Pháp Luật Là Gì? Các Thuộc Tính Của Pháp Luật?

--- Bài mới hơn ---

  • Ngành Luật Kinh Tế Xét Tuyển Những Môn Nào?
  • Trường Nào Tuyển Sinh Ngành Luật Kinh Tế?
  • Ngành Tài Chính Ngân Hàng Xét Tuyển Những Tổ Hợp Môn Nào?
  • Trường Nào Xét Tuyển Học Bạ Ngành Luật Kinh Tế?
  • Đại Học Kinh Tế Tài Chính Xét Tuyển Học Bạ Ngành Luật Kinh Tế Như Thế Nào?
  • *Định nghĩa Pháp luật:

    Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.

    *Các thuộc tính của Pháp luật:

    – Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, qui phạm được hiểu là những qui tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực, mực thước đối với hành vi của 1 phạm vi cá nhân, tổ chức. Pháp luật được biểu hiện cụ thể là những qui phạm pháp luật. Do vậy nó cũng là qui tắc xử sự chung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà nước ban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể mà áp dụng cho tất cả các chủ thể. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa Pháp luật với các loại qui phạm khác ở chỗ: Pháp luật là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.

    VD: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế.

    – Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật là phải xác định chặt chẽ về mặt hình thức, được biểu hiện ở:

    +Lời văn: phải chính xác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa. Nếu không đúng được yêu cầu này, chủ thể sẽ hiểu sai, hiểu khác.

    +Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên mỗi một cơ quan/ loại cơ quan chỉ được ban hành những loại văn bản nhất định có tên gọi xác định và theo một trình tự, thủ tục nhất định.

    VD: Hiếu pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành

    Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành

    +Sự xác định chặt chẽ trong cấu trúc của Pháp luật.

    – Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước: Pháp luật do Nhà nước ban hành và thừa nhận đồng thời Nhà nước sẽ đảm bảo cho Pháp luật đó được thực hiện trong thực tiễn đời sống. Sự đảm bảo đó được thể hiện:

    +Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp đỡ để chủ thể thực hiện pháp luật.

    +Nhà nước đảm bảo cho Pháp luật được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

    Tính cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi Pháp luật. Mục đích cưỡng chế và cách thức cưỡng chế là tùy thuộc bản chất Nhà nước.

    Đặc điểm của pháp luật:

    – PL thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.

    – PL là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.

    – PL do Nhà nước đặt ra và bảo vệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Học Kinh Tế Và Luật Trung Nam
  • Danh Sách 51 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Luật Kinh Tế Năm 2022
  • Tiểu Luận Pháp Luật Kinh Tế Trình Bày Về Các Khái Niệm Vốn Điều Lệ…
  • Một Số Lưu Ý Về Đám Phán Và Ký Kết Hợp Đồng Kinh Tế
  • Hợp Đồng Kinh Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật 2022
  • Qui Luật Kinh Tế (Economic Laws) Là Gì? Tính Chất Của Qui Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Kinh Tế (Economic Law) Là Gì? Nội Dung Cơ Bản Của Luật Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Tuyển Sinh Liên Thông Đại Học Kinh Tế Luật
  • Băn Khoăn Biết Hỏi Ai: Có Nên Học Trường Đại Học Kinh Tế Luật Không?
  • Tìm Hiểu Ngành Marketing Đại Học Kinh Tế Luật (Đhqg
  • Ký Túc Xá Đại Học Kinh Tế Luật Có Gì Đặc Biệt?
  • Khái niệm

    Qui luật kinh tế trong tiếng Anh được gọi là Economic laws.

    Các qui luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

    Tính chất Qui luật kinh tế

    Qui luật kinh tế có những tính chất sau:

    – Cũng như các qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.

    Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình.

    – Qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người.

    Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất.

    – Khác với các qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.

    Do đó, có thể chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc thù và các qui luật kinh tế chung.

    Các qui luật kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại trong một số phương thức sản xuất.

    Nghiên cứu qui luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.

    Chính sách kinh tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào hoạt động kinh tế. Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người.

    Không hiểu biết, vận dụng sai hoặc coi thường qui luật kinh tế sẽ không tránh khỏi bệnh chủ quan, duy ý chí, chính sách kinh tế sẽ không đi vào cuộc sống, thậm chí còn gây hậu quả khó lường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Luật (Law And Economics) Là Gì?
  • Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3 Hubt
  • Seminar Luật Kinh Tế 1 Hubt
  • Những Loại Công Trình Phải Lập Báo Cáo Kinh Tế Kỹ Thuật Đầu Tư Xây Dựng?
  • Kinh Tế Xây Dựng Là Gì Trong Ngành Kinh Tế? Bạn Có Biết?
  • Quy Luật Okun Là Gì? Tính Không Hoàn Hảo Của Quy Luật Okun

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Okun Công Thức
  • Hình Thức Đầu Tư Ppp Là Gì
  • Tìm Hiểu Về Phương Thức Đầu Tư Ppp Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Xây Dựng Luật Ppp Chặt Chẽ, Đồng Bộ Với Hệ Thống Pháp Luật
  • Dự Án Ppp Là Gì?
  • Quy luật Okun là gì?

    Quy luật Okun (Okun ‘s law) thể hiện mối quan hệ thống kê đáng tin cậy giữa tỷ lệ thất nghiệp và những thay đổi trong tổng sản phẩm quốc dân thực hiện do Arthur Okun (1929 – 1979) phát hiện ra. Theo Okun, nếu tỷ lệ thất nghiệp giảm 1% thì sản lượng thực hiện sẽ tăng khoảng 2%.

    Tính không hoàn hảo của quy luật Okun

    Định luật Okun, thường được xem là một dạng “Quy luật ngón tay cái” bởi vì nó là ước lượng xấp xỉ được rút ra từ quan sát thực nghiệm thay vì từ lý thuyết. Gọi là xấp xỉ vì còn có những yếu tố khác (như năng suất) ảnh hưởng đến kết quả. Trong bản báo cáo gốc của Okun phát biểu rằng 2% gia tăng trong sản lượng sẽ dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp chu kỳ giảm 1%, số người tham gia lực lượng lao động tăng 0.5%, số giờ làm việc của mỗi lao động tăng 0.5%; và sản lượng trong mỗi giờ làm việc (năng suất lao động) tăng 1%.

    Mối quan hệ được kiểm định bằng cách hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP hoặc GNP theo mức thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp. Tại Mỹ, mức sụt giảm sản lượng dường như có xu hướng giảm bớt theo thời gian. Theo Andrew Abel và Ben Bernanke, với khung thời gian nghiên cứu gần hơn đã ước lượng sản lượng giảm khoảng 2% tương ứng với mỗi 1% tăng của thất nghiệp (Abel & Bernanke, 2005).

    Có một số nguyên nhân giải thích tại sao GDP có thể tăng/giảm nhanh hơn tương ứng mức giảm/ tăng của tỷ lệ thất nghiệp như sau:

    Khi thất nghiệp tăng:

    – Hiệu ứng số nhân tiền tệ giảm do người lao động có xu hướng giảm bớt chi tiêu

    – Một lượng người thất nghiệp từ bỏ tìm kiếm việc làm, và không được tính vào lực lượng lao động. Không được thống kê là thất nghiệp.

    – Công nhân có thể làm việc ít giờ hơn.

    – Năng suất lao động có thể giảm, có lẽ bởi vì chủ lao động duy trì số công nhân nhiều hơn mức cần thiết.

