Tìm Hiểu Văn Bản “mẹ Tôi”

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 7: Mẹ Tôi
  • Giáo Án Bài Mẹ Tôi
  • Người Kể Chuyện Trong Văn Bản Tự Sự Tiet 70Nguoi Ke Chuyen Trong Van Ban Tu Su Ppt
  • Bài 14. Người Kể Chuyện Trong Văn Bản Tự Sự
  • I. Gợi ý trả lời câu hỏi:

    1. Tại sao tác giả lại lấy nhan đề là “Mẹ tôi”?

    Đọc kỹ đoạn trích ta thấy điểm nhìn từ người bố, bộc lộ những tình cảm và thái độ đối với người mẹ. Người đọc thấy hiện lên hình tượng người mẹ cao cả lớn lao. Vì vậy tác giả lấy nhan đề “Mẹ tôi”.

    2. Thái độ của người bố? Dựa vào đâu mà em biết? Lí do mà ông có thái độ đó?

    Qua bức thư của người bố gửi En – ri – cô, người cha đang buồn bã và tức giận về đứa con đã thốt ra một lời thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm.

    3. Những hình ảnh chi tiết nói về người mẹ? Mẹ của En – ri – cô là người như thế nào?

    Qua bức thư người mẹ En – ri – cô là người thương con hết mực:

    Cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ và khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”! Có lúc người mẹ có thể ” bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đớn đau”. “Người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”.

    4. Điều gì khiến En – ri – cô xúc động? Lí do?

    Thái độ của người bố vừa thiết tha, vừa nghiêm khắc lại vừa chân tình.

    Qua đó ta thấy người mẹ của En – ri – cô ngoài lòng thương con hết mực, còn biểu hiện là người phụ nữ đôn hậu, đảm đang, cao cả và giàu lòng vị tha.

    5. Tại sao người bố không trực tiếp nói với con mà lại viết thư?

    Văn bản viết dễ bộc lộ cảm xúc một cách đầy đủ.

    – Những tình cảm kín đáo, tế nhị nhiều khi khó nói trực tiếp được.

    – Qua thư, đứa con đỡ bị tự ái, xấu hổ.

    – Người cha muốn tạo điều kiện cho con đọc nhiều lần để thấm thía sâu sắc hơn.

    Dưới hình thức viết thư, tác giả đã diễn đạt bằng nhiều kiểu câu rất linh hoạt khi dùng câu trần thuật, khi dùng câu cảm thán và câu nghi vấn, nhằm tôn vinh người mẹ và nhắc nhở con.

    6. Nghệ thuật:

    Dưới hình thức viết thư, tác giả đã diễn đạt bằng nhiều kiểu câu rất linh hoạt khi dùng câu trần thuật, khi dùng câu cảm thán và câu nghi vấn.

    Đây là bức thư người cha viết cho con, khi chứng kiến đứa con có lỗi với mẹ bằng một lời nói thiếu lễ độ.

    Cả bài văn là sự giận dữ và dạy dỗ con theo một quan niệm rất đẹp và trong sáng: ” con hãy nhớ rằng tình yêu thương kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Nhan Đề Trong Lòng Mẹ
  • Tóm Tắt Mẹ Tôi Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Mẹ Tôi
  • Phân Tích Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Soạn Văn Mẹ Tôi Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7 Đặc Sắc Nhất
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Mẹ Tôi Ngắn Nhất
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Giới Thiệu Về Đoạn Trích Mẹ Tôi Của Tác Giả A
  • Vb Mẹ Tôi Me Toi Ppt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 2
  • Hướng dẫn Soạn bài Mẹ tôi chi tiết. Với bản soạn văn 7 này các bạn sẽ được trả lời toàn bộ các câu hỏi trong phần Đọc- hiểu và Luyện tập chi tiết nhất, qua đó nắm vững nội dung bài học

    Tìm hiểu chung tác phẩm Mẹ tôi

    Câu 1. Lý do đặt nhan đề

    Câu 1. Thái độ người bố với con? Lý do

    Đối diện với việc đứa con trai yêu quí của mình có hành vi thiếu lễ độ với mẹ, người bố có rất nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhưng chủ yếu vẫn là những cảm xúc tiêu cực

    – Buồn đau: Chứng kiến cảnh con mình xúc phạm thân mẫu của nó cũng là “nhát dao đâm vào tim”. Nhát dao ấy quá mạnh và dứt khoát đến mức người bố khó thể chống đỡ trong giây lát.

    – Tức giận: người bố không quên khi chứng kiến sự buồn khổ của mẹ khi chứng kiến con mình nằm giữa ranh giới sinh tử mong manh. Bố nhắc nhở về sự đánh đổi của mẹ để dành lại sự sống cho con. Vậy mà đứa con đó lại dùng thái độ vô ơn để trả lại ân tình của mẹ.

    – Nghiêm khắc nhắc nhở con

    + Ngày đau buồn nhất trong tất cả những ngày đau buồn mà con có thể sẽ phải trải qua là ngày mất mẹ.

    + Ngày con lớn khôn, trưởng thành và có thể tự làm chủ cuộc sống, lúc ấy điều con mong cầu sẽ không là gì hết ngoại trừ được trở lại giai đoạn thơ dại được mẹ lo lắng, chở che. Lúc không còn được ở bên mẹ, hình ảnh mẹ tổn thương do hành vi khiếm nhã của con sẽ khiến con thấy tội lỗi hơn bội phần. Niềm day dứt ấy chính là bản án lương tâm mà cả đời con không thể xóa tội.

    – Đưa ra hình phạt nhắc nhở con: từ bây giờ con không cần hôn bố trong khoảng thời gian. Điều này không phải bố hết thương con mà bố muốn nhấn mạnh rằng những điều con làm với mẹ đã tạo cho cả bố vết thương lòng.

    Câu 3. Hình ảnh người mẹ

    Người mẹ không phải nhân vật trực tiếp nhưng không khó để khắc họa. Mẹ của En-ri-cô là đại diện cho vô số người mẹ trên thế giới này với những đức tính tiêu biểu như:

    – Thương con hết mực, đau đớn khi thấy con bị bệnh và lo sợ trước nỗi đau mất con, sẵn sàng đánh đổi thanh xuân và sức khỏe để con mình có thể lớn lên khỏe mạnh và bình an

    – Hi sinh hết mình: thức suốt đêm để chăm sóc con,…

    Những lý do được đề cập ở câu a, c, d và e chính là lý do tại sao E-ri-cô vô cùng xúc động khi em đọc được thư của bố mình. Qua đó thấy được rằng bản chất của Enrico là đứa trẻ lương thiện. Em rất ngoan và luôn kính trọng, yêu thương bố mẹ mình.

