Bàn Về Facebook Với Học Sinh, Giới Trẻ 2022 Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Trường Thpt Hưng Đạo
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Hàn Thuyên (Lần 2)
  • Từ Văn Bản ” Bàn Về Đọc Sách” Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Đọc Sách Của Học Sinh Ngày Nay
  • 23 Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022
  • Hướng Dẫn Sao Chép Liên Kết Trên Iphone
  • Bàn về FACEBOOK với học sinh

    Kính thưa các thầy cô giáo!

    Các em học sinh toàn trường thân mến!

    Chỉ thế thôi đã có thể thấy ma lực của nó, sự tiện ích cũng như ảnh hưởng của nó tới xã hội. Trải qua gần một thập kỉ phát triển (từ năm 2004 đến nay), nó cũng bộc lộ không ít mặt trái, mặt tiêu cực. Đối tượng tham gia FB được qui định từ 13 tuổi trở lên, song thực tế nó có sức hút mãnh liệt với bất cứ ai, đông nhất vẫn là tuổi trẻ,học sinh, sinh viên. Tuy nhiên đây lại là một vấn đề còn thả nổi, chưa được kiểm soát chặt chẽ, chưa được đưa vào giáo dục trong nhà trường, chưa được định hướng một cách tích cực và người tham gia có lẽ cũng chưa mấy ý thức nghiêm túc về nó. Hôm nay, thầy trò trường Lô-mô-nô-xốp chúng ta sẽ cùng trao đổi về vấn đề này. Hi vọng các em sẽ quan tâm và suy nghĩ, hành động một cách tích cực nhất.

    Vậy FB là gì ? Lợi ích của nó ra sao ?

    Như chúng ta đã biết, FB là mạng xã hội ảo, được ra đời từ năm 2004 từ Mĩ, hiện nay, giám đốc điều hành trang mạng xã hội này là Mark Zuckerberg – người sáng lập ra nó từ khi anh còn là sinh viên trường đại học Havard. Ta có thể tìm thấy gần như mọi lĩnh vực của đời sống trong FB.

    Ngoài vai trò là một trang mạng mang tính giải trí hấp dẫn, nơi giao lưu, chia sẻ của bạn bè, người thân, FB còn là một công cụ hữu hiệu trong việc truyền tải những thông điệp, thông tin đến hàng triệu người trên khắp hành tinh. Nó gần giống như một cuốn nhật kí sinh động ghi lại những cảm xúc, ấn tượng, tình cảm, sẻ chia trong cuộc đời thường nhật. FB là một tiện ích, một mạng xã hội năng động liên tục mang đến cho người trẻ những trải nghiệm cùng công cụ kết bạn, giao lưu, nói chuyện, tìm kiếm thông tin vô cùng thú vị.

    Từ khi xuất hiện máy tính bảng như ipad,… hỗ trợ những ứng dụng vào FB ở mọi nơi, thì dù ở đâu, đang làm gì, người sử dụng cũng có thể vào FB. Laptop, điện thoại là những công cụ dễ dàng để vào FB.

    Chính vì nhiều lẽ đó mà FB có sức hút mãnh liệt với mọi người, nhất là giới trẻ, khi mà nhu cầu giao tiếp, giao lưu, chia sẻ, khám phá, hiểu biết, trải nghiệm,… ở họ vô cùng lớn.

    Tuy nhiên, FB cũng đã bộc lộ không ít mặt trái của nó.

    Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, In-tơ-net nói chung, FB nói riêng hàm chứa nhiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc hại. Vì thế, nó cực kì nguy hiểm, có thể gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, kinh tế, đạo đức,… và nhiều mặt của đời sống, có thể gây nguy hại cho quốc gia, tập thể hay các cá nhân. Do được sáng tạo trong một môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô lương tâm và vô văn hoá. Có những kẻ đã lợi dụng FB để bôi xấu chế độ, lãnh tụ, bôi nhọ, xúc phạm người khác. Có những kẻ đưa lên đó những nội dung không lành mạnh, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mĩ tục của người Việt.

    Có những đứa con bất hiếu biến FB thành nơi trút giận cả với cha mẹ, nhục mạ cả đấng sinh thành. Có kẻ đưa lên mạng những bức ảnh vô cùng phản cảm như những nữ sinh ăn mặc lố lăng ngồi tạo dáng trên mộ liệt sĩ, phanh trần ngồi lên mộ tổ,… Vừa qua có nữ sinh lớp 8 ở Quảng Nam đăng tải trên FB bài viết “Tuyên ngôn học sinh trường THCS Lí Tự Trọng” kêu gọi bạn bè phải bằng mọi cách, kể cả những biện pháp tiêu cực để có thể “qua” đợt kiểm tra học kì I. Tệ hại hơn, bài viết còn có những nội dung xúc phạm nghiêm trọng đến nhà trường, thầy cô giáo, tất nhiên học sinh đó đã bị kỉ luật. Không ít kẻ tung lên FB tất cả những ngôn ngữ tục tĩu, bẩn thỉu nhằm nói xấu, đả kích, thoá mạ người khác. Chưa kể đến những hiện tượng xuyên tạc tiếng Việt, viết tắt, kí hiệu đến kì quặc, tuỳ tiện đưa vào văn bản những chữ z, f, w vốn không có trong hệ thống chữ cái tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

    FB cũng là một hoạt động giao tiếp. Việc tiếp nhận thông tin cần gắn với ngữ cảnh. Nếu không hiểu ngữ cảnh cụ thể có thể hiểu sai lạc thông tin, và nếu sự sai lạc ấy lại được lan truyền mạnh mẽ thì nhiều khi gây ra hậu quả khó lường.

    FB cũng là kẻ phá hoại khi làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chồng li dị vợ vì vợ nghiện FB mà không quan tâm đến gia đình.

    FB là nơi số lượng like có thể sản xuất được và đầy rẫy cạm bẫy, lừa lọc. Tuổi trẻ ngây thơ, trong sáng, ham hiểu biết, muốn khẳng định nhưng chưa đủ kinh nghiệm, tri thức để phân biệt đúng, sai, có khi chỉ hùa theo “tâm lí đám đông”.

    FB kết nối trên thế giới ảo nhưng lại làm xói mòn và ảnh hưởng đến cách con người giao tiếp, thể hiện tình cảm. Nhiều bạn trẻ mải nói chuyện với người trên mạng mà quên giao tiếp với người thân, chỉ đắm chìm trong thế giới ảo mà thờ ơ, dửng dưng với mọi người, không muốn và không biết cách giao tiếp, chia sẻ với mọi người xung quanh, thậm chí mất niềm tin nơi cuộc đời thực, có khi dẫn đến mặc cảm trong cô đơn, trầm cảm, thu mình lại. Nhiều ông bà, cha mẹ thấy cô đơn khi con cháu họ chỉ “ôm” điện thoại, laptop.

    Nghiện thì dễ mà cai lại khó. Cũng như nghiện Net, nghiện game, nghiện chát,…những con nghiện FB cũng thừa nhận là khó cai, cai mãi không thành, đến mức có cả “Hội những người cai FB nhưng không thành” lên tới cả gần 1600 thành viên.

    Vì những mặt trái của nó, FB từng bị cấm ở một số quốc gia, một số công sở, trường học. Nhiều phụ huynh chưa khỏi lo lắng vì nạn nghiện game, nghiện chát,… thì giờ lại lo lắng vì nạn nghiện FB. Trò lên “phây”, thầy lo lắng, cha mẹ phiền lòng. FB đúng là con dao hai lưỡi.

    Vậy làm thế nào để sử dụng FB một cách hiệu quả và ngăn chặn những tác hại của nó ?

    Không thể phủ nhận mặt tốt của FB. Vì vậy không nên và không thể cấm dùng nó. FB không có lỗi. Lỗi chăng là ở người dùng. Những người sáng lập ra trang mạng xã hội này hẳn phải nghiên cứu để phát huy hiệu quả, ngăn chặn, khắc phục mặt hạn chế của nó. Các quốc gia và các cơ quan hữu trách phải nghiên cứu để kiểm soát, quản lí nó một cách chặt chẽ hơn. Phải tăng cường giáo dục và tự giáo dục về “văn hoá trên mạng”. Nhà trường, gia đình và xã hội phải quản lí, giáo dục, định hướng cho con em mình chặt chẽ, hiệu quả hơn. Vừa qua, trường THPTDL Lương Thế Vinh đưa lên Website của trường những điều cấm kị khi lên FB đối với học sinh trường này được nhiều người hoan nghênh. Tuy nhiên, việc kiểm soát và xử lí người vi phạm không dễ. Vì vậy, điều quan trọng là định hướng, giáo dục các em và các em tự giáo dục mình.

    Cuộc sống thực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn với bao điều bí ẩn, diệu kì sao ta lại chỉ đắm chìm trong thế giới ảo? Thời gian của đời người thật ngắn ngủi sao ta lại tiêu phí thời gian vào những điều vô bổ, thậm chí có hại? Làm sao tìm lại được thời gian đã mất ? Vậy phải biết quí cuộc sống này trong từng phút giây, phải biết sống sao cho thật ý nghĩa.

    Giờ đây đã có nhiều ứng dụng mới, phần mềm mới, những trang mạng mới để kết nối như: Google Plus, Zing Me,… Trong xã hội hiện đại luôn đổi mới như ngày nay, hẳn sẽ còn nhiều cái mới nữa ra đời như FB và hơn thế nữa. Tuổi trẻ chúng ta nhạy bén tiếp thu những cái đó nhưng hãy là người thông minh để dùng những cái đó một cách hiệu quả chứ không là nạn nhận của nó.

    Bây giờ đã là mùa thi, “mùa cai FB” như nhiều bạn trẻ nói, đủ thấy ma lực và ảnh hưởng ghê gớm của nó. Hãy tập trung cao độ vào học tập, hãy cháy lên để mà toả sáng. Và hãy nhớ, đừng mê FB mà quên đọc sách, đừng mải nói chuyện với người trên mạng mà quên giao tiếp với người thân, đừng “phây” đến phờ phạc, phí phạm đời mình vào những điều vô nghĩa.

    Chúc các thầy cô và các em thành công !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Con Chó Bấc (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Con Chó Bấc (Trích Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã)
  • Soạn Bài Con Chó Bấc
  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Hay, Có D
  • Phân Tích Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương
  • Trở Về Với Văn Bản Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 11
  • Soạn Bài Kiểm Tra Truyện Trung Đại
  • Các Tác Giả, Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 9
  • Ôn Luyện Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 9
  • 1. Khắc phục phương pháp dạy học văn bằng các thế phẩm văn học

    Khởi điểm của môn ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn, nhà thơ, nhà chính luận, các văn bản mẫu mực, có giá trị tư tưởng, thẩm mĩ được lựa chọn đem vào SGK; từ đọc hiểu các văn bản ấy mà học sinh sẽ được rung động về nghệ thuật, thưởng thức giá trị thẩm mĩ, tiếp nhận tư tưởng, tình cảm, học được cách sống, trưởng thành về nhân cách, hình thành các kĩ năng văn học như đọc, viết, quan sát, tư duy, tưởng tượng sáng tạo và cả sáng tác ngôn từ nữa… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì đến tình yêu văn học.

