Top 10 # Xem Nhiều Nhất Tóm Tắt Văn Bản Tổng Quan Văn Học Việt Nam Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Tổng Quan Văn Học Việt Nam

Đặc điểm sáng tác và lưu truyền: Văn học dân gian là những sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động

Văn học dân gian có nhiều thể loại phong phú

Văn học dân gian có tính truyền miệng, tính tập thể và gắn bó với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống

Văn học viết là những sáng tác của tầng lớp tri thức, được ghi lại bằng chữ viết, là sáng tạo của cá nhân mang dấu ấn của tác giả

Các hình thức văn tự:

Chữ Hán: Văn tự của người Hán. Văn học được viết bằng chữ Hán, đọc theo âm Việt.

Chữ Nôm: Chữ cổ của người Việt. ghi âm tiếng Việt bằng chất liệu chữ Hán

Chữ quốc ngữ: ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái La – tinh

Hệ thống thể loại: phát triển theo từng thời kì

Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX:

Chữ Hán: Văn xuôi, thơ, văn biền ngẫu.

Chữ Nôm: Thơ văn biền ngẫu

Đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám – 1945: tự sự, trữ tình, kịch

Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước. Văn học Việt Nam trải qua ba thời kì lớn:

Văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (văn học trung đại)

Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám – 1945

Văn học từ cách mạng tháng tám đến hết thế kỉ XX

Hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á, có quan hệ gao lưu với các vùng trong khu vực

Gồm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm.

Văn học chữ Hán:

Xuất hiện từ thế kỉ X, tồn tại đến thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.

Tiếp nhận những học thuyết lớn của phương Đông như: Nho giáo, phật giáo, tư tưởng Lão Trang.

Tiếp nhận một phần quan trọng hện thống thể loại và thi pháp cổ của văn học Trung Quốc

Nhiều tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

Văn học chữ Nôm.

Phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ XV và đạt tới đỉnh cao cuối thể kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX

Có nhiều thành tựu lớn, cùng với sự xuất hiện và phát triển văn học chữ Nôm, các thể loại văn học truyền thống của dân tộc hình thành và phát triển mạnh, các tác phẩm của các tác giả lớn dễ dàng đến với nhân dân lao động.

Văn học chữ Nôm chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian, phản ánh quá trình dân tộc hóa, dân chủ hóa của văn học trung đại.

Trước 1945

Trải qua một giai đoạn giao thời, từ đầu thế kỉ XX đến những năm ba mươi của thê kỉ XX, Văn học Việt Nam bước vào quỹ đạo của văn học thế giới, tiếp xúc với văn học châu Âu.

Văn học giai đoạn này có sự kế thừa tinh hoa văn học truyền thống, mặt khác tiếp thu tinh hoa của những nền văn học lớn trên thế giới để hiện đại hóa.

Sau 1945

Cách mạng tháng tám – 1945 đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỉ XX.

Văn học phản ánh hiện thực xã hội và chân dung con người Việt Nam với tất cả những phương diện phong phú, đa dạng

Từ 1945 – 1975: Văn học diễn ra trong hoàn cảnh đấu tranh, giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; nhiệm vụ hàng đầu là phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu.

Từ 1975 đến hết thế kỉ XX: Văn học giai đoạn này cùng đất nước bước vào thời kì đổi mới sâu sắc, có sự phát triển mang tính dân chủ sâu sắc, có nội dung nhân bản phong phú và đạt tới phẩm chất nghệ thuật cao.

⇒ Nổi bật nhất của nền văn học thế kỉ XX thuộc về văn học yêu nước và cách mạng, gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Bên cạnh đó, nền văn học Việt Nam đã không ngừng phát triên và hoàn thiện về thể loại.

Tình yêu thiên nhiên là một nội dung quan trọng của nền văn học Việt Nam

Các tác phẩm văn học dân gian kể lại quá trình nhận thức, cải tạo, chinh phục thế giới tự nhiên; phản ánh những hình ảnh tươi đẹp của thiên nhiên Việt Nam.

Trong nền văn học trung đại, hình tượng thiên nhiên gắn với lí tưởng đạo đức, thẩm mĩ

Trong nền văn học hiện đại, hình tượng thiên nhiên thể hiện tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống, đặc biệt là tình yêu đôi lứa.