    Câu 5. Lý do chọn hình thức viết thư

    Người bố không trực tiếp giáo dục hay mắng mỏ con mà lại chọn viết thư là bởi những lý do sau;

    – Nếu trực tiếp nói chuyện thì có thể xảy ra hiện tượng người bố tức giận mà mắng mỏ, xúc phạm và đánh đập con mình con mình. Hành vi này sẽ không đạt được điều gì ngoài nỗi đau thể xác với con và sự chai lì của một đứa trẻ.

    – Ngược lại nếu lựa chọn hình thức viết thư, bố có thể bình tâm suy xét việc gì nên nói và việc gì không nên. Cậu bé sẽ đủ bình tĩnh để đọc và thấm thía được những gì bố muốn dạy dỗ và nhắc nhở mình.

    Soạn bài Cổng trường mở ra Luyện tập

    Câu 1. Phân tích về hình ảnh người mẹ trong bài Mẹ Tôi

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ”, “bố không thể nén cơn tức giận”. Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Đề Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của A
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Mẹ Tôi (Siêu Ngắn)
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Tôi Đi Học

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Tôi Đi Học
  • Hướng Dẫn Trả Lời Phần Đọc Hiểu Văn Bản Bài Tôi Đi Học Tài Liệu Học Tập
  • Soạn Bài: Tính Thống Nhất Chủ Đề Của Văn Bản Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • De Thi Bai Van Tu Su
  • Từ Văn Bản Tôi Đi Học Của Nhà Văn Thanh Tịnh, Em Hãy Kể Lại Chuyện Ngày Đầu Tiên Đi Học Của Em.
  • Văn bản Tôi đi học

    I/ Một vài nét về tác giả – Tác phẩm

    1. Tác giả.

    – Thanh Tịnh sinh năm 1911, mất năm 1988. Tên khai sinh là Trần Văn Ninh. Trước năm 1946 ông vừa dạy học, vừa làm thơ. Ông có mặt ở trên nhiều lĩnh vực : Thơ, truyện dài, ca dao, bút ký….nhưng thành công hơn cả là truyện ngắn

    2. Tác phẩm:

    – Tôi đi học in trong tập truyện ngắn Quê mẹ(1941), thuộc thể loại hồi ký: ghi lại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ trong buổi tịu trường.

    II/ Phân tích tác phẩm

    1. Tâm trạng của chú bé trong buổi tựu trường

    a. Trên đường tới trường:

    – Là buổi sớm đầy sương thu và gió lạnh chú bé cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen dài – Lòng chú tưng bừng, rộn rã khi được mẹ âu yếm nắm tay dắt di trên con đường dài và hẹp – Cậu bé cảm thấy mình xúc động, bỡ ngỡ, lạ lùng – Chú suy nghĩ về sự thay đổi – Chú bâng khuâng thấy mình đã lớn.

    b. Tâm trạng của cậu bé khi đứng trước sân trường

    – Ngạc nhiên, bỡ ngỡ, vì sân trường hôm nay thật khác lạ, đông vui quá – Nhớ lại trước đâythấy ngôi trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng. Nhưng lần này lại thấy ngôi trường vừa xinh xắn, oai nghiêm đĩnh đạc hơn – Chú lo sợ vẩn vơ, sợ hãi khép nép bên người thân – Chú cảm thấy trơ trọi, lúng túng, vụng về…. – Khi nghe ông đốc gọi tên, chú bé giật mình, lúng túng , tim như ngừng đập … oà khócnức nở.

    c. Tâm trạng của cậu bé khi dự buổi học đầu tiên.

    – Khi vào lớp học, cảm xúc bâng khuâng, hồi hộp dâng lên man mác trong lòng cậu . Cậu cảm thấy một mùi hương lạ bay lên. Thấy gì trong lớp cũng lạ lạ hay hay rồi nhìn bàn ghế rồi lạm nhận đó là của mình.

    2. Hình ảnh người mẹ

    – Hình ảnh người mẹ là hình ảnh thân thương nhất của em bé trong buổi tựu trường. Người mẹ đã in đậm trong những kỷ niệm mơn man của tuổi thơ khiến cậu bé nhớ mãi. Hình ảnh người mẹ luôn sánh đôi cùng nhân vật tôi trong buổi tựu trường. Khi thấy các bạn mang sách vở, tôi thèm thuồng muồn thử sức mình thì người mẹ cúi đầu nhìn con, cặp mắt âu yếm, giọn nói dịu dàng “thôi để mẹ cầm cho ” làm cậu bé vô cùng hạnh phúc. Bàn tay mẹ là biểu tượng cho tình thương, sự săn sóc động viên khích lệ . Mẹ luôn đi sát bên con trai , lúc thì cầm tay, mẹ đẩy con lên phía trước , lúc bàn tay mẹ nhẹ nhàng xoa mái tóc của con….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Tác Phẩm “tôi Đi Học”
  • Hướng Dẫn Trả Lời Phần Đọc Hiểu Văn Bản Bài Tôi Đi Học
  • 5 Bài Tóm Tắt Truyện Tôi Đi Học Bằng Một Đoạn Văn Ngắn Hay
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản : Tôi Đi Học_Thanh Tịnh
  • Chứng Minh Rằng Tôi Đi Học Là Truyện Ngắn Giàu Chất Thơ
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Mẹ Tôi” Của Et

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chi Tiết Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Top 6 Bài Soạn “Mạch Lạc Trong Văn Bản” Lớp 7 Hay Nhất
  • Công Khai, Minh Bạch Trong Lĩnh Vực An Sinh Xã Hội
  • Văn Bản Pháp Luật Về Giấy Phép Kinh Doanh Lữ Hành Quốc Tế – Luật Việt An
  • Bài 2. Thao Tác Với Tệp Tin
  • Đọc – hiểu văn bản: “Mẹ tôi” của Et-môn-đô-đơ A-mi-xi

    I. Tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Ét – môn – đô đơ A – mi – xi

    – Ét – môn – đô đơ A – mi – xi (1846 – 190 8), nhà văn của nước ý.

    – Tác giả của các tác phẩm: “Cuộc đời của các chiến binh”, “Những tấm lòng cao cả”, …

    2. Tác phẩm

    – Thể loại: Nhật dụng, hình thức viết thư.

    – Xuất xứ: Trích “Những tấm lòng cao cả”.