    Thế mà có một nghịch lí là đã từ rất lâu học sinh không được trực tiếp đọc văn bản văn học, không coi việc đọc hiểu văn bản là công việc chủ yếu của mình. Nói cho đúng thì thầy cô giáo bao giờ cũng dặn dò học sinh đọc trước văn bản trong sách giáo khoa đấy, nhưng nói chung, học sinh chỉ đọc qua loa và chờ đợi, bởi vì từ rất lâu, không nhớ từ bao giờ, các em hiểu rằng, cái “văn bản” quan trọng nhất mà các em buộc phải học là “văn bản của thầy cô” sẽ giảng, sẽ đọc cho chép, đó mới là văn bản học sinh cần học thuộc để thi. Văn bản thứ hai mà học sinh cần đọc là các bài phân tích mẫu, các bài viết cho học sinh tham khảo đủ loại được thầy cô giới thiệu hay gia đình mua cho đọc. Gần đây trong cuốn Văn chương lâm nguy của nhà lí luận Pháp Todorov còn cho biết ở nhà trường Pháp một số thấy cô còn giảng mô honhf giao toeepos 6 thành phần của R. Iakobson, 6yeeus tố tự sự của Greimas nữa, không quan tâm nội dung của văn bản văn học.

    Các loại văn bản mà tôi sẽ gọi là “thế bản” ấy, chỉ là văn bản thay thế, dù cho được viết và giảng sâu sắc, dụng công, hoa mĩ bao nhiêu cũng chỉ có giá trị khêu gợi, hoàn toàn không thay thế được văn bản của nhà văn, là văn bản duy nhất, độc nhất, có một không hai. Ấy thế mà một thời gian dài, rất rất dài, các văn bản ấy cùng văn bản đáp án của các bộ đề thi hoàn toàn thay thế văn bản của nhà văn, thì làm sao học sinh có thể học tốt văn được?

    Đi sâu thêm, xét xem các “thế bản” ấy có đặc điểm gì? Về tiếp nhận, các thế bản ấy thể hiện những cách tiếp nhận khác nhau, không thể có cách hiểu nào là duy nhất đúng. Xét về văn bản giảng văn của giáo viên thì thiên hình vạn trạng, trình độ hiểu biết và diễn đạt không ngang nhau, chất lượng không đồng đều. Nếu là văn bản đáp án như lâu nay vẫn có thì là một sự áp đặt, hầu như không có chỗ cho học sinh phát huy tính sáng tạo, suy nghĩ của mình. Xét về nội dung có một thời nội dung đuợc dạy là cái hiện thực được phản ánh, được kể ra để thay thế văn bản văn học. Giảng bài Tùng của Nguyễn Trãi thì phẩm chất nhà nho, đề tài “đông thiên tam hữu” được thay thế bài thơ. Giảng Đây thôn Vĩ Dạ thì mối tình của Hoàng Cúc trở thành câu chuyện thay thế hấp dẫn hàng đầu. Giảng bài Thu điếu thì là cơ hội để thầy trình bày các nhà thơ nước ngoài đã viết về mùa thu như thế nào. Nhiều bài giảng giáo viên lợi dụng tính chất liên văn bản, đem trút cho HS nhiều văn bản khác, nhiều liên hệ với các bài văn khác tương tự, tạo thành cái mà người xưa gọi là “khách lấn át chủ”, trọng tâm bài giảng hoàn toàn bị phá vỡ. Xét về phương pháp, các văn bản ấy chỉ là “bản dịch” bằng tiếng mẹ đẻ của nguyên tác (văn bản của nhà văn), mà ai cũng biết, dịch nhiều khi là diệt và thường kém xa nguyên văn. Xét về ngôn ngữ, ngôn ngữ của các thế bản hoàn toàn, hoặc phần lớn là ngôn ngữ của người giảng, không phải ngôn ngữ nghệ thuật đích thực của nhà văn. Trong khi “dịch”, giáo viên thường chỉ thiên về khai thác ý từ các chi tiết, các hình tượng, tính cách nhân vật, các xung đột xã hội hay mâu thuẫn tâm lí của nhân vật, thế là ngôn ngữ của nhà văn, tính chủ thể của nhà văn, cái đối tượng mà học sinh phải đọc để thưởng thức đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu, bị đánh tráo thành văn bản “tham khảo”, nghĩa là sau khi nghe thầy cô giảng rồi, bây giờ mới tham khảo lại văn bản của nhà văn! Tôi gọi đó là phuơng pháp dạy văn bằng cách cách li học sinh khỏi văn bản văn học, nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là văn bản ngôn từ, dạy văn học bằng các thế phẩm văn học. Đó là chưa kể trên lớp việc sa đà dạy các phần tiểu dẫn, nào bối cảnh xã hội, lịch sử, nào hoàn cảnh sáng tác, quá trình sáng tác, nào đặc điểm cá tính, đời tư của tác giả…Thời gian còn lại để đọc chẳng có bao nhiêu, thầy trò đọc vội đọc vàng như cưỡi ngựa xem hoa, trò chưa kịp bước vào ngưỡng cửa của văn bản, chưa kịp hiểu mô tê gì thầy đã vội đọc cho trò chép đáp án.

    Trong xu thế sử dụng các phương tiện điện tử hiện nay văn bản văn học của nhà văn còn có nguy cơ bị thay thế bằng các băng hình, các bài ngâm thơ mùi mẩn của các nghệ sĩ tài danh, sự cách li như thế sẽ ngày càng trầm trọng hơn với danh nghĩa”đổi mới phương pháp”, “sử dụng phương tiện dạy học hiện đại.” Thế là nghệ thuật ngôn từ bị thay thế bởi đủ loại “văn bản” phi ngôn từ của nhà văn.

    Nói như thế hoàn toàn không phải chúng tôi coi nhẹ hay coi thường các “thế bản”, bản thân chúng tôi cũng viết các văn bản ấy hoặc tuyển chọn các văn bản hay cho học sinh đọc. Vấn đề là không được coi đó là cái bắt buộc học sinh phải học. Chúng tôi cũng không có ý đối lập hoàn toàn văn bản “dịch” với văn bản của nhà văn, giữa chúng có nhiều điều liên hệ sâu sắc và văn bản thay thế còn có nội dung phương pháp nữa, rất cần cho học sinh. Vấn đề là không được lấy phụ làm chính, khách không được lấn át chủ.

    Đó chính là lí do để chúng tôi đặt lại vấn đề : trở về với văn bản văn học nghệ thuật là con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn hiện nay trong hoạt động dạy văn.

    2. Con đường trở về với văn bản văn học

    Muốn giải quyết đúng vấn đề phương pháp dạy học văn học hiện nay chỉ có một con đường là trở về với văn bản văn học. Trở về như thế nào?

    2.1. Cần có thái độ đúng đắn đối với văn bản văn học

    Trước hết phải hiểu đúng vai trò ý nghĩa của văn bản. Văn bản là tồn tại duy nhất của tác phẩm của nhà văn, là yêú tố mang chở toàn bộ nội dung, ý nghĩa, tình cảm, mĩ cảm mà nhà văn gửi gắm và người đọc chỉ có thể tự mình đọc để khám phá và thưởng thức, không có con đường nào khác. Không ai có thể thưởng thức thay người đọc. Trên thực tế sự phân tích của người khác cũng có giá trị tham khảo, nhưng chỉ khi tự mình khám phá thì người đọc mới có được niềm vui sáng tạo trong hưởng thụ văn học. Cách lí văn bản này thì không có sự thưởng thức, hưởng thụ văn học đích thực.

    Thứ hai văn bản văn học có tính chất “bất cập vật”, nghĩa là không phải văn bản ngoại chỉ, chỉ ra một thục tại nào có thực, như ngôn ngữ hàng ngày, mà là văn bản nội chỉ, tức là chỉ ra cái thế giới trong tâm hồn nhà văn, một thế giới mang ý nghĩa sâu xa về cuộc đời con người. Với văn bản nội chỉ, toàn bộ hình thức của văn bản bao gồm cấu trúc, cách tổ chức ngôn từ như câu ngắn, câu dài, câu đảo trang, từ điệp, cụm từ sóng đôi, thanh bằng trắc… đều tự nó mang ý nghĩa của văn bản. Do cấu trúc xác định, văn bản có một ý nghĩa cũng có tính xác định hàm ẩn nhất định, nhưng không loại trừ tính đa nghĩa trong các quan hệ với các yếu tố xung quanh văn bản như thế giới, tác giả, người đọc, nhưng hạt nhân văn bản vẫn xác định. Thay thế văn bản này thực tế là thay thế sản phẩm nghệ thuật và cho phép người đọc tuỳ tiện suy diễn, cắt xén cấu trúc và ý nghĩa tác phẩm.

    Thứ ba, văn bản văn học có cấu trúc mời gọi như nhận định của W. Izer: Đối với chủ thể tiếp nhận mà nói, bất cứ văn bản văn học nào đều có tính chưa xác định, đều không phải là một tồn tại có tính xác định hay tính tự đầy đủ, mà là một cấu trúc sơ cấu (scheme) nhiều tầng bậc và chưa hoàn thành, trong đó có nhiều điểm trắng và chưa xác định……..Hình tượng và hàm ý mà nhà văn sáng tạo hoàn toàn ẩn giấu hoặc phụ thuộc vào cái cấu trúc kí hiệu đó, thông qua một loạt các quy định ngữ nghĩa và các môi liên hệ giữa chúng với nhau, các quan hệ phồi hợp và lựa chọn khêu gợi một cách tài tình cho người đọc, cho nên nói văn bản là một cấu trúc kí hiệu ngôn ngữ có tính chất mời gọi. Văn bản có nhiều khả năng tạo nghĩa, do cá tính người đọc khác nhau, kinh nghiệm khác nhau, hoàn cảnh văn hoá khác nhau, dẫn đến sự lựa chọn khác nhau, cải tạo và sáng tạo nghĩa khác nhau. Do đó văn bản có nhiều khả năng nghĩa và cần thừa nhân các khả năng ấy. Chẳng hạn, câu thơ của Quang Dũng : “Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” có thể hiểu là dáng người trên độc mộc, giữa dòng nước lũ có cành hoa đong đưa, nhưng cũng có thể hiểu là cái dáng người trên độc mộc ấy trôi giữa dòng nước lũ như một đoá hoa đong đưa đều được, mà cách hiểu sau có vẻ đẹp hơn. Thừa nhận đọc là hành vi có cá tính của học sinh thì không nên lấy sự phân tích của thầy mà thay thế sự cảm nhận văn bản thực tế của học sinh. Giáo viên có thể gợi ý, khích lệ, đối thoại nhưng không được thay thế sự phát hiện và học tập của học sinh. Sự đối thoại của thầy giúp học sinh tự tin thêm trong khi đọc và phát hiện do đó không hề làm giảm đi tầm quan trọng của người thầy. Thầy cần giúp trò tự phát hiện thêm những ý nghĩa bất ngờ, khác thường trong văn bản.

    Thứ tư, thái độ thẩm mĩ đối với văn bản thể hiện qua mấy phương diện sau.

