áp dụng cho xứ Nam Kỳ.

    Đây là bộ luật dân sự đầu tiên ở nước ta được xây dựng theo tinh thần của nền pháp chế phương Tây mà vai trò ảnh hưởng trực tiếp là các tư tưởng pháp lí được thể hiện trong Bộ dân luật của Pháp ban hành năm 1804.

    Bộ luật này được xây dựng trong bối cảnh Nam Kỳ Việt Nam lúc đó đã trở thành thuộc địa của Pháp và quyền lập pháp trên toàn cõi Nam Kỳ đều thuộc về người Pháp. Để thuận tiện cho việc áp dụng tinh thần Bộ dân luật Pháp tại Việt Nam, người ta đã nghĩ đến việc soạn thảo một bộ dân luật riêng áp dụng tại Nam Kỳ nhưng phải được xây dựng theo bố cục và tinh thần của Bộ dân luật Pháp. Trước khi Bộ luật dân sự Nam Kỳ được chính thức ban hành, ngày 3.10.1883, Chính phủ Pháp đã ban hành hai sắc lệnh nhằm áp dụng tại Nam Kỳ, trong đó Sắc lệnh thứ nhất quy định về vấn đề quốc tịch và trú quán (giống như thiên sơ bộ và thiên I, thiên IIl trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp); còn sắc lệnh thứ hai quy định về vấn đề hộ tịch (giống như thiên II trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp). Các vấn đề còn lại trong Bộ dân luật Pháp (từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI) được ban hành sau đó không lâu, trong Bộ dân luật giản yếu ngày 26.3.1884 để áp dụng tại xứ Nam Kỳ. Chính vì trong Bộ dân luật này chỉ quy định từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI nên được gọi là “Bộ dân luật giản yếu”.

    Về nội dung, Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại Nam Kỳ bao gồm các thiên như sau: Thiên IV nói về sự thất tung (mất tích); Thiên V nói về giá thú; Thiên VI quy định về việc li hôn; Thiên VII quy định về chế độ phụ hệ và con chính thức; Thiên VIII quy định về vấn đề con nuôi; Thiên IX quy định về vấn đề thân quyền; Thiên X quy định về vấn đề vị thành niên, giám hộ, thoát quyền; Thiên XI quy định về vấn đề thành niên.

    So với Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ thì Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại xứ Nam Kỳ chỉ quy định những vấn đề về nhân pháp (tức nói về người), chứ không quy định các vấn đề khác vốn được xem là một trong những nội dung cốt yếu của dân luật như vấn đề tài sản; vấn để nghĩa vụ dân sự và khế ước. Thậm chí, ngay cả chế độ tài sản của vợ chồng hay vấn đề thừa kế, vốn rất gần gũi với các quy định về “người” cũng không được quy định trong Bộ luật này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Căn Cứ Pháp Luật Để Ký Kết Hợp Đồng Xây Dựng ?
  • Bt Xây Dựng Tình Huống Luật Dân Sự 1_Thừa Kế
  • Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự Trở Thành Luật Chung Của Hệ Thống Pháp Luật
  • Luật Dân Sự Quy Định Thế Nào Về Việc Xây Lấn Phần Vách Tường Chung?
  • Quy Tắc Xây Dựng Đảm Bảo An Toàn Cho Bất Động Sản Liền Kề
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100