    – Đại ý: Tâm trạng của người bố khi thấy con vô lễ với mẹ trước mặt cô giáo. Đồng thời nhắc nhở chúng ta phải biết kính trọng, thương yêu, biết ơn cha mẹ của mình.

    II. Đọc hiểu văn bản:

    1. Thái độ của người bố đối với En-ri-cô:

    Bài văn ngắn gọn, chủ yếu miêu tả thái độ, tình cảm và suy nghĩ của người bố.

    – Người bố buồn bã, tức giận trước sự vô lễ của En-ri-cô với mẹ.

    + Sự hỗn láo của con như nhát dao đâm vào tim bố

    + Bố không thể nén cơn tức giận đối với con

    + Thà bố không có con còn hơn thấy con bội bạc với mẹ

    + Bố không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được

    – Người bố đã không trực tiếp nói với con mà viết cho con một bức thư là bởi

    + Ông rất bình tĩnh, cư xử với con rất tế nhị

    + Người bố muốn con phải đọc kĩ, suy ngẫm, tự rút ra bài học cho bản thân

    + Đây cũng là cách giữ thể diện cho người bị phê bình

    + Thể hiện đây là người bố tinh tế, rất tâm lí và sâu sắc

    – Đây là bức thư của người bố nhưng tác giả lại lấy nhan đề “Mẹ tôi” vì đây là lời kể của En-ri-cô với niềm xúc động, nỗi hối hận của En-ri-cô đối với mẹ khi đọc bức thư của bố.

    * Lời khuyên của bố:

    + Phải xin lỗi mẹ.

    + Không bao giờ được thốt ra những lời nặng nề với mẹ nữa.

    ⇒ Lời khuyên nhủ nhẹ nhàng nhưng chân tình, nghiêm khắc. Qua cái nhìn của bố hiện lên hình ảnh, phẩm chất của người mẹ cao cả và lớn lao. Tác giả đã mô tả cũng như bộc lộ tình cảm, thái độ của bố đối với mẹ và quí trọng, tế nhị sâu sắc những gian khổ hi sinh mà mẹ dành cho con. Điểm nhìn này làm tăng tính khách quan cho sự việc và đối tượng được kể, thể hiện thái độ, tình cảm của người kể.

    2. Tấm lòng của người mẹ:

    Tấm lòng của người mẹ hiện lên qua cảm nhận của En-ri-cô trong bức thư:

    + Thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi để trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng sẽ mất con.

    + Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn

    + Người mẹ có thể ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con

    ⇒ Người mẹ En-ri-cô nhân hậu, hết lòng vì con, thậm chí có thể hi sinh cả tính mạng vì con

    Qua bức thư, người đọc thấy được hình tượng người mẹ cao cả, lớn lao, với tấm lòng yêu thương con vô bờ bến, sẵn sàng hi sinh tất cả cho con.

    ⇒ Câu chuyện cảm động về tình cảm gia đinh En-ri-cô khiến người đọc không khỏi xúc động. Tất cả các thành viên đều đã sống bằng trái tim, hành động bằng tình thương yêu vô hạn. Người mẹ hết lòng vì con, không ngại ngần gian khổ, hi sinh. Người bố điềm tĩnh, biết kiềm chế và tôn trọng con trai của mình khi con trai có lỗi với mẹ. Ông đã lựa chọn cách giải quyết con giận một cách khéo léo, khôn ngoan và hiệu quả nhất. Người con biết lắng nghe, thấu hiểu và sửa đổi. Sau lỗi lầm của En-ri-cô, tất cả đều nhận ra ở họ có một tình yêu thương gia đình tha thiết. Đối với họ, gia đình là quan trọng nhất, duy nhất và không thể nào thay thế được.

    II. Luyện tập:

    Câu 1: Hãy giải thích tại sao văn bản là một bức thư của người bố gửi cho con nhưng tác giả lại lấy nhan đề là Mẹ tôi?

    Câu 2: Tại sao người bố không nói chuyện trực tiếp vói con mà lại chọn cách viết thư cho con?

    Câu 3: Qua lá thư, theo em, người bố đã giáo dục được gì cho En-ri-cô?

    Câu 4: Tâm trạng và thái độ của En-ri-cô khi đọc thư bố? Theo em, tại sao En-ri -cô lại có tâm trạng và thái độ như thê?

    Câu 5: Qua lời của người bố, em thấy mẹ En – ri – cô là người như thế nào?

    Câu 6: Hình ảnh người mẹ trong truyện Mẹ tôi được khắc hoạ qua cái nhìn của nhân vật nào? Cách khắc hoạ nhân vật như vậy có tác dụng gì?

    Câu 7: Hãy tìm một câu văn nói lên tình yêu thương sâu sắc của người mẹ đối với En- ri-cô mà em thích nhất ? Vì sao em lại chọn câu văn dó?

    Câu 8: Hãy nhập vai cậu bé En-ri-cô viết một lá thư xin lỗi mẹ ngay sau khi nhận được lá thư của bố?

    Câu 9: Sau khi học xong bài văn em rút ra được bài học gì cho bản thân ? Hãy viết một đoạn văn ngắn nêu cảm xúc về hình ảnh người mẹ của mình.

    Câu 10: Hãy tìm một số câu thơ, ca dao, tục ngữ nói về tình cảm sâu nặng và công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái?

    * Cảm nhận ý nghĩa văn bản Mẹ tôi của Ét – môn – đô đơ A – mi – xi 

    • Mở bài:

    Mẹ là tiếng gọi thiêng liêng nhất trong vũ trụ này. Người mẹ, nơi chưa đựng đức hi sinh, tình thương yêu, lòng nhân ái, độ lượng, bao dung và vị tha vĩ đại nhất trên mặt đất này. Mẹ chính là nguồn cội của mọi sự sống. Đó cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật chân chính mọi thời…

    Văn bản Mẹ tôi rút ra từ tập truyện Những tấm lòng cao cả (viết năm 1886), một mốc phẩm nổi tiếng của nhà văn Et-môn-đô-đơ A-mi-xi.

    • Thân bài:

    Nhan đề Mẹ tôi do nhà văn tự đặt nhưng nội dung văn bản lại là một bức thư của người bố gửi cho con là En-ri-cô để nói lên thái độ, tình cảm, suy nghĩ của mình. Tuy bà mẹ không trực tiếp xuất hiện trong câu chuyện nhưng đọc kĩ văn bản ta thấy các nhân vật và chi tiết đều tập trung hướng tới việc khắc hoạ hình tượng cao cả, lớn lao, đẹp đẽ của người mẹ.