    Trước hêt là giữ một khoảng cách thẩm mĩ đối với thế giới trong văn bản, bởi vì đó là thế giới hư cấu, không được đồng nhất với thế giới thực tại. Đó là ý kiến của nhà mĩ học kiêm ngôn ngữ học Thuỵ sĩ Boulogth. Ông cho rằng khoảng cách thẩm mĩ nhất định là điều kiện tiên quyết để thưởng thức thẩm mĩ. Cái gọi là khoảng cách thẩm mĩ có nghĩa là gạt bỏ ra ngoài các quan niệm vụ lợi, thực dụng, vật lí, sinh lí, dùng một quan niệm siêu thoát, thuần tuý tinh thần để soi ngắm thế giới nghệ thuật, lúc đó mới đi vào được thế giới thẩm mĩ. Đồng nhất thế giới nghệ thuật với thực tại, đi tìm ngụ ý kín đáo của nhà văn đối với thực tế, không ngại ngần suy diễn các vấn dề chính trị đạo đức, như thế không phải là thái độ thẩm mĩ. Có người đọc câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Sao anh chẳng về chơi thôn Vĩ, Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc, Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì với thói quen đọc theo lối “phản ánh hiện thực” liền coi như đó là tả thực một cảnh có thật của Vĩ Dạ, có cau, có nắng mới lên, có lá trúc và mặt chữ điền thấp thoáng sau đó. Nhưng câu “nắng hàng cau nắng mới lên”có thể chỉ là biểu tượng về một mối tình ấm áp vừa nhen nhóm trong lòng người nhận phiến ảnh, chứ không nhất thiết là có nắng mới thật. Trước đây đọc câu thơ của Xuân Diệu “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây” thế là người ta suy diễn ngay một thái độ chính trị thoát lí đời sống, mà không thấy ru với gió, mơ theo trăng là cách gắn bó với đời sống theo lối lãng mạn chủ nghĩa.

    Thứ đến cần biết tôn trọng văn bản của nhà văn cho dù nó trông có vẻ khác thường như thế nào. Có tôn trọng, tin vào ý nghĩa bên trong của hình tượng, thì mới có thể thể nghiệm, nghiền ngẫm, tưởng tượng để chiếm lĩnh ý nghĩa chỉnh thể của văn bản nghệ thuật. Bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh do có lối diễn đạt lạ lùng liền bị quy cho là thơ tắc tị, hũ nút, bế tắc, mà không hiểu ý nghĩa thi vị đặc thù của nó, cái khác lạ chỉ là ngôn ngữ tượng trưng mà thôi. Theo tôi hiểu thì bài thơ ấy gợi lại một ấn tượng chỉnh thể của quá khứ đọng lại trong tâm hồn mà ở đó, con người, cung đàn, rượu, hoa quả, thời gian đều hoà quyện trong nhau, không tách bạch như trong thực tại. Hiểu theo cách đó thì bài thơ chẳng có gì là tắc tị, bí hiểm, bế tắc trong thế giới quan như người ta vẫn nói.

    2.2. Đề cao vai trò chủ thể của người giáo viên và vai trò chủ thể của trò

    Chủ trương mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phủ nhận mô hình lấy giáo viên làm trung tâm, nhưng giáo viên vẫn là nhân tố quyết định đối với chất lượng giáo dục, là nhà giáo dục. Hai điều đó tuyệt đối không hề mâu thuẫn và không được nhầm lẫn. Là người thầy dạy học văn giáo viên phải là người có chủ kiến, có cách hiểu độc lập đối với văn bản dạy học cho học sinh. Giáo viên có thể tham khảo nhiều tài liệu, nhưng nhất thiết phải tổng hợp thành cách hiểu riêng, có sức thuyết phục đối với chính mình. Đặc biệt giáo viên phải nghiên cứu mọi khả năng tạo nghĩa của văn bản, giải mã các biểu tượng văn chương trong văn bản. Sự hiểu sâu, nắm chắc văn bản tạo cho người giáo viên thái độ tự tin, tự do, phong thái ung dung, phóng khoáng khi đứng trước lớp và nhất là đứng trước mọi tình huống do thực tiễn dạy học văn tạo nên. Đối với các cách hiểu khác nhau giáo viên cần có thái độ phê phán chọn lọc, có lí có lẽ, không phải loại người ba phải, chỉ chăm chăm nói theo một vài bậc thầy giáo “có uy tín” mà tê liệt tinh thần phân tích, đối thoại. Đó là điều kiện tiên quyết để dạy học văn được tốt. Người giáo viên có ý thức chủ thể phải không ngừng tu dưởng chuyên môn, ít nhất là có ý thức nghiên cứu, tham gia các lớp đào tạo để nâng cao trình độ, tham gia đời sống văn học của đất nước, đọc và khi có điều kiện thì phát bỉểu ý kiến, thể hiện chính kiến của mình, thường xuyên đọc các báo, nhất là báo chuyên ngành. Các nhân tố đó sẽ giúp giáo viên tự tin khi đứng trước lớp.

    Nhưng dù giáo viên giỏi mấy cũng không thay thế được vai trò chủ thể của trò. Tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm chủ yếu là coi trọng tinh thần, ý thức chủ thể của trò trong hoạt động học tập. Trong giờ học học trò phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hởi…dưới sự chỉ đạo, gợi ý của thầy. Chủ thể hoạt động học tập trên lớp phải là HS. Trong giờ học mà chỉ thầy giảng, HS không hoạt động học tập, không mở miệng, thì có thể nói giờ học không thành công. Trở về văn bản chính là để kích thích cho HS hoạt động và chỉ thông qua hoạt động thì HS mới có dịp trưởng thành.

    2.3. Bám sát văn bản văn học để dạy đọc hiểu văn bản

    Trước hết, kinh nghiệm cho thấy rằng, giáo viên giảng bài càng kĩ, càng chi tiết, đọc chép càng nhiều thì nhu cầu đọc của HS càng ít, có khi HS không cần đọc nữa, chỉ cần học thuộc bài ghi của thầy cũng đủ rồi. Như thế không có nghĩa là muốn cho học sinh đọc thì giáo viên sẽ làm việc ít đi. Muốn cho HS thực sự đọc văn bản thì công việc của thầy không phải là giảng, bình thật nhiều, vì như thế là độc chiếm mất quyền chủ thể đọc hiểu của trò. Công việc của thầy, nói như trường phái công nghệ giáo dục, là “thầy thiết kế, trò thi công”, nghĩa là thầy mở đường cho HS bước vào văn bản để HS sống, thể nghiệm, tìm hiểu, nhận định, rút ra kết luận về tư tưởng, tình cảm của tác phẩm. Nhưng khác với trường phái Hồ Ngọc Đại là xem HS thâm nhập văn bản như người sáng tác, chúng tôi chủ trương HS đi vào văn bản như một người đọc văn học. Vai trò của thầy là hướng dẫn, gợi mở, tránh nhầm lẫn cho HS, chủ yếu là dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc hộ, biến HS thành thính giả thụ động của mình. Riêng điểm này đã đòi hỏi thay đổi cơ bản nếp dạy và nếp học thâm căn cố đế trong nhà trường của chúng ta lâu nay.

    Thứ hai, giáo án của thầy chủ yếu phải là giáo án dạy về phương pháp đọc cho học sinh. Cái nhầm lớn nhất của giáo án hiện nay chủ yếu là giáo án nội dung dùng cho thầy (Thầy thiết kế cho thầy dùng!) chứ không phải là giáo án để dạy phuơng pháp đọc cho HS. Giáo án này là một hệ thống gồm ý lớn, ý nhỏ, chỗ nào nêu câu hỏi, rồi sau đó chép nội dung gì, giá trị nội dung gồm mấy điểm, giá trị nghệ thuật gồm mấy điểm, cố gắng khai thác cho hết, không được bỏ sót điểm nào…Nếu có chú ý tới phương pháp thì phần này vẫn bị coi nhẹ, hiểu phương pháp như là hoạt động hình thức bề ngoài của thầy: lúc nào phát vấn, lúc nào diễn giảng, lúc nào phân tích, lúc nào liên hệ thực tế…hoàn toàn không phải là phương pháp giúp HS thâm nhập vào văn bản để khám phá văn bản.

    Tư tưởng trở về với văn bản, xem đọc là một hành vi có cá tính của HS, không được đem sự phân tích của thầy mà thay thế thực tế đọc của trò, biết trân trọng những cảm thụ, thể nghiệm, lí giải độc đáo của trò, biết phát huy và nâng những thể nghiệm ấy lên thành năng lực đọc tự giác. Muốn thế trước hết cần coi trọng thời gian tự đọc của HS. Thông thường, HS đọc qua loa, chưa hiểu gì, còn thầy cô thì xem đồng hồ để chấm dứt đúng lúc việc đọc nhằm chuyển sang nêu câu hỏi theo ý đồ của giáo án. Thày trò hỏi đáp mà trò không hiểu văn bản thì chẳng thú vị gì, chỉ trả lời chiếu lệ, hời hợt, nhạt nhẽo, vô bổ, lại mất thì giờ. Muốn có thời gian cho HS đọc thì hoặc là văn bản trong SGK phải ngắn, không dài quá, hoặc là thời lượng quy định cho mỗi bài phải dài hơn hiện nay, nghĩa là giảm bớt số lượng bài học. Tiếp theo phải đọc hiểu ngôn từ, kết cấu, nhân vật, tình huống, kết cục, đến mức có thể cảm nhận, thể nghiệm, suy nghĩ cùng nhân vật, tức là “đi vào văn bản”. Nhưng như thế cũng chỉ mới là nắm đựơc phần “cái biểu đạt” của văn bản. Đối với văn bản văn học cổ, văn học dân tộc thiểu số, văn bản có nhiều từ ngữ địa phương hoặc tác giả có cách viết khác thường thì giáo viên phải có phương án tối ưu để xử lí.

    Điểm chưa xác định trong văn bản còn rất nhiều, chẳng hạn, nhan đề của văn bản, lôgích nội tại của văn bản. Chẳng hạn, tại sao từ một người đã thành vô cảm như con rùa nuôi trong xó cửa, Mị lại cởi dây trói cho A Phủ, rồi sau đó lại đi theo A Phủ? Tại sao Chí Phèo sau khi bị Thị Nở từ chối, định đi trả thù Thị Nở mà lại đến nhà Bá Kiến? Tại sao Chí đến chỉ để đòi lương thiện, rồi giết Bá Kiến và tự sát? Nhiều người nói Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, nói như vậy có đúng không? Cần biết khai thác nhiều điểm chưa xác định và biết lựa chọn những điểm then chốt nhất, đích đáng nhất trong văn bản cho HS tìm cách xác định.

