Đưa ‘nghị Quyết Thanh Hóa’ Của Bộ Chính Trị Vào Cuộc Sống

--- Bài mới hơn ---

  • 6 Lý Do Để Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Số 58 “về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hóa Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045”
  • Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 35
  • Bộ Công Thương Tích Cực Triển Khai Nghị Quyết 35
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo Theo Nghị Quyết 29
  • Đó là ý kiến chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Bình – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trưởng Ban Kinh tế trung ương – tại hội nghị trực tuyến toàn tỉnh nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai, thực hiện nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 5-8-2020 của Bộ Chính trị “về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” do Ban Kinh tế trung ương phối hợp Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức ngày 31-8.

    Theo Tỉnh ủy Thanh Hóa, ngày 5-8-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 58-NQ/TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị ra nghị quyết về phát triển Thanh Hóa.

    Tại nghị quyết này, Bộ Chính trị xác định rõ 5 quan điểm cho Thanh Hóa, tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, có vai trò kết nối vùng đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ.

    Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ông Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng, là mốc son trong chặng đường xây dựng và phát triển của tỉnh, khẳng định vai trò quan trọng của Thanh Hóa trong những đóng góp đổi mới, phát triển của cả đất nước.

    Theo đó, Thanh Hóa phải là một cực phát triển để tạo ra một tứ giác phát triển trên nền tảng tam giác phát triển là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Trở thành một cực phát triển, một động lực phát triển cho vùng Bắc Trung bộ, tạo ra sự kết nối giữa Bắc Trung bộ với tứ giác phát triển, đồng thời tạo ra sự kết nối giữa Bắc Trung bộ, Thanh Hóa với duyên hải Bắc bộ cũng như vùng Tây Bắc.

    Như vậy, nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống, mới thực hiện hiệu quả các mục tiêu trong nghị quyết.

    Bộ Chính trị sẽ có nghị quyết riêng phát triển Thanh Hóa

    TTO – Ngày 2-3, Ban Kinh tế trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức hội nghị Ban chỉ đạo xây dựng đề án “Xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” để trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành nghị quyết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị: Thời Cơ, Vận Hội Mới Đến Với Thanh Hoá
  • Triển Khai, Thực Hiện Nghị Quyết Số 58
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hoá Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045
  • Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu
  • Nghị Quyết 42/2017/qh14 Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị: Thời Cơ, Vận Hội Mới Đến Với Thanh Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa ‘nghị Quyết Thanh Hóa’ Của Bộ Chính Trị Vào Cuộc Sống
  • 6 Lý Do Để Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Số 58 “về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hóa Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045”
  • Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 35
  • Bộ Công Thương Tích Cực Triển Khai Nghị Quyết 35
  • (TTV) – Với sự quan tâm đặc biệt mà Đảng, Nhà nước dành cho Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa, ngày 5/8/2020, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 58 “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là dấu mốc lịch sử, có ý nghĩa hết sức quan trọng, mở ra cho Thanh Hóa thời cơ, vận hội mới rất nổi trội và khác biệt để phát triển nhanh và bền vững, trở thành một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh trở thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc.

    Thanh Hóa là một địa phương có “rừng vàng, biển bạc”, giàu truyền thống văn hiến và con người cần cù, chịu khó, trong quá trình xây dựng và phát triển, tỉnh Thanh Hoá luôn đặt ra câu hỏi là làm thế nào để phát triển ngang tầm với các tỉnh lớn trong cả nước. Bằng sự quyết tâm cao của các thế hệ lãnh đạo, với sự đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, Thanh Hóa đã dần tìm được hướng đi cho mình để trở thành tỉnh đứng đầu các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo, dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế, tỉnh Thanh Hoá cũng nhận thấy rằng: Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, phụ thuộc nhiều vào tăng các yếu tố đầu vào, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Các lĩnh vực phát triển nhanh nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

    Từ lời căn dặn của Bác Hồ trong lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa vào ngày 20/2/1947: “Tỉnh Thanh theo tôi, muốn trở thành một tỉnh kiểu mẫu, nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ còn thiếu sự điều khiển sắp đặt”, tỉnh Thanh Hoá thấy rằng, ngoài sự nỗ lực của cấp uỷ Đảng, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh, rất cần có sự định hướng, cơ chế, chính sách phù hợp. Và Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị được coi là đáp án chuẩn nhất cho sự “điều khiển, sắp đặt” đó.

    Đây là một nghị quyết toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó mục tiêu đến năm 2030: Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp giá trị gia tăng cao; dịch vụ logistics.

    Nghị quyết 58 cũng đặt ra mục tiêu đưa du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa thể thao của Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước, nhắm xây dựng Thanh Hoá thành một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; nơi người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước, các giá trị di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn, phát huy; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; các tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

    Nghị Quyết 58 thực sự là kim chỉ nam, định hướng và dẫn dắt Thanh Hoá phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước và hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng. Và ngày 31/8, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ sẽ tổ chức Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị nhằm chuyển tải các nội dung quan trọng của Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, từ đó để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững các nội dung trong Nghị quyết; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, quyết tâm đưa Thanh Hoá phát triển thành tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước vào năm 2045./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai, Thực Hiện Nghị Quyết Số 58
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hoá Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045
  • Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu
  • Nghị Quyết 42/2017/qh14 Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Nghị Quyết Số 326/2016/ubtvqh14 Ngày 30
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 58
  • Cổng Điện Tử Huyện Quan Sơn
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 8 Khóa 12 Cho Cán Bộ Chủ Chốt
  • Huyện Triệu Sơn Có 12.304 Cán Bộ, Đảng Viên Tham Gia Học Tập Nghị Quyết Số 58
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Giáo Viên
  • Qua nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết 58 của Bộ chính trị, ngày 05 tháng 8 năm 2022, bản thân đã nhận thức những vấn đề cơ bản từ những nội dung được học tập và rút ra một số giải pháp của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cụ thể như sau:

    1- Nhận thức sau khi được học tập, quán triệt Nghị quyết:

    Với sự quan tâm đặc biệt mà Đảng, Nhà nước dành cho Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa, ngày 5/8/2020, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 58 “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là dấu mốc lịch sử, có ý nghĩa hết sức quan trọng, mở ra cho Thanh Hóa thời cơ, vận hội mới rất nổi trội và khác biệt để phát triển nhanh và bền vững, trở thành một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh trở thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc.

    Thanh Hóa là một địa phương có “rừng vàng, biển bạc”, giàu truyền thống văn hiến và con người cần cù, chịu khó, trong quá trình xây dựng và phát triển, tỉnh Thanh Hoá luôn đặt ra câu hỏi là làm thế nào để phát triển ngang tầm với các tỉnh lớn trong cả nước. Bằng sự quyết tâm cao của các thế hệ lãnh đạo, với sự đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, Thanh Hóa đã dần tìm được hướng đi cho mình để trở thành tỉnh đứng đầu các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo, dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế, tỉnh Thanh Hoá cũng nhận thấy rằng: Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, phụ thuộc nhiều vào tăng các yếu tố đầu vào, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Các lĩnh vực phát triển nhanh nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

    Từ lời căn dặn của Bác Hồ trong lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa vào ngày 20/2/1947: “Tỉnh Thanh theo tôi, muốn trở thành một tỉnh kiểu mẫu, nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ còn thiếu sự điều khiển sắp đặt”, tỉnh Thanh Hoá thấy rằng, ngoài sự nỗ lực của cấp uỷ Đảng, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh, rất cần có sự định hướng, cơ chế, chính sách phù hợp. Và Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị được coi là đáp án chuẩn nhất cho sự “điều khiển, sắp đặt” đó.