    Lỗi lầm của En-ri-cô

    Dưới dạng một bức thư của người bố gửi cho con, đây là câu chuyện có yếu tố cốt truyện rất mờ nhạt. Cả câu chuyện chủ yếu tập trung biểu hiện tâm trạng người cha để qua đó khắc hoạ hình ảnh người mẹ. Với những bài học giàu ý nghĩa, câu chuyện này là một trong những văn bản nhật dụng có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

    Qua bức thư gửi cho con, người bố đã không nén được sự giận dữ, bực tức trước sự vô lễ của con trai mình với mẹ. Ông đã tỏ ra vô cùng xúc động và buồn bã trước những việc làm của En-ri-cô. Bằng những từ ngữ vừa sâu sắc, vừa dứt khoát, người bố đã khơi gợi những hình ảnh, những kỉ niệm hết sức cảm động về người mẹ làm cho người con vô cùng hối lỗi và ân hận.

    Qua nội dung bức thư ta thấy rõ người bố dù rất yêu thương con mình nhưng ông không hề khoan nhượng trước lỗi lầm của con. Bằng sự phê phán gay gắt, thái độ vừa dứt khoát, vừa kiên quyết lại vừa ôn tồn nhắc nhở. Người bố đã khiến cho En- ri-cô thấm thìa, cảm nhân được tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ đối với con cái và đồng thời ý thức được tình cảm thiêng liêng của con cái đối với cha mẹ.

    Hình ảnh người mẹ:

    Qua thái độ giận dữ, bực tức và sự buồn bã, thất vọng của người bố trước lỗi lầm của người con và thái độ trân trọng yêu quý của ông đối với mẹ En-ri-cô, hình ảnh người mẹ đã hiện lên thật rõ nét với những phẩm chất nổi bật:

    Đó là một người mẹ tuyệt vời, có tình yêu con sâu nặng, thắm thiết. Bà âm thầm, lặng lẽ dành mọi điều tốt đẹp nhất cho dứa con thân yêu. Dù rất đau đớn, người mẹ vẫn thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ khi nghĩ rằng có thể mất con.

    Đó là một người mẹ có đức hi sinh cao cả, lớn lao. Bà sẵn sàng hi sinh cho con tất cả, kể cả sinh mạng của mình. sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn. Bà có thể đi ăn xin để nuôi con, có thề hi sinh tính mạng đế cứu sống con…

    Những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ trong câu chuyện cũng chính là phẩm chất của nhiều bà mẹ trên thế giới này nói chung. Bởi vậy, người mẹ chính là nơi che chở, là chỗ dựa tinh thần hết sức vững vàng của người con trong suốt cuộc đời.

    Hình ảnh người bố:

    Hình ảnh người mẹ đã được tái hiện hết sức cảm động qua lời nói của người bố. Người mẹ với lòng yêu thương con bao la, với những phẩm chất tốt đẹp đã hiện lên thật sống động qua cái nhìn, qua lời nói vừa chân tình, vừa sâu sắc của người bố đã khiến cho câu chuyên chân thực và giàu sức truyền cảm hơn. Đồng thời qua văn bản, ta cũng thấy hình ảnh người bố dù rất yêu thương con nhưng cũng hết sức nghiêm khắc, kiên quyết không khoan nhượng đối với những lỗi lầm của con.

    Người bố đã tỏ ra thấu hiểu và cảm thông đối với người con. Dù con mắc lỗi khiến mình phải tức giận và buồn lòng nhưng ông không trực tiếp gặp để mắng con hay trừng phạt một ca mà cách thô bạo mà sử dụng cách thức viết thư để bày tỏ thái độ, suy nghĩ của mình. Nếu ông trực tiếp nói với con, có thể ông sẽ không thể giữ được bình tĩnh và sẽ để xảy ra những điều đáng tiếc. Chỉ có cách viết thư thì người bố mới có thể bày tỏ hết được tất cả những tình cảm, cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình một cách cặn kẽ để gười con có thể hiểu, tiếp nhận và thay đổi.

    Mặt khác, với cách viết thư, không một ai khác ngoài hai bố con có thể biết được mọi chuyện. Điều này sẽ không làm tổn thương đến danh dự và lòng tự ái của người con. Phải là một người bố yêu con, hiểu con, có học vấn và đức độ mới có được cách ứng xử tâm lí, tế nhị như vậy. Điều đó cho thấy cha của En- ri-cô là một người cha có phương pháp giáo dục con rất tinh tế và hiệu quả.

    Cách giáo dục con của người bố trong câu chuyện đã đem lại những bài học quý giá, và những kinh nghiệm thiết thực cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái. Câu chuyện đã cho ta thấy được tình yêu thương sâu nặng của cha mẹ đối với con cái. Đây cũng chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm của mỗi con người.

    Qua cách giáo dục của người bố và qua hình ảnh người mẹ, truyện “Mẹ tôi” của nhà văn Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đã làm cho người đọc liên hệ đến câu chuyện “Mẹ hiền dạy con”. Người mẹ hết lòng yêu thương và quan tâm đến Mamhj Tử và có phương pháp giáo dục con rất đúng đắn, rất nghiêm khắc và kiên quyết. Chính người mẹ với lòng yêu thương con sâu sắc và cách giáo dục con đúng đắn ấy đã giúp cho Mạnh Tử tiếp nhận được những điều tốt đẹp ngay từ thuở ấu thơ và sau này trở thành một “bậc hiền triết” nổi tiếng của nhân loại.

    Văn bản Mẹ tôi ca ngợi tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của cha mẹ đối với con cái, và đức hi sinh cao cả của người mẹ dành cho con. Qua đó, tác giả còn khẳng định: tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương và đức hi sinh đó.

    • Kết bài:

    Với hình thức viết thư độc đáo, giọng điệu, lời văn sâu sắc, xúc động, hình ảnh, chi tiết giàu sức gợi cảm, người viết đã bộc lộ trực tiếp thái độ, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc một cách chân thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn: Soạn Bài: Mẹ Tôi (1)
  • Chủ Đề Tự Chọn Ngữ Văn 6
  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Ban Hành 16 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tháng 7/2020
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Tôi Đi Học – Thanh Tịnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỉ Niệm Mơn Man Buổi Tựu Trường
  • Chuyên Đề Hình Ảnh Trẻ Thơ Trong “ Tôi Đi Học” ( Thanh Tịnh) Và “Trong Lòng Mẹ” (Nguyên Hồng)
  • Dòng Cảm Xúc Lấp Lánh Chất Thơ
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Tức Nước Vỡ Bờ”
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Tức Nước Vỡ Bờ
  • Trong cuộc đời mỗi con người, những kỷ niệm thời học trò thường được lưu giữ lâu bền trong trí nhớ. Đặc biệt là những kỷ niệm về buổi đến trường đầu tiên. Tôi đi học của Thanh Tịnh là một truyện ngắn xuất sắc đã thể hiện một cách xúc động tâm trạng hồi hộp, bỡ ngỡ của nhân vật tôi, chú bé được mẹ đưa đến trường vào học lớp năm trong ngày tựu trường.