    2.4. Biến giờ học văn thành không gian đối thoại

    “Điểm chưa xác định” là “cấu trúc mời gọi” của văn bản, có thể gọi đó là cấu trúc đối thoại. Khai thác điểm chưa xác định là tiền đề để biến giờ học văn học trở thành giờ đối thoại giữa thầy và trò, giữa thầy với văn bản, trò với văn bản, trò với trò. Đây là điều nhiều người đã khẳng định. Hêghen nói: “Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều là một cuộc đối thoại đối với từng người trong công chúng.” Sartre cũng cho rằng nhà nghệ sĩ và tác phẩm của anh ta “là một lời mời, lời kêu gọi, viết là đề xuất với người đọc để anh ta thông qua sự khêu gợi của văn tự mà biến nó thành tồn tại khách quan.” Xét về bản chất, quan hệ tác giả và người đọc thể hiện mối quan hệ tinh thần giữa người và người; hành vi đọc có nghĩa là xác lập giữa người với người một quan hệ giao lưu và đối thoại. Đó là quan hệ hai chiều, tương hỗ, hai bên dựa vào nhau, coi nhau như là điều kiện, đọc trở thành quá trình va chạm về tư duy và giao cảm trong tâm hồn. Đối thoại đòi hỏi các bên đều có mục đích chung; các bên trước sau đều là chủ thể; quá trình đối thoại là quá trình các bên đều giao lưu, hợp tác, cùng tham gia, cùng sáng tạo. Đối thoại không chỉ là một tư tưởng triết học mà còn là một sách lược trong giáo dục. Thầy không được dùng quyền uy để áp đặt cho học trò mà nên dùng quyền uy để khích lệ học trò, dùng kinh nghiệm để thu hút sự hợp tác. Theo V. Chiupa, giáo sư Đại học Matxcơva, mỗi giờ học văn phải là một sự kiện đối thoại giữa thầy và trò. Chỉ qua đối thoại thì trò mới được tôn trọng, được quyền giải thích văn bản theo cảm thụ của mình, tự phát huy sức sáng tạo. Tất nhiên trình độ của HS còn non nớt, thầy phải biết phân biệt, dìu dắt, nâng đỡ; tuỳ tiện biểu dương, phụ hoạ những chỗ còn lỗ mỗ, lụp chụp của trò là làm hại trò đấy.

    Mục tiêu của đối thoại là đi đến hiểu nhau, đọc hiểu là mục tiêu của đối thoại. Với sự phát triển của khoa học hiện đại, phương pháp đọc hiểu văn bản ngày càng đa dạng và phong phú. Mỗi phương pháp đem lại một góc nhìn riêng và không có phương pháp nào là vạn năng, chỉ bám vào một phương pháp nào đó nhiều khi lại là tự trói buộc mình. Con đường biến những điểm chưa xác định của văn bản thành kiến thức về văn bản, về tư tưởng, tình cảm, phong cách của nhà văn phải tuân thủ các nguyên tắc như tính chỉnh thể, tính cần thiết, tính thích hợp, tính vừa sức để không rơi vào tuỳ tiện, lan man, mất trọng tâm, mất phương hướng.

    Lí thuyết tiếp nhận văn học được giới thiệu vào ta đã lâu song vận dụng còn yếu, nhiều vấn đề như “ý nghĩa”, “điểm chưa xác định” còn cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa, song con đường trở về với văn bản văn học của nhà văn, chuyển trọng tâm giảng bình của thầy sang dạy học phương pháp đọc là con đường duy nhất đúng để nâng cao tính chủ thể, tính tích cực của HS, tạo một không gian thông thoáng cho hoạt động học tập của các em là điều không phải nghi ngờ. Các bạn giáo viên nghĩ sao?

    Hà Nội, ngày đầu năm con Trâu 2009.

    Nguồn: http://trandinhsu.wordpss.com/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học
  • Soạn Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học, Soạn Văn Lớp 10 Trang 117 Sgk Ngữ Văn 10 Tập
  • Soạn Bài Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Ngắn Gọn
  • Từ Văn Bản ” Bàn Về Đọc Sách” Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Đọc Sách Của Học Sinh Ngày Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • 23 Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022
  • Hướng Dẫn Sao Chép Liên Kết Trên Iphone
  • Cách Quản Lý, Xem Lại Hoặc Xóa Văn Bản Đã Sao Chép Trên Iphone, Ipad
  • Cách Lấy Link Video, Link Bài Viết, Link Ảnh Facebook
  • Soạn Bài Nói Với Con
  • Mở bài:

    Sách ra đời từ lâu và đem lại nhiều lợi ích cho con người. Trong văn bản ” Bàn về đọc sách”, Chu Quang Tiềm từng nhận định: ” Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách. Nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn”. Vậy mà ngày nay, việc đọc sách không còn được chuộng cho lắm, nhất là giới trẻ mà dư luận xã hội đã gióng tiếng chuông báo động.

    Thân bài:

    1/ Giải thích:

    Sách ghi chép lại những kiến thức của nhân loại tích lũy tích lũy hàng ngàn năm nay. Theo đà phát triển của xã hội, chất liệu làm ra sách bắt đầu từ da thuộc, tre nứa,giấy đến ngày nay có hiện diện của sách điện tử. Còn học vấn là sự tiếp thu, học hỏi tích lũy kiến thức. Chúng ta có thể học tập từ thầy cô, bạn bè, thực tế cuộc sống nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Từ những nền tảng tri thức có sẵn trong sách, con người sẽ kế thừa và sáng tạo, phát minh thêm tri thức mới góp phần cho cuộc sống ngày càng văn minh hiện đại, không có sách, con người sẽ lạc hậu, trở về điểm xuất phát. Nhất là học sinh, đọc sách sẽ giúp việc học tập thêm nâng cao, mở rộng hơn, bồi đắp tâm hồn, nhân cách qua những quyển sách mang đậm tính nhân văn.

    2/ Trình bày hiện tượng đọc sách của học sinh ngày nay:

    Trong tình trạng bùng nổ công nghệ thông tin với những phương tiện truyền thông hiện đại ngày nay thì học sinh càng xa rời việc đọc sách. Từ trong nhà đến công viên, quán nước, bến đợi xe buýt, trên đường đi, ta dễ bắt gặp hình ảnh các bạn trẻ cầm điện thoại di động, ipad, laptop tìm kiếm thông tin trên các mạng xã hội như Facebook, Zing me , Twitter với những mẫu tin ngắn mà tác giả cũng không rõ nguồn gốc… Nếu có đọc sách thì chỉ đọc theo ngẫu hứng, phong trào rộ lên một thời, đọc qua loa, không chuyên sâu. Ở nhà, giờ đây giá sách cũng không phải là vật quý trong phòng học, mà thay vào đó là bộ máy vi tính là chủ yếu với những sách văn mẫu, sách giải bài tập… nhằm đáp ứng nhanh cho yêu cầu thi cử, bài làm, có nhiều bạn đã học trung học cơ sở mà còn ngại đọc sách chữ, chỉ thích đọc truyện tranh, kể cả truyện khoa học bằng tranh

    3/ Phân tích nguyên nhân, tác hại:

    Việc không đọc sách sẽ gây nhiều tác hại lớn. Không đọc sách, kiến thức ta sẽ không sâu rộng. Mỗi khi có việc cần làm thì lên mạng tra cứu vừa mất thời gian vừa không có tài liệu chuyên sâu. Những quyển sách có giá trị lâu dài ít ai đưa lên mạng miễn phí, nhất là những công trình khoa học tự nhiên, xã hội. Không đọc sách, ta sẽ mất đi nguồn vốn từ tích lũy được từ sách, không học tập được những lời hay ý đẹp và ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong diễn đạt ngôn từ.

    Còn đọc sách qua loa, cốt chỉ để cho người ta biết mình có đọc thì chỉ tốn công sức, thời gian, tiền bạc giống như cưỡi ngựa xem hoa, thật đáng phê phán

    4. Biện pháp:

    Văn bản ” Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm cho ta một bài học thấm thía về tầm quan trọng của việc đọc sách. Để đọc sách có hiệu quả, chúng ta cần chọn cho tinh, đọc cho kỹ. Đọc những quyển sách có giá trị, bồi dưỡng kiến thức, nhân cách. Đọc ít nhưng phải đọc kỹ, ta phải có sự suy ngẫm, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu… thì mới hiểu thấu đáo nội dung của sách và mới nhớ lâu. Những điều hay có trong sách ta cần ghi chép lại để học tập cách diễn đạt. Ta cần đọc sách thường thức kết hợp với sách chuyên sâu, theo sở thích. Sách thường thức rất quan trọng, ứng dụng thực tiễn nhiều trong mọi lĩnh vực. Đọc sách phải có kế hoạch liên tục, suốt đời thì mới thấy được lợi ích của việc đọc sách

    III. Kết bài:

    Từ hiện tượng học sinh không có thói quen đọc sách hay đọc sách qua loa, ta càng thấy lời khuyên của Chu Quang Tiềm thật đúng đắn. Hãy tập thói quen đọc sách, từ đọc ít đến đọc nhiều, đọc đều đặn, thường xuyên, học sinh chúng ta sẽ nhận được điều kì diệu của sách để từ đó nuôi dưỡng ươm mầm niềm đam mê đọc sách như Gorki có nói ” Hãy yêu sách …”

    Bùi Thị Mỹ Hạnh @ 01:44 15/01/2016

    Số lượt xem: 14694

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Hàn Thuyên (Lần 2)
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Trường Thpt Hưng Đạo
  • Bàn Về Facebook Với Học Sinh, Giới Trẻ 2022 Hiện Nay
  • Soạn Bài Con Chó Bấc (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Con Chó Bấc (Trích Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã)
  • Văn Bản Hợp Nhất Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học Số: 03/vbhn

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Lệ Trường Tiểu Học Theo Văn Bản Hợp Nhất 03/vbhn
  • Văn Bản Hợp Nhất Một Số Điều Của Luật Thuế Tncn
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 01/2007/tt
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 22 Và 30 Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Hóa Đơn
  • QUY ĐỊNH

    ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC

    (Ban hành kèm theo Thông tư ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học)

    Chương I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    1. Văn bản này quy định về đánh giá học sinh tiểu học bao gồm: nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá.

    2. Văn bản này áp dụng đối với trường tiểu học; lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt; cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục tiểu học.

    Điều 2. Đánh giá học sinh tiểu học

    Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong Quy định này là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học.

    Điều 3. Mục đích đánh giá

    1. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.

    2. Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét3, tham gia nhận xét4; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.

    3. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.

    4. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.

    Điều 4. Yêu cầu đánh giá5

    1.6 Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.

    2. Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.

    3.7 Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.

    4. Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

    Chương II

    NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC ĐÁNH GIÁ

    Điều 5. Nội dung đánh giá

    1. Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

    2. 8 Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh:

    a) Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;

    b) Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.