    Đây là một nghị quyết toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó mục tiêu đến năm 2030: Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp giá trị gia tăng cao; dịch vụ logistics.

    Nghị quyết 58 cũng đặt ra mục tiêu đưa du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa thể thao của Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước, nhắm xây dựng Thanh Hoá thành một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; nơi người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước, các giá trị di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn, phát huy; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; các tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

    Nghị Quyết 58 thực sự là kim chỉ nam, định hướng và dẫn dắt Thanh Hoá phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước và hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng. Và ngày 31/8, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ sẽ tổ chức Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị nhằm chuyển tải các nội dung quan trọng của Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, từ đó để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững các nội dung trong Nghị quyết; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, quyết tâm đưa Thanh Hoá phát triển thành tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước vào năm 2045./.

    2- Trách nhiệm cá nhân thực hiện Nghị quyết:

    – Là một Đảng viên, Giáo viên tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà Nghị quyết 58 đã đề ra; đặc biệt là các nội dung phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Thanh Hóa Cho Ý Kiến Vào Kế Hoạch Nghiên Cứu, Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị
  • Nghị Quyết 580/2018/ubtvqh14 Thí Điểm Hợp Nhất Vp Đoàn Đại Biểu Quốc Hội, Vp Hđnd Và Vp Ubnd Cấp Tỉnh
  • Xem Xét Dừng Thí Điểm Hợp Nhất 3 Văn Phòng Cấp Tỉnh
  • Nghị Quyết 580/2018/ubtvqh14 Về Thí Điểm Hợp Nhất Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội, Văn Phòng Hội Đồng Nhân Dân Và Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Cấp Tỉnh Do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Hợp Nhất 3 Văn Phòng: Khó Tránh ‘vừa Đá Bóng, Vừa Thổi Còi’
  • Toàn Văn Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 22 Của Bộ Chính Trị Đã Giải Đáp Hàng Loạt Câu Hỏi Lớn
  • Kết Luận Của Bộ Chính Trị Về Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Số 24
  • Bảo Đảm Quyền Tự Do Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Ở Việt Nam Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Hội Thảo Về Thể Chế Nghị Quyết Số 25
  • Triển Khai Nghị Quyết Số 25
  • Toàn Văn Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Toàn Văn Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị, Toàn Văn Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị Ngày 20/7/2005, Toàn Văn Nghị Quyết Số 51/nq-tw Ngày 20/7/2005 Của Bộ Chính Trị, Nội Dung Toàn Văn “nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Năm 2005″, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Về Thực Hiện Chế Độ Chính Uỷ Chính Trị Viên, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Ve Che Do Mot Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghi Quyet 51 Thuc Hien Che Do Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy Chính Trị Viên Trong Quân Đội, Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách Năm 2022, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính , Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách, Nghị Quyết Quyết Toán Ngân Sách Năm 2022, Nghị Quyết 51 Về Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết Quyết Toán Ngân Sách, Nghị Quyết Đề Nghị Kiện Toàn Chức Danh Chủ Tịch Mttq, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết 51 Về Chính ủy, Chính Trị Viên, Mẫu Bìa Quyết Toán Tài Chính, Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị T.ư 8 Khóa Xii, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 9, Bi Quyet Chinh Phuc Diem Cao Toan 6 – Tập 1, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 6, Bí Quyết Chinh Phuc Diem Cao Toan 7, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 8 – Tập 1”, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 8, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 11, Bi Quyet Chinh Phuc Diem Cao Toan 11 Pdf, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 11 Tập 1, Biên Bản Kiểm Tra Quyết Toán Tài Chính, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 7 Tập 1, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Môn Toán 11, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 10, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị Về Cơ Chế Chính Uỷ, Bí Quyết Chinh Phục Điển Cao Hỳ Thi Thpt Môn Toán 11, Quyết Định Số 19 Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Toán Thu Chi Tài Chính CĐcs 6 Tháng Cuối Năm, Toàn Văn Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Toan Van Nghi Quyet 769, Đơn Đề Nghị Quyết Toán, Toan Văn Nghi Quyết 765, Văn Bản Đề Nghị Quyết Toán, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 45 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 12 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 35-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 68 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 60 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 36 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 1 Nq Cp Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 11 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 49 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 08-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 49 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 48 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 20 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 39 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 11 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 11 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 41 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 76/nq-cp Của Chính Phủ, Nghị Quyết 50 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 25 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 54-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 43 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 51-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Chính Phủ, Nghị Quyết 52 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 37 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 54 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 82 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 34 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 08 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 37 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 33 Nq Tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 8 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Của Bộ Chính Trị, Nghi Quyết 51 Cua Bô Chinh Tri, Nghị Quyết Số 21 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 22 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Chính Phủ, Nghị Quyết 08/nq-bct Của Chính Phủ,

    Toàn Văn Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Toàn Văn Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị, Toàn Văn Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị Ngày 20/7/2005, Toàn Văn Nghị Quyết Số 51/nq-tw Ngày 20/7/2005 Của Bộ Chính Trị, Nội Dung Toàn Văn “nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Năm 2005″, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Về Thực Hiện Chế Độ Chính Uỷ Chính Trị Viên, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Ve Che Do Mot Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghi Quyet 51 Thuc Hien Che Do Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy Chính Trị Viên Trong Quân Đội, Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách Năm 2022, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính , Nghị Quyết Phê Chuẩn Quyết Toán Ngân Sách, Nghị Quyết Quyết Toán Ngân Sách Năm 2022, Nghị Quyết 51 Về Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết Quyết Toán Ngân Sách, Nghị Quyết Đề Nghị Kiện Toàn Chức Danh Chủ Tịch Mttq, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết 51 Về Chính ủy, Chính Trị Viên, Mẫu Bìa Quyết Toán Tài Chính, Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị T.ư 8 Khóa Xii, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 9, Bi Quyet Chinh Phuc Diem Cao Toan 6 – Tập 1, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 6, Bí Quyết Chinh Phuc Diem Cao Toan 7, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 8 – Tập 1”, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 8, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 11, Bi Quyet Chinh Phuc Diem Cao Toan 11 Pdf, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 11 Tập 1, Biên Bản Kiểm Tra Quyết Toán Tài Chính, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 7 Tập 1, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Môn Toán 11, Bí Quyết Chinh Phục Điểm Cao Toán 10, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị Về Cơ Chế Chính Uỷ, Bí Quyết Chinh Phục Điển Cao Hỳ Thi Thpt Môn Toán 11, Quyết Định Số 19 Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Toán Thu Chi Tài Chính CĐcs 6 Tháng Cuối Năm, Toàn Văn Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Toan Van Nghi Quyet 769, Đơn Đề Nghị Quyết Toán, Toan Văn Nghi Quyết 765, Văn Bản Đề Nghị Quyết Toán, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Định Hướng Hợp Tác Fdi Đến 2030
  • Nghị Quyết 52 Của Bộ Chính Trị
  • Thực Hiện Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)
  • Hội Thảo Về Thực Hiện Nghị Quyết 51
  • Bộ Chính Trị Lần Đầu Ban Hành Nghị Quyết Về Phát Triển Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Chính Trị Chỉ Đạo Xây Dựng Nghị Quyết Phát Triển Thanh Hóa Đến 2030, Tầm Nhìn 2045
  • Bộ Chính Trị Sẽ Có Nghị Quyết Riêng Phát Triển Thanh Hóa
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế
  • Nội Dung Chính Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Chiều 17/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng, tập thể Bộ Chính trị đã họp, cho ý kiến về Đề án xây dựng, phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng toàn thể các đồng chí trong Bộ Chính trị; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã tham dự.