    I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

    1. Tác giả

    • Thanh Tịnh (1911 – 1988), ông sinh ra ở bên bờ sông Hương, ngoại vi thành phố Huế. Yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ Thanh Tịnh.

    • Phong cách nghệ thuật: Thơ văn của Thanh Tịnh khai thác và thể hiện những vẻ đẹp trong sáng, đằm thắm: vẻ đẹp của tâm hồn.

    • Sự nghiệp văn học: Thử ngòi bút trên rất nhiều thể loại. Có sở trường và đóng góp nhất vẫn là thể loại truyện ngắn.

    2. Tác phẩm

    a. Xuất xứ: Trích trong tập truyện “Quê mẹ” – 1941. Tác phẩm gắn liền với cuộc đời Thanh Tịnh và trở thành một dấu ấn quan trọng trong hành trình nghệ thuật của ông.

    b. Chủ đề: Tập trung thể hiện những trạng thái cảm xúc tinh tế, sâu sắc và rất đỗi thiết tha của tuổi học trò, gắn liền với ngày khai trường đầu tiên.

    c. Phương thức biểu đạt: Được viết theo phương thức tự sự, có sự kết hợp với các yếu tố miêu tả, biểu cảm.

    d. Bố cục:

    – phần 1: Từ đầu … ngọn núi: Cảm nhận của tôi trên đường tới trường

    – Phần 2: tiếp theo… nghỉ cả ngày nữa: Cảm nhận của tôi lúc ở sân trường

    – Phần 3: Còn lại: Cảm nhận của tôi trong lớp học.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Cảm nhận của tôi trên đường tới trường

    * Bối cảnh hồi tưởng:

    – Thời gian: Cuối thu

    – Thiên nhiên: Lá rụng nhiều; mây bàng bạc

    – Cảnh sinh hoạt: Mấy em bé rụt rè cùng mẹ đến trường.

    – Không gian: Trên con đường dài và hẹp

    * Kỷ niệm trên đường tới trường:

    – Hoàn cảnh:

    + Một buổi sớm mai đầy sương thu và gió lạnh.

    + Đi trên con đường dài và hẹp

    • Mùa thu nào mà chả có sương có gió, con đường làng bao đời nay vẫn dài, vẫn hẹp như vậy, tại sao nhân vật tôi lại nhớ kỹ, nhớ tỷ mỉ đến vậy. Bởi vì những cái thân quen hàng ngày đã bỗng chốc hoàn toàn thay đổi. Bởi tự trong chính lòng cậu đã có một sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

    *Những thay đổi:

    • Mọi thứ đều thay đổi: từ con đường làng đến cảnh vật xung quanh.

    • Hôm nay không bơi qua sông để đi thả diều, để đi chơi cùng chúng bạn nữa, tôi đã dần khôn lớn, trưởng thành.

    2. Cảm nhận của “tôi” lúc ở sân trường

    – Quang cảnh:

    + Đông vui và tấp nập: Sân trường hôm nay dày đặc người, ai cũng quần áo gọn gẽ, gương mặt thì tươi vui.

    – Thầy hiệu trưởng điểm danh và dặn dò những học sinh mới:

    + Chúng hồi hộp, tim như ngừng đập trong khoảnh khắc chờ đợi, tên mình được đọc lên.

    + Giật mình, lúng túng khi thầy hiệu trưởng gọi đến tên mình.

    + Không ai dám lên tiếng trả lời thầy khi thầy hiệu trưởng hỏi đã nắm vững thông tin chưa?

    + Bị mọi  người tập trung quan sát, lũ học trò trở nên bối rối, lúng túng hơn bao giờ hết.

    – Khi xếp hàng vào lớp:

    + Chân thấy nặng nề, không ai dám cất bước.

    + Ngoái lại đầy lưu luyến.

    + Một số cô bé, cậu bé thì ôm mặt khóc.

    + Nhân vật tôi như phản xạ, quay lại, ôm mẹ và gục vào lòng mẹ mà khóc

    3. Tâm trạng của nhân vật tôi trong lớp học

    – Lớp học là cả một thế giới xa lạ, khác biệt, cách biệt với thế giới bên ngoài khung cửa: mùi lạ, những bức hình lạ, người bạn mới tí hon đang ngồi cùng bàn với mình… cái gì cũng lạ lạ và hay hay.

    – Cái cảm giác xa lạ và sợ hãi nhanh chóng bị xua đi mà thay vào đó là cảm giác hay hay, thích thích. Những đồ vật kia, những bàn, những ghế như là của riêng mình. Tất cả trở nên gần gũi và quen thuộc. Sự thay đổi nhanh đến ngạc nhiên.

    – Ngoài kia khung cửa sổ: một con chim rụt rẻ hót vài tiếng rồi cất cánh bay, tạo lên một liên tưởng thú vị. Đó là những cô bé, cậu bé cũng như những chú chim non đã vượt qua những lo lắng, rụt rè để tuung cánh bay vào bầu trời tri thức.

    4. Những nhân vật khác trong câu chuyện

    4.1. Nhân vật người mẹ

    – Mẹ nắm tay con, dắt con đến trường.

    – Mẹ đã chuẩn bị cho con rất kỹ càng, chu đáo để con có đủ sách, vở, bút, áo, quần để con được đến lớp, không thua kém bạn bè.

    – Âu yến trả lời những thắc mắc của con.

    – Mẹ vỗ về, an ủi con, vuốt nhẹ mái tóc con rồi đẩy nhẹ phía lưng con để con thêm động lực bước vào đời.

    4.2. Nhân vật thầy hiệu trưởng

    – Giọng nói thì rất khẽ, dịu dàng.

    – Dành cho học sinh những ánh nhìn ân cần, hiền hậu.

    – Thầy an ủi, động viên, dặn dò bởi thầy rất hiểu tâm lý của học trò.

    4.3. Nhân vật thầy giáo trẻ

    – Đón chào các em bằng một nụ cười rất tươi. Trong nụ cười đó có cả sự độ lượng và yêu thương trong đó.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung:

    Văn bản Tôi đi học kể về một trang đời gần gũi mà thiêng liêng, đó là kỉ niệm buổi tựu trường đầu tiên với tâm trạng bỡ ngỡ, những cảm xúc mới mẻ, những ấn tượng không quên về trường lớp, thầy cô và bạn bè.