    3.9 (được bãi bỏ)

    Điều 6. Đánh giá thường xuyên10

    1. Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục. Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Văn Bản Hợp Nhất Ban Hành Quy Chế Thi Thpt Quốc Gia 2022
  • Bộ Gd&đt Công Bố Văn Bản Hợp Nhất Ban Hành Quy Chế Thi Thpt Quốc Gia
  • Văn Bản Hợp Nhất Ban Hành Quy Chế Thi Thpt Quốc Gia
  • Văn Bản Hợp Nhất Quyết Định Số 43 Và Thông Tư 57 Của Bộ Gddt Về Việc Ban Hành Quy Chế Đào Tạo Đại Học Và Cao Đẳng Hệ Chính Quy Theo Hệ Thống Tín Chỉ
  • Luật Phòng, Chống Ma Túy Sửa Đổi 2008
  • Hấp Dẫn Bài Học Về Văn Bản Nhật Dụng Với Dạy Học Dự Án

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Tên Các Văn Bản Nhật Dụng Trong Sách Ngữ Văn 8
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng
  • “nâng Cao Hiệu Quả Dạy Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn Thcs”
  • Soạn Bài Cầu Long Biên
  • Tiết 132, 133: Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng
  • GD&TĐ – Cô Trần Thị Thanh Hương (Trường THPT Ngô Quyền – Nam Định) cho rằng: Với bất cứ dạng bài học nhật dụng (Ngữ văn THPT) nào, giáo viên cũng có thể tìm thấy đơn vị kiến thức phù hợp để vận dụng phương pháp dạy học dự án (DHDA) và nhân tố có ý nghĩa quyết định là sự nhạy cảm, bản lĩnh và kinh nghiệm của giáo viên.

    Có 2 khả năng vận dụng DHDA trong dạy học các bài học nhật dụng của môn Ngữ văn ở trường THPT có tính khả thi nhất, đó là: Vận dụng phương pháp DHDA trong các giờ học bình thường và vận dụng DHDA trong các hoạt động ngoại khóa.

    Đọc – hiểu các văn bản nhật dụng

    Cô Trần Thị Thanh Hương cho biết, đây là loại văn bản không sử dụng hư cấu, tưởng tượng. Đặc điểm nổi bật của văn bản nhật dụng là tính thực tiễn và tính cập nhật.

    Mục tiêu bài học nhằm giúp học sinh hiểu nội dung của một số bài viết về các vấn đề cấp thiết đặt ra trong cuộc sống; biết cách đọc – hiểu văn bản nhật dụng và nâng cao ý thức trách nhiệm của cá nhân với xã hội.

    Từ những phân tích về đặc điểm và mục tiêu bài học nêu trên, cô Trần Thị Thanh Hương khẳng định: Việc áp dụng DHDA ở loại bài học này là hòan tòan có cơ sở. Hướng vận dụng DHDA ở đây khá phong phú. Dựa trên hoàn cảnh thực tế và bằng khả năng tổ chức, giáo viên có thể vận dụng DHDA trong giờ đọc- hiểu văn bản nhật dụng trên lớp.

    Và khi cần, với những vấn đề có tính thời sự cấp thiết, có thể áp dụng DHDA trong các hoạt động ngoại khóa để tiến hành khảo sát thực trạng, đề xuất giải pháp và tham gia (nếu có thể).

    Từ đặc điểm của bài học và qua khảo sát kĩ lưỡng từng bài học tiếng Việt trong chương trình,

    Cụ thể: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với các nhân tố tham gia giao tiếp, hai quá trình giao tiếp (tạo lập và lĩnh hội), hai dạng (nói và viết trong giao tiếp), sản phẩm của giao tiếp là văn bản. Đây là một hoạt động học sinh thường xuyên tiến hành trong cuộc sống gia đình, nhà trường và ngoài xã hội.

    Các phong cách chức năng: Trừ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật thì phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ hành chính… cũng không phải là những vấn đề quá xa lạ với học sinh.

    Chẳng hạn, ở phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày để thông tin, trao đổi ý nghĩ, đáp ứng nhu cầu tự nhiên của con người trong cuộc sống.

    Còn với phong cách ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ được dùng trong các thể loại báo chí (tin tức, phóng sự), học sinh cũng được thấy thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đài, báo, truyền hình,…

    Với nội dung này, cô Hương cho rằng, có thể sử dụng DHDA như một biện pháp hoặc một kĩ thuật dạy học nhằm đa dạng hóa các hoạt động học tập. Giáo viên có thể xây dựng dự án nhỏ, thực hiện được trong khỏang thời gian ngắn như thời gian làm bài tập trong mục Luyện tập ở cuối mỗi bài học. Điển hình ở các bài học về phong cách ngôn ngữ

    Các bài học Làm văn

    Mục tiêu bài học Tập làm văn chủ yếu rèn luyện và nâng cao kĩ năng tạo lập văn bản: Tạo lập các kiểu văn bản viết và văn bản dạng nói. Nguyên tắc chỉ đạo trong dạy học Làm văn là bằng thực hành, thông qua thực hành và hướng tới thực hành.

    Từ mục tiêu trên, cô Hương cho biết, bài Tập làm văn có thể vận dụng được ở cả hai hình thức trên lớp và trong các hoạt động ngoại khóa

    3 giai đoạn cơ bản áp dụng dạy học dự án

    Quy trình chung về dạy học dự án, cô Trần Thị Thanh Hương đưa ra 3 giai đoạn cơ bản, cụ thể:

    Giai đoạn1: Hoạt động trước giờ học(Sáng kiến về dự án và thiết kế dự án)

    × Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án

    × Xác định mục tiêu cần đạt khi thực hiện dự án

    × Xác định các nguồn hỗ trợ dạy học

    Hoạt động 2: Thiết kế dự án

    × Lập kế hoạch bài dạy và soạn giáo án

    × Chia nhóm học sinh và phân công nhiệm vụ cho các nhóm

    × Cung cấp bộ công cụ đánh giá và tài liệu hỗ trợ dự án

    × Chuẩn bị trang thiết bị và cơ sở vật chất để thực hiện tốt dự án

    × Tự nghiên cứu các nội dung bài học; thu thập các tài liệu

    × Đóng góp ý tưởng và cách giải quyết nhiệm vụ

    × Chia nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí nhóm

    × Nhận nhiệm vụ nhóm; chia nhiệm vụ nhóm thành nhiệm vụ nhỏ hơn

    × Họp nhóm, bàn bạc lên kế hoạch thực hiện dự án

    Giai đoạn 2: Hoạt động trong giờ học ( Thực hiện dự án, báo cáo sản phẩm và đánh giá dự án)

    – Nêu lại ý tưởng dự án và nhiệm vụ đã bàn giao

    – Chỉ dẫn cách thực hiện và hạn định thời gian

    – Kiểm tra tiến độ và hỗ trợ kịp thời khi HS gặp vướng mắc

    – Họp nhóm, tập hợp lại tài liệu

    – Nhóm trưởng thiết lập các vai, giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm và tiến hành thực hiện dự án

    – Hòan thiện sản phẩm; thống nhất cách thức trình bày sản phẩm

    – Chỉ dẫn cách thức; thời gian trình bày sản phẩm

    – GV phát Phiếu tham vấn, Phiếu tự đánh giá

    – Địnhhướng kiến thức bài học

    – Bốc thăm thứ tự trình bày

    – HS điền vào các phiếu

    – Các nhóm điều chỉnh sản phẩm nhóm

    – HS tự rút ra và bổ sung kiến thức

    – GV nhắc lại tiêu chí đánh giá – GV tập hợp các kết quả kết hợp để xem xét tính điểm cho tổng điểm tòan nhóm

    – Căn cứ trên tiêu chí này, HS điền vào các phiếu mà GV đã phát

    -HS phân chia điểm hợp lý trong nhóm rồi báo cáo lại cho GV.

    × Bàn giao nhiệm vụ mới cho các nhóm (có chỉ dẫn cụ thể)

    × Nhận nhiệm vụ mới và hoàn thiện sản phẩm nhóm

    × Các nhóm rút kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức về bài học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ngữ Văn: Gây Hứng Thú Cho Học Sinh Khi Day Ngữ Văn 9 Về Cụm Văn Bản Nhật Dụng
  • Phân Tích Văn Bản Nhật Dụng Cổng Trường Mở Ra
  • Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách (Trích)
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Bàn Về Đọc Sách
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách
  • Nghệ Thuật Ý Nghĩa Các Văn Bản Đã Học Ở Lớp 9 Bàn Về Đọc Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài)
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Những Trường Hợp Được Xem Là Con Chung Của Vợ Chồng
  • Văn Bản Thỏa Thuận Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng
  • Hiểu Tường Tận Về Hệ Thống Văn Bản Nội Bộ Trong Doanh Nghiệp
  • -dẫn dắt tự nhiên xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín đã làm tăng tình thuyết phục của văn bản.

    -lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể giàu hình ảnh

    Ý nghĩa văn bản:

    Tầm quan trọng ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chon sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả.

    CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THÊ KỈ MỚI

    1. Nghệ thuật

    – sử dụng nhiều thành ngữ , tục ngữ thích hợp làm cho câu văn vừa sinh đông , cụ thể , lại vừa ý vị , sâu sắc mà vẫn ngắn gọn .

    -Sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với đời sống bởi cách nói giản dị , trực tiếp , dể hiểu : lâp luận chặt chẽ , dẫn chứng tiêu biểu , thuyết phục .

    2. Ý nghĩa văn bản

    Những điểm mạnh , điểm yếu của con người Việt Nam : từ đó cần phát huy những điểm mạnh , khắc phục những hạn chế để xây dựng đất nước trong thế kỉ mới

    MÙA XUÂN NHO NHỎ

    *. Nghệ thuật: Viết theo thể thơ 5 chữ, nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng gần gũi với dân ca.-Kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị với những hình ẩnh giàu ý nghĩa biểu trưng khái quát

    -Sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sang, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, sử dụng từ xưng hô

    *.Ý nghĩa văn bản:

    Bài thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên thiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước cho cuộc đời