    Thanh Hóa là tỉnh lớn, dân số đông, hiện có hơn 3,7 triệu người (chỉ sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Sinh thời, khi Bác Hồ về thăm Thanh Hóa, đã từng nói “Thanh Hóa muốn trở thành tỉnh kiểu mẫu nhất định được, vì người đông, của cải nhiều…”

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo cuộc họp. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

    Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, 10 năm qua, Thanh Hóa đã khai thác, phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế cho phát triển.

    Kinh tế tăng trưởng nhanh, đột phá, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ và nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Năm 2022, ước tính quy mô nền kinh tế lớn gấp 4,5 lần so với năm 2010; thu ngân sách đứng thứ 11 cả nước, từng bước trở thành một cực tăng trưởng mới của vùng Bắc Trung bộ và cả nước.

    Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ và công nghiệp là chủ đạo, trong đó công nghiệp trở thành ngành trụ cột với hạt nhân là Khu kinh tế Nghi Sơn, du lịch hướng tới trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; là một trong những tỉnh có số lượng xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới cao nhất cả nước.

    Môi trường đầu tư kinh doanh dần được cải thiện, tạo đột phá trong thu hút vốn đầu tư phát triển, trong đó có vốn FDI, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ và trong nhóm 5 tỉnh, thành phố huy động vốn đầu tư cao nhất cả nước.

    Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. GRDP bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 2.670 USD, gấp 3,3 lần năm 2010. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, nhất là ở các huyện miền núi.

    Tuy nhiên, Bộ Chính trị lưu ý, Thanh Hóa vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Thanh Hóa còn thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế; mức độ ứng dụng khoa học công nghệ còn thấp; chất lượng nguồn nhân lực chưa cao…

    Trên cơ sở phân tích những tiềm năng, lợi thế, thuận lợi và khó khăn, Bộ Chính trị nhất trí về quan điểm, mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu đưa Thanh Hóa trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh, hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp; dịch vụ du lịch, giáo dục-đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa, thể thao; một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; người dân có mức sống cao; quốc phòng an ninh được bảo đảm vững chắc; xây dựng tổ chức Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Năm 2045, Thanh Hóa phấn đấu là tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước.

    Bộ Chính trị thống nhất về sự cần thiết ban hành Nghị quyết “xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045,” khẳng định quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của Thanh Hóa trong vùng và cả nước; hiện thực hóa lời căn dặn của Bác Hồ khi về thăm tỉnh; đưa ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn, thu hút mọi nguồn lực, đảm bảo sự phát triển nhanh, đột phá và bền vững của tỉnh trong bối cảnh mới, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của cả nước.

    Đồng chí Trịnh Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

    Phát biểu kết luận cuộc họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ Thanh Hóa có vị trí chiến lược về kinh tế-xã hội, đối ngoại và quốc phòng an ninh của Tổ quốc. Việc Bộ Chính trị lần đầu tiên ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển Thanh Hóa, có ý nghĩa mở đường cho tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, trở thành “tỉnh kiểu mẫu” như Bác Hồ từng căn dặn.

    Dẫn lại câu nói mộc mạc, nôm na, nhưng vô cùng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thanh Hóa muốn trở thành tỉnh kiểu mẫu nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ còn thiếu sự điều khiển sắp đặt,” Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mong muốn Đảng bộ Thanh Hóa làm tốt hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy tiềm năng thế mạnh, vai trò, vị trí quan trọng của tỉnh, vươn lên phát triển, không thua kém các tỉnh khác.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh để thực hiện được mục tiêu trở thành tỉnh kiểu mẫu, cán bộ, đảng viên phải nỗ lực lớn, quyết tâm cao, Đảng bộ phải thực sự trong sạch vững mạnh, đồng thời phát huy sức mạnh, nguồn lực trong dân; mở rộng quan hệ với các địa phương khác, tăng cường kết nối vùng. Thanh Hóa cần lựa chọn một số công việc ưu tiên làm trước, có tầm nhìn xa trên cơ sở quy hoạch, chủ động đề xuất cơ chế, chính sách; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên… từng bước thoát khỏi tình trạng thu nhập thấp, vươn lên làm giàu.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý Thanh Hóa cần nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả của các cấp chính quyền; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống cách mạng, tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn lên mạnh mẽ, xây dựng, phát triển Thanh Hóa giàu đẹp, văn minh, hiện đại, trở thành tỉnh kiểu mẫu như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Đường Lối Cmvn
  • Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới
  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Định Hướng Chiến Lược Cách Mạng Miền Nam Sau Năm 1954
  • Đường Lối Kháng Chiến Toàn Quốc
  • Toàn Văn Nghị Quyết Số 07 Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phổ Biến, Quán Triệt Và Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Số 07 Của Bộ Chính Trị
  • Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết 07/nq/tw Của Bộ Chính Trị: Chỉ Tiêu Về Ngân Sách, Quản Lý Nợ Công Phải Phù Hợp Với Thực Tế
  • Thực Hiện Nghị Quyết 07 Của Hđnd Tỉnh: Đổi Thay Diện Mạo Nông Thôn
  • Lục Ngạn: Sơ Kết Thực Hiện Nghị Quyết 07 Của Hđnd Tỉnh Bắc Giang Về Cứng Hóa Giao Thông Nông Thôn
  • Tỉnh Ủy Ban Hành Kế Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 07
  • Nghị quyết của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

    BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    VỀ CHỦ TRƯƠNG, GIẢI PHÁP CƠ CẤU LẠI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ NỢ CÔNG ĐỂ BẢO ĐẢM NỀN TÀI CHÍNH QUỐC GIA AN TOÀN, BỀN VỮNG

    I- TÌNH HÌNH NGUYÊN NHÂN

    1- Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính – ngân sách nhà nước và quản lý nợ công. Công tác tài chính – ngân sách nhà nước và quản lý nợ công đã có những đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xử lý các vấn đề cấp bách về thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về tài chính – ngân sách nhà nước và quản lý nợ công từng bước được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, tiếp cận với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành, vĩ mô của đất nước trong từng giai đoạn.

