Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng

--- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Nhân Vật Ông Hai, Truyện Ngắn “làng”
  • Bài Tập Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích) (Có Đáp Án).
  • Văn Mẫu Lớp 9: Nghị Luận Văn Học Về Bài Lặng Lẽ Sa Pa
  • Các Nhận Định Về Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • 6 Bài Vănthuyết Minh Về Một Văn Bản, Một Thể Loại Văn Học Đơn Giản
  • Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì, Sách Im Lặng, Quy ước Xây Dựng Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Trường Đại Học Văn Lang, Mức Học Phí Của Trường Đại Học Văn Lang, Quy Định ăn Mặc Vào Lăng Bác, Lặng Yên Dưới Vực Sâu, Lập Làng Giữ Biển, Lịch Học Văn Lang, Mẫu Powerpoint Lãng Mạn, Truyện Ma Làng Quê, Truyện Ma Làng Tôi, Văn Tế Đình Làng, Nguyên Tắc Im Lặng, Nội Dung Bài Làng, Văn Bản Viếng Lăng Bác, Nội Dung Bài Lặng Lẽ Sa Pa, Truyện Ma Làng, Truyện Ma Im Lặng, Văn Tế ở Đình Làng, Xét Tuyển Đợt 2 Đại Học Văn Lang, Luật Im Lặng, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang Đợt 3, Luật Im Lặng Pdf, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang, Viếng Lăng Bác, Nội Quy Đình Làng, Mẫu Giấy Mời Hội Làng, ôn Tập Bài Hát Bạn ơi Lắng Nghe, 9 Nguyên Tắc Văn Hoá Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Đại Học Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Văn Lang, Dàn Bài Viếng Lăng Bác, Dàn ý Im Lặng Là Vàng, Cây Đinh Lăng, Bai Tap Mai Lang Huong Lop 8, Nôi Dung Đơn Xin Xây Lăng Mộ, Hương ước Và Lệ Làng, Hương ước Lệ Làng, Hương ước Làng Xã, Hương ước Làng Mỹ Khê, Sấy Khoai Lang, Bìa Hương ước Làng, Danh Mục Cá Làng Xã Bắc Kỳ, 9 Nguyên Tắc Văn Lang, Bài Giảng Lặng Lẽ Sa Pa, Lắng Nghe Gió Hát, Bài Tập Làm Văn Viếng Lăng Bác, Lăng Cảnh Phú, Bình Làng, Làng Nghề,

    Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Tóm Tắt Sống Chết Mặc Bay Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Truyện Ngắn Làng Lớp 9 Vietjack
  • Tóm Tắt Truyện: Làng Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Bài 25. Trả Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Môn Văn Lớp 9 Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Làng Của Kim Lân.ngữ Văn Lớp 9
  • Tập Đọc Lớp 5: Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa
  • Tập Đọc : Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa
  • Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa, Tập Đọc Trang 10, 11 Sgk Tiếng
  • Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Trang 10, 11 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 1
  • Chúng tôi giới thiệu đến các em bài tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn 9, giúp các em khái quát được nội dung tác phẩm. Đồng thời cũng giúp cho việc phân tích truyện ngắn Làng dễ dàng, hiệu quả hơn.

    1.1. Bài làm 1: Tóm tắt bài Làng của Kim Lân

    1.2. Bài làm 2: Tóm tắt văn bản Làng Kim Lân

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

    Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

    Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

    1.3. Bài làm 3: Tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn lớp 9

    – Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

    – Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

    – Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

    – Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

    – Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

    – Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

    1.4. Bài làm 4: Tóm tắt văn bản Làng của Kim Lân lớp 9

    Các em CLICK vào file tải bên dưới để xem full mẫu bài làm 4: Ngữ Văn 9 tóm tắt văn bản làng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Bản Làng Của Nhà Văn Kim Lân Ngữ Văn 9
  • Phương Pháp Viết Mở Bài, Kết Bài Hay
  • Phân Tích Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Mở Bài Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân, 4 Cách Mở Bài
  • Tóm Tắt Nội Dung Chính, Lập Dàn Ý Phân Tích, Bố Cục
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 10 Bài 16: Định Dạng Văn Bản
  • Giáo Án Môn Tin Học 10
  • Tóm Tắt Lão Hạc 10 Dòng
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao
  • Soạn Bài Trao Duyên (Chi Tiết)
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản làng lớp 9 ngắn gọn của Kim Lân ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản làng này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản làng

    Tóm tắt văn bản làng – bài 1

    Tóm tắt văn bản làng – bài 2

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

    Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

    Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 3

    Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

    Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

    Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

    Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

    Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

    Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 4

    Ông Hai là một người nông dân sinh ra và lớn lên ở làng Chợ Dầu. Ông có một tinh thần yêu làng hết sức đặc biệt. Dù ở đâu, bất cứ lúc nào ông cũng có thể khoe về làng mình. Vì tuổi cao sức yếu, ông phải cùng vợ con đi tảo cư không được ở lại làng tham gia kháng chiến. Ở nơi tản cư, ông lại tiếp tục khoe về làng: có phòng thông tin, có chòi phát thanh và khoe luôn cả cái sinh phân của cụ thượng làng ông. Tin làng Chợ Dầu theo giặc khiến ông đau đớn, xót xa, nhục nhã. Ông không dám đi đâu không dám nhìn ai và thương cho những đứa con mình. Ông càng bế tắc tuyệt vọng khi bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi với lý do không chứa người làng Việt gian. Khi tin làng theo giặc được cải chính, ông sung sướng hạnh phúc khoe về làng mình mặc dù nhà ông bị giặc đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 5

    Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng.. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân Hay Nhất Chọn Lọc
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Của Kim Lân Ngắn Gọn Nhất
  • Luyện Gõ 10 Ngón Bằng Mario Teaches Typing Online, Game Luyện Đánh Máy Cực Hấp Dẫn
  • Đề Đọc Hiểu Ngữ Văn 10 Có Đáp Án
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Viết Đoạn Văn Và Bài Văn Thuyết Minh Về Tác Giả, Tác Phẩm Văn Học Cho Học Sinh Lớp 9
  • Soạn Bài Viết Đoạn Văn Trong Văn Bản Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Qua Nhân Vật Kiều Phương Trong Văn Bản Bức Tranh Của Em Gái Tôi, Em Hãy Viết Đoạn Văn Nêu Suy Nghĩ Của Mình Về Lòng Nhân Hậu Và Vị Tha
  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Ông Hai Trong Làng Tác Giả Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Tác Giả Kim Lân
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản làng lớp 9 ngắn gọn của Kim Lân ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản làng này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 1

    Tóm tắt văn bản làng – bài 2

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

    Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

    Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 3

    Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

    Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

    Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

    Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

    Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

    Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 4

    Ông Hai là một người nông dân sinh ra và lớn lên ở làng Chợ Dầu. Ông có một tinh thần yêu làng hết sức đặc biệt. Dù ở đâu, bất cứ lúc nào ông cũng có thể khoe về làng mình. Vì tuổi cao sức yếu, ông phải cùng vợ con đi tảo cư không được ở lại làng tham gia kháng chiến. Ở nơi tản cư, ông lại tiếp tục khoe về làng: có phòng thông tin, có chòi phát thanh và khoe luôn cả cái sinh phân của cụ thượng làng ông. Tin làng Chợ Dầu theo giặc khiến ông đau đớn, xót xa, nhục nhã. Ông không dám đi đâu không dám nhìn ai và thương cho những đứa con mình. Ông càng bế tắc tuyệt vọng khi bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi với lý do không chứa người làng Việt gian. Khi tin làng theo giặc được cải chính, ông sung sướng hạnh phúc khoe về làng mình mặc dù nhà ông bị giặc đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 5

    Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng.. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Đeo Nhạc Cho Mèo Và Phân Tích Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Trong Văn Bản
  • Khái Quát Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Lao Xao
  • Chuyển Nội Dung Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Ra Văn Xuôi, Hạt Gạo Làng Ta Được Làm Nên Từ Những Tinh Tuý Của Đất Đai, Đậm Đà Vị Phù Sa Của
  • Điều Tác Giả Muốn Gửi Gắm Qua Bài Hạt Gạo Làng Ta Là Gì
  • Tuần 14. Hạt Gạo Làng Ta
  • Soạn Bài + Tóm Tắt Văn Bản Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Văn 9 Trang 28 Ngắn Gọn Nhất: Cho Đề Bài: Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam
  • Soạn Bài: Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Nhất
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Một Tác Phẩm Tự Sự Đã Học Trong Chương Trình Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Làng Ngắn Nhất
  • 1 – Tác giả:

    – Tên khai sinh Nguyễn Văn Tài (1920 – 2007), quê Từ Sơn – Bắc Ninh.

    – Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Kim Lân chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết văn từ năm 1941.

    – Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc cuộc sống nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Một số truyện đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.

    – Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê, qua đó góp phần biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân.

    – Sau cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn và vẫn viết về làng quê Việt Nam – mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc.

    – Ngoài hoạt động sáng tác, nhà văn Kim Lân còn tham gia sân khấu và điện ảnh,ông kịch, đóng phim. (Tiêu biểu là vai Lão Hạc trong bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”)

    – Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông mất năm 2007, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn.

    – Các tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng, Vợ nhặt, Con chó xấu xí, Làng,…

    2. Tác phẩm:

    – “Làng” được viết và đăng báo trên tạp chí Văn nghệ năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì này thì người dân nghe theo chính sách của chính phủ: kêu gọi nhân dân ta tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài.

    – Kim Lân kể lại: “Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán. Trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng Việt gian. Mọi người đều nhìn những người dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường. Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp. Tôi viết truyện ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi”. (Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

    – Đoạn 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Đoạn 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Đoạn 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông

    không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    b. Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”:

    – Đó là khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    a. Trước khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:

    – Nhớ làng da diết – muốn về làng, muốn tham gia kháng chiến.

    – Mong nắng cho Tây chết.

    b. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

    – Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    – Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông”cúi gằm mặt mà đi”. Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    – Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    – Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn. Quê hương và Tổ quốc, bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Cuối cùng, ông đã quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    c. Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu. Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”. Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật.

    1. Nội dung:

    Truyện thể hiện chân thực, sinh động tình cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách.

    -Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật).

    -Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc,tinh tế.

    -Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9
  • Soạn Bài Lớp 6: Phương Pháp Tả Cảnh
  • Tả Lũy Tre Làng Em
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh
  • Phân Tích Tình Huống Độc Đáo Trong Truyện Ngắn Làng
  • Tóm Tắt Truyện Làng Của Kim Lân.ngữ Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Đọc Lớp 5: Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa
  • Tập Đọc : Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa
  • Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa, Tập Đọc Trang 10, 11 Sgk Tiếng
  • Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Trang 10, 11 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 1
  • Tập Đọc: Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa
  • Làng Chợ Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống

    Làng Chợ Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn, mười mấy năm trước mới lần hồi trở về quê quán.

    Ông Hai hay làm, không mấy lúc chịu ngơi tay, không đi cày đi cuốc, gánh phân tát nước thì ông đan rổ rá hay chữa lại cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp.

    Ông Hai lại có tính hay khoe cái làng Dầu của ông. Nào là nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Nào là đường trong làng toàn lát đá xanh… Nào là làng

    Ông có cái sinh phần của viên tổng đốc, cái dinh cơ ấy “lăm lắm là của, vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy”.