    – Một hàm ý từ các phân tích trên đó là sự gia tăng năng suất lao động hoặc sự mở rộng quy mô lực lượng lao động có thể dẫn đến tăng trưởng sản lượng ròng nhưng tỷ lệ thất nghiệp ròng không giảm (hiện tượng “jobless growth”).

    --- Bài cũ hơn ---

  • ​quốc Hội Mỹ Thông Qua Việc Bãi Bỏ Đạo Luật Obamacare
  • Định Luật Ôm, Công Thức, Cách Tính Và Điện Trở Dây Dẫn
  • Định Luật Ohm Vape, Những Loại Vape Cơ Bản Và Cách Chỉnh Vape Hợp Lý
  • Làm Thế Nào Để Tính Toán Được Định Luật Ohm Để An Toàn Khi Hút Vape
  • Định Luật Ohm Là Gì?
  • Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật
  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • 1 – Luật Pháp là gì?

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    2 – Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý.
    • Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.
    • Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.
    • Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.
    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án.

    Hình 2: Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

      Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm.

    Trong xã hội dân dự, mặc dù Toà án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi.

      Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước Châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Toà án chưa trở thành một thói quan và văn hoá pháp luật. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.

    Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

      Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý.

    3 – Bản chất của Luật Pháp là gì?

      Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.

    Hình 3: Bản chất của Luật Pháp là gì?

    4 – Thuộc tính của Luật Pháp là gì?

    Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn (rộng rãi hơn) các quy phạm xã hội khác. Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ.

    Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật. Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.

    5 – Các hệ thống Pháp Luật là gì?

    6 – Các bộ phận của Luật Pháp là gì?

    7 – Kết luận

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Mấy Loại?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì?
  • Nguồn Của Pháp Luật Là Gì? Các Loại Nguồn Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Của Luật Hành Chính Là Gì? Phân Loại Nguồn Luật Hành Chính?
  • Các Loại Nguồn Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Tìm Hiểu Ngành Nghề: Ngành Luật Thương Mại Quốc Tế Là Gì?
  • Obamacare Là Gì ? Quyền Lợi Của Chương Trình Obamacare
  • Obamacare “làm Chúng Ta Lâm Bệnh”
  • Phân tích khái niệm nguồn của pháp luật. Trình bày khái quát các loại nguồn chủ yếu của pháp luật.

    Nguồn của pháp luật nói chung là tất cả những căn cứ được các chủ thể sử dụng làm cơ sở để xây dựng, giải thích, thực hiện pháp luật cũng như để áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế. Hiểu theo nghĩa này thì nguồn của pháp luật gồm có nguồn nội dung và nguồn hình thức.

    Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật, được các chủ thể có thấm quyền dựa vào để xây dựng, ban hành, giải thích và thực hiện pháp luật. Ví dụ: Đường lối, chính sách của Đảng, các nguyên tắc chung của pháp luật…

    Nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các căn cứ pháp lý cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội. Ví dụ: Tập quán pháp, án lệ và văn bản quy phạm pháp luật.

    Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, vấn đề nguồn nội dung của pháp luật nhìn chung không có nhiều ý nghĩa nên ít được đề cập. Ngược lại, vấn đề nguồn hình thức của pháp luật luôn được quan tâm cả trên bình diện nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, trong phạm vi môn học này, khi nói đến nguồn của pháp luật thì chủ yếu đề cập nguồn hình thức của nó.

    Trong thực tế, khi thực hiện một hành vi pháp lý (ký kết hợp đồng, khiếu nại, tố cáo, giải quyết vụ việc theo thấm quyền…), các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thấm quyền cũng như các cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định. Nơi chứa đựng hoặc cung cấp các căn cứ pháp lý đó được coi là nguồn của pháp luật, do vậy, có thể hiếu, nguồn của pháp luật là tất cả các hình thức (yếu tố) chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lý cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội.

    2 – Các loại nguồn chủ yếu của pháp luật

    Nguồn của pháp luật gồm nhiều loại nhu văn bản quy phạm pháp luật; tập quán pháp; tiền lệ pháp; đường lối, chính sách của lực lượng cầm quyền; các quan điểm, tu tưởng, học thuyết pháp lý; điều ước quốc tế; các quan niệm, chuấn mực đạo đức xã hội; lệ làng, hương ước của các cộng đồng dân cư; tín điều tôn giáo; các hợp đồng dân sự, thương mại…

    Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp hay án lệ là những loại nguồn cơ bản, các loại nguồn khác được coi là những nguồn không cơ bản, có giá trị bổ sung, thay thế các loại nguồn cơ bản trong một số trường hợp.

    a – Tập quán pháp

    Tập quán pháp là những tập quán của cộng đồng phù hợp với ý chí của nhà nước được nhà nước thừa nhận, nâng lên thành pháp luật.

    Ví dụ, tập quán ăn Tết cổ truyền, phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương, tập quán xác định họ, dân tộc cho con… ở nước ta đã trở thành tập quán pháp.

    b – Tiền lệ pháp (án lệ)

    Tiền lệ pháp là những bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được nhà nước thừa nhận có chứa đựng khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác tương tự.

    Tiền lệ pháp có thể được thể hiện trong các bản án, quyết định hành chính, tư pháp. Song, các quốc gia trên thế giới thường chỉ thừa nhận tiền lệ pháp do Tòa án tạo ra, vì vậy ngày nay tiền lệ pháp còn được gọi là án lệ. Ví dụ, các án lệ được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao của Việt Nam công bố.

    Trên thực tế có hai loại án lệ, một là án lệ tạo ra quy phạm pháp luật, nguyên tắc pháp luật mới, đây là loại án lệ cơ bản, án lệ gắn với chức năng sáng tạo pháp luật của Tòa án; hai là, án lệ hình thành bởi quá trình Tòa án giải thích các quy định trong pháp luật thành văn.

    c – Văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách (chủ thể) có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định.

    Ví dụ, Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014… của nước ta là những văn bản quy phạm pháp luật.

    Văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau:

    – Là văn bản do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thấm quyền ban hành pháp luật ban hành.

    – Là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật, tức là các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện.

    – Được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống và được thực hiện trong mọi trường hợp khi có các sự kiện pháp lý tương ứng với nó xảy ra cho đến khi nó hết hiệu lực.

    – Tên gọi, nội dung, trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật.

    Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dùng để ban hành, sửa đối, bố sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nhiều loại theo quy định của mỗi nước, thông thường nó gồm hai loại chính là văn bản luật và văn bản dưới luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Học Kiểm Sát Có Những Ngành Gì? Có Nên Học Ở Đây Hay Không?
  • Tính Chất Hoạt Động Của Nghề Luật Sư
  • Nghề Luật Và Nghề Luật Sư
  • Khái Niệm, Phạm Vi Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Thương Mại
  • Luật Thương Mại: Khái Niệm Và Phương Pháp Điều Chỉnh
  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Pháp Luật Nhà Nước Việt Nam
  • Bản Chất Và Vai Trò Của Pháp Luật
  • Anh/ Chị Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ: Quân Pháp Bất Vị Thân
  • Bài 5. Pháp Luật Và Kỷ Luật Sbt Gdcd 8: Ý Nghĩa Của Pháp Luật Và Kỉ Luật?
  • #1 Phân Tích Các Hình Thức Thực Hiện Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính
  • Theo học thuyết Mác – Lênin, pháp luật chỉ phát sinh tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp.

    Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật.