    2- Bên cạnh kết quả đạt được, công tác tài chính – ngân sách nhà nước và quản lý nợ công vẫn còn hạn chế, yếu kém: Quy mô thu ngân sách so với tổng sản phẩm trong nước (GDP) giảm nhanh, cơ cấu thu chưa hợp lý, thiếu bền vững; các nguồn lực đất đai, tài nguyên, công sản chưa được huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả; tình trạng trốn thuế, thất thu và nợ thuế còn nghiêm trọng. Nhu cầu chi ngân sách không ngừng tăng, vượt khả năng cân đối nguồn lực; thu không đủ chi, tích lũy ngân sách cho đầu tư phát triển thấp. Cơ cấu chi ngân sách chưa hợp lý, tỉ trọng chi thường xuyên tăng cao, chi đầu tư phát triển giảm; tỉ trọng chi ngân sách Trung ương giảm, chi ngân sách địa phương tăng. Cân đối ngân sách nhà nước khó khăn, bội chi cao, phải vay đảo nợ; nhiều địa phương chưa có khả năng cân đối ngân sách, và điều tiết về ngân sách Trung ương. Nợ công và nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh, áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ; nợ đọng xây dựng cơ bản và ứng trước ngân sách còn lớn; việc quản lý, sử dụng vốn vay còn bất cập; thiếu gắn kết giữa quyết định đầu tư với cân đối nghĩa vụ trả nợ. Việc sử dụng ngân sách và vốn đầu tư công còn lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả.

    3- Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan do những khó khăn, yếu kém của nền kinh tế nước ta và những tác động của tình hình kinh tế thế giới, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với lĩnh vực tài chính – ngân sách nhà nước và quản lý nợ công chưa đầy đủ, thống nhất, dẫn đến đổi mới, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách chưa quyết liệt, thiếu nhất quán, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Hệ thống quản lý phí, thuế còn nhiều bất cập; chính sách giá đối với nhiều loại hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu chưa theo cơ chế thị trường, còn bao cấp, trợ cấp, trợ giá, hỗ trợ chi phí khá lớn. Ý thức chấp hành kỷ luật tài chính chưa nghiêm; việc thực hiện nghĩa vụ thu, nộp ngân sách và quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, yếu kém; chưa chủ động, tích cực khai thác các nguồn lực; còn bị động, trông chờ, ỷ lại sự hỗ trợ từ ngân sách. Việc thực hiện chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm và chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Khu vực sự nghiệp công lập đổi mới chậm và còn nhiều bất cập; việc thực hiện chủ trương khuyến khích xã hội hóa, thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính chưa đạt yêu cầu. Việc ban hành và thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội, cải cách tiền lương là cần thiết, nhưng cũng làm tăng nhanh chi thường xuyên. Chức năng, nhiệm vụ quản lý ngân sách nhà nước, quản lý đầu tư công, nợ công, còn chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với việc phân bổ, sử dụng vốn đầu tư công. Kỷ cương, kỷ luật tài chính còn bị buông lỏng; công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều bất cập; chế tài xử lý vi phạm chưa nghiêm. Công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo còn nhiều hạn chế.

    II- MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

    1- Mục tiêu

    1.1- Mục tiêu tổng quát

    Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

    1.2- Mục tiêu cụ thể

    – Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2022 – 2022 bình quân khoảng 20 – 21% GDP, phấn đấu tổng thu ngân sách bằng khoảng 1,65 lần giai đoạn 2011 – 2022. Trong tổng thu ngân sách nhà nước, tỉ trọng thu nội địa khoảng 84 – 85%, tỉ trọng thu dầu thô và thu xuất nhập khẩu khoảng 14 – 16%; tỉ trọng thu ngân sách Trung ương 60 – 65%. Sau năm 2022, tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP được duy trì ở mức ổn định, hợp lý.

    – Tỉ lệ chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2022 – 2022 bình quân khoảng 24 – 25% GDP. Trong tổng chi ngân sách nhà nước, tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 25 – 26%; tỉ trọng chi thường xuyên dưới 64%; ưu tiên bảo đảm chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia. Sau năm 2022, quy mô chi xác định phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, khả năng cân đối nguồn lực, bảo đảm, an toàn nợ công.

    – Giữ vững an ninh tài chính quốc gia; bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2022 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu – chi ngân sách nhà nước. Quy mô nợ công hằng năm trong giai đoạn 2022 – 2022 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

    2- Quan điểm chỉ đạo

    – Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm hiệu quả, toàn diện, công bằng, bền vững, động viên hợp lý các nguồn lực. Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; xác định tiết kiệm là quốc sách hàng đầu; chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp về thu, chi ngân sách nhà nước, sử dụng vốn vay và xử lý nợ công, hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế “xin – cho”.

    – Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề quan trọng, cấp bách với các vấn đề cơ bản, dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương; thu hút tối đa nguồn lực của xã hội. Điều chỉnh quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển; tiết kiệm chi thường xuyên để tăng tỉ trọng chi đầu tư phát triển, chi trả nợ trong tổng chi ngân sách nhà nước và giảm bội chi ngân sách nhà nước. Thực hiện huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước gắn với các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế.

    – Đổi mới công tác quản lý tài chính – ngân sách nhà nước phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền đất nước.

    III- CHỦ TRƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

    1- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi và động lực cho phát triển kinh tế – xã hội, tạo nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước. Tập trung thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phối hợp hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng GDP tối thiểu như đã đề ra. Thực hiện lộ trình giá thị trường có sự quản lý của nhà nước đối với những hàng hóa quan trọng, thiết yếu; sớm thực hiện đầy đủ cơ chế giá thị trường đối với dịch vụ công, điện, nước, đất đai và các nguồn tài nguyên quan trọng.

    2- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục sâu rộng tạo thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp về chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, pháp luật về ngân sách nhà nước, quản lý nợ công, thực hành tiết kiệm và phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cả hệ thống chính trị, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và xử lý nghiêm các vi phạm.

    3- Tập trung cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước, tăng cường quản lý nợ công, bảo đảm an toàn và bền vững nền tài chính quốc gia. Thực hiện nghiêm nguyên tắc vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên; cải thiện cân đối ngân sách nhà nước, từng bước tăng tích lũy cho đầu tư phát triển và trả nợ vay. Xây dựng và triển khai kế hoạch tài chính trung hạn gắn với chiến lược quản lý nợ công, kiểm soát bội chi ngân sách và kế hoạch đầu tư công trong cùng thời kỳ.

    Hoàn thiện chính sách thu gắn với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước theo hướng bao quát toàn bộ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là các nguồn thu mới, phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng tỉ trọng thu nội địa, bảo đảm tỉ trọng hợp lý giữa thuế gián thu và thuế trực thu, khai thác tốt thuế thu từ tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong các sắc thuế và chính sách miễn, giảm, giãn thuế, bảo đảm tính trung lập của thuế, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, công bằng, khuyến khích đầu tư, điều tiết thu nhập hợp lý. Tăng cường quản lý, khai thác, huy động nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.

    Từng bước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng hợp lý tỉ trọng chi đầu tư, giảm dần tỉ trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế, thực hiện cải cách tiền lương. Đổi mới quản lý chi ngân sách nhà nước phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường; rà soát các chính sách xã hội, an sinh xã hội để bảo đảm sử dụng ngân sách tập trung và có hiệu quả cao; đẩy mạnh thực hiện khoán chi và tiền tệ hóa, đưa vào thu nhập một số chính sách, chế độ theo tiêu chuẩn, định mức chi. Nâng cao hiệu quả chi ngân sách, từng bước triển khai quản lý chi ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    4- Đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Tập trung nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư các công trình trọng điểm, có sức lan tỏa lớn và giải quyết các vấn đề phát triển của quốc gia, vùng và liên vùng, tạo thuận lợi thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành và vốn nhà nước ở các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ để sử dụng cho đầu tư phát triển và giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội cấp bách. Xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém. Tăng cường đổi mới khu vực sự nghiệp công lập, tạo bước đột phá về chất lượng, hiệu quả; từng bước tính đúng, tính đủ chi phí vào giá dịch vụ công và có chính sách hỗ trợ phù hợp cho đối tượng chính sách, người nghèo, người yếu thế trong xã hội.