    Nhưng từ ngày khởi nghĩa, ông Hai không bao giờ đả động đến cái làng ấy nữa, ông thù nó. Xây cái lăng ấy, cả làng phải phục dịch, còn ông thì bị một chồng gạch đổ vào bại một bên hông, đến nay cái chân vẫn còn đi khấp khểnh. Bây giờ khoe làng, ông Hai lại khoe khác. Khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi lập một hai. Khoe làng Chợ Dầu có nhiều hố, ụ, những giao thông hào. Những công trình ở xóm Ba Khu, ở Ngõ Mái… không để đâu hết. Ông khoe cái làng Chợ Dầu có phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre.

    Kháng chiến bùng nổ, bà con làng Chợ Dầu đi tản cư. Nhưng ông Hai vẫn ở lại làng cùng anh em đào đường, đắp ụ… Trong lúc hữu sự, ông không nỡ bỏ làng ra đi. Nhưng rồi gia cảnh gieo neo, ba đứa con dại, một mình hà Hai xoay xỏa nơi tản cư, vốn liếng lại không có, ông Hai bất đắc dĩ phải nghe theo lời khẩn khoản của vợ để ra đi. Ông buồn khổ lắm, chỉ biết tự an ủi: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Môn Văn Lớp 9 Hay Nhất
  • Soạn Văn Bản Làng Của Nhà Văn Kim Lân Ngữ Văn 9
  • Phương Pháp Viết Mở Bài, Kết Bài Hay
  • Phân Tích Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Mở Bài Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân, 4 Cách Mở Bài
  • Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi
  • Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825
  • Tóm tắt văn bản Làng mẫu số 1

    Truyện Làng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, một lòng đi theo cách mạng

    Truyện ngắn Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân, nhân vật chính của truyện là ông Hai. Ông Hai là một người con của làng chợ Dầu, cũng như những người nông dân yêu nước khác ông đi theo cách mạng, làng chợ Dầu của ông cũng yêu cách mạng, đấu tranh cho cuộc kháng chiến rất oanh liệt. Ông Hai rất tự hào về cái làng Dần của mình, không kể được tình yêu của ông dành cho ngôi làng nghèo mà đượm tịnh đượm nghĩa như vậy. Do hoàn cảnh bắt buộc phải tàn cư không thể ở lại làng cùng anh em mà chiến đấu, ông Hai buồn lắm. Không còn cách nào khác ông tự tặc lưỡi “thôi thì đi tản cư cũng là kháng chiến”. Sống ở nơi tản cư bó buộc cả về vật chất lẫn tinh thần, ngoài những lúc làm việc cứ ngơi ra là ông Hai nghĩ về Làng, ông nhớ Làng da diết, ông thường sang nhà bác Thứ hàng xóm uống nước rồi thao thao kể lại những chuyện hồi ở làng, chuyện đánh giặc, bắt Tây với vẻ tự hào lắm. Một hôm ông Hai lân la ra phòng thông tin để nghe tin tức, trên đường về ông lão gặp một nhóm tản cư từ dưới lên. Thấy dân tản cư ông lại xấn tới hỏi han chuyện làng quán, bất ngờ ông hay tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Tin làng chợ Dầu làm Việt gian theo Tây chẳng khác nào như một tin dữ ập đến, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, “tưởng như không thở được”. Ông cúi gằm mặt xuống đi về, về đến nhà ông lão bằm vật xuống giường như mất hết sức lực, trong đầu ông không thể tưởng tượng được có một ngày làng chợ Dầu làm Việt gian, ông nhẩm đếm lại một lượt những người trong làng, toàn những người yêu nước, họ đã ở lại để chiến đấu không thể theo Tây được, nhưng ai hơi đâu mà bịa chuyện. Bao nhiêu suy nghĩ nhảy múa trong đầu, giằng xe nhau. Từ sau khi nghe tin đó, ông không dám ra khỏi nhà, ông nghe ngóng mọi người bàn tán, ông xấu hổ không dám nhìn ai, ông sợ mọi người biết chuyện làng chợ Dầu của ông theo Tây thì thật không còn đất mà sóng. Khi mụ chủ nhà bóng gió đòi đuổi cả nhà ông đi thì chủ tịch xã đích thân đi cải chính, làng Dầu của ông không theo Tây. Đây là chuyện vui như bắt được vàng, ông lão đi khoe khắp nơi, đến cái nhà của ông bị Tây đốt nhẵn nhụi mà ông cũng xem đó như thể chuyện vui nhất đời.