    Xã hội cộng sản nguyên thủy (CSNT), tập quán và tín điều tôn giáo là các quy phạm xã hội. Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia giai cấp thì tập quán không còn phù hợp (vì tập quán thể hiện ý chí chung của tất cả mọi người trong thị tộc). Trong điều kiện lịch sử mới, khi xung đột giai cấp diễn ra ngày càng gay gắt và cuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hòa được thì cần thiết phải có một loại quy phạm mới thể hiện ý chí của giai cấp thống trị để thiết lập một trật tự mới, đó chính là quy phạm pháp luật.

    Pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước và pháp luật đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp.

    Như vậy, pháp luật ra đời do nhu cầu xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một giai đoạn nhất định, giai đoạn xã hội đã phát triển quá phức tạp, đã xuất hiện những giai cấp có lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu chính trị – giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội.

    Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử, đã giải thích một cách đúng đắn khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp. Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp.

    Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. C.Mác và Ănghen khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: Pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, vì vậy pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người.

    Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn bộ xã hội.

    Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tư” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.

    Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có những nét riêng và cách biểu hiện riêng. Ví dụ: Pháp luật chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ. Pháp luật phong kiến công khai quy định đặc quyền, đặc lợi của địa chủ phong kiến, cũng như quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn áp nhân dân lao động. Trong pháp luật tư sản bản chất giai cấp được thể hiện một cách thận trọng, tinh vi dưới nhiều hình thức như quy định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ… nhưng thực chất pháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản và mục đích trước hết nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng một xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, công bằng xã hội được bảo đảm.

    Pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên nó còn mang tính chất xã hội. Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tùy thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội. Ví dụ: Pháp luật tư sản Ơ giai đoạn đầu, sau khi cách mạng tư sản thắng lợi, bên cạnh việc thể hiện ý chí của giai cấp tư sản còn thể hiện nguyện vọng dân chủ và lợi ích của nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Trong quá trình phát triển tiếp theo, tùy theo tình hình cụ thể, giai cấp tư sản đã điều chỉnh mức độ thể hiện đó theo ý chí của mình để pháp luật có thể “thích ứng” với điều kiện và bối cảnh xã hội cụ thể. Đối với pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng vậy, bên cạnh việc pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi thời kỳ (mỗi giai đoạn nhất định của quá trình phát triển), cũng phải tính đến ý chí và lợi ích của các tầng lớp khác.

    Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau. Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp; ngược lại, cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội.

    Tuy nhiên mức độ đậm, nhạt của hai tính chất đó của pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, ở một thời kỳ lịch sử nhất định.

    Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể.hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tô điều chỉnh các quan hệ xã hội. Để giải thích rõ bản chất của pháp luật còn cần thiết phải phân tích các mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị. đạo đức và nhà nước.

    Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối. Một mặt, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế; mặt khác, pháp luật lại có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế. Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế thể hiện ở chỗ nội dung của pháp luật là do các quan hệ kinh tế – xã hội quyết định, chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật. Sự thay đổi của chế độ kinh tế – xã hội sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi của pháp luật. Pháp luật luôn luôn phan ánh trình độ phát triển của chế độ kinh tế, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Mặt khác, pháp luật có sự tác động trở lại đối với sự phát triển của kinh tế. Sự tác động đó có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực. Khi nào pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì pháp luật có nội dung tiến bộ và có tác dụng tích cực. Ngược lại, khi pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị đã lỗi thời, muốn dùng pháp luật để duy trì các quan hệ kinh tế đã lạc hậu không còn phù hợp nữa, thì pháp luật mang nội dung lạc hậu và có tác dụng tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của kinh tế, xã hội. Chẳng hạn, pháp luật tư sản ở thời kỳ đầu, sau thắng lợi của cách mạng tư sản đã thể hiện rõ nội dung tiến bộ so với pháp luật phong kiến và có tác dụng tích cực góp phần xóa bỏ những quan hệ kinh tế – xã hội phong kiến lạc hậu, củng cố và thúc đẩy sự phát triển những quan hệ kinh tế – xã hội tiến bộ mới hình thành trong xã hội tư sản chủ nghĩa. Nhưng đến thời kỳ đế quốc chủ nghĩa nó đã có nhiều thay đổi và có những tác động tiêu cực đến các quá trình kinh tế, chính trị và xã hội, gây ra sự phản ứng mạnh mẽ, đe dọa “trật tự” của xã hội tư bản. Để khắc phục nhược điểm đó, các nhà nước tư sản đã nhiều lần phải điều chỉnh, phải thay đổi đường lối để bảo đảm cho pháp luật có thể thích ứng với tình hình. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh đúng đắn trình độ phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cho nên, pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung tiến bộ và giữ vai trò tích cực trong việc tác động tới quá trình phát triển của kinh tế xã hội.

    Trong mối quan hệ với chính trị, pháp luật là một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của chính trị. Đường lối chính sách của giai cấp thống trị luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với pháp luật. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, vì vậy đường lối chính trị thể hiện trước hết ở các chính sách kinh tế. Các chính sách đó được cụ thể hóa trong pháp luật thành những quy định chung, thống nhất trong toàn xã hội. Mặt khác, chính trị còn là sự thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp và các lực lượng khác nhau trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Vì vậy, pháp luật không chỉ phản ánh các chính sách kinh tế mà còn thể hiện các quan hệ giai cấp, phản ánh đối sánh giai cấp và mức độ của cuộc đấu tranh giai cấp. Chẳng hạn, dưới áp lực đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ khác, giai cấp tư sản buộc phải ghi nhận về mặt pháp lý một số quyền thể hiện lợi ích của nhân dân lao động như quyền bầu cử, quyền học tập, nghỉ ngơi …

    Pháp luật còn có mối quan hệ với đạo đức. Đạo đức là những quan niệm, quan điểm của con người (một cộng đồng người, một giai cấp), về cái thiện, cái ác, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã hội. Những quan niệm, quan điểm này rất khác nhau, do những điều kiện của đời sống vật chất xã hội quyết định. Trên cơ sở những quan niệm, quan điểm đó, một hệ thống quy tắc ứng xử của con người được hình thành. Đạo đức một khi đã trở thành niềm tin nội tâm thì chúng sẽ là cơ sở cho hành vi của con người. Mỗi lực lượng xã hội, hoặc một cộng đồng người đều có những quan niệm và quan điểm riêng của mình. Cho nên các quy phạm đạo đức tồn tại trong xã hội cũng rất nhiều loại. Chúng luôn có sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Lực lượng thống trị (lực lượng nắm quyền lực) do có ưu thế đặc biệt nên có điều kiện để thể hiện những quan niệm, quan điểm của mình thành pháp luật. Vì vậy, pháp luật luôn phản ánh đạo đức của lực lượng cầm quyền. Tuy nhiên, do có sự tác động qua lại của nhiều loại đạo đức trong xã hội, pháp luật không thể không phản ánh các quan điểm, quan niệm, lợi ích của các lực lượng khác nhau trong xã hội. Trong khi xây dựng và thực hiện pháp luật, các lực lượng cầm quyền đều phải tính đến yếu tố đạo đức xã hội để tạo cho pháp luật một khả năng “thích ứng”, làm cho nó “tựa hồ” như thể hiện ý chí của mọi tầng lớp xã hội.

    Pháp luật chịu sự tác động của đạo đức và các quy phạm xã hội khác nhưng pháp luật có tác động rất mạnh mẽ tới các hiện tượng đó và thậm chí trong một chừng mực nhất định, nó còn có khả năng cải tạo các quy phạm đạo đức và các quy phạm xã hội khác.

    Pháp luật và nhà nước, hai thành tố của thượng tầng chính trị – pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau. Cả hai hiện tượng pháp luật và nhà nước đều có chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội. Với ý nghĩa đó, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực thiếu pháp luật; và ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Vì vậy không thể nói pháp luật đứng trên nhà nước hay nhà nước đứng trên pháp luật. Đồng thời khi xem xét các vấn đề nhà nước và pháp luật, phải đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau.