Phản ánh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc, có một dòng văn học yêu nước phong phú và mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Chủ nghĩa yêu nước là nội dung tiêu biểu, một giá trị quan trọng của nền văn học Việt Nam

Lòng yêu nước thể hiện qua: Tình yêu quê hương, thiên nhiên; niềm tự hào về truyền thống dân tộc, về lịch sử dân tộc; ý chí căm thù quân xâm lược; tinh thần dám hi sinh vì độc lập tổ quốc…

Văn học thể hiện ươc mơ về sự công bằng, tốt đẹp

Chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa hiện thực là hai nội dung xuyên suốt nền văn học Việt Nam: Lên án tố cáo, phê phán chế độ chuyên quyền; bày tỏ sự thương cảm đối với những người bị áp bức, đòi tự do….

Xu hướng của sự phát triển của văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với những phẩm chất tốt đẹp như: nhân ái, vị tha, thủy chung, yêu nước…

Văn học Việt Nam đã ghi lại quá trình tìm kiếm, lựa chọn các giá trị để hình thành đạo lí làm người.

Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, văn học để cao ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân nhưng cũng có những giai đoạn con người cá nhân được các nhà văn nhà thơ đề cao, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, 1930-1945 và văn học từ thời kỳ đổi mới 1986 đến nay.

Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam

Soạn bài Tổng quan văn học Việt Nam

Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Sơ đồ các bộ phận và sự phát triển của văn học Việt Nam

Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước. Nhìn tổng quát, văn học Việt Nam đã trải qua ba thời kì lớn:

– Văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (văn học trung đại): hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á có giao lưu với nhiều nền văn hóa trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.

– Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945.

– Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX.

Hai thời kì văn học sau (bao gồm : Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 và Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX) phát triển trong bối cảnh sự giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, tiếp thu tinh hoa văn học của nhiều nước trên thế giới, được gọi chung là văn học hiện đại.

1. Văn học trung đại (VHTĐ)

Văn học trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

– Văn học chữ Hán :

+ Chính thức được hình thành vào thế kỉ X, khi dân tộc Việt Nam giành được chủ quyền từ tay thế lực đô hộ phương Bắc.

+ Là phương tiện để nhân dân ta tiếp nhận những học thuyết lớn của phương Đông và hệ thống thi pháp, thể loại của văn học cổ – trung đại Trung Quốc.

+ Nhiều tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

+ Tác phẩm tiêu biểu: Bình Ngô Đại cáo (Nguyễn Trãi), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), …

– Văn học chữ Nôm:

+ Phát triển mạnh từ thế kỉ XV và đạt đỉnh cao vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.

+ Là kết quả của lịch sử phát triển văn hóa dân tộc; đồng thời là bằng chứng hùng hồn cho ý chí độc lập và chủ quyền quốc gia.

+ Giúp hình thành nên các thể loại văn học dân tộc; gắn với những truyền thống của văn học trung đại như lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo, tính hiện thực, tính dân tộc – dân chủ hóa, …

+ Tác phẩm tiêu biểu: Đỉnh cao của văn học viết bằng chữ Nôm là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ngoài ra còn có: Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn), …

2. Văn học hiện đại (VHHĐ

Văn học hiện đại đã có mầm mống từ cuối thế kỉ XIX, nhưng phải đến đầu những năm 30 của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới thực sự bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại. Văn học Việt Nam hiện đại được viết chủ yếu bằng chữ Quốc ngữ, với số lượng tác giả và tác phẩm đạt quy mô chưa từng có.

– Văn học hiện đại mang một số đặc trưng nổi bật như sau:

+ Về tác giả: xuất hiện đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp, lấy việc viết văn, sáng tác thơ làm nghề nghiệp.

+ Về đời sống văn học: nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại, tác phẩm văn học đến đời sống nhanh hơn, mối quan hệ qua lại giữa tác giả với độc giả vì thế mật thiết hơn, đời sống văn học sôi nổi, năng động hơn.

+ Về thể loại: Các thể loại thơ mới, tiểu thuyết, kịch, … dần thay thế thể loại cũ và trở thành hệ thống.Một vài thể loại của văn học trung đại vẫn tiếp tục tồn tại song không giữ vai trò chủ đạo.