    Tóm tắt văn bản Làng mẫu 2

    Ông Hai là một người con của làng Dầu, cũng như bao nhiêu người con khác ông rất yêu quê hương, yêu làng xóm của mình. Kháng chiến chống Pháp theo chủ trương của chính phủ động viên mọi người đi sơ tản, gia đình ông cũng thuộc diện ra đi. Thật tâm trong lòng ông không hề muốn đi một chút nào, ông muốn ở lại cùng những người anh em của mình chiến đấu để giữ làng, giữ nước. Thế nhưng nhìn vợ con cám cảnh ở nơi tản cư không có người nương tựa ông đành dứt áo ra đi, âu “đi tản cử cũng là kháng chiến” nghĩ vậy lòng ông nhẹ nhõm thanh thản đi một chút. Đến nơi tản cư như đi tù, ông luôn khó chịu, bực bội với tất cả mọi thứ: gian nhà nhỏ tối ẩm thấp, tiếng lầm rầm tính tiền của vợ lão, mụ chủ nhà tham ăn chửi tục, nguyên nhân cho tất cả những bực bội đó là bởi vì ông nhớ nhà, nhớ quê hương. Thân thể ông Hai ở nơi đây nhưng tâm trí ông lại ở lại làng Dầu. Niềm vui nho nhỏ mỗi ngày của ông Hai là sang nhà bác Thứ hàng xóm thao thao kể chuyện về làng ông, những trận đánh Tây cùng với mọi người. Mỗi khi kể về những chuyện trước đó ông lại càng nhớ quê nhiều hơn. Một hôm cũng như các hôm khác ông ra phòng thông tin để nghe tin tức, sở dĩ ông phải giả vờ xem ảnh rồi nghe lỏm người ta đọc báo là bởi vì ông Hai đọc không thạo. Nghe đọc tin tức quân ta thắng liên tiếp nhiều trận khiến lòng ông như nhảy múa, ông ghé ngay quán nước nhấp ngụm trà, hút điếu thuốc lào như tự thưởng cho mình. Trong quán nước bỗng ông nghe được tin của mấy người tản cư từ dưới lên đồn nhau làng Dầu của ông theo Tây làm Việt gian, hỡi ôi tin đó như sét đánh, “tưởng như không thể thở được” “cổ họng nghẹn lại”. Ông bước về nhà nằm vật xuống không thể tin vào những gì mình vừa nghe thấy, liền mấy ngày sau đó ông không bước ra khỏi nhà một bước, vừa xấu hổ, vừa tủi nhục, vừa buồn bã. Đã thế bà chủ nhà nghe tin đồn cũng có ý muốn đuổi nhà ông đi, ông Hai não nề, không có nơi nào chứa chấp người của làng Việt gian hết, ông cũng không thể về quê, về quê để càng đau lòng hơn hay sao. Đang lúc rối rắm thì trưởng thôn Dầu cải chính, đó chỉ là tin đồn thất thiệt, ông Hai vui mừng khôn siết, ông nhảy múa đi khoe khắp nơi cái tin được cải chính đó, ông khoe nhà ông bị đốt sạch sẽ rồi, làng ông bị Tây đánh nhưng vẫn kiên cường.

    Nhân vật ông Hai có lòng yêu nước rất sâu sắc

    Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 3

    Kim Lân là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam, truyện ngắn Làng được ngay giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1948. Chuẩn bị cho cuộc kháng chiển trường kỳ của dân tộc chính phủ kêu gọi người dân hãy di tản từ vùng tam chiến đến chiến khu. Truyện ngắn “Làng” đề cao tinh thần yêu nước, yêu quê hương. Qua nhân vật chính thể hiện một cách chân thực, cảm động về tinh thần kháng chiến của người dân, dù có ở nơi tản cư cũng một lòng hướng về cuộc kháng chiến. Truyện xoay quanh nhân vật ông Hai, gia đình ông Hai nghe theo chính phủ đi di tản, tuy ông và gia đình ở nơi tản cư nhưng ông vẫn không nguôi ngoai được nỗi nhớ quê nhà, hàng ngày ông momg ngóng tin tức về làng chợ Dầu của ông. Dẫu cuộc sống ở nơi tản cư rất khó khăn nhưng cứ nghe tin chiến thắng của dân ta lại khiến ông vui vẻ, bỗng một hôm ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo Tây, tin tức đó với ông như một cú sốc lớn đên “không thể thở nổi”. Từ sau khi nghe tin đồn đó ông Hai không dám bước chân ra khỏi nhà, ông sợ ánh mắt soi mói dòm ngó của hàng xóm xung quanh, rồi đây mấy đứa con của ông sẽ bị mang danh là người của làng Việt gian. Sự thất vọng, sự xấu hổ cũng không sánh bằng nỗi buồn trong ông. Đang lúc bị chủ nhà đuổi đi vì không chứa dân Việt gian thì tin đồn được cải chính, tin này vui đến mức ruột gan ông như nhảy múa, từ bây giờ ông lại có thể ngẩng cao đầu với mọi người, các con của ông lại được làm người rồi.

    Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 4

    Ông Hai dù ở nơi tản cư vẫn một lòng hướng về quê hương

    Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là câu chuyện kể về một lão nông tên là Hai, ông Hai sinh ra và lớn lên ở làng chợ Dầu, ông luôn tự hào về quê hương của mình có những con người kiên trung, dũng cảm, một lòng đi theo cụ Hồ, đi theo cách mạng. Khi phải từ bỏ quê hương cùng gia đình đi tản cư lòng ông đau như cắt. Ở nơi ở mới nhưng một lòng ông vẫn đau đáu nhớ về làng chợ Dầu. Để vơi bớt nỗi nhớ quê hương hàng ngày ông đều đi sang nhà bác hàng xóm rồi thao thao kể chuyện làng ông với niềm tự hào, ông kể làng chợ Dầu ông đường toàn lát đá xanh, khắp đường làng cuối xóm bùn không dính đến gót chân, rồi làng chợ Dầu của ông có phòng thông tin tuyên truyền rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao bằng ngọn tre. Bao giờ câu chuyện của ông Hai cũng bắt đầu một cách say sưa, hào hứng khi kể về làng và kết thúc bằng giọng chùng xuống, ánh mắt đượm buồn “lần này đi không biết đến bao giờ mới được quay trở lại”. Cuộc sống ở nơi tản cư không có công việc cộng thêm nỗi nhớ quê khiến ông lão lúc nào cũng bực bội, ông càu gắt vợ con, chuyện gì cũng làm cho ông không vừa mắt, từ chuyện gian nhà thấp, tối bộn bề với những dây quần áo ẩm sì, tiếng mụ chủ nhà reo réo chửi những trưa hè, chuyện đàn gà của mụ vặt hết luống rau ông trồng rồi chuyện vợ ông rì rầm tính toán tiền nong. Khi bực bội chỉ có cách đi ra khỏi ngôi nhà đó mới thấy nhẹ nhõm, một hôm ông đến phòng thông tin để nghe lỏm người ta đọc tin tức trên mấy tờ báo, nghe tin thắng trận của quân ta làm ruột gan ông lão vui đến nhảy múa cả lên, ông náo nức bước ra quán nước ngồi gặp một đám người cũng là dân tản cư dưới xuôi lên, ông lân la hỏi chuyện làng Dầu thì hay tin làng chợ Dầu của ông bây giờ đã theo Tây hết. Chuyện làng Dầu theo Tây làm ông lão xấu hổ tới mức ông đứng dậy giả vờ vươn vai, cười nhạt một tiếng, đánh lảng sang chuyện khác rồi đi về. Mấy ngày hôm sau ông không bước chân ra ngoài nửa bước, ông sợ hàng xóm nhắc đến hai chữ “Việt gian” lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như đang bàn chuyện làng ông. Đã vậy mụ chủ nhà đã đánh tiếng là không muốn cho nhà ông ở nữa vì “có lệnh đuổi hết Việt gian theo Tây không cho ở vùng này nữa” Ông Hai lặng ngồi, đầu óc rồi bời, biết đi đâu bây giờ, ở đâu người ta cũng xua đuổi, mà nếu không xua đuổi thì mình cũng không còn mặt mũi nào mà đi đến đâu được nữa. Ông cũng không thể về làng vì làng đã bỏ cụ Hồ, đã đi theo Tây thì còn về làm gì nữa. Ông lão chẳng biết làm gì chỉ biết trút nỗi lòng mình cho đứa con, cụ Hồ soi xét cho lòng bố con ông, bố con ông không bao giờ dám sai đơn. Đang lúc rồi bời thì tin đồn làng chợ Dầu theo Tây được cải chính, đích thân chủ tích làng lên để cải chính, ông lão vui mừng đi khoe khắp nơi. Tối hôm đó ông lại sang bác Thứ, kể chuyện giặc đến đốt phá làng thế nào, làng Dầu chống cự ra sao, tỉ mỉ như chính ông cũng tham dự trận đánh ấy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2
  • Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 2)
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9
  • Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 1)
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Của Kim Lân Ngắn Gọn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân Hay Nhất Chọn Lọc
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng
  • Tin Học 10 Bài 16: Định Dạng Văn Bản
  • Giáo Án Môn Tin Học 10
  • Tóm Tắt Lão Hạc 10 Dòng
  • Tóm tắt văn bản Làng

    Ông Hai là một người con của làng Chợ Dầu vì hoàn cảnh mà buộc phải sống xa làng, dù vậy ông vẫn luôn nhớ về quê hương nơi mình sinh ra lớn lên. Một hôm khi trở về làng ông nghe tin làng theo Tây, tin dữ đến một cách quá bất ngờ khiến ông thất vọng, hụt hẫng và không tin vào sự thật đó.

    Ông trở về nhà buồn bã, thất vọng, không dám đi đâu nhiều ngày liền. Sau đó có người trong làng chạy đến báo tin làng không theo Tây mà mọi người vẫn chiến đấu theo cách mạng ông mới vui vẻ trở lại, thì ra đó là tin đồn thất thiệt.

    Ông Hai khoe với mọi người làng đã bị Tây đốt, ngay cả ngôi nhà của mình cũng vậy, dù mất đi tài sản nhưng ông vẫn cảm thấy vui vì cả làng ông vẫn yêu nước, yêu cách mạng.

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân kể về thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đầy ác liệt, cam go. Truyện để về ông Hai là một con người buộc phải xa làng vì chiến tranh để đến nơi di tản mới. Trong lòng ông vẫn luôn nhớ da diết ngôi làng của mình.

    Trở về làng ông hay tin ngôi làng đã theo giặc Tây, sự xấu hổ, tủi nhục đến nỗi ông không dám đi đâu ra khỏi nhà nhiều ngày liền. Mọi việc càng tệ hơn khi chủ nhà không cho gia đình ông ở vì ông là ngôi của làng Việt gian.

    Bỗng ông hãy tin làng Chợ Dầu không hề theo Tây vẫn chiến đấu theo cụ Hồ theo cách mạng, trong lòng ông bỗng vui vẻ trở lại, ông khoe với mọi người khắp nơi rằng Tây đốt sạch làng Chợ Dầu đốt cả nhà của ông trong niềm vui, vui bởi làng vẫn yêu nước, yêu cách mạng. Đó là niềm vui của con người yêu làng, yêu quê hương chân chính.

    Suy nghĩ về nhân vật ông Hai

    Truyện ngắn Làng kể về làng chợ Dầu một ngôi làng nghèo trong thời gian thực dân Pháp xâm lược. Ông Hai là nhân vật chính trong truyện, sinh ra và lớn lên từ làng nhưng di tản đi nơi khác. Ông hay khoe về làng của mình, kể với mọi người với tất cả mọi thứ với niềm tự hào to lớn. Tin đồn làng của ông bán nước theo giặc đã khiến ông thất vọng và tủi nhục. Từ xấu hổ với những người xung quanh ông đi đến quyết định làng theo giặc thì cũng là kẻ thù, ông khẳng định tinh thần yêu nước vượt lên những tình cảm cá nhân. Khi tin làng cải chính ông rất vui mừng, khoe với mọi người về ngôi nhà và cả việc làng bị Tây đốt sạch.