    5- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính – ngân sách nhà nước và nợ công; thực hiện có hiệu quả việc phân cấp, phân quyền cho các địa phương; ngăn chặn và xử lý nghiêm tình trạng trốn thuế, thất thu và nợ thuế.

    Nghiên cứu, ứng dụng phương pháp xây dựng dự toán thu ngân sách trên cơ sở dữ liệu quản lý thuế và dự toán chi ngân sách theo mục tiêu, nhiệm vụ, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá dịch vụ và cam kết chi. Thực hiện thu chi trong phạm vi dự toán; vay nợ, giải ngân trong phạm vi kế hoạch và hạn mức được cấp thẩm quyền quyết định; hạn chế tối đa việc ứng trước dự toán, chuyển nguồn. Không chuyển vốn vay, bảo lãnh chính phủ thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước. Tăng cường kiểm soát chi ngân sách theo hướng phù hợp với khả năng thu và trả nợ, thống nhất quy trình, tập trung đầu mối và hoàn thiện cơ chế quản lý, kiểm soát cam kết chi. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thực hiện công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình về ngân sách nhà nước và nợ công.

    Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương theo hướng tinh gọn, gắn trách nhiệm quyết định chi ngân sách, vay nợ công với trách nhiệm quản lý ngân sách nhà nước và trả nợ công. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính; nâng cao năng lực dự báo và xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước và nợ công.

    6- Nghiên cứu, xây dựng chiến lược và lộ trình cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công sau năm 2022 theo hướng:

    – Phát triển hệ thống thu đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; cơ cấu thu bền vững; bảo đảm huy động đầy đủ, chủ động, hợp lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

    – Hoàn thiện pháp luật, đổi mới cơ bản công tác quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong trung, dài hạn và hằng năm; nâng cao hiệu quả công tác lập ngân sách, chấp hành kiểm toán, quyết toán, giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước; trao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình đối với các đơn vị sử dụng ngân sách.

    – Kết hợp chặt chẽ công tác quản lý nợ công với công tác điều hành chính sách tài khóa – tiền tệ; xây dựng khung pháp lý, phát triển và áp dụng đầy đủ, đồng bộ các công cụ và nghiệp vụ quản lý nợ công; nghiên cứu đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả cơ quan quản lý nợ công theo mô hình phù hợp.

    IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1- Các tỉnh ủy, thành ủy, ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Xác định cụ thể nội dung cơ cấu lại ngân sách nhà nước trong phạm vi được giao theo nguyên tắc triệt để tiết kiệm chi, chống lãng phí, tổ chức sắp xếp lại bộ máy, biên chế theo hướng tinh gọn, tập trung; đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp công lập, thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước cho phát triển. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

    2- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, nợ công, tài sản công; khu vực hành chính, sự nghiệp công lập; về quản lý giá, tài chính, đầu tư, kế toán, kiểm toán…; rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn tổ chức của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương theo hướng tinh gọn, gắn trách nhiệm quyết định chi ngân sách, vay nợ công với trách nhiệm quản lý ngân sách nhà nước và trả nợ công.

    3- Ban cán sự đảng các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ sau:

    3.2- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng, điều hành kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại đầu tư công.

    3.3- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì triển khai thực hiện chính sách tiền tệ phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của các doanh nghiệp, bảo đảm nhất quán với việc quản lý nợ công, nợ quốc gia; đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém.

    3.4- Bộ Nội vụ chủ trì rà soát, đôn đốc, kiến nghị giải pháp tiếp tục tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu, xây dựng phương án sắp xếp lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, xác định rõ trách nhiệm quản lý ngân sách nhà nước và trả nợ công, trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.

    4- Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn việc học tập, quán triệt Nghị quyết, chỉ đạo công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng đắn trong cả hệ thống chính trị và toàn dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội phát động phong trào thực hành tiết kiệm, tổ chức học tập, quán triệt trong đoàn viên, hội viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện Nghị quyết.

    5- Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    T/M BỘ CHÍNH TRỊ Nguyễn Phú Trọng

    TỔNG BÍ THƯ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Hành Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 07
  • 12 Chức Danh Hoạt Động Không Chuyên Trách Ở Cấp Xã Áp Dụng Từ Ngày 1
  • Bố Trí Kiêm Nhiệm Các Chức Danh Người Hoạt Động Không Chuyên Trách
  • Thực Hiện Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị: Thể Dục Thể Thao Có Bước Phát Triển Mạnh
  • Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Toàn Văn Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị Về Chiến Lược Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Sơn La: Ghi Nhận Kết Quả Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Về Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững
  • Nghị Quyết An Toàn Giao Thông
  • Tin Giao Thông Đường Bộ Tin Giao Thông Đường Bộ
  • Những Điểm Mới Trong Nghị Quyết 12 Về Tăng Cường Bảo Đảm Trật Tự Atgt Và Chống Ùn Tắc Của Chính Phủ
  • Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước.

    Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị về nâng cao năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng và triển khai thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông.

    Cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng khá đồng bộ. Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; công nghệ số được áp dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh, dịch vụ mới, xuyên quốc gia, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet đang tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập, tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

    Việc xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực.

    Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả.

    Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

    Những hạn chế nêu trên có những nguyên nhân chủ quan và khách quan; trong đó, nguyên nhân chủ quan là chính. Nhận thức về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hệ thống chính trị và toàn xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thống nhất. Khả năng phân tích, dự báo chiến lược về xu thế phát triển khoa học, công nghệ tác động đến đời sống kinh tế – xã hội của đất nước còn hạn chế.

    Tư duy trong xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế phù hợp với yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chậm được đổi mới, sức ỳ còn lớn. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chưa theo kịp diễn biến thực tế. Sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, giữa Trung ương với các địa phương chưa chặt chẽ; nhiều khó khăn, vướng mắc chậm được tháo gỡ.

    II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

    1. Quan điểm chỉ đạo

    – Chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội.

    – Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cả cơ hội và thách thức. Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội thông qua nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nhất là một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

    Chủ động phòng ngừa, ứng phó để hạn chế các tác động tiêu cực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn, công bằng xã hội và tính bền vững của quá trình phát triển đất nước.

    – Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp. Cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí.

    – Phát huy tối đa các nguồn lực, bảo đảm đủ nguồn lực cho việc chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xác định nguồn lực bên trong là quyết định, chiến lược, cơ bản lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của toàn xã hội.

    Mục tiêu tổng quát: Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

    Một số mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN. Xây dựng được hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN; Internet băng thông rộng phủ 100% các xã. Kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP; năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm. Cơ bản hoàn thành chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội. Thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng chính phủ điện tử theo đánh giá của Liên hợp quốc. Có ít nhất 3 đô thị thông minh tại 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung.