    NGHỆ THUẬT Ý NGHĨA CÁC VĂN BẢN ĐÃ HỌC Ở LỚP 9 BÀN VỀ ĐỌC SÁCH *. Nghệ thuật: Bố cục chặt che, hợp lí -dẫn dắt tự nhiên xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín đã làm tăng tình thuyết phục của văn bản. -lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể giàu hình ảnh… Ý nghĩa văn bản: Tầm quan trọng ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chon sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả. CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THÊ KỈ MỚI 1. Nghệ thuật – sử dụng nhiều thành ngữ , tục ngữ thích hợp làm cho câu văn vừa sinh đông , cụ thể , lại vừa ý vị , sâu sắc mà vẫn ngắn gọn . -Sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với đời sống bởi cách nói giản dị , trực tiếp , dể hiểu : lâp luận chặt chẽ , dẫn chứng tiêu biểu , thuyết phục . 2. Ý nghĩa văn bản Những điểm mạnh , điểm yếu của con người Việt Nam : từ đó cần phát huy những điểm mạnh , khắc phục những hạn chế để xây dựng đất nước trong thế kỉ mới MÙA XUÂN NHO NHỎ *. Nghệ thuật: Viết theo thể thơ 5 chữ, nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng gần gũi với dân ca.-Kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị với những hình ẩnh giàu ý nghĩa biểu trưng khái quát -Sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sang, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, sử dụng từ xưng hô… *.Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên thiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước cho cuộc đời VIẾNG LĂNG BÁC *. Nghệ thuật: Bài thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lăng, vừa tha thiết, đau xót tự hòa, phù hợp với nội dung cảm xúc. -Viết theo thể thơ tám chữ, có đôi chỗ biến thể, cách gieo vần và nhịp điệu thơ linh họat -Sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh, kết hợp cả hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩa khái quát và giá dtrị biểu cảm cao -Lựa chọn ngôn ngữ biểu cảm, sử dụng các ẩn dụ, điệp ngữ có hiệu quả nghệ thuật. *. Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện tâm trạng xúc động, tấm long thành kính, biết ơn sâu sắc của tác giả kh vào viếng lăng bác. SANG THU *.Nghệ thuật -Khắc hoạ được hình ảnh thơ đẹp ,gợi cảm, đặc sắc về thời điểm giao mùa hạ – thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. -Sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ ( bỗng , phả , hình như,…)phép nhân hoá (sương chùng chình , song được lúc dềnh dàng,…) phép ẩn dụ (sấm , hàng cây đứng tuổi). *.Ý nghĩa văn bản Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa. NÓI VỚI CON *.Nghệ thuật -Có giọng điệu thủ thỉ, tâm tình tha thiết, triều mến. -Xây dựng những hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát , mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. -Có bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhien. *Ý nghĩa văn bản Bìa thơ thể hiện tình yêu thương thắm thiết của cha mẹ dành cho con cái; tình yêu, niềm tự hào về quê hương , đất nước ĐỒNG CHÍ *… Nghệ thuật: Sử dụng ngôn ngữ bình dị, thấm được chất dân gian, thể hiện tình cảm chân thành. Sử dụg bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn một cách hài hòa, tạo nên hình ảnh thơ đẹp mang ý nghĩa biểu tượng. * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ ngợi ca tình cảm đồng chí cao đẹp giữa những người chiến sĩ trong thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ. BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TÁC PHẨM Nghệ thuật: Lựa cionj chi tiết độc đáo, có chi tiết phát hiện, hình ảnh mang đậm chất hiện thực -sử dụng ngôn ngữ đời sống, tạo nhịp điệu linh họat, thể hiện giọng ngang tàng trẻ trung, tinh nghịch * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ ca ngợi người chiến sĩ lái xe Trường Sơn dũng cảm, hiên ngang, tràn đấy niềm tin chiến tha81ngtrong thời kì chống giặc Mĩ xâm lược. ÁNH TRĂNG *.TÁC GIẢ và TÁC PHẨM::nguyễn Duy tên khai sinh là nguyễn duy nhuệ sinh năm 1948 quê ở tỉnh Thanh Hoá. Bài thơ Ánh trăng được sang tác năm 1978 không bao lâu sau khi đất nước thốngn nhất. bài thơ được in trong tập thơ ánh trăng. * Ý nghĩa văn bản : Ánh trăng khắc họa một khía cạnh trong vẻ đẹp của người lính sâu nặng tình nghĩa, chung thủy sau trước. LÀNG Ý nghĩa văn bản: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp LẶNG LẼ SA PA Ý nghĩa văn bản: ” Lặng lẽ Sa Pa” là câu chuyện về cuộc gặp gỡ với những con người trong một chuyến đi thực tế của nhân vật ông họa sĩ, qua đó, tác giả thể hiện niềm yêu mến đối với những con người có lẽ sống cao đẹp đang lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc CHIẾC LƯỢC NGÀ * Ý nghĩa văn bản: Là câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, Chiếc lược ngà cho ta hiểu thêm về những mất mát to lớn của chiến tranh mà nhân dân ta đã trải qua trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. MÂY VÀ SÓNG *.Nghệ thuật -Bố cục bài thơ thành 2 phần giống nhau ( thụât lại lời rủ rê – thuật lại lời từ chối và lí do từ chối – trò chơi do em bé sáng tạo ) – sự giống nhau nhưng không trùng lập về ý và lời. -Sáng tạo nên những hình ảnh thiên nhiên bay bổng, lung linh, kì ảo song vẫn rất sinh động và chân thực và gợi nhiều lien tưởng. *.Ý nghĩa văn bản Bài thơ ca ngợi ý nghãi thiêng liêng của tình mẫu tử CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG *Nghệ thuật: Khai thác vốn văn học dân gian, sáng tạo về nhân vật, sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố kì ảo…kết thúc có hậu. Y nghĩa văn bản: Với quan niệm cho rằng hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quáng và ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam CHỊ EM THUÝ KIỀU * Ý nghĩa văn bản: Chị em Thúy Kiều thể hiện tài năng nghệ thuật và cảm hứng nhân văn ngợi ca vẻ đẹp và tài năng con người của tác giả Nguyễn Du. CẢNH NGÀY XUÂN *Nghệ thuật:sử dụng ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh, diễn tả tinh tế tâm trạng nhân vật Miêu tả theo trình tự du xuân của hai chị em Thúy Kiều * Ý nghĩa văn bản : Cảnh ngày xuaa6n là đoạn trích miêu tả bức tranh mùa xuân tươi đẹp qua ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật giàu chất tạo hình của ND. KIÊÙ Ở LẦU NGƯNG BÍCH *…Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật: diễn biến tâm trạng được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại và tả cảnh ngụ tình. -lựa chon từ ngữ và các biệp pháp tu từ điệp ngữ, ẩn dụ, từ láy. *… Ý nghiã văn bản: Đoạn trích thể hiện tâm trạng cô đon, buồn tủi và tấm lòng thủy chung hiếu thảo của TK LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA 3. Tổng kết: *…Nghệ Thuật: miêu ta nhân vật chủ yếu thông qua cử chỉ, hàh động, lời nói. Sử dụng ngôn ngữ mộc mạc bình dị, gần với lời nói thông thường, mamg màu sắc Năm Bộ rõ nét, phù hợp với diễn biến tình tiết truyện. * Ý nghĩa văn bản :Đoạn trích ca ngợi phẩm chất cao đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga và khát vọng hành đạo cứu đời của tác giả. LỤC VÂN TIÊN GẠP NẠN * Ý nghĩa văn bản :Với đoạn trích này, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, qua đó thể hiện niềm tin của tác giả vào những điều bình dị mà tốt đẹp trong cuộc sống đời thường. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ *Nghệ thuật : Sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so snhs nhân hóa, phóng đại * Ý nghĩa văn bản : Bài thơ thể hiện nguồn cảm hứng lãng mạn ngợi ca biển cả lớn lao, ngợi ca nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của những người lao động mới. BẾP LỬA * Nghệ thuật :xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa gần gũi, vừa gợi nhiều liên tưởng tưởng tượng, mamg ý nghĩa biểu tượng. Viết theo thể thơ tám chữphối hợp với giọng điẹu cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả , tự sự nghị luận và biểu cảm. Ý nghĩa văn bản : Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu, nhà thơ cho ta hiểu thêm về những người bà, những người mẹ, về nhân dân nghĩa tình. Giáo viên :Ngô Thị Thủy-ĐT :0919.167.997

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách (Chi Tiết)
  • Văn Bản Bàn Về Đọc Sách Của Chu Quang Tiềm
  • Thủ Thuật Biến Chữ Viết Tay Và Tài Liệu Trên Giấy Tờ Thành Văn Bản Máy Tính
  • Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Ôn Tập Chi Tiết Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 22 Và 30 Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Hóa Đơn
  • Vốn Tự Có Và Tỷ Lệ An Toàn Vốn Tối Thiểu Của Tctd (Tổ Chức Tín Dụng)
  • Tỷ Lệ An Toàn Vốn Tối Thiểu Và Hoạt Động Sử Dụng Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Bảo Hiểm Y Tế Năm 2022
  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2022
  • Ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2014. THÔNG TƯ Sửa đổi, bổ sung một số điều của ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 11 năm 2022. QUY ĐỊNH Đánh giá học sinh tiểu học (Ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGD ĐT ngày 22/9/2016 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Điều 2. Đánh giá học sinh tiểu học Quy định đánh giá học sinh tiểu học Điều 3. Mục đích đánh giá

    1. Văn bản này quy định về đánh giá học sinh tiểu học bao gồm: nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá.
    2. Văn bản này áp dụng đối với trường tiểu học; lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt; cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục tiểu học.

    Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong Quy định này là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học.

    Chương II NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC ĐÁNH GIÁ Điều 5. Nội dung đánh giá

    1. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.
    2. Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.
    3. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.
    4. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.

    Điều 6. Đánh giá thường xuyên

    1. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
    2. Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
    3. Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.
    4. Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

    Bãi bỏ Điều 7,8,9 Điều 10. Đánh giá định kì

    1. Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
    2. Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh:
    3. a) Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;
    4. b) Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.

    – Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục; – Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục; – Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;

    1. Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục. Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
    2. Đánh giá thường xuyên về học tập:
    3. a) Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời;
    4. b) Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn;
    5. c) Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện.
    6. Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất:
    7. a) Giáo viên căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ kịp thời;
    8. b) Học sinh được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân;
    9. c) Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện và phát triển năng lực, phẩm chất.

    Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II;

    1. Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
    2. Đánh giá định kì về học tập
    3. a) Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
      b) Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc có bài kiểm tra định kì;

    c)Cần cố gắng: chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ. Bãi bổ Điều 11 Điều 12. Đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt Đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt bảo đảm quyền được chăm sóc và giáo dục.

      c) Đề kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau:

    Điều 13. Hồ sơ đánh giá

    1. d) Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang 10 điểm, không cho điểm 0, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh. Điểm của bài kiểm tra định kì không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kì I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.
    2. Đánh giá định kì về năng lực, phẩm chất

    Chương III SỬ DỤNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ Điều 14. Xét hoàn thành chương trình lớp học, hoàn thành chương trình tiểu học

    1. a) Tốt: đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên;
    2. b) Đạt: đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên;

    – Đánh giá định kì về học tập cuối năm học của từng môn học và hoạt động giáo dục: Hoàn thành tốt hoặc Hoàn thành; – Đánh giá định kì về từng năng lực và phẩm chất cuối năm học: Tốt hoặc Đạt; – Bài kiểm tra định kì cuối năm học của các môn học đạt điểm 5 trở lên;

    1. Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hoà nhập được đánh giá như đối với học sinh không khuyết tật có điều chỉnh yêu cầu hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
    2. Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
    3. Đối với học sinh học ở các lớp học linh hoạt: giáo viên căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp học linh hoạt và kết quả đánh giá định kì môn Toán, môn Tiếng Việt được thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Quy định này.
    1. Hồ sơ đánh giá gồm Học bạ và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
    2. Giữa học kì và cuối học kì, giáo viên ghi kết quả đánh giá giáo dục của học sinh vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của các lớp được lưu giữ tại nhà trường theo quy định.
    3. Cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm ghi kết quả đánh giá giáo dục của học sinh vào Học bạ. Học bạ được nhà trường lưu giữ trong suốt thời gian học sinh học tại trường, được giao cho học sinh khi hoàn thành chương trình tiểu học hoặc đi học trường khác.