    2. Nghệ thuật

    • Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật.

    • Với những hình ảnh so sánh vừa độc đáo, vừa gần gũi, trong sáng, dịu dàng diễn tả mọi cung bậc tình cam tinh tế nhất của con người.

    • Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm, trong đó yếu tố biểu cảm đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

    IV. Luyện tập

    1. Tìm 5 câu có sử dụng biện pháp so sánh trong bài?

    2. Viết bài văn ngắn ghi lại ấn tượng của em trong buổi đến khai giảng lần đầu tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Tiết 1 + 2: Văn Bản Tôi Đi Học
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Tôi Đi Học”
  • Soạn Bài Tôi Đi Học Nhanh Nhất
  • Soạn Bài Sông Nước Cà Mau Ngữ Văn 6 Chi Tiết
  • Đề 15: Suy Nghĩ Về Văn Bản Sông Nước Cà Mau
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825
  • Bộ 5 Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Văn Học Xoay Quanh Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Tình Huống Truyện Độc Đáo Trong Tác Phẩm Làng Và Chiếc Lược Ngà
  • Phân Tích Tình Huống Độc Đáo Trong Truyện Ngắn Làng
  • Đọc hiểu văn bản Cha tôi

    Gợi dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) hiệu là Tỉnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng Trung, người làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ tiến sĩ nhưng vì phạm huý ông đã bị đánh trượt và bị tước luôn học vị cử nhân.

    Ông đã dâng nhiều thư điều trần đề xuất nhiều tư tưởng tân tiến nhưng đáng tiếc là những tư tưởng của ông không được thực hiện.

    2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục thuộc thể kí, là tác phẩm khá thành công của Đặng Huy Trứ. Tác phẩm là những trang hồi tưởng của tác giả về người cha đáng kính của mình, ông Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Tác phẩm ghi lại chi tiết lời nói và việc làm của Đặng Văn Trọng cùng nhiều chi tiết quan trọng về cuộc đời, qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống của tác giả và tình cảm kính trọng của ông đối với người cha đáng kính.

    3. Đoạn trích có nhiều từ cổ, cần đọc kĩ chú thích. Lưu ý thể hiện rõ giọng đọc các lời thoại.

    Đoạn tríchlần lượt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đường thi cử của nhân vật “tôi” (tức Đặng Huy Trứ). Sự kiện là việc thi cử đỗ trượt của “tôi” nhưng vấn đề tác giả muốn thể hiện ở đây lại nằm ở hành động, lời nói của người cha. Những phản ứng của người cha trước việc đỗ trượt của con trai đã thể hiện rõ nhân cách và cái nhìn sâu sắc của ông về con người.

    Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), “tôi theo cha cùng người anh con bác trưởng là Đặng Huy Sĩ đến trường Phú Xuân để thi”. Nhân vật “tôi” đi thi với mục đích “quen với tiếng trống trường thi”. Khi người ta xướng danh, yết bảng thì “tôi” đi xem hát. Cũng chỉ định đi chơi về rồi ngó bảng tú tài. Tất nhiên, đây chỉ là cách nói khiêm tốn của người thuật chuyện, song nó cũng thể hiện được thái độ đi thi của ông. Sự kiện đầy bất ngờ đã xảy ra, khi xướng danh họ Đặng, mọi người đều nghĩ là Đặng Văn Trọng. Thế nhưng người đỗ thứ ba lại chính là “tôi”. Đỗ thứ ba trong kì thi này là một vinh dự rất lớn, là hi vọng và mong đợi của mọi sĩ tử, kể cả của thân phụ Đặng Huy Trứ, tức Đặng Văn Trọng, một người tài giỏi mà ai cũng nghĩ là xứng đáng. Thế nhưng, thái độ của hai cha con lại hoàn toàn bất ngờ. Con thì không quan tâm, vẫn mải đi chơi và khiêm tốn với “ý định” “để đến tối sẽ đi coi bảng tú tài xem có tên mình hay không”. Còn người cha, nghe tin con đỗ, một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ thì lại có phản ứng thật lạ : “cha tôi dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo” như là “gặp việc chẳng lành”. Không phải ông buồn vì con thi đỗ mà ông lại trượt. Những giọt nước mắt của người cha ấy thể hiện tấm lòng cao cả, nỗi lo lắng của một người cha, một người từng trải, người vốn đã rất hiểu lẽ đời. Câu trả lời của ông hợp tình hợp lí : “Có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì… Cổ nhân đã nói “Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã !””. Đó là nỗi băn khoăn của một người cha luôn lo lắng cho con. Câu trả lời của ông vừa rất khiêm tốn lại rất chân thành. Những câu nói ấy đã có ngầm ý rằng : mục đích của việc thi cử không nhất thiết phải đỗ đạt để làm quan ngay. Sự đời cái gì dễ kiếm thì không được trân trọng dù nó rất quý giá. Dù là người có tài năng thực sự nhưng nếu đỗ đạt quá sớm sẽ sinh ra kiêu ngạo và tự mãn. Phản ứng của người cha là phản ứng của người hiểu sâu xa câu chuyện “Tái ông thất mã”. Kể lại sự kiện này, tác giả đã chọn chi tiết, ngôn ngữ rất khéo léo để thể hiện nhân cách và suy nghĩ sâu xa của người cha. Ngôn ngữ và cách nói của người cha thể hiện ông là một nhà nho mẫu mực. Những lí lẽ ông đưa ra đều thật trọn vẹn, có trên có dưới. Không tự ti nhưng cũng không kiêu căng tự mãn: “Nào ngờ, mới một lần đi thi lại trúng thứ ba. Đó là do triều đình nuôi dưỡng, tổ tông tích đức, gia đình giáo dục mà được thế… Nhìn lên, tôi đội ơn tác thành của thiên tử, lại cảm kích công vun trồng của tổ tiên, chỉ sợ con tôi không báo đáp được nghĩa nặng ơn dày nên không cầm nổi nước mắt”. Tác giả đã dùng lời đáp ấy và mượn lời nhận xét của mọi người để tỏ lòng kính trọng và niềm tự hào về người cha của mình.

    Sự kiện thứ hai được thuật lại trong đoạn trích vẫn lại là chuyện thi cử. Lần thứ hai, người con đỗ đạt và người cha cũng có phản ứng tương tự. Đó là”Khoa thi Hội mùa xuân năm Đinh Mùi nhân tứ tuần đại khánh của đức Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, vua cho mở Ân khoa”.