    Khi xem xét mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước phải xét đến một khía cạnh thứ hai, đó là cần xuất phát từ tính chất đặc thù về giá trị xã hội của mỗi hiện tượng để luận giải. Pháp luật mặc dù do nhà nước ban hành, những khi đã được công bố thì nó trở thành một hiện tượng có sức mạnh công khai, bắt buộc đối với mọi chủ thể, trong đó có nhà nước. Nhà nước nói chung và mỗi cơ quan của nó nói riêng đều phải tôn trọng pháp luật, không thể coi nhẹ, càng không thể chà đạp lên nó. Nhà nước có quyền ban hành pháp luật, nhưng pháp luật bên cạnh việc thể hiện bản chất giai cấp, còn phản ánh những nhu cầu khách quan, phổ biến của các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, nhà nước cũng không thể ban bố pháp luật một cách chủ quan, duy ý chí, không tính đến những nhu cầu và tâm lý xã hội. Khi pháp luật (thường là một bộ phận của nó) không còn phù hợp với thực tiễn nữa thì nhà nước phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ để ban hành pháp luật mới.

    4. Những đặc trưng cơ bản của pháp luật

    Nhìn một cách tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bản sau:

    Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Nói một cách khác, pháp luật được hình thành và phát triển bằng con đường nhà nước chứ không thể bằng bất kỳ một con đường nào khác. Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai và có quyền lực bao trùm loàn xã hội. Vì vậy, khi pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người. Đặc trưng này chỉ có ở pháp luật. Các loại quy tắc xử sự khác chỉ có thể tác động trong một phạm vi hẹp, dưới những phương thức “nhẹ nhàng” hơn và được bảo đảm bằng dư luận xã hội, chứ không phải bằng quyền lực nhà nước như đối với pháp luật (trừ những trường hợp đặc biệt được nhà nước quan tâm).

    Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự đó là những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung chung. Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi người (chủ thể) có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép. Vượt quá giới hạn đó là trái luật. Giới hạn đó được xác định ở nhiều khía cạnh khác nhau như cho phép, cấm đoán, bắt buộc… Về nguyên tắc, pháp luật phải cụ thể, khuôn phép, mực thước, không thể lạm dụng hoặc tùy tiện. Vì vậy, nói đến pháp luật suy cho cùng là phải xét đến các quy phạm cụ thể. Nếu không có quy phạm pháp luật được đặt ra thì cũng không thể quy kết một hành vi nào là vi phạm, là trái pháp luật. Những nguyên tắc: “Mọi người được làm tất cả mọi việc trừ những điều mà pháp luật nghiêm cấm”, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được hình thành là dựa trên cơ sở của đặc trưng về tính quy phạm của pháp luật. Chính đặc trưng cơ bản này đã làm cho pháp luật ngày càng có “tính trội”, hơn hẳn đối với các loại quy phạm xã hội trong xã hội văn minh, hiện đại.

    Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải là kết quả của sự tự phát hay cảm tính. Xét về bản chất, ý chí trong pháp luật là ý chí của giai cấp, lực lượng cầm quyền. Y chí đó thể hiện rõ ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào thực tế đời sống xã hội.

    Trên thực tế chỉ có lực lượng nào nắm được nhà nước mới có khả năng thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trong pháp luật. Một khi ý chí và lợi ích đã được hợp pháp hóa thành pháp luật thì nó được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Vì vậy mọi quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật đều được diễn ra dưới những hình thức cụ thể, theo những nguyên tắc và thủ tục chặt chẽ. Đó là kết quả của sự tư duy chủ động, tự giác của những nhà tư tưởng, những nhà chức trách. Điều này cũng cho thấy rõ sự khác biệt giữa pháp luật với các hệ thống quy phạm khác.

    Mặc dù pháp luật có tính nhà nước, tính ý chí, nhưng tính xã hội vẫn là một đặc trưng cơ bản không thể coi nhẹ. Như đã phân tích trong mục 1 , muốn cho pháp luật phát huy được hiệu lực thì nó phải phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội Ơ thời điểm tồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phải phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các mối quan hệ xã hội, pháp luật chỉ có khả năng mô hình hóa những nhu cầu xã hội khách quan đã mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó để tác động tới các quan hệ xã hội khác hướng các quan hệ đó phát triển theo hướng đã được nhà nước xác định. Như vậy ở đặc trưng này nét khác biệt của pháp luật so với các quy phạm xã hội khác thể hiện ở tính toàn diện và tính điển hình (phổ biến) của các mối quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.

    Xem xét những đặc trưng cơ bản nói trên của pháp luật càng cho thấy rõ bản chất và sự khác biệt giữa pháp luật với các hiện tượng khác. Cả bốn đặc trưng cơ bản đó đều có ý nghĩa quan trọng và nằm trong mối quan hệ bản chất với nhau, không thể chỉ chú trọng điểm này mà coi nhẹ điểm kia.

    Tuy nhiên, những đặc trưng đã nêu chỉ là những đặc trưng cơ bản, bên cạnh chúng còn có những đặc trưng khác. Tùy thuộc vào yêu cầu xem xét kỹ về một kiểu pháp luật, một hệ thống pháp luật điển hình của một khu vực hoặc một quốc gia nhất định, chúng ta sẽ đề cập một cách cụ thể hơn. Ví dụ: tính khái quát và cụ thể, thành văn và không thành văn, tính nghiêm khắc và nhân đạo…

    Pháp luật có 03 đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản sau đây:

    Pháp luật do Nhà nước ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt ché, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội.

    Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu loorrich rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

    Pháp luật luôn được thể hiện dưới những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật … Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng thời, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật.

    Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

    • Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội;
    • Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân.

    Link bài viết: https://havip.com.vn/ban-chat-cua-phap-luat-la-gi/

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì?
  • Gia Đình Mở Rộng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tái Sản Xuất Mở Rộng (Expanded Reproduction) Là Gì? Các Mô Hình
  • Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Như Thế Nào?
  • Làm Thế Nào Để Xây Dựng Thói Quen Kỷ Luật Bản Thân?
  • 5 Cách Thức Để Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Của Bản Thân.
  • Kỷ Luật Tích Cực Liệu Có Rèn Luyện Được Học Sinh?
  • Gia đình mở rộng là gia đình có nhiều thế hệ bao gồm ông bà, bố mẹ và các con, cháu chắt… Cấu trúc của gia đình thay đổi cùng với những biến đổi của xã hội.

    Gia đình là gì?

    Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ.

    Đặc trưng của Gia đình

    Theo nhà tâm lý học Ngô Công Hoàn, gia đình có 6 đặc trưng cơ bản :

    – Là một nhóm xã hội phải có từ 2 người trở lên.

    – Trong gia đình phải có giới tính (nam, nữ).

    – Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người.

    – Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý.

    – Gia đình phải có ngân sách chung.

    – Gia đình phải sống chung một nhà.

    Tóm lại, gia đình có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể. Gia đình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần quyết định vào thắng lợi của công cuộc đổi mới về kinh tế, xã hội của đất nước.

    Giá trị gia đình là gì?

    Bạn có thể đã nghe nói về các giá trị gia đình, nhưng cụm từ đó có nghĩa là gì? Giá trị gia đình đề cập đến tập hợp các nguyên tắc mà một gia đình hoạt động theo. Không ai được sinh ra biết giá trị gia đình của họ là gì. Các giá trị được gia đình truyền đạt dựa trên cách họ hành động với từng thành viên và những người khác bên ngoài gia đình.