+ Về thi pháp: Hệ thống thi pháp mới dần thay thế lối viết sùng cổ, ước lệ, phi ngã của văn học trung đại. Lối viết hiện thực, đề cao cá tính, đề cao “cái tôi” cá nhân dần được khẳng định.

– VHHĐ được chia thành 2 giai đoạn chính:

+ Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: Đây là giai đoạn được đánh giá một ngày bằng ba mươi năm, văn học có nhiều cách tân đổi mói với ba dòng văn học:

Văn học hiện thực ghi lại không khí ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến .

Văn học lãng mạn đề cao cái tôi cá nhân, đấu tranh cho hạnh phúc và quyền sống cá nhân.

Văn học cách mạng phản ánh và tuyên truyền cách mạng, góp phần đắc lực vào công cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc.

+ Giai đoạn Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX: Đây là giai đoạn văn học có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng,tập trung phản ánh sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc xây dựng XHCN; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đi sâu vào những tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam trước những vấn đề mới mẻ của thời đại.

Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm về chính trị, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam qua nhiều thời kì trong nhiều mối quan hệ đa dạng :

– Con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên: Đây là một nội dung quan trọng, xuyên suốt trong văn học Việt Nam, thể hiện rõ qua ba giai đoạn phát triển của văn học dân tộc:

+ Văn học dân gian kể lại quá trình ông cha ta nhận thức, cải tạo, chinh phục thế giới tự nhiên; miêu tả thiên nhiên đầy tươi đẹp, thân thiết và gần gũi với đời sống của con người.

+ Văn học trung đại gắn vẻ đẹo của thiên nhiên với quan niệm thẩm mỹ của con người.

+ Văn học hiện đại miêu tả thiên nhiên gắn liền với những cảm xúc giản dị trong cuộc sống của con người: tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống; tình cảm lứa đôi.

– Con người Việt Nam trong quan hệ quốc gia dân tộc:

+ Là phần nội dung quan trọng, phong phú và mang giá trị nhân văn sâu sắc, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam.

+ Được văn học đề cập đến ở nhiều khía cạnh như: tinh thần yêu nước, tình yêu làng xóm, yêu quê cha đất tổ, căm ghét các thế lực giày xéo quê hương, ý thức về quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh, khát vọng tự do, độc lập….

+ Tinh thần yêu nước là nội dung tiêu biểu, mang những giá trị quan trọng của văn học Việt Nam.

– Con người Việt Nam trong quan hệ xã hội:

+ Thể hiện lòng nhân ái và mơ ước về một xã hội công bằng, tốt đẹp.

+ Lên tiếng tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dân bị áp bức trong xã hội có giai cấp đối kháng.

+ Là một tiền đề quan trọng cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo trong văn học dân tộc.

– Con người Việt Nam và ý thức về bản thân:

+ Văn học đã ghi lại quá trình tìm kiếm, lựa chọn các giá trị để hình thành đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam.

+ Trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trung tâm của văn học (cộng đồng hoặc cá nhân) có những giá trị và cách phản ánh riêng.

+ Xu hướng chung của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như: nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, giàu đức hi sinh, …

Nội dung chính

Văn học Việt Nam có hai bộ phận lớn: văn học dân gian và văn học viết. Văn học viết Việt Nam gồm văn học trung đại và văn học hiện đại, phát triển qua ba thời kì, thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam.

Học văn học dân tộc là để tự bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tình cảm, quan niệm thẩm mĩ và trau dồi tiếng mẹ đẻ.

Bài giảng: Tổng quan văn học Việt Nam – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Tóm Tắt Văn Bản Tôi Đi Học

Tóm tắt văn bản tôi đi học bằng một đoạn văn ngắn gọn được sưu tầm và đăng tải. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho quá trình dạy và học của quý thầy cô giáo và các em học sinh, giúp những tiết học Văn sinh động và hiệu quả hơn. Mời các em tham khảo.