    Điều 15. Nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh

    1. Xét hoàn thành chương trình lớp học:
    2. a) Học sinh được xác nhận hoàn thành chương trình lớp học phải đạt các điều kiện sau:

    Điều 16. Khen thưởng

    1. b) Đối với học sinh chưa được xác nhận hoàn thành chương trình lớp học, giáo viên lập kế hoạch, hướng dẫn, giúp đỡ; đánh giá bổ sung để xét hoàn thành chương trình lớp học;
    2. c) Đối với học sinh đã được hướng dẫn, giúp đỡ mà vẫn chưa đủ điều kiện hoàn thành chương trình lớp học, tùy theo mức độ chưa hoàn thành ở các môn học, hoạt động giáo dục, mức độ hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất, giáo viên lập danh sách báo cáo hiệu trưởng xem xét, quyết định việc lên lớp hoặc ở lại lớp.
    3. Xét hoàn thành chương trình tiểu học:

    – Học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện: kết quả đánh giá các môn học đạt Hoàn thành tốt, các năng lực, phẩm chất đạt Tốt; bài kiểm tra định kì cuối năm học các môn học đạt 9 điểm trở lên; Học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất một môn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất được giáo viên giới thiệu và tập thể lớp công nhận; Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điu 17. Trách nhiệm của sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo Điều 19. Trách nhiệm của giáo viên

    Học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 (năm) được xác nhận và ghi vào học bạ: Hoàn thành chương trình tiểu học.

    1. Nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh nhằm đảm bảo tính khách quan và trách nhiệm của giáo viên về kết quả đánh giá học sinh; giúp giáo viên nhận học sinh vào năm học tiếp theo có đủ thông tin cần thiết để có kế hoạch, biện pháp giáo dục hiệu quả.
    2. Hiệu trưởng chỉ đạo nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh:
    3. a) Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4: giáo viên chủ nhiệm trao đổi với giáo viên sẽ nhận học sinh vào năm học tiếp theo về những nét nổi bật hoặc hạn chế của học sinh, bàn giao hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Quy định này;
    4. b) Đối với học sinh lớp 5: tổ chuyên môn ra đề kiểm tra định kì cuối năm học cho cả khối; tổ chức coi, chấm bài kiểm tra có sự tham gia của giáo viên trường trung học cơ sở trên cùng địa bàn; giáo viên chủ nhiệm hoàn thiện hồ sơ đánh giá học sinh, bàn giao cho nhà trường.
    5. Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo các nhà trường trên cùng địa bàn tổ chức nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh hoàn thành chương trình tiểu học lên lớp 6 phù hợp với điều kiện của các nhà trường và địa phương.
    1. Hiệu trưởng tặng giấy khen cho học sinh:
    2. a) Khen thưởng cuối năm học:
    1. b) Khen thưởng đột xuất: học sinh có thành tích đột xuất trong năm học.
    2. Học sinh có thành tích đặc biệt được nhà trường xem xét, đề nghị cấp trên khen thưởng.
    1. Giám đốc sở giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm:
    2. a) Chỉ đạo trưởng phòng giáo dục và đào tạo tổ chức việc thực hiện đánh giá học sinh tiểu học trên địa bàn; báo cáo kết quả thực hiện v Bộ Giáo dục và Đào tạo;
    3. b) Hướng dẫn việc sử dụng Học bạ của học sinh.
    4. Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo hiệu trưởng tổ chức việc thực hiện đánh giá, nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh tiểu học trên địa bàn; báo cáo kết quả thực hiện v sở giáo dục và đào tạo.
    5. Giám đốc sở giáo dục và đào tạo, trưởng phòng giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư này tại địa phương.
    1. Chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức, tuyên truyền thực hiện đánh giá học sinh theo quy định tại Thông tư này; đảm bảo chất lượng đánh giá; báo cáo kết quả thực hiện về phòng giáo dục và đào tạo.
    2. Tôn trọng quyền tự chủ của giáo viên trong việc thực hiện quy định đánh giá học sinh.
    3. Chỉ đạo việc ra đề kiểm tra định kì; xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh; xác nhận kết quả đánh giá học sinh cuối năm học; xét lên lớp; quản lí hồ sơ đánh giá học sinh.
    4. Giải trình, giải quyết thắc mắc, kiến nghị về đánh giá học sinh trong phạm vi và quyền hạn của hiệu trưởng.
    1. Giáo viên chủ nhiệm:
    2. a) Chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá học sinh, kết quả giáo dục học sinh trong lớp; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh;
    3. b) Thông báo riêng cho cha mẹ học sinh về kết quả đánh giá quá trình học tập, rèn luyện của mỗi học sinh;
    4. c) Hướng dẫn học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn. Tuyên truyền cho cha mẹ học sinh về nội dung và cách thức đánh giá theo quy định tại Thông tư này; phối hợp và hướng dẫn cha mẹ học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
    5. Giáo viên không làm công tác chủ nhiệm:
    6. a) Chịu trách nhiệm đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh đối với môn học, hoạt động giáo dục theo quy định;
    7. b) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên cùng lớp, cha mẹ học sinh thực hiện việc đánh giá học sinh; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh; nghiệm thu chất lượng giáo dục học sinh;
    8. c) Hướng dẫn học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn.
    9. Giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh, ghi chép những lưu ý với học sinh có nội dung chưa hoàn thành hoặc có khả năng vượt trội. Trong trường hợp cần thiết, giáo viên thông báo riêng cho cha mẹ học sinh về kết quả đánh giá của mỗi học sinh.
    1. Được nêu ý kiến và nhận sự hướng dẫn, giải thích của giáo viên, hiệu trưởng về kết quả đánh giá.
    2. Tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn theo hướng dẫn của giáo viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 01/2007/tt
  • Văn Bản Hợp Nhất Một Số Điều Của Luật Thuế Tncn
  • Điều Lệ Trường Tiểu Học Theo Văn Bản Hợp Nhất 03/vbhn
  • Văn Bản Hợp Nhất Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học Số: 03/vbhn
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Văn Bản Hợp Nhất Ban Hành Quy Chế Thi Thpt Quốc Gia 2022
  • Đề Xuất Về Thực Hiện Nghĩa Vụ Quân Sự: Chỉ Tạm Hoãn Với Học Sinh, Sinh Viên Đại Học Chính Quy

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Về Thời Gian Đi Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 1981
  • Mới Về Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Hành Vi Trốn Nghĩa Vụ Quân Sự Sẽ Bị Xử Phạt Hành Chính Hoặc Xử Lý Hình Sự
  • Cách Giúp Bạn Thoát Nghĩa Vụ Quân Sự Đúng Luật
  • Theo tờ trình của Chính phủ thì Luật NVQS hiện hành quy định độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình từ đủ 18 – hết 25 tuổi nên hàng năm tỷ lệ công dân có trình độ ĐH trở lên được gọi nhập ngũ vào quân đội khá thấp. Mặt khác, số được ưu tiên tạm hoãn gọi nhập ngũ để học ĐH, sau khi tốt nghiệp phần lớn đã hết độ tuổi. Do vậy dự thảo luật đã bổ sung quy định tăng thêm tuổi gọi nhập ngũ với đối tượng này.

    Tuy nhiên, một số ý kiến của Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội cho rằng nên giữ nguyên tuổi gọi nhập ngũ như hiện hành. Còn những vướng mắc trong khâu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ đối với sinh viên tốt nghiệp đào tạo bậc ĐH và cán bộ, công chức không phải do hạn chế về độ tuổi mà do khâu tổ chức thực hiện.

    Dự thảo luật cũng quy định chỉ tạm hoãn đối với đối tượng là học sinh phổ thông, sinh viên đào tạo ĐH chính quy và bãi bỏ quy định về việc tạm hoãn đối với công dân “đi xây dựng vùng kinh tế mới trong 3 năm đầu”. Đồng thời, để bảo đảm chính sách đối với người nhiễm chất độc da cam, dự án luật bổ sung quy định tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình đối với 1 con của người nhiễm chất độc da cam bị suy giảm khả năng lao động.

    Về đối tượng được miễn gọi nhập ngũ, dự thảo luật kế thừa Luật NVQS hiện hành – chỉ miễn gọi nhập ngũ đối với thanh niên tình nguyện, cán bộ, công chức, viên chức được cử đến công tác, làm việc tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn…

    Trao đổi với phóng viên, đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) phân tích thêm: Với một dân tộc từng trải qua chiến tranh, chứng kiến nhiều tấm gương của thế hệ cha anh đi trước thì Luật NVQS mang ý nghĩa hết sức to lớn. Ông Quốc cũng cho rằng, ngoài tính thiêng liêng, dự luật này cũng cần phải đảm bảo sự bình đẳng công bằng. “Thực hiện NVQS vừa là trách nhiệm, vừa là vinh dự của mỗi công dân. Vì thế tôi cho rằng những điều chỉnh trong lần này của luật sửa đổi là hợp lý. Chúng ta vẫn thấy ngay như ở Hàn Quốc, các ngôi sao nổi tiếng vẫn phải thực hiện NVQS một cách bình đẳng. Đó là nhận thức văn minh, chứ không phải là gánh nặng. Thứ hai là thời gian thực hiện NVQS được kéo dài và chỉ thống nhất một thời gian, không phân nhiều loại đối tượng. Thứ ba là giới hạn đối tượng được miễn, tạm hoãn thực hiện NVQS ở những người có thể tạo ra nguồn lực phát triển cho đất nước” – nhà sử học phân tích.

    Về việc thay thế NVQS bằng cách đóng tiền hay lao động công ích, đại biểu Dương Trung Quốc nói: Đây là một bài toán cần thiết phải tính đến, nhưng điều quan trọng hơn vẫn là phải đảm bảo tính bình đẳng và công bằng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài 2: Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Trách Nhiệm Của Học Sinh
  • Sinh Viên Đang Học Đại Học Có Phải Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự ? Đăng Ký Nghĩa Vụ Quân Sự Ở Nơi Nào ?
  • Chỉ Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự Đối Với Học Sinh, Sinh Viên Hệ Chính Qui
  • Chính Thức: Chính Phủ Hàn Quốc Xác Nhận Không Một Thần Tượng Nam Nào Được Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự, Kể Cả Bts
  • Hàn Quốc Xem Xét Bỏ Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự Cho Vận Động Viên
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 22 Và Thông Tư 30 Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học Và Hỏi Đáp Về Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học Theo Thông Tư 22

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Hợp Nhất Các Thông Tư Quan Trọng Về Thuế
  • Văn Bản Mới Hợp Nhất Các Nghị Định Hướng Dẫn Luật Quản Lý Thuế
  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Thi Hành Án Dân Sự
  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Thi Hành Án Dân Sự
  • Thêm Luật Khiếu Nại, Tố Cáo Và Một Số Luật, Pháp Lệnh Mới
  • 1. Có phải Thông tư 22 ra đời sẽ thay thế Thông tư 30? Thông tư 22 được ban hành có gây xáo trộn gì trong các hoạt động dạy – học và đánh giá học sinh tiểu học ở các nhà trường hiện nay?

    Trả lời: Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 22 nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Thông tư 30 chứ không thay thế Thông tư 30. Do đó, khi Thông tư 22 có hiệu lực (từ ngày 06/11/2016), việc đánh giá học sinh tiểu học thực hiện theo các quy định của Thông tư 30 và những sửa đổi, bổ sung được quy định trong Thông tư 22, thể hiện trong văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28/9/2016 Thông tư đánh giá học sinh tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Thực tế chỉ có một số điểm được sửa đổi, bổ sung nhằm giúp cho giáo viên, nhà trường dễ dàng thực hiện hơn, khắc phục những khó khăn đã gặp phải khi thực hiện Thông tư 30 trong thời gian qua.