    Trẻ học các giá trị quan trọng đối với gia đình bằng cách quan sát hành động của cha mẹ và anh chị em khác. Ví dụ, một đứa trẻ muốn có một buổi vui chơi vào sáng Chủ nhật, nhưng được bảo rằng nó không thể vì gia đình đi lễ nhà thờ vào mỗi sáng Chủ nhật. Đứa trẻ biết rằng các buổi lễ nhà thờ là một phần quan trọng của cuộc sống cho gia đình của mình và nó sẽ không bỏ lỡ chúng. Nó bắt đầu hiểu rằng không thể thực hiện các kế hoạch khác vào buổi sáng Chủ nhật.

    Giá trị gia đình rất quan trọng đối với cấu trúc và hạnh phúc của gia đình. Nếu một đứa trẻ biết rằng mình có một số công việc phải làm mỗi ngày, nó dạy cho đứa trẻ trách nhiệm. Nó cũng giúp cho đứa trẻ thấy cách đứa trẻ đóng góp cụ thể cho gia đình. Công việc của nó là nhà buổi sáng hoặc sau bữa tối và bằng cách thực hiện nhiệm vụ này, nó đang giúp giữ gìn nhà sạch sẽ. Tất cả chúng ta đều thích có một ngôi nhà sạch sẽ không có vụn thức ăn và bụi bẩn trên sàn nhà. Đứa trẻ đang làm phần việc của mình để làm cho mọi người trong nhà hạnh phúc. Đứa trẻ hiểu lý do tại sao làm việc vặt đặc biệt đó và nó muốn làm phần của mình.

    10 giá trị gia đình quan trọng nhất

    • Kính trọng người già
    • Làm việc chăm chỉ
    • Tôn trọng lẫn nhau
    • Có lòng trắc ẩn
    • Dùng bữa cùng nhau
    • Có trách nhiệm
    • Sáng tạo
    • Lòng tốt
    • Hài hước
    • Tình nguyện

    Các loại hình gia đình

    Có nhiều cơ sở để phân loại gia đình thành các loại khác nhau.

    Xét về qui mô, gia đình có thể phân loại thành:

    Gia đình hai thế hệ (hay gia đình hạt nhân): là gia đình bao gồm cha mẹ và con.

    Gia đình ba thế hệ (hay gia đình truyền thống): là gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ và con còn được gọi là tam đại đồng đường.

    Gia đình bốn thế hệ trở lên: là gia đình nhiều hơn ba thế hệ. Gia đình bốn thế hệ còn gọi là tứ đại đồng đường.

    Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại:

    Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi. Các thành viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình. Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa. Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất.

    Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con. Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ.

    Gia đình nhỏ đầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người bố hoặc người mẹ với các con. Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình. Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển.

      Tái tạo ra một thế hệ mới bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào tạo:

    * Chức năng sinh sản – tái sản xuất ra con người về mặt sinh và hoặc về mặt xã hội;

    * Chức năng giáo dục của gia đình.

      Nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình:

    * Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình;

    * Chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm – sinh lý tình cảm.

    Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như:

    * Chức năng kinh tế;

    * Chức năng giao tiếp tinh thần;

    * Chức năng tổ chức thời gian rỗi;

    * Chức năng thu nhận các phương tiện;

    * Chức năng giáo dục bảo trợ;

    * Chức năng đại diện;

    * Chức năng tình dục;

    * Chức năng nghỉ ngơi, giải trí;

    Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam

    Gia đình truyền thống Việt Nam là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại ở địa bàn nông thôn.

    Gia đình truyền thống có đặc điểm trước hết là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Một số đặc điểm khác như phụ mẫu (con mang họ cha, chồng/ cha là trụ cột trong gia đình), cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, theo tôn ti trật tự, gia đạo, lễ nghĩa…

    Hộ gia đình một người là

    Hộ gia đình là tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Vậy hộ gia đình một người là gì? Hộ gia đình một người là chỉ có một người độc thân sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, thu nhập hộ gia đình chỉ tính với hộ gia đình có hai người trở lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Đãi Thuế Với Dự Án Đầu Tư Mở Rộng Tại Việt Nam
  • Dự Án Đầu Tư Mở Rộng Là Gì?
  • Ngân Hàng Dự Trữ Úc (Reserve Bank Of Australia
  • Rba Là Gì ? Lựa Chọn Hoàn Hảo Của Các Vaper . Vape Giá Rẻ Hcm
  • Rba Là Gì? Các Yêu Cầu Của Bộ Quy Tắc Rba, Quy Trình Tư Vấn Rba, Tư Vấn Rba, Đào Tạo Rba, Download Tiêu Chuẩn Rba
  • Thuyết Minh Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?
  • Văn Thuyết Minh Là Gì, Phương Pháp Thuyết Minh, Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Thế Nào Là Văn Thuyết Minh?
  • Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Số lượt đọc bài viết: 23.161

    • Thuyết minh theo khái niệm với nghĩa là làm rõ, giải thích hay giới thiệu.
    • Thuyết minh cũng có nghĩa là giúp hướng dẫn, giải thích cách dùng.

    Văn bản thuyết minh là gì?

    Văn thuyết minh là gì? Văn bản thuyết mình là dạng văn bản rất thường gặp trong cuộc sống thường ngày. Trong giáo dục các giáo viên rất chú trọng dạy học sinh nội dung thể loại văn này để sử dụng, nhận biết và giúp thể hiện được chân thực các hiện tượng, sự vật.

    Văn bản thuyết minh sẽ cung cấp cho người đọc, người nghe những kiến thức cụ thể về đặc điểm, tính chất, tác dụng, thành phần,… của những hiện tượng và sự vật trong tự nhiên cũng như trong xã hội bằng cách giải thích, giới thiệu hay trình bày. Với thuyết minh, người ta thể hiện văn chương qua phương cách trình bày giới thiệu hoặc giải thích cho người nghe hiểu rõ.

    Khác với những dạng văn trừu tượng, văn thuyết minh phải được chủ thể trình bày một cách chính xác, chặt chẽ, rõ ràng. Nhằm cung cấp thông tin chuẩn xác cho người nghe, không đan xen trí tưởng tượng hay thêm bớt, nói quá.

    Chính vì vậy, cách thức trình bày văn bản thuyết minh yêu cầu mạch lạc, rõ ý, kết cấu chặt chẽ và cuốn hút người đọc. Không trình bày lủng củng theo ý khiến người đọc không hiểu hết ý của người viết. Lời văn lịch sự, chuẩn văn phong ngữ pháp tiếng Việt, rõ ràng.

    Tuy nhiên, người viết văn bản thuyết minh cũng cần ghi điểm, truyền cảm hứng cho đối phương, tạo nên sự hấp dẫn riêng của văn bản. Vì thế nên bạn có thể thấy người viết đưa vào câu chuyện để kể. Đôi khi bạn đi vào các viện bảo tàng, các hướng dẫn viên sẽ thuyết minh về lịch sử địa danh cụ thể, chiến tích.

    • Giới thiệu về một nhân vật lịch sử cụ thể
    • Giới thiệu về một vùng quê, một khu vực địa lý
    • Giới thiệu về một vài món đặc sản, hay món ăn cụ thể nào đó
    • Giới thiệu về vị thuốc, thảo dược có lợi cho sức khỏe
    • Giới thiệu về một loài hoa, sinh vật có trong tự nhiên,…

    Các phương pháp thuyết minh

    Để có một văn bản thuyết minh mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu cũng như thuyết phục, bạn cần nắm rõ các phương pháp thuyết minh để ứng dụng một cách tốt nhất.