Tóm tắt văn bản tôi đi học

Tóm tắt văn bản tôi đi học – Bài tham khảo 1

Tác giả Thanh Tịnh vẫn còn nhớ như in ngày đầu tiên đến trường. Đó là một buổi sáng mùa thu, lá rụng nhiều, tiết trời se lạnh. Con đường đến trường đối với chú bé ấy vốn đỗi quen thuộc bỗng dưng trở nên lạ lẫm. Trong khoảnh khắc vui sướng pha lẫn hồi hộp, e dè, chú bé có những ý nghĩ thật non nớt và ngây thơ: “Chắc chỉ có người thạo mới cầm nổi bút thước”. Trong bộ quần áo mới, tác giả Thanh Tịnh càng “thấy mình trang trọng và đứng đắn” hơn, những suy nghĩ nhẹ nhàng lướt qua như làn mây trắng xốp bồng bềnh. Lúc tới trường, nghe ba hồi trống, lòng chú bé lo sợ vẩn vơ, sợ những điều mới lạ và khó khăn trước mắt. Những lời nói của ông đốc ấm áp vang lên, khuyến khích những chú chim non vào lớp. Nhân vật tôi trong phút chốc đã òa khóc, nhưng người mẹ đã nhẹ nhàng giúp con vào lớp. Chú bé nhìn bàn ghế, người bạn ngồi kế bên và cảm thấy thân quen dẫu chưa bao giờ gặp gỡ. Rồi quàng tay lên bàn, ngoan ngoãn đánh vần dòng chữ thầy giáo viết: “Tôi đi học”…

Tóm tắt văn bản tôi đi học – Bài tham khảo 2

Tôi vẫn còn nhớ như in ngày đầu tiên đến trường. Đó là một buổi sáng mùa thu, lá rụng nhiều, tiết trời se lạnh. Con đường đến trường đối với tôi vỗn đỗi quen thuộc bỗng dưng trở nên lạ lẫm. Trong khoảnh khắc vui sướng pha lẫn hồi hộp, e dè, tôi có những ý nghĩ thật non nớt và ngây thơ: “Chắc chỉ có người thạo mới cầm nổi bút thước”. Trong bộ quần áo mới, tôi càng “thấy mình trang trọng và đứng đắn” hơn. Lúc tới trường, nghe ba hồi trống, lòng tôi lo sợ vẩn vơ, sợ những điều mới lạ và khó khăn trước mắt. Những lời nói của ông đốc ấm áp vang lên, khuyến khích những chú chim non vào lớp. Chúng tôi trong phút chốc đã òa khóc, nhưng người mẹ đã nhẹ nhàng giúp chúng tôi vào lớp. Tôi nhìn bàn ghế, người bạn ngồi kế bên và cảm thấy thân quen dẫu chưa bao giờ gặp gỡ. Rồi quàng tay lên bàn, ngoan ngoãn đánh vần dòng chữ thầy giáo viết: “Tôi đi học”…

Theo chúng tôi

Tóm Tắt Văn Bản: Lão Hạc (Nam Cao)

I. Tóm tắt tác phẩm

Truyện kể về Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn góa vợ và có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su ở miền nam. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con. Từ khi đứa con trai đi, lão chỉ có con chó Vàng làm bạn, lão chỉ có con chó để làm khuây. Lão gọi nó là cậu Vàng, lão cho nó ăn cơm trong cái bát như nhà giàu, lão ăn gì cũng chia cho nó cùng ăn.

Sau khi thằng con đi, hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu lão để riêng ra, lão chắc mẩm đến lúc con lão về cũng có được một trăm đồng bạc. Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng. Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm đã mang ra dùng gần hết và vì lão cũng đã “tàn sức” rồi, người ta làm tranh hết việc của lão. Dù rất yêu quý con chó Vàng nhưng vì muốn dành dụm số tiền còn lại cho con trai nên lão đã quyết định bán con chó đi. Bán con chó đi, lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một “tội lỗi” là đã nỡ tâm “lừa một con chó”. Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng. Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà bất thình lình như vâyj, chỉ có ông giáo và Binh Tư là hiểu.

II. Nội dung và ý nghĩa của tác phẩm

Tác phẩm thể hiện về cuộc đời của nhân vật Lão Hạc, phản ánh hiện thực số phận của người nông dân trước CM tháng Tám qua tình cảnh của lão Hạc và thể hiện tấm lòng của nhà văn trước số phận đáng thương của một con người.

Văn bản thể hiện phẩm giá của người nông dân không bị hoen ố cho dù phải sống trong hoàn cảnh khốn cùng, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.