    Một số mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Duy trì xếp hạng về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp. Kinh tế số chiếm trên 30% GDP; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 7,5%/năm. Hoàn thành xây dựng Chính phủ số. Hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung; từng bước kết nối với mạng lưới đô thị thông minh trong khu vực và thế giới.

    3. Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á; có năng suất lao động cao, có đủ năng lực làm chủ và áp dụng công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh.

    III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CHỦ ĐỘNG THAM GIA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

    1. Đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội

    – Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền về sự cấp thiết phải chủ động tham gia tích cực và có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các cấp, các ngành.

    – Xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số.

    – Nhà nước ưu tiên chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới trong các ngành, lĩnh vực; có trách nhiệm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ, tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm để người dân và doanh nghiệp là các chủ thể quyết định tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    2. Hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia

    – Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, Internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Bổ sung một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

    – Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi trường kinh doanh số, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm. Nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho doanh nghiệp công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới. Thực hiện định danh, công nhận, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với các sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.

    – Chủ động tham gia vào các khuôn khổ pháp lý khu vực và toàn cầu để phát triển kinh tế số. Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế. Xây dựng hành lang pháp lý cho định danh số và xác thực điện tử quốc gia; thiết lập khung danh tính số quốc gia.

    – Hoàn thiện các chính sách tài chính nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo. Sửa đổi các quy định về đầu tư theo hướng tạo thuận lợi cho các hoạt động thu hút vốn, mua cổ phần, mua bán sáp nhập doanh nghiệp công nghệ; các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

    – Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại hoá và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật trong nước và bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia. Khuyến khích các công ty đa quốc gia đặt các cơ sở nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

    – Hoàn thiện pháp luật, chính sách về tài chính – tiền tệ, thanh toán điện tử, quản lý thuế và các dịch vụ xuyên biên giới phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số. Hoàn thiện chính sách đặt hàng sản xuất và mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ số do Việt Nam sản xuất.

    – Ban hành các chính sách hạn chế các tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tạo lập hành lang pháp lý cho việc triển khai các mô hình lao động, việc làm mới trên nền tảng công nghệ số và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xử lý kịp thời các thách thức đặt ra đối với phát triển xã hội. Thúc đẩy việc tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    – Xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về phát triển các doanh nghiệp công nghệ, ưu tiên phát triển các doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp công nghệ cao thực hiện thiết kế, sáng tạo và sản xuất tại Việt Nam.

    – Xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về phát triển đô thị thông minh bền vững; hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia; hệ thống hạ tầng dữ liệu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của đô thị thông minh. Xác định rõ lộ trình thí điểm và lựa chọn các đô thị thí điểm đô thị thông minh; cho phép thực hiện thí điểm một số cơ chế đặc thù trong quá trình triển khai thí điểm phát triển đô thị thông minh bảo đảm tính hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế.

    3. Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu

    – Triển khai băng thông rộng chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực tham gia xây dựng hạ tầng viễn thông và các hạ tầng khác cho chuyển đổi số quốc gia.

    – Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất. Hình thành các hệ thống dữ liệu tin cậy, ổn định của Nhà nước và doanh nghiệp. Đầu tư trang bị các hệ thống thiết bị thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ dữ liệu công.

    – Quy hoạch xây dựng hạ tầng thanh toán số quốc gia theo hướng đồng bộ, thống nhất, dùng chung, tận dụng và khai thác có hiệu quả hạ tầng mạng lưới viễn thông để triển khai các dịch vụ thanh toán cho người dân với chi phí thấp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy mạnh mẽ thanh toán không dùng tiền mặt. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng các hệ thống thanh toán số. Quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hình thức thanh toán trực tuyến qua biên giới.

    – Đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Xây dựng và triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia.

    – Nâng cấp hạ tầng các ngành, lĩnh vực quan trọng, thiết yếu đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu áp dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trước hết là hạ tầng năng lượng và giao thông. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

    4. Chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia

    – Cơ cấu lại toàn diện hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ công lập. Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nâng cao hiệu quả đầu tư công cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trên cơ sở áp dụng mô hình quản trị mới theo thông lệ tốt của thế giới.

    – Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học và viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Khuyến khích các trường đại học, doanh nghiệp, tổ chức trong nước và nước ngoài thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

    – Ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia làm nền tảng cho việc ứng dụng và phát triển các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất và đời sống. Tạo lập đồng bộ và kịp thời khung pháp lý và hệ thống các chính sách để triển khai và phát triển các công nghệ mới. Xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, thực hiện chuyển đổi số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    – Hoàn thiện mô hình và cơ chế, chính sách để tạo sự phát triển đột phá đối với các khu công nghệ cao. Trên cơ sở các khu công nghệ cao Hoà Lạc (Hà Nội), Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển các khu đô thị sáng tạo đạt đẳng cấp quốc tế. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đẩy nhanh thành lập các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, trước mắt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực

    – Rà soát tổng thể, thực hiện đổi mới nội dung và chương trình giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển; đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu. Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số; lấy đánh giá của doanh nghiệp làm thước đo cho chất lượng đào tạo của các trường đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số.

    – Có cơ chế khuyến khích và ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục và đào tạo, tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế số. Xây dựng một số trung tâm giáo dục, đào tạo xuất sắc về công nghệ theo hình thức hợp tác công – tư. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao.

    – Phát triển mạnh đào tạo nghề và hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho chuyển đổi công việc. Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người lao động khi tham gia đào tạo lại, đào tạo nâng cao chuyên môn và kỹ năng để chuyển đổi công việc.

    – Hình thành mạng học tập mở của người Việt Nam. Thực hiện theo lộ trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt trình độ cơ bản cho người dân. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, xây dựng văn hoá số trong cộng đồng.

    6. Chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên

    – Tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao như: Công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính – ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hoá số; y tế; giáo dục và đào tạo.

    – Ưu tiên nguồn lực cho triển khai một số chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các công nghệ ưu tiên, trọng tâm là: Công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện tử, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh.

    – Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ các ngành và công nghệ ưu tiên chủ yếu thông qua đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực; phát triển khoa học và công nghệ; đặt hàng mua sắm công.

    7. Chính sách hội nhập quốc tế

    – Mở rộng và làm sâu sắc hơn hợp tác về khoa học, công nghệ với các đối tác, đặc biệt là các nước đối tác chiến lược có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, đang đi đầu trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chủ động tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

    – Đẩy mạnh thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ nước ngoài và các đối tác quốc tế cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, chuyển giao công nghệ.

    – Hoàn thiện luật pháp, chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng nâng cao tiêu chuẩn công nghệ, khuyến khích hình thức liên doanh và tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài; quản lý chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp dựa trên nền tảng cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia để bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng trong nước. Hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư mạo hiểm có vốn nước ngoài.

    8. Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội

    – Tiên phong thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong các cơ quan đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ.

    – Xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu thập, quản lý dữ liệu và giao dịch trên nền tảng Internet ở các cơ quan nhà nước.

    – Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện chuyển đổi số. Hoàn thiện các quy trình, thủ tục hành chính phù hợp với hoạt động của chính quyền số, cắt giảm tối đa giao dịch trực tiếp.

    IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên; xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết.

    2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật để tạo thuận lợi cho tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo tinh thần của Nghị quyết; ban hành một số cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để khuyến khích phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới của nền kinh tế số.

    3. Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ban hành, triển khai Đề án chuyển đổi số quốc gia và các đề án, chương trình, kế hoạch tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chỉ đạo xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, mô hình, kinh doanh mới. Ưu tiên bố trí đủ nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết.

    4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Tỉnh Bà Rịa
  • Nghị Quyết 29 Về An Ninh Mạng
  • Ai Ban Hành Quyết Định Hành Chính
  • Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Thẩm Quyền Ban Hành Quyết Định Và Nghị Quyết
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • Triển Khai Nghị Quyết Số 35
  • Trường Đại Học Vinh Tổ Chức Quán Triệt Nghị Quyết Số 35
  • Thi Đua Xây Dựng Và Phát Triển Tp Cần Thơ Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 59
  • Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương: Cần Thơ Phải Có Sức Hút, Sức Lan Tỏa
  • – Ngày 5/8/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 58 NQ/TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong nghị quyết, Bộ Chính trị nêu quan điểm: “Thanh Hoá là tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, có vai trò kết nối vùng đồng bằng Sông Hồng, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ. Xây dựng và phát triển Thanh Hoá trở thành tỉnh kiểu mẫu, trở thành một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển là trách nhiệm của tỉnh Thanh Hoá và cả nước nhằm hiện thực hoá lời căn dặn của Bác Hồ khi về thăm tỉnh Thanh Hóa”…

    Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030: “Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp giá trị gia tăng cao; dịch vụ logistics, du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hoá, thể thao; một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; nơi người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước, các giá trị di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn, phát huy; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; các tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Tầm nhìn đến năm 2045: “Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước”.

    Nghị quyết được đánh giá một mốc son mới, mở đường cho Thanh Hóa bứt phá phát triển.

    Từ số báo này, Báo VH&ĐS cho ra mắt chuyên mục “Triển khai thực hiện Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị”, nhằm đăng tải các ý kiến đánh giá, nhìn nhận, phân tích cơ hội, thời cơ phát triển từ nghị quyết. Đồng thời phản ánh không khí học tập, nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết từ các cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội và các tầng lớp nhân dân; cổ vũ những cách làm hay, sáng tạo trong thực hiện nghị quyết… Qua đó nhằm góp tiếng nói trách nhiệm, cổ vũ Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa thực hiện thắng lợi nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

    Đồng chí Nguyễn Đức Thắng – Nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Thanh Hóa có thêm đôi cánh

    Tôi vô cùng phấn khởi khi được biết ngày 5/8/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 58 về Xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Thanh Hóa vinh dự là một trong số ít các tỉnh thành trong cả nước được Bộ Chính trị ban hành nghị quyết riêng. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta, đồng thời cũng khẳng định vị thế quan trọng của Thanh Hóa trong chiến lược phát triển của cả nước.

    Nhìn lại những năm qua, vượt lên mọi khó khăn thách thức, Thanh Hóa đã có những bứt phá ngoạn mục đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Dẫu còn khó khăn nhưng đi đến nơi đâu cũng nhìn thấy sự hồ hởi, phấn khởi trên khuôn mặt mọi người dân. Thành tựu đạt được đó làm nức lòng nhân dân Thanh Hóa, là điểm sáng trong cả nước.

    Bây giờ, chúng ta lại được Nghị quyết Bộ Chính trị nữa, như tạo thêm đôi cánh, tạo thêm nguồn lực to lớn cho sự phát triển, cất cánh của tỉnh ta trong một chiến lược dài hơi đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Điều đáng mừng là Bộ Chính trị đã đặt Thanh Hóa ở một vị thế chiến lược mới, đó là Thanh Hóa trở thành một cực tăng trưởng mới nằm trong tứ giác tăng trưởng Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng – Thanh Hóa. Đây là lợi thế, cũng là thách thức nặng nề đối với tỉnh ta.

    Tôi cho rằng, muốn thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị, chúng ta cần hết sức quan tâm đến mấy việc:

    Một là: Cần phải tổ chức đợt học tập, nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết số 58 sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo nên nhận thức sâu sắc, thống nhất, ý chí trách nhiệm, quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện.

    Hai là: Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu đến năm 2025, giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, cùng 9 nhiệm vụ giải pháp. Vấn đề còn lại là tỉnh và từng cấp, từng ngành phải cụ thể hóa thành các kế hoạch, nhiệm vụ, công việc để tổ chức thực hiện, cái nào trước, cái nào sau, trọng tâm từng giai đoạn, từng năm. Điều này đòi hỏi phải rất thực tiễn, rất khoa học, có tính khả thi cao, sáng tạo.

    Ba là: Coi trọng công tác lãnh đạo, điều hành. Lãnh đạo thống nhất, chủ động, sáng tạo, điều hành tập trung, quyết liệt, linh hoạt, nâng cao trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, đặc biệt là trách nhiệm, gương mẫu của người đứng đầu. Loại bỏ các yếu tố lừng chừng, cản trở, tiêu cực, tham nhũng.

    Bốn là: Xây dựng sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong nhân dân, khơi dậy khát vọng xây dựng Thanh Hóa thịnh vượng, văn minh, đẹp giàu ở mỗi người dân.

    Thanh Hóa đang có đà phát triển phi mã. Tôi tin tưởng Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị sẽ được tổ chức thực hiện thành công, tạo nguồn sức mạnh mới để Thanh Hóa cất cánh, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân.

    Kiều Huyền (thực hiện)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Định Số 116 Về Phòng Chống Rửa Tiền
  • Luật Phòng Chống Rửa Tiền Năm 2012
  • Nghị Định Phòng Chống Rửa Tiền
  • Một Số Nội Dung Nghị Quyết Hướng Dẫn Áp Dụng Tội Rửa Tiền
  • Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Có Nghị Quyết Hướng Dẫn Tội Rửa Tiền Điều 324
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Nghị Quyết Số 35
  • Trường Đại Học Vinh Tổ Chức Quán Triệt Nghị Quyết Số 35
  • Thi Đua Xây Dựng Và Phát Triển Tp Cần Thơ Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 59
  • Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương: Cần Thơ Phải Có Sức Hút, Sức Lan Tỏa
  • Cần Thơ: Chủ Động Nghiêm Túc Triển Khai Nghị Quyết 59
  • Học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 58

    Lưu ý: Nếu không tìm thấy nút Tải về bài viết này, bạn vui lòng kéo xuống cuối bài viết để tải về.

    BÀI THU HOẠCH NGHỊ QUYẾT SỐ 58 VỀ TỈNH THANH HÓA

    I. Ý NGHĨA CỦA NGHỊ QUYẾT

    Nghị quyết có một ý nghĩa hết sức quan trọng, là mốc son trong chặng đường xây dựng và phát triển của tỉnh Thanh Hóa, là một mốc son để khẳng định vai trò quan trọng của Thanh Hóa trong những đóng góp đổi mới, phát triển của cả đất nước.