    Làng chợ Dầu cũng như bao ngôi làng khác trên đất nước, khi thực dân Pháp đánh chiếm những người con nơi này phải di tản đến nơi khác. Ông Hai cũng là người làng Chợ Dầu phải di tản đến nơi khác, ông rất yêu làng và tự hào về điều đó. Ông kể với mọi người về con người nơi đây và tinh thần đánh Tây của họ.

    Trong những người chạy giặc, ông nghe tin làng chợ Dầu phản động, làm Việt gian ông rất xấu hổ và tủi nhục. Cảm giác thất vọng và đau đớn. Ông căm thù những kẻ đã vấy bẩn lên truyền thống cách mạng của ngôi làng mình.

    Khi tin làng chợ Dầu theo giặc đã được cải chính ông rất vui mừng và kể với tất cả mọi người với niềm tự hào nhân lên gấp bội.

    Ông Hai theo lệnh của chính phủ cùng người dân trong làng Chợ Dầu di tản đến nơi khác. Thời gian này giai đoạn kháng chiến của quân ta và thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt. Ông Hai là con người yêu làng, yêu quê. Dù xa quê nhưng lúc nào cũng nghe ngóng thông tin và luôn tự hào về ngôi làng của mình.

    Ở một nơi xa nhưng ông bất ngờ nhận tin sét đánh, làng Chợ Dầu theo giặc, làm phản cách mạng. Ông xấu hổ, thất vọng và cả sự nhục nhã. Ông quanh quẩn ở nhà mà chẳng dám đi đâu, ngay cả chủ nhà trọ cũng muốn đuổi ông vì sống tại làng Việt gian bán nước. Ông luôn có sự đấu tranh lớn giữa tình yêu làng và cách mạng. Ông quyết định làng theo giặc phải thù làng chứ nhất định không phản cụ Hồ và cách mạng.

    Trong một lần nghe ngóng, ông nghe tin cải chính, làng Chợ Dầu không theo Tây, lòng ông vui trở lại, ngôi làng vẫn trung thành với cách mạng. Ông kể về ngôi làng bị Tây đốt sạch, không còn gì cả như một cách chứng minh làng vẫn theo cách mạng.

    Làng là câu chuyện về nhân vật ông Hai và ngôi làng của mình trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp.

    Ông Hai sinh ra và lớn lên lại làng Chợ Dầu vì cách mạng ông phải di tản đến nơi khác. Tuy ở xa nhưng ông vẫn theo dõi tình hình làng và rất dỗi tự hào vì ngôi làng theo cách mạng kháng chiến.

    Một hôm ông nghe tin từ người đàn bà tản cư nói về làng chợ Dầu theo Tây, ông tái mặt, không thở nổi và chỉ biết cúi gằm mặt mà đi về. Ông xấu hổ chỉ biết nằm ở nhà, không dám đi đâu. Khi mụ chủ nhà có ý định đuổi ông đi, ông Hai mới thực sự xác định tư tưởng giữa cá nhân và việc nước, nhất định phải thù làng vì phản cách mạng.

    Sau này khi chủ tịch xã lên thông báo làng không theo Tây. Lòng ông vui phơi phới và đi khoe với mọi người về làng bị Tây đốt phá sạch.

    Các em có thể viết thêm những đoạn tóm tắt Làng khác dựa theo truyện, một số gợi ý giúp các em tóm tắt ngắn gọn văn bản. Lưu ý văn bản mang tính chất tham khảo.

    Đóng vai ông Hai kể lại chuyện Làng Kim Lân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Gõ 10 Ngón Bằng Mario Teaches Typing Online, Game Luyện Đánh Máy Cực Hấp Dẫn
  • Đề Đọc Hiểu Ngữ Văn 10 Có Đáp Án
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Soạn Bài Văn Bản (Tiếp Theo) Ngắn Nhất
  • Để Học Tốt Ngữ Văn 10 (Chương Trình Nâng Cao)
  • Tóm Tắt, Bố Cục Văn Bản Những Đứa Trẻ Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài : Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn)
  • Bài Thơ: Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn
  • Đọc Thêm Dọn Về Làng
  • Soạn Bài: Dọn Về Làng
  • Những đứa trẻ được trích Thời thơ ấu của tác giả Mác-xim Gor-ki kể về tình bạn đáng quý của tác giả với các đứa trẻ thiếu may mắn khác. Em hãy chia bố cục và tóm tắt văn bản Những đứa trẻ văn 9 đầy đủ các ý chính theo yêu cầu SGK.

    Bố cục, tóm tắt bài Những đứa trẻ

    1. Vài nét tác giả, tác phẩm

    Mác-xim Gor-ki là một nhà văn học xuất sắc người Nga. Ông là người có công đầu to lớn trong nền văn học Xô- Viết, được minh danh là văn lớn của nhân loại thế kỉ XX. Cuộc đời ông cũng gắn liền với những thăng trầm của cuộc sống ngay từ thời trẻ thơ. Tập hồi kí nổi tiếng viết về cuộc đời ông là Những ngày thơ ấu, viết năm 1913-1914. Ngoài ra, ông còn có nhiều tác phẩm giá trị khác để lại cho thời đại như Kiếm sống, Những trường đại học của tôi…

    Những đứa trẻ trích nằm trong chương IX tác phẩm Những ngày thơ ấu của Mác-xim Gor-ki.

    2. Bố cục văn bản

    Văn bản Những đứa trẻ chia làm 3 phần khác nhau:

    Bằng tài kể chuyện xuất chúng, lôi cuốn, Mác-xim Gor-ki đã tường thuật lại một câu chuyện về tình bạn thắm thiết giữa ông và ba đứa trẻ hàng xóm thời thơ ấu. Đây là câu chuyện giàu hình ảnh đan xen những chuyện đời thường, bất chấp định kiến xã hội lúc bấy giờ.