    Người cha nghe tin con đỗ đạt không hồ hởi vui mừng mà lo lắng : “Bậc đỗ đại khoa ắt phải là người phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi thêm lo lắng”. Không phải người cha không tin vào khả năng của con mình. Đây là cách phản ứng của một người cha có suy nghĩ sâu sắc, chín chắn. Ông đã thể hiện quan niệm của mình về người quân tử. Người đỗ đạt phải là người có tài và có đức. Đó là quan niệm của một chính nhân quân tử, một con người hiểu đời, hiểu người, hiểu lẽ sống và hiểu chính con trai mình.

    Sự kiện thứ ba được tác giả thuật lại trong đoạn trích có khác với hai sự kiện trên. Tác giả đã chọn kể hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm lòng và nhân cách của người cha. “Kì thi Đình năm ấy vào ngày 26 tháng 4. Đúng hôm đó, từ cuối nhà bên trái điện Cần Chánh báo tin dữ : bác ngự y Đặng Văn Chức mất […]. Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình… Cả nhà lại càng buồn cho tôi”. Trước hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trước cái chết của người anh và coi việc con trai bị đánh hỏng là “không có chuyện gì đáng kể”. Với phản ứng của người cha như trên, có thể suy đoán dường như người cha không muốn con trai mình đỗ đạt. Một nhà nho theo nghiệp sách đèn khoa cử không lẽ lại coi thường chuyện đỗ đạt như vậy. Xem lại thì không phải vậy. Tấm lòng của người cha ấy được thể hiện rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang người anh trai đã hơi thư, ông mời quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín từ nơi sâu thẳm tấm lòng người cha : “Đã vào thi Đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế đã lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông đã phân tích cho con trai thấy sai lầm nghiêm trọng của mình để người con nhận rõ điều trái phải. Việc để bị đánh trượt trong kì thi Đình là một lỗi lầm rất lớn. Nhưng ông không dừng lại ở việc chỉ ra sai lầm của con, mà quan trọng hơn, ông đã khuyên nhủ con trai những lời thấu tình đạt lí. Lời khuyên của người cha chứa đựng những triết lí về cuộc sống. Nó đã giúp cho người con nhận ra lỗi lầm của mình, nhưng không bị rơi vào sự tuyệt vọng, bi quan hay phẫn uất. Bài học ông dạy con có thể thu gọn trong câu “Thất bại là mẹ thành công”. Những lí lẽ người cha đưa ra thật thấu tình đạt lí, nó buộc người con phải suy nghĩ mà quyết tâm tiến thủ. “… tước cả khoa danh của con là để rèn luyện cho con nên người. Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc… Tài học, phẩm hạnh của con còn kém các ông ấy muôn lần. Người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là ở chỗ biết sửa chữa”.

    Lí lẽ và quan niệm về chuyện thi cử, về thành công và thất bại của người cha đều rất sâu sắc. Đó cũng chính là một bài học nhân sinh quý giá cho người đời sau.

    Người cha hiện lên trong lời tự thuật của nhân vật “tôi” thật đáng kính trọng. Ông là điển hình mẫu mực của một nhà nho chân chính. Qua câu chuyện của bản thân mình, tác giả đã đưa ra một triết lí sống rất thực tế và sâu sắc : ở đời, điều quan trọng không phải là thành công hay thất bại. Điều quan trọng là ta phải biết vì sao mình thất bại, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Thành công không kiêu ngạo tự mãn, thất bại không bi quan tuyệt vọng. Phải biết mình biết ta, biết sống cho đúng mực và phải biết đứng lên sau khi ngã.

    Cách kể chuyện trong đoạn trích rất tiêu biểu cho nghệ thuật viết kí. Tác giả rất trung thành với sự thực nhưng không dừng lại ở việc thuật lại sự việc. Trong khi thuật lại các sự kiện, người viết đã lựa chọn chi tiết, sự việc tiêu biểu để từ đó thể hiện thái độ của bản thân hoặc những quan niệm, tư tưởng có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

    Đặng Huy Trứ để lại nhiều sách về giáo dục, sử, binh thư, riêng về văn, có Đặng Hoàng Trung văn sao(Bản sao tập văn của Đặng Hoàng Trung), Đặng Hoàng Trung thi sao (Bản sao tập thơ của Đặng Hoàng Trung), Đặng Dịch Trai ngôn hành lục (Sao lục châm ngôn và hành trạng của Đặng Dịch Trai), Tứ giới thi(Thơ về bốn điều răn)…, trong đó đáng kể nhất là Đặng Hoàng Trung thi sao Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Thi sao gồm 12 quyển, 1250 bài thơ làm trong thời gian 1840 – 1860. Thơ ông bày tỏ tấm lòng quan tâm đến đời sống người dân thường ở nông thôn, chung niềm vui nỗi buồn với họ, từ bác thợ cày, phụ nữ nuôi tằm, chị vú nuôi trẻ, bà đỡ hộ sản đến người chạy chợ, nhà nho nghèo… Qua nhiều bài thơ, tác giả đã khắc hoạ nhiều mặt đời sống phong phú ở miền quê, bằng những chi tiết cụ thể, như đống rấm trấu ban đêm, mẹt cau phơi ngày lạnh. Các sản vật địa phương cùng những nghề thủ công như rổ tre Bàu La, gạo gie An Cựu, lò vịt An Xuân, nghề làm đá ở Lục Bảo v.v… cũng đi vào thơ của ông. Sau khi ra làm quan, tác giả dành phần lớn thơ để bộc lộ rõ hơn nữa lòng ưu thời mẫn thế cùng những suy tư về vận mệnh ngả nghiêng của đất nước. Lòng yêu nước đó đã được thể hiện cụ thể bằng hành động chống giặc Pháp đến hơi thở cuối cùng.