    Phương pháp liệt kê các măt, hoặc các phần, các tính chất hay các phương diện… của đối tượng theo một trình tự nhất định. Điều này giúp cung cấp cho người đọc có được cái nhìn toàn cảnh về đối tượng một cách khách quan nhất.

    Đây là phương pháp giúp so sánh đối tượng hay các khía cạnh của đối tượng… đối với những cái gần gũi và cụ thể đề giúp cho người đọc có thể tiếp cận vấn đề một cách dễ hiệu và nhanh chóng.

    Đây là phương pháp giúp đưa ra những ví dụ thực tiễn và sinh động, một cách chính xác và cụ thể, đồng thời cũng có tác dụng thuyết phục cao, làm cho người đọc tin cậy.

    Phương pháp nêu con số (số liệu) có tác dụng giúp làm cụ thể và sáng tỏ vấn đề đồng thời có sức thuyết phục nhất về đặc điểm cũng như vai trò nào đó của đối tượng.

    Phương pháp giải thích, nêu định nghĩa

    Phương pháp này sử dụng kiểu câu trần thuật với từ ” ” nhằm giải thích, định nghĩa hay giới thiệu sự vật, hiện hượng, vấn đề nào đó.

    Phương pháp phân tích hay phân loại

    Phương pháp này bản chất chính là việc phân loại hay chia ra từng phần theo những đặc điểm của đối tượng thuyết minh. Phương pháp phân loại hay phân tích này có ưu điểm là mang tính khách quan, lại đầy đủ và dễ hiểu với đối tượng người đọc.

    Tìm hiểu bố cục bài văn thuyết minh

    Bao gồm 3 phần là mở bài, thân bài và kết bài. Cụ thể như sau

    • Mở bài: Giới thiệu sơ qua về đối tượng được thuyết minh, gợi mở cho quý khách
    • Thân bài: Trình bày chi tiết về tính chất, đặc biệt, sự kiện và bản chất của sự việc, hiện tượng hướng tới. Giải thích được nguyên nhân, nguồn gốc, cấu tạo, chức năng, kết cấu để cung cấp thông tin chi tiết cho người đọc.
    • Kết bài: Đánh giá về đối tượng, tổng kết lại nội dung của toàn bài.

    Tính chất của văn thuyết minh là gì?

    Toàn bộ kiến thức được trình bày trong văn thuyết minh đòi hỏi tính chính xác, khách quan không xuất phát từ ý kiến chủ quan của con người. Vì thế mà người viết cần có sự tìm hiểu về sự vật, hiện tượng đó trước khi trình bày. Đem lại kiến thức bổ ích cho người nghe như dạng trang bị thêm thông tin.

    Thể loại văn này khác với văn nghị luận, miêu tả, tự sự, toàn bộ thông tin phải được cung cấp đúng sự thật, không mang tính chất hư cấu. Bởi vậy mọi người khi có nhu cầu đọc văn này sẽ nhận được thông tin mà mình mong muốn chuẩn nhất. Tránh trường hợp hiểu sai dẫn tới nhiều việc sai lầm. Con người sẽ vận dụng kiến thức này vào cuộc sống để thực hiện công việc có lợi cho mình.

    Văn bản này gắn liền với tư duy khoa học ở trình độ sâu, đòi hỏi sự chính xác. Người làm văn bản phải trải qua quá trình tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu, học hỏi kiến thức để thể hiện cụ thể, rõ ràng nhất. Thông dụng nhất chúng ta thường thấy văn bản thuyết minh trình bày cấu tạo, chức năng, cách dùng,…để con người hiểu.

    Các văn bản thuyết minh quan trọng là yếu tố xác thực luôn được đặt lên hàng đầu để đánh giá chất lượng. Phân tích kỹ nghĩa của từ thuyết minh, trong đó thuyết là thuyết phục, minh là chứng minh. Đó chính là dùng lập luận, lý lẽ dẫn chứng để giải thích cụ thể, làm sáng tỏ vấn đề.

    Tính chất của thể loại này là độ chính xác cần cao độ, người viết có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực mình viết và trình bày. Số liệu tìm hiểu chuẩn, không ước chừng hay vay mượn ở nơi khác.

    Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản cô đọng, dễ hiểu, rõ ràng, chính xác và lịch sự. Không viết kiểu văn dài dòng, mơ hồ hay văn vẻ, trừu tượng trong thể loại thuyết minh này.

    Đặc điểm của văn thuyết minh là gì?

    • Văn bản thuyết minh đỏi hòi tính khách quan, chính xác, mang lại lợi ích cho con người phục vụ công việc và cuộc sống tốt nhất
    • Trình bày văn bản rõ ràng, mạch lạc, đủ nội dung đúng ý, kết cấu phân chia rõ
    • Người viết am hiểu về nội dung mình đang viết tới để trình bày đúng, đủ ý, truyền đạt cho người đọc hiểu và sử dụng có ích
    • Để văn thuyết minh trở nên hấp dẫn thì người viết có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Góp phần làm nổi bật đặc điểm, tính chất, nhấn mạnh ý chính trong bài viết và gây hứng thú cho người đọc. Một số biện pháp nổi bật như kể chuyện, tự thuật, đối thoại, diễn ra, tự luận, ẩn thụ,…

    Các yếu tố đan xen trong văn thuyết minh

    Sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ

    Với mục đích giúp văn bản thuyết minh được sinh động, cụ thể và hấp dẫn hơn, ta có thể thêm một số biện pháp tu từ trong văn bản, điển hình như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh…. Các biện pháp này khi được kết hợp sẽ giúp khơi gợi sự cảm thụ về đối tượng thuyết minh.

    Yếu tố miêu tả trong văn thuyết minh

    Biện pháp miêu tả được sử dụng trong văn bản thuyết minh giúp hiện tượng, sự vật trở nên chân thực, rõ nét và khách quan hơn. Với màu sắc, đường nét, âm thanh hay hương vị từ miêu tả mà giúp người đọc có thể cảm nhận cụ thể hơn.

    Tìm hiểu cách làm bài văn thuyết minh

    • Bước 1:

      • Xác định đối tượng cần phải thuyết minh.
      • Sưu tầm và ghi chép, lựa chọn các tư liệu cho bài viết.
          Lựa chọn phương pháp thuyết minh sao cho phù hợp.
      • Sử dụng ngôn từ dễ hiểu nhằm làm nổi bật đặc điểm của đối tượng.
    • Bước 2: Lập dàn ý bài văn thuyết minh chi tiết.
    • Bước 3: Viết bài văn thuyết minh hoàn chỉnh.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Văn Thuyết Minh
  • Http Là Gì? Tìm Hiểu Về Giao Thức Http Và Https
  • Lớp 9: Bài 3 Tổ Chức Và Truy Cập Trên Internet
  • Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự
  • Phần Mở Rộng File Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Mở Và Lưu Văn Bản Word
  • Tạo, Mở, Lưu Văn Bản Trong Microsoft Word.
  • Làm Việc Với Tập Tin Văn Bản Trong C
  • Cách Trình Bày Văn Bản Đẹp Trong Word 2022, 2022, 2013, 2010, 2007 Trì
  • Cách Xoá Bỏ Định Dạng Formatting Của Đoạn Văn Bản Trong Word.
  • Một số hệ thống tập tin đặt phần mở rộng tên như một đặc tính của hệ thống đó. Tên của một hệ thống có thể bị hạn chế độ dài và định dạng của phần mở rộng. Trong một số trường hợp khác, phần mở rộng tên tập tin hay phần mở rộng file được coi là một phần của tên file mà không có sự phân biệt quá rạch ròi.