    “Nghị quyết đặt ra cho Thanh Hóa phải là một cực phát triển để tạo ra một tứ giác phát triển trên nền tảng tam giác phát triển là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Với sự phát triển của Thanh Hóa thì Thanh Hóa trở thành một cực phát triển, một động lực phát triển cho vùng Bắc Trung Bộ, tạo ra sự kết nối giữa Bắc Trung Bộ với tứ giác phát triển, đồng thời tạo ra sự kết nối giữa Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa với Duyên hải Bắc Bộ cũng như với vùng Tây Bắc. Có nghĩa là với sự phát triển của Thanh Hóa, tạo ra sức lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của hầu như toàn bộ các tỉnh phía Bắc. Điều đó cho thấy, Nghị quyết này không chỉ dừng lại việc phát triển cho Thanh Hóa mà còn góp phần thúc đẩy, lan tỏa cho các tỉnh trong cả nước”

    II. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP 1. Quan điểm

    – Thanh Hoá là tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, có vai trò kết nối vùng đồng bằng Sông Hồng, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ. Xây dựng và phát triển Thanh Hoá trở thành tỉnh kiểu mẫu, trở thành một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển là trách nhiệm của tỉnh Thanh Hoá và cả nước nhằm hiện thực hoá lời căn dặn của Bác Hồ khi về thăm tỉnh Thanh Hóa (1).

    – Phát huy mọi tiềm năng, lợi thế để phát triển tỉnh Thanh Hoá nhanh và bền vững với công nghiệp nặng, nông nghiệp quy mô lớn, giá trị gia tăng cao là nền tảng; các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics là đột phá; du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn… bảo đảm hài hoà và cân đối giữa các vùng, miền, nhất là giữa vùng đồng bằng và ven biển với vùng miền núi; giữa thành thị và nông thôn. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nhanh với phát triển bền vững; giữa phát triển hợp lý theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, trong đó phát triển theo chiều sâu là chủ đạo.

    – Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ cao; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài và năng lực hội nhập kinh tế quốc tế; tạo đột phá trong cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư, tài chính và phân cấp quản lý đặc thù, phù hợp nhằm thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là từ khu vực kinh tế tư nhân cho phát triển, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng và những vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế có tiềm năng, lợi thế.

    – Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội. Các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá phải gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường sinh thái; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh đô thị hoá gắn với xây dựng nông thôn mới; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.

    – Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn điện; phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ. Nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống cách mạng, tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

    2. Tầm nhìn và mục tiêu Mục tiêu đến năm 2030

    Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp năng lượng và chế biến, chế tạo; nông nghiệp giá trị gia tăng cao; dịch vụ logistics, du lịch, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hoá, thể thao; một cực tăng trưởng mới cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; nơi người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước, các giá trị di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn, phát huy; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; các tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

    Tầm nhìn đến năm 2045

    Thanh Hoá là tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước.

    III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1. Xây dựng tỉnh Thanh Hoá trở thành một cực tăng trưởng mới của khu vực và cả nước với công nghiệp nặng, nông nghiệp quy mô lớn, giá trị gia tăng cao là nền tảng; các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics là đột phá; du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.

    2. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, đặc biệt là kết cấu hạ tầng đô thị, hạ tầng giao thông đồng bộ, hiên đại, kết nối các vùng, miền, các cực tăng trưởng, là cơ sở để tỉnh Thanh Hoá phát huy vai trò là một cực tăng trưởng mới.

    3.Thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở đột phá về cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư, tài chính và phân cấp quản lý đặc thù, phù hợp để tỉnh Thanh Hoá trở thành một cực tăng trưởng mới.

    4. Phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; dịch vụ chăm sóc sức khoẻ; tạo nền tảng để trở thành một trong những trung tâm lớn của khu vực và cả nước về giáo dục và đào tạo; y tế chuyên sâu.

    5. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tạo nền tảng để tỉnh Thanh Hoá trở thành một trong những trung tâm lớn về văn hoá và thể thao của khu vực và cả nước. Thực hiện tốt công tác tôn giáo và dân tộc.

    6. Tăng cường công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu.

    7. Tăng cường liên kết, hợp tác với các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ, thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước.

    8. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tăng cường hợp tác và hữu nghị với các địa phương của nước bạn Lào, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.

    9. Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp uỷ đảng, chính quyền.

    Ngoài Bài thu hoạch Nghị quyết số 58 của Bộ Chính trị, mời quý bạn đọc cùng tham khảo các mẫu Bài thu hoạch khác đã được chúng tôi tổng hợp và đăng tải.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • Nghị Định Số 116 Về Phòng Chống Rửa Tiền
  • Luật Phòng Chống Rửa Tiền Năm 2012
  • Nghị Định Phòng Chống Rửa Tiền
  • Một Số Nội Dung Nghị Quyết Hướng Dẫn Áp Dụng Tội Rửa Tiền
  • Bộ Chính Trị Sẽ Có Nghị Quyết Riêng Phát Triển Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế
  • Nội Dung Chính Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Về Cách Mạng 4.0
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0
  • Ông Nguyễn Văn Bình – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trưởng Ban Kinh tế trung ương, trưởng ban chỉ đạo – chủ trì hội nghị.

    Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh trên cơ sở đánh giá toàn diện mọi tiềm năng, thế mạnh của Thanh Hóa, Bộ Chính trị nhận thấy tỉnh có điều kiện vươn lên phát triển mạnh, trở thành động lực để phát triển khu vực Bắc Trung Bộ, miền Trung, lan tỏa cho cả nước, góp phần quan trọng đảm bảo quốc phòng, an ninh, quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.

    Do vậy, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo trung ương để xây dựng đề án phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Ngoài ra, đề án phải có tầm nhìn chiến lược, mục tiêu rõ ràng, giải pháp đồng bộ, khả thi và có tính đột phá cao, đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế để giúp Thanh Hóa có động lực khai thác đầy đủ mọi tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa và giá trị con người Thanh Hóa.

    Sau khi hoàn thiện đề án, Ban Kinh tế trung ương và Tỉnh ủy Thanh Hóa sẽ trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành nghị quyết riêng cho Thanh Hóa thực hiện.

    Trước đó, ngày 1-3, ông Nguyễn Văn Bình cùng đoàn công tác trung ương đã làm việc với Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, thăm Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, Cảng tổng hợp quốc tế Nghi Sơn.

    Quốc hội sẽ có nghị quyết riêng cho các vùng nghèo nhất

    Vui lòng nhập Email

    Email Không đúng định dạng

    Vui lòng nhập Email

    Email Không đúng định dạng

    Mật khẩu không đúng.

    Vui lòng nhập Email

    Email Không đúng định dạng

    Lấy mã mới

    Mã xác nhận không đúng.

    Nhập mã xác nhận

    Đóng lại

    Lấy mã mới

    Mã xác nhận không đúng.

    Vui lòng nhập thông tin và ý kiến của bạn

    X

    Email (*)

    Vui lòng nhập Email

    Email Không đúng định dạng

    Ý kiến của bạn (*)

    Lấy mã mới

    Mã xác nhận không đúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Chính Trị Chỉ Đạo Xây Dựng Nghị Quyết Phát Triển Thanh Hóa Đến 2030, Tầm Nhìn 2045
  • Bộ Chính Trị Lần Đầu Ban Hành Nghị Quyết Về Phát Triển Thanh Hóa
  • Trắc Nghiệm Đường Lối Cmvn
  • Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới
  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100