    Các tư tưởng nhân văn: đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, không so sánh học sinh này với học sinh khác, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh,… trong Thông tư 30 vẫn được kế thừa và phát triển trong Thông tư 22.

    Trong thời gian Thông tư 22 chưa có hiệu lực, giáo viên vẫn đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30.

    Thời điểm Thông tư 22 có hiệu lực (ngày 06/11/2016) cũng chính là thời điểm chuẩn bị cho việc đánh giá giữa học kì I theo kế hoạch thời gian năm học 2022-2017. Do đó, việc ban hành Thông tư 22 sẽ không gây xáo trộn gì trong các hoạt động dạy – học và đánh giá học sinh tiểu học ở các nhà trường.

    2. Tại sao việc đánh giá định kỳ đối với từng môn học, hoạt động giáo dục và từng năng lực, phẩm chất lại theo ba mức?

    Trả lời: Thông tư 30 quy định đánh giá học sinh về học tập theo hai mức: Hoàn thành hoặc Chưa hoàn thành. Qua thực tiễn cho thấy việc quy định như vậy phần nào chưa động viên được những học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục ở mức độ tốt, mức cao hơn so với yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng. Mặt khác, tâm lí cha mẹ học sinh vẫn còn băn khoăn con mình đã hoàn thành nhưng muốn biết hoàn thành ở mức nào.

    Để khắc phục tình trạng trên, Thông tư 22 quy định việc đánh giá định kì đối với từng môn học, hoạt động giáo dục được lượng hoá thành ba mức Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành. Việc quy định như vậy nhằm xác định rõ mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng để động viên học sinh phấn đấu trong học tập, để cả giáo viên và học sinh cùng điều chỉnh hoạt động, phương pháp dạy và học, đồng thời giúp cha mẹ học sinh nắm bắt rõ hơn mức độ đạt được của con mình và có biện pháp giúp đỡ để các em tiếp tục vươn lên.

    Cùng với mục đích trên, Thông tư 22 quy định việc đánh giá từng năng lực, từng phẩm chất học sinh theo ba mức: Tốt, ĐạtCần cố gắng thay cho hai mức quy định trong Thông tư 30 là Đạt, Chưa đạt.

    Cũng tương tự như đánh giá từng môn học, hoạt động giáo dục, việc lượng hóa thành 3 mức như vậy sẽ giúp giáo viên, cán bộ quản lý, cha mẹ học sinh xác định được mức độ hình thành, phát triển từng năng lực, từng phẩm chất sau một giai đoạn rèn luyện, phấn đấu của học sinh. Từ đó giáo viên, nhà trường, cha mẹ học sinh có những biện pháp kịp thời giúp đỡ học sinh phát huy những điểm tích cực, khắc phục những hạn chế để ngày một tiến bộ hơn.

    3. Vì sao phải thêm bài kiểm tra định kì giữa học kì đối với môn Tiếng Việt và môn Toán ở lớp 4, lớp 5?

    Trả lời: Ở khối lớp 4, lớp 5 cần có thêm bài kiểm tra giữa học kì đối với môn Tiếng Việt và môn Toán vì:

    – Lớp 4, lớp 5 là các lớp cuối cấp tiểu học. Các khối lớp này so với các khối lớp 1, lớp 2, lớp 3 có yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bản ở mức sâu hơn, khái quát hơn, tường minh hơn.

    – Môn Tiếng Việt và môn Toán ở các khối lớp này là hai môn học công cụ, chiếm nhiều thời lượng hơn so với các môn học khác.

    – Tạo điều kiện cho học sinh quen dần với cách kiểm tra đánh giá ở cấp trung học cơ sở và các cấp học cao hơn.

    4. Quy định về hồ sơ đánh giá và việc ghi chép của giáo viên theo Thông tư 22 có gì thay đổi? Trả lời:

    a) Quy định về hồ sơ đánh giá theo Thông tư 22 có sự thay đổi đáng kể

    – Thay vì có 5 loại như trước đây, nay gồm có: Học bạ và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.

    – Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ quy định mẫu “Học bạ” và “Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp” trước khi Thông tư 22 có hiệu lực.

    – Đối với Học bạ học sinh đang dùng được tiếp tục sử dụng và có điều chỉnh cho phù hợp với nội dung theo Thông tư 22 (sẽ được hướng dẫn cụ thể trong khi tập huấn).

    b) Việc ghi chép của giáo viên

    – Trong đánh giá thường xuyên, để có thời gian nhiều hơn dành cho đổi mới phương pháp dạy học và quan tâm, hỗ trợ giúp đỡ học sinh trong quá trình học, thay vì “hàng tháng, giáo viên ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục” như trước đây, nay ngoài việc dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa, khi cần thiết giáo viên viết nhận xét hay những lưu ý đối với học sinh có nội dung chưa hoàn thành hoặc có khả năng vượt trội trong học tập và rèn luyện.

    – Tại thời điểm giữa và cuối mỗi học kì, giáo viên ghi kết quả đánh giá vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.

    – Tại thời điểm cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm ghi kết quả đánh giá học sinh vào Học bạ.

    5. Việc khen thưởng học sinh theo Thông tư 22 có những điểm mới nào?

    Trả lời: Thông tư 22 có những điều chỉnh trong nội dung khen thưởng cuối năm học.

    Cụ thể như sau:

    – Học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện: kết quả đánh giá các môn học đạt Hoàn thành tốt, các năng lực, phẩm chất đạt Tốt; bài kiểm tra định kì cuối năm học các môn học đạt 9 điểm trở lên;

    – Học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất một môn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất được giáo viên giới thiệu và tập thể lớp công nhận;

    Như vậy, tinh thần đổi mới của Thông tư 30 vẫn được tiếp tục kế thừa trong các quy định về khen thưởng trong Thông tư 22 (khen thưởng các học sinh tiến bộ vượt bậc về từng nội dung đánh giá). Song đã quy định rõ ràng hơn về tiêu chí để khen thưởng học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện.

    Các quy định như vậy sẽ cụ thể hơn, giúp cho giáo viên và nhà trường thuận lợi trong việc khen thưởng học sinh, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu không gây áp lực cho học sinh, cha mẹ học sinh và khắc phục được bệnh thành tích trong giáo dục.

    Tải file đính kèm: TT 03 van ban hop nhat ban hanh quy dinh danh gia hoc sinh TH.pdf

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Kết Quả Kiểm Tra, Thẩm Định Tình Hình Dịch
  • Văn Bản Hợp Nhất Số: 01/vbhn
  • Hợp Nhất Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Bộ Công Thương
  • 5 Văn Bản Hợp Nhất Các Thông Tư Về Thuế Và Hóa Đơn
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 03 Của Bộ Giáo Dục
  • Văn Bản Bàn Về Đọc Sách Của Chu Quang Tiềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách (Chi Tiết)
  • Nghệ Thuật Ý Nghĩa Các Văn Bản Đã Học Ở Lớp 9 Bàn Về Đọc Sách
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài)
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Những Trường Hợp Được Xem Là Con Chung Của Vợ Chồng
  • Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc các nhân, mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích lũy ngày đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do sách vở ghi chép, lưu truyền lại. Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hóa học thuật của nhân loại. Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hóa, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát. Nếu xóa bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ, thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm, thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu.

    Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần nhân loại càng phong phú, sách vở tích lũy càng nhiều, thì việc đọc sách cũng ngày càng không dễ. Sách tất nhiên là đáng quý, nhưng cũng chỉ là một thứ tích lũy. Nó có thể làm trở ngại cho nghiên cứu học vấn. ít nhất có hai cái hại thường gặp. Một là, sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu. Các học giả Trung Hoa thời cổ đại do sách khó kiếm, một đời đến bạc đầu mới đọc hết một quyển kinh. Sách tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng đọc, tâm ghi, nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tủy, biến thành một nguồn động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn. Giờ đây sách dễ kiếm, một học giả trẻ đã có thể khoe khoang từng đọc hàng vạn cuốn sách. “Liếc qua” tuy rất nhiều, những “đọng lại” thì rất ít, giống như ăn uống, các thứ không tiêu hóa được tích càng nhiều, thì càng dễ sinh ra bệnh đau dạ dày, nhiều thói xấu hư danh nông cạn đều do lối ăn tươi nuốt sống đó mà sinh ra cả. Hai là, sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng. Bất cứ lĩnh vực học vấn nào ngày nay đều đã có sách vở chất đầy thư viện, trong đó những tác phẩm cơ bản, đích thực, nhất thiết phải đọc chẳng qua cũng mấy nghìn quyển, thậm chí chỉ mấy quyển. Nhiều người mới học tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức lực trên những cuốn sách vô thưởng vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản. Chiếm lĩnh học vấn giống như đi đánh trận, cần phải đánh vào thành trì kiên cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu. Mục tiêu quá nhiều, che lấp mấy vị trí kiên cố, chỉ đá bên đông, đấm bên tây, hóa ra thành lối đánh “tự tiêu hao lực lượng”.

    Đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ. Nếu đọc được 10 quyển sách không quan trọng, không bằng đem thời gian, sức lực đọc 10 quyển ấy mà đọc một quyển thật sự có giá trị. Nếu đọc được mười quyển sách mà chỉ lướt qua, không bằng chỉ lấy một quyển mà đọc mười lần. “Sách cũ trăm lần xem chẳng chán – Thuộc lòng, ngẫm kỹ một mình hay”, hai câu thơ đó đáng làm lời răn cho mỗi người đọc sách. … Đọc ít mà đọc kỹ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất; đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu, như cưỡi ngựa qua chợ, tuy châu báu phơi đầy, chỉ tổ làm mắt hoa, ý loạn, tay không mà về. Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém.

    Sách đọc nên chia làm mấy loại, một loại là sách đọc dẻ có kiến thức phổ thông mà mọi công dân thế giới hiện nay đều phải biết, một loại là sách đọc để trau dồi học vấn chuyên môn. Muốn có kiến thức phổ thông, hiện nay các bài học ở trung học và năm đầu đại học, nếu chăm chỉ học tập thì cũng đủ dùng. Nếu chăm chỉ học tập mà chỉ đọc thuộc giáo trình thì chẳng có ích lợi gì, mỗi môn phải chọn lấy từ 3 đến 5 quyển xem cho kĩ. Môn học kiến thức phổ thông tổng số không quá mời mấy môn, mỗi môn chọn từ 3 đến 5 quyển, tổng cộng số sách cần đọc cũng chẳng qua trên dưới 50 quyển. Đây không thể xem là đòi hỏi quá đáng. Nói chung số sách mà một người đã đọc, phần lớn không chỉ có thế, nếu họ không thu được lợi ích thực sự là do họ thiếu lựa chọn, khi đọc lẽ ra đọc kĩ thì họ lại đọc qua loa.

    Bài viết cùng nội dung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Thuật Biến Chữ Viết Tay Và Tài Liệu Trên Giấy Tờ Thành Văn Bản Máy Tính
  • Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Ôn Tập Chi Tiết Văn Bản Viếng Lăng Bác
  • Soạn Bài Vợ Nhặt (Kim Lân)
  • Ngữ Văn 6 Bài 21 Hướng Dẫn Đọc Hiểu Văn Bản Vượt Thác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100