    Phần mở rộng file là gì?

    Phần mở rộng của file hay phần mở rộng tên tệp là các chữ cái được hiển thị ngay sau đoạn cuối cùng trong tên file. Ví dụ: File chúng tôi có phần mở rộng là .txt. Phần mở rộng này cho phép hệ điều hành biết loại file đó là gì và chương trình nào sẽ chạy khi bạn mở file này.

    Quy tắc về cách định dạng phần mở rộng là phải bắt đầu bằng dấu chấm và có ít nhất một ký tự. Đối với hầu hết các trường hợp, phần mở rộng file bao gồm ba ký tự, thường là chữ cái hoặc chữ số. Một số ví dụ về phần mở rộng file bao gồm .txt, .mp3, .jpg và .gz, sẽ lần lượt đại diện cho các file văn bản, file mp3, file hình ảnh jpeg và file được nén bằng chương trình gzip. Như bạn có thể thấy, phần mở rộng thực tế cung cấp các thông tin cơ bản về loại file.

    Khi cố gắng xác định phần mở rộng của một file, điều quan trọng cần nhớ là phần mở rộng chỉ đơn giản là đoạn cuối cùng trong một tên file và bao gồm các ký tự. Nếu không có các đoạn trong một tên file thì nó không có phần mở rộng. Để dễ dàng hơn trong việc hiểu phần mở rộng file là gì, vui lòng xem các ví dụ trong bảng bên dưới:

    report_card.txt

    .txt

    Phần mở rộng là các ký tự sau dấu chấm

    Terminal.app

    .app

    Phần mở rộng là các ký tự sau dấu chấm

    Postcard.pdf.exe

    .exe

    Tên file loại này hơi rắc rối hơn bình thường, có tới 2 đoạn sau dấu chấm. Nhưng bạn nên nhớ nguyên tắc: Phần mở rộng chỉ là đoạn cuối cũng (bao gồm dấu chấm và các ký tự) mà thôi.

    Như đã nói, một hệ điều hành biết chương trình nào cần sử dụng để xem, in hoặc chỉnh sửa một file cụ thể bằng cách xem phần mở rộng của nó. Nó có thể làm điều này bởi vì mỗi hệ điều hành trong cấu hình có một ánh xạ mặc định giữa một phần mở rộng tập tin và một chương trình cụ thể. Sử dụng thông tin này, khi người dùng nhấp vào một file, hoạt động đọc phần mở rộng file và sau đó khởi chạy ứng dụng được ánh xạ. Thông thường, nếu phần mở rộng không được hệ điều hành biết đến hoặc không có ánh xạ ứng dụng nào tồn tại, nó sẽ nhắc người dùng chỉ định chương trình muốn mở file.

    Theo mặc định, Windows và Mac OS không hiển thị phần mở rộng tệp. Để xem các phần mở rộng tập tin, trước tiên bạn cần phải kích hoạt chúng hoặc cũng có thể thay đổi chương trình mà hệ điều hành sử dụng để mở một phần mở rộng cụ thể.

    Cách thay đổi chương trình được liên kết với phần mở rộng file

    Như đã đề cập, phần mở rộng file được ánh xạ tới một chương trình cụ thể để khi bạn cố gắng mở file, hệ điều hành sẽ biết ứng dụng nào sẽ khởi chạy. Có thể đôi lúc bạn muốn thay đổi liên kết mặc định, sử dụng chương trình khác để tự động mở file. Ví dụ, khi bạn mở một file hình ảnh trên Windows, nó sẽ mặc định sử dụng Windows Photo Viewer được cài sẵn. Trong tương lai nếu bạn tìm thấy một chương trình mới và muốn sử dụng nó để mở các file ảnh, bạn có thể thay đổi các liên kết cho file hình ảnh để mở chúng với chương trình mới.

    Cách phần mềm độc hại sử dụng các phần mở rộng để lừa người dùng mở các file chứa virus

    Một thủ thuật phổ biến mà các phần mềm độc hại sẽ sử dụng để lừa bạn chạy một chương trình nhiễm virus là gửi một file đính kèm email với tên file có chứa hai dấu chấm trong đó. Ví dụ sales_report.xls.exe. Như bạn có thể thấy file có phần mở rộng .exe, có nghĩa là nó là một tập tin thực thi. Nhưng bạn không nên chạy chương trình này.

    Điều gì sẽ xảy ra nếu phần mở rộng .exe bị xóa khỏi tên file và trở thành sales_reports.xls? Đó là một cái tên trông vô hại, và nếu bạn nhận được file này từ một người bạn, bạn sẽ nghĩ rằng nó an toàn và nhấp đúp vào nó. Khi bạn nhấp đúp vào nó, file sẽ được thực thi sau đó và lây nhiễm virus vào máy tính của bạn.

    Những kẻ tạo ra phần mềm độc hại biết rằng phương thức này có thể đánh lừa nhiều người vì theo mặc định, Windows không hiển thị cho người dùng các phần mở rộng file. Do đó, nếu bạn chưa bật phần mở rộng file, cửa sổ sẽ chỉ hiển thị cho bạn mọi thứ trước đoạn cuối cùng trong tên file và bạn có thể nghĩ rằng đó là tên đầy đủ. Vì vậy, đây là một chiến thuật phổ biến cho những kẻ phát tán phần mềm độc hại hoặc những kẻ chuyên gửi thư rác vì chúng biết rằng Microsoft sẽ loại bỏ phần cuối cùng và làm cho file có vẻ như an toàn.

    Do đó, điều quan trọng là luôn luôn hiển thị các phần mở rộng file trong Windows để bạn không bị đánh lừa bằng mẹo này.

    Phần mở rộng các file âm thanh

    .bmp

    Bitmap hoặc BMP là một file hình ảnh được sử dụng để lưu trữ hình ảnh kỹ thuật số bitmap. Các file này thường được tìm thấy trong Windows.

    .cur

    Định dạng file CUR được sử dụng để lưu trữ các con trỏ có không hoạt ảnh trong Windows.

    .ico

    Định dạng file ICO được sử dụng để lưu trữ biểu tượng máy tính trong Microsoft Windows.

    .gif

    Graphics Interchange Format hay GIF là định dạng file hình ảnh được tạo bởi Compuserve. Đây là một định dạng phổ biến trên máy tính và Internet.

    .jpg

    File ảnh định dạng JPEG là một file phổ biến được tìm thấy trên máy tính và Internet.

    .jpeg

    Một phần mở rộng khác tương ứng với một file ảnh JPEG.

    .png

    Portable Network Graphic hay PNG là file hình ảnh được tạo để thay thế file GIF. Đây là một định dạng phổ biến trên máy tính và Internet.

    .psd

    Photoshop Document hay PSD là file được sử dụng để lưu trữ hình ảnh tạo bởi Adobe Photoshop.

    .raw

    Định dạng hình ảnh thô thường được các máy ảnh kỹ thuật số sử dụng để lưu ảnh ở định dạng hiện chưa được xử lý.

    .tif

    Tagged Image File Format hay TIF là một fle hình ảnh thường được các nghệ sĩ và nhiếp ảnh gia sử dụng.

    Phần mở rộng ứng dụng nơi làm việc và file văn bản

    .csv

    Comma Separated Value hay CSV là một file văn bản chứa các dòng dữ liệu được phân tách bằng dấu phẩy.

    .doc

    Word Document hay DOC là phần mở rộng mà Word sẽ lưu tài liệu của nó.