    4. Nghệ thuật:

    Mác-xim Gor-ki đã sử dụng nghệ thuật kể chuyện xuất sắc:

    – Cách kể chuyện hấp dẫn, cách tự thuật và nhớ lại tự nhiên

    – Hình ảnh giàu cảm xúc, cách tưởng tượng phong phú

    – Cuộc đối thoại luôn sinh động, phù hợp với phát triển tâm lý của nhân vật

    – Cách kể chuyện đời thường đan xen với truyện cổ tích làm câu chuyện thêm lôi cuốn người đọc.

    5. Tóm tắt văn bản Những đứa trẻ ngắn gọn

    Sau một tuần diễn ra sự việc đứa em nhỏ bị rơi xuống giếng, ba anh em con nhà Ốp-xi-an-ni-cốp lại tiếp tục chơi với A-li-ô-sa. Khi gặp chúng kể với nhau nghe nhiều chuyện khác nhau nào là chuyện bắt chim, chuyện cổ tích. Thấy vậy người lớn bèn ngăn cản không cho chúng tôi chơi cùng nhau. Không phải vì bị cấm mà những đứa trẻ không chơi với nhau, hằng ngày chúng vẫn chơi với nhau vui vẻ nhưng bằng cách vụng trộm.

    Sự việc đứa em nhỏ bị rơi xuống giếng sau một tuần trôi qua, ba anh em hàng xóm lại ra sân chơi và gọi nhân vật “tôi” chơi cùng. Trong cuộc trò chuyện, A-li-ô-sa hỏi về cha mẹ của ba anh em. Thấy chúng buồn, A-li-ô-sa đã an ủi bằng cách kể cho chúng nghe về những câu chuyện cổ tích của bà. Rồi khi bố chúng xuất hiện và cấm chơi với nhân vật “tôi”, nhưng chúng vẫn chơi với nhau, kể cho nhau một cách vui vẻ bằng các câu chuyện vui buồn.

    Ba anh em nhà Ốp-xi-an-ni-cốp ngày nào cũng chơi đến tối mịt. Nhân vật “tôi” một lần cứu đứa em rơi xuống giếng và bắt đầu chơi cùng ba anh em. Chúng trò chuyện vui vẻ, nhưng lại bị bố của ba anh em cấm và thẳng thừng ném ra sân. Nhưng chúng vẫn chơi với nhau một cách vui vẻ bằng cách vụng trộm: khoét một lỗ nhỏ hình bán nguyệt ở hàng rào. Chúng tiếp tục kể cho nhau nghe về những câu chuyện vui buồn hay những câu chuyện cổ tích của bà A-li-ô-sa.

    Những đứa trẻ là câu chuyện tình bạn khăng khít giữa A-li-ô-sa và ba anh em nhà Viên tá Ốp-xi-an-ni-cốp. Tình bạn của chúng bắt đầu sau sự việc đứa em nhỏ bị rơi xuống giếng. Chúng chơi với nhau vui vẻ nhưng lại bị bố của ba anh em ngăn cấm và ném nhân vật “tôi” ra ngoài sân. Nhưng mặc kệ sự ngăn cấm, chúng vẫn chơi vụng trộm với nhau bằng cách khoét một lỗ nhỏ hình bán nguyệt ở hàng rào. Chúng lại tiếp tục kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn. A-li-ô-sa vẫn kể cho ba anh em về những câu chuyện cổ tích của bà khiến chúng thấy hạnh phúc.

    Từ khóa tìm kiếm:

    • tóm tắt đoạn trích những đứa trẻ của gorki
    • bố cục đoạn trích những đứa trẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8
  • Thuyết Minh Về Quyển Sách Ngữ Văn 9 Tập 1 Có Dàn Ý Chi Tiết
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Về Truyện Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Luyện Tập Tóm Tắt Tác Phẩm Tự Sự Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Truyện Trung Đại Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Tóm Tắt Ngắn Gọn Nội Dung Các Văn Bản Truyện Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Dv Đánh Văn Bản Tại Hn
  • Kĩ Năng Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học, Một Yếu Tố Quan Trọng Đối Với Các Sĩ Tử Mùa Thi
  • Tạo Intro Độc Đáo Ngay Trên Điện Thoại Di Động Tin Tức Shopdunk
  • Viết Đoạn Văn Ngắn Giải Thích Về Ô Nhiễm Môi Trường
  • Truyện Ngắn Về Ô Nhiễm Môi Trường
  • Tóm tắt ngắn gọn nội dung các văn bản truyện lớp 9

    Vũ Nương, tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, là người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến cưới về làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi, Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, ăn ở đúng mực. Đất nước có chiến tranh, Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con, nuôi con, chăm sóc mẹ già. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương lo ma chay chu đáo. Hàng đêm, nàng hay đùa với con bằng cách chỉ vào cái bóng của mình trên vách và gọi đó là cha.

    Giặc tan, Trương Sinh trở về. Đứa bé ngây thơ cho biết Trương Sinh không phải là cha mà có một người đàn ông khác đêm nào cũng đến. Trương Sinh nghi ngờ, mắng nhiếc và đánh đuối Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho nàng đã hết lời thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang, được Linh Phi – vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Đêm đến, thấy bóng Trương Sinh in trên vách, đứa bé gọi đó là cha. Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ. Nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng), Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan.

    2. Hoàng lê nhất thống chí – Hồi thứ 14: Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

    Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An, nhà vua lấy thêm quân, mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ, ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kế hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân. Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày mùng 7 Tết tới Thăng Long.