    .docx

    Bắt đầu từ Word 2007, định dạng file .docx trở thành file chuẩn mà Microsoft Word sẽ lưu.

    .log

    File văn bản thường chứa nhật ký văn bản về ứng dụng hoặc quy trình máy tính đã thực hiện hoặc truyền đi.

    Portable Document Format hay PDF là định dạng file được tạo bởi Adobe Systems. Định dạng tệp này được sử dụng để tạo tài liệu chứa bố cục cố định cụ thể bất kể hệ điều hành hoặc ứng dụng đang mở chúng.

    .pps

    Tệp trình chiếu Microsoft PowerPoint.

    .ppt

    PowerPoint Document hay PPT là phần mở rộng mà PowerPoint sẽ lưu tài liệu.

    .pptx

    Bắt đầu từ PowerPoint 2007, định dạng file .pptx trở thành file chuẩn mà Microsoft PowerPoint sẽ lưu file.

    .rtf

    Rich Text Format hay RTF được tạo bởi Microsoft cho phép định dạng văn bản, chẳng hạn như in đậm hoặc gạch dưới, trong tài liệu văn bản.

    .txt

    File văn bản là tệp chứa dữ liệu văn bản không có bất kỳ định dạng nào.

    .wpd

    Định dạng tệp chuẩn để lưu tài liệu WordPerfect.

    .wps

    Một tài liệu Microsoft Works.

    .xlr

    Tệp bảng tính Microsoft Works.

    .xls

    Excel Document hay XLS là định dạng file tiêu chuẩn mà Microsoft Excel sẽ lưu file, nhưng đã được thay đổi thành .xlsx bắt đầu từ Excel 2007.

    .xlsx

    Bắt đầu từ Excel 2007, định dạng file .docx trở thành file chuẩn mà Microsoft Excel sẽ lưu file.

    Phần mở rộng tệp nén hoặc tiện ích lưu trữ

    Định dạng lưu trữ ban đầu được tạo bởi trình lưu trữ 7-Zip.

    .bz2

    File được nén bằng bzip2. Định dạng tệp này thường được sử dụng trên các hệ thống Linux và Unix.

    .cab

    Cabinet hay CAB là định dạng lưu trữ nén được Microsoft sử dụng.

    .deb

    Debian Software Package hay DEB là một tệp được dùng để cài đặt các ứng dụng trong Debian.

    .gz

    File được nén bằng gzip. Định dạng tệp này thường được sử dụng trên các hệ thống Linux và Unix.

    .pkg

    Package hay PKG là một tệp được sử dụng để cài đặt các ứng dụng trong Apple OS.

    .rar

    Roshal Archive hay RAR là định dạng lưu trữ được WinRar sử dụng.

    .rpm

    RPM Package Manager hay RPM là một tệp được sử dụng để cài đặt các ứng dụng trong hệ điều hành Linux.

    .sit

    Stuffit hay SIT là một tệp nén được phát triển bởi Stuffit.

    .sitx

    Stuffit X-compssed hay SITX là một tệp nén từ Stuffit.

    .tar

    Một tệp lưu trữ được tạo bởi tiện ích Tar. Loại định dạng tệp này thường được tìm thấy trên các hệ điều hành Linux và Unix.

    .tar.gz

    Đây là file tar được nén bằng tiện ích Gzip.

    .zip

    File ZIP là tệp lưu trữ nén. Đây là định dạng nén phổ biến nhất trên máy tính và trên Internet. Windows và Macintosh có hỗ trợ tích hợp cho các file Zip.

    .Z

    Một tệp đã được nén bằng lệnh compss của Linux hoặc Unix.

    Phần mở rộng web và Internet

    Phần mở rộng hình ảnh trên ổ đĩa

    .dmg

    Apple Disk Image hay DMG là một tập tin có chứa kho lưu trữ của một đĩa cứng hoặc đĩa CD/DVD.

    .iso

    File ảnh ISO là một kho lưu trữ của một ổ đĩa quang, chẳng hạn như một ổ đĩa CD hoặc DVD.

    Phần mở rộng e-mail

    Phần mở rộng thực thi

    Phần mở rộng Windows

    Phần mở rộng cài đặt

    Phần mở rộng Font

    Phần mở rộng các chương trình và file nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • File Là Gì ? Khái Niệm Và Cấu Trúc Của File Như Thế Nào
  • Đọc Ghi File Trong C
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản; Văn Bản Nghệ Thuật
  • Siêu Văn Bản Là Gì? Mọi Điều Bạn Siêu Văn Bản Nhất Định Phải Biết
  • Xử Lý Văn Bản Word: Học Tập, Trắc Nghiệm, Luyện Thi & Thực Hành Tin Học Văn Phòng Trực Tuyến(Online)
  • Xử Lý Văn Bản Căn Bản
  • Hướng Dẫn Xử Lý Văn Bản Trên Word
  • Chủ đề của văn bản chính là đối tượng được hướng tới để biểu đạt, vấn đề trung tâm nên người viết sẽ dùng nhiều cách để thể hiện. Vấn đề mà tác giả đề cập tới, thông qua câu dài hoặc ngắn hoặc nhiều câu gắn kết với nhau trong đoạn văn.

    Ví dụ: Bài ” Buổi học cuối cùng” của tác giả An-phông-xơ Đô-đê

    Chuyện của cậu bé Prăng là kể lại buổi học cuối cùng mà thầy giáo Ha – men dạy cho các bạn học trong lớp ở vùng An -dát nước Pháp. Thời điểm mà đất nước bị phát xít Đức chiếm đóng.

    • Về nội dung: Văn bản đó xác định được đề tài viết, có chủ định trước của người viết như bày tỏ quan niệm, ý kiến, thể hiện cảm xúc,…Qua đó tác động đến nhận thức, hiểu biết của con người và giành được thiện cảm của người đọc. Hướng họ tới điều mà tác giả mong muốn.

    Chủ đề của văn bản cần được tìm hiểu kỹ lưỡng trước đó để khi viết có thể triển khai đầy đủ, cung cấp thông tin cho người đọc dễ hiểu. Đảm bảo thông tin chính xác, phù hợp với nhau, không phải của vấn đề này đưa vào bài viết về việc khác. Lạc đề là văn bản trở nên không có giá trị cao nữa.

    Chủ đề của văn bản thể hiện trong đề bài, đề mục, nội dung chính, mối quan hệ giữa các phần, các từ ngữ chủ đạo lặp lại nhiều lần. Nếu không nắm được chi tiết của văn bản thì khó hình dung được điều mình cần viết và thể hiện tư tưởng của tác phẩm hoàn chỉnh.

    • Thành và Thuỷ đã đau khổ khóc suốt một đêm
    • Sáng sớm mai, Thành đau buồn đi ra vườn ngồi một mình thì cô em gái theo ra
    • Hai anh em đã chia đồ chơi chung
    • Sau đó Thành đưa Thuỷ về trường cũ, chào tạm biệt cô giáo Tâm và các bạn cùng lớp 4B của mình
    • Trước lúc lên xe đi, Thuỷ tặng lại cho anh trai cả hai con búp bê… Thành nhìn theo bóng em gái đi rồi bật khóc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Văn 8 Ki 2 Bai Soan Van 8 Doc
  • Hướng Dẫn Trình Bày Số, Ký Hiệu Của Văn Bản Trong Văn Bản Hành Chính
  • Có Bao Nhiêu Hình Thức Sao Văn Bản Được Công Nhận?
  • Tin Học 10 Bài 14: Khái Niệm Về Hệ Soạn Thảo Văn Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100