    Trận đầu tiên, giặc trấn thủ ở sông Gián chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mùng 3 Tốt năm Kỷ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi, quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị voi giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy, quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị nghe tin sợ hãi, không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàng thân quốc thích rời kinh thành bỏ chạy theo quân Thanh.

    Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống êm ấm cùng cha mẹ và 2 em là Thúy Vân và Vương Quan. Trong buổi du xuân, Kiều gặp Kim Trọng, thề nguyền đính ước với nhau. Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều phải bán mình chuộc cha. Kiều bị Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa đẩy vào lầu xanh, được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh nhưng bị Hoạn Thư ghen, Kiều phải trốn đi nương náu ở chùa Giác Duyên.

    Vô tình Kiều lại rơi vào tay Bạc Hạnh, Bạc Bà, phải vào lầu xanh lần thứ 2. Ở đây, Kiều gặp Từ Hải. Từ Hải lấy Kiều làm vợ, giúp Kiều báo ân báo oán. Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, bị giết chết. Kiều bị bắt ép gả cho tên thổ quan. Nàng tủi nhục trầm mình ở sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu, nương nhờ cửa Phật lần thứ 2. Kim Trọng trở lại, kết duyên với Thúy Vân nhưng vẫn đi tìm Kiều. Nhờ sư Giác Duyên, Kim – Kiều gặp nhau, gia đình đoàn tụ. Kim gặp Kiều đối tình yêu thành tình bạn.

    Thấy Vân Tiên tài cao, Hâm, Kiệm sinh lòng đố kị, ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang, chàng khóc thương đến mù mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ vào bờ, được Du thần và ông Tiều cứu, Vân Tiên may mắn gặp lại Hớn Minh, Hớn Minh đón Vân Tiên về am dưỡng bệnh. Cha con Võ Thể Loan phản bội, đem Vân Tiên thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt.

    Phần Nguyệt Nga, nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, thề thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng thù oán, tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn, được Phật Bà Quan Âm cứu vớt. Lục Vân Tiên được tiên cho thuốc, mắt lại sáng, liền trở về thăm nhà. Đen khoa thi, chàng đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Đánh tan giặc, Vân Tiên một mình lạc trong rừng và gặp lại Nguyệt Nga. Chàng về triều tâu hết sự tình, kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga sum vầy hạnh phúc.

    Ông Hai là một người nông dân rất yêu làng và tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Vì chiến tranh và hoàn cảnh gia đình nên ông phải rời làng đi tản cư, nhưng ông vẫn luôn bứt rứt nhớ về làng Chợ Dầu. Một hôm, nghe được từ một người đàn bà tản cư đưa tin làng Dầu “Việt gian theo Tây”, mặt ông “tê rân rân”, cổ họng ông “nghẹn ắng hẳn lại”, ông “lặng đi tưởng như đến không thở được” rồi chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi về.

    Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có việc về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cha em không giống với người trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với cha như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi.

    Ở căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý, thương nhớ con làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cho con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông đã trao cây lược cho người bạn nhờ gửi lại cho con.

    Câu chuyện xoay quanh cuộc gặp gỡ tình cờ của mấy người khách trên chuyến xe với người thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi cao Yên Sơn ở Sa Pa. Trên chuyến xe khách từ Hà Nội lên Lào Cai, ông họa sĩ già, bác lái xe, cô kĩ sư trẻ tình cờ quen nhau. Bác lái xe đã giới thiệu cho ông họa sĩ và cô kĩ sư làm quen với anh thanh niên.

    Trong cuộc gặp gỡ 30 phút, anh thanh niên tặng hoa cho cô gái, pha trà và trò chuyện với mọi người vê cuộc sông và công việc của mình. Ông họa sĩ muốn được vẽ chân dung anh. Anh thanh niên từ chối và giới thiệu với ông những người khác mà anh cho là xứng đáng hơn. Những con người tình cờ gặp nhau bỗng trở nên thân thiêt. Khi chia tay, ông họa sĩ hứa sẽ quay trở lại, cô kỹ sư thấy xúc động, yên tâm hơn về quyết định lên Lào Cai công tác, còn anh thanh niên tặng mọi người một làn trứng.

    Tổ trinh sát mặt đường gồm ba cô gái thanh niên xung phong (Phương Định, Nho, Thao) còn rất trẻ; Thao lớn tuổi hơn, được cử làm tổ trưởng. Tổ có nhiệm vụ quan sát máy bay giặc ném bom, đánh dấu chồ những quả bom chưa no và phá bom, xác định khối lượng đất đá phải san lấp để thông đường. Đây là công việc rất nguy hiểm, thường xuyên đối mặt với cái chết. Họ phải sống trong một cái hang dưới chân cao điểm, xa đơn vị.

    Cuộc sống nghiệt ngã ở chiến trường đã tạo nên sự gắn bó giữa ba cô gái, nhưng không thể dập tắt được sự hồn nhiên, những niềm vui, những giây phút mơ mộng. Phương Định – nhân vật “tôi” – là một cô gái có nhiều cảm xúc, mộng mơ, luôn nhớ đến những kỉ niệm đẹp về gia đình và thành phố. Phần cuối truyện, tác giả tập trung miêu tả tâm trạng và hành động của từng cô gái trong một lần phá bom.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sao Chép Nhiều Đoạn Văn Bản Cùng Lúc Trên Smartphone Android
  • Hệ Thống Kiến Thức Phần Văn Bản Ngữ Văn Lớp 8
  • Ngữ Văn 8: Tổng Kết Phần Văn (Hk Ii)
  • Cách Căn Giữa Ô Trong Word, Excel 2022, 2013, 2010, 2007, 2003, Căn Ch
  • Soạn Bài Con Chó Bấc (Trích Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100