    Thơ Đặng Huy Trứ tuy chưa sánh được với các nhà thơ cự phách về mặt nghệ thuật nhưng mặt mạnh của ông lại là đưa được những hình ảnh hiện thực sinh động, cá thể, giàu sắc thái địa phương vào thơ. Mặt mạnh này càng thể hiện đầy đủ hơn ở cuốn văn xuôi Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Đây là cuốn hồi kí viết về người cha nhưng đề cập đến cả một gia đình đông đúc của ông, gồm bà, mẹ, các bác, anh em họ, hàng xóm láng giềng…, đặc biệt là phần kể chuyện về thuở ấu thơ, việc học hành, thi cử cùng mối tình thuỷ chung vượt lễ giáo của ông với cô hàng bánh. Những chân dung nhân vật, những tập tục một thời đều được ông kể lại tỉ mỉ, chân thật, do đó rất hấp dẫn người đọc ; là những tư liệu quý giúp bạn đọc đời sau hiểu về đời sống đương thời mà không phải nhà văn đương thời nào cũng để tâm ghi chép. Điều đó hẳn không tách rời với những cởi mở, đổi mới của ông trong việc nhìn ra nước ngoài, góp phần chấn hưng nền kinh tế nước nhà một cách thiết thực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)
  • Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất
  • 2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi Và Những Người Mẹ Khác Trên Thế Gian 12
  • Nếu Là Người Chứng Kiến Cuộc Trò Chuyện Giữa Cậu Bé Hồng Và Bà Cô Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Sẽ Ghi Lại Câu Chuyện Đó Như Thế Nào?
  • Cảm Nghĩ Về Người Mẹ Trong Mẹ Tôi
  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Mẹ Tôi, Văn Mẫu Lớp 7 Ch
  • Nếu Là Người Chứng Kiến Cuộc Trò Chuyện Giữa Cậu Bé Hồng Và Bà Cô Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Sẽ
  • Đề bài

    Đề bài: Phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Hướng dẫn giải

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môm-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của ngưởi mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ” “bố không thể nén cơn tức giận” . Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Nội Dung Chính Và Đặt Nhan Đề Cho Mỗi Đoạn Văn Trên Của Văn Bản Những Tấm Lòng Cao Cả
  • 1/bài Tập 1: Đọc Đoạn Trích Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu: Lần Lần, Mấy Năm Qua, Mấy Năm Sau, Bố Mỵ Chết. Nhưng Mỵ Cũng Không Còn Nghĩ Đến Mỵ Có Thể Ăn Lá Ngón
  • Viết Đoạn Văn 7 Câu Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Tình Mẫu Tử Qua Văn Bản “mẹ Tôi” Bằng 1 Đoạn Văn Ngắn Khoảng 10 Dòng, Trong Đó Có Sử Dụng Ít Nhất 1 Từ Láy Và 1 Đại Từ
  • Đề Thi Học Kì 1 Văn Lớp 8: Văn Bản Chứa Đoạn Trích Trên Thuộc Thể Loại Nào Sau Đây ?
  • Suy Nghĩ Về Văn Bản Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Các Văn Bản Mẹ Tôi, Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình, Bạn Đến Chơi Nhà Trong Sgk Ngữ Văn, Hãy Phát Biểu Những Suy Nghĩ Và Tình Cảm Của Em Về Hạnh Phúc Được Sống Giữa Tình Yêu Của Mọi Người.
  • Từ Các Văn Bản Mẹ Tôi, Những Câu Hát Về Tỉnh Cảm Gia Đình, Bạn Đến Chơi Nhà Trong Sách Ngữ Văn 7, Tập Một, Hãy Phát Biểu Những Suy Nghĩ Và Tình Cảm Của Em Về Hạnh Phúc Được Sống Giữa Tình Yêu Của Mọi Người
  • Bài Soạn Lớp 7: Mẹ Tôi
  • Tóm Tắt Tôi Đi Học Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Tóm Tắt Tôi Đi Học Ngắn Nhất (6 Bài).
  • I. DÀN Ý

    1. Mở bài:

    – Người mẹ có vai trò đặc biệt lớn lao đối với con cái.

    – Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất.

    – Bài văn Mẹ tôi trích từ cuốn Những tấm lòng cao cả của nhà văn Ét-môn-đô đờ A-mi-xi là bài học sâu sắc, thấm thìa về đạo làm con.

    2. Thân bài:

    * Lỗi lầm của En-ri-cô:

    + Ham chơi hơn ham học.

    + Thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm nhà.

    * Thái độ của bố trước lỗi lầm của con trai:

    + Buồn bực vì cảm thấy sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim mẹ.

    + Tức giận vì đứa con trong phút nông nổi đã quên công lao sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    + Nhắc lại cho con nhớ công lao to lớn và tình thương yêu, đức hi sinh cao cả của mẹ…

    + Muốn con hiểu ra lỗi lầm của mình và xin lỗi mẹ, hứa sẽ không bao giờ tái phạm.

    * Lời khuyên thấm thía của người cha:

    + Khuyên con hãy nhớ rằng không ai có thể thay thế được người mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình nên người.

    + Nhắc cho con nhớ: Tình thương yêu, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình cảm đó.

    + Yêu cầu con phải xin lỗi mẹ bằng thái độ thành khẩn và cầu xin mẹ hôn con để cho chiếc hôn ấy xóa đi dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con.

    + Khẳng định: Bố rất yêu con nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn lá thấy con bội bạc với mẹ.

    3. Kết bài:

    – Bài văn được thể hiện dưới hình thức một bức thư bố gửi cho con. Giọng điệu vừa nghiêm khắc, vừa ân cần, tha thiết.

    – Bài văn đề cập đến đạo làm con. Kính yêu, biết ơn cha mẹ là biểu hiện cụ thể của lòng hiếu thảo, là thước đo phẩm giá của mỗi con người.

    II. BÀI LÀM

    Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, người mẹ có vai trò lớn lao và tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất, nhưng không phải khi nào ta cũng ý thức được điều đó. Bài văn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô đờ A-mi-xi trích trong cuốn sách Những tấm lòng cao cả được viết dưới hình thức một bức thư là một bài học sâu sắc và cảm động về đạo làm con.

    Truyện kể về chú bé En-ri-cô đã tỏ ra thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm nhà. Buồn bã và tức giận, bố chú đã viết cho chú lá thư này. Bức thư thể hiện thái độ, tình cảm và suy nghĩ của người bố. Đó là thái độ bất bình trước lỗi lầm của đứa con và tình cảm trân trọng mà ông dành cho vợ mình nói riêng và những người mẹ nói chung. Qua đó, tác giả khẳng định sự thiêng liêng của tình mẫu tử. Dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào, tình mẫu tử cũng làm cho cuộc sống nhân loại trở nên bất diệt.

    Tác giả không thuật lại cụ thể việc En-ri-cô đã thiếu lễ độ với mẹ ra sao, nhưng chắc là cậu bé đã xúc phạm đến mẹ nên người bố mới viết thư để cảnh cáo và dạy bảo con trai mình.

    Trước hết, người bố tỏ thái độ buồn bực vì cảm thấy sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim và tức giận vì đứa con trong phút chốc đã quên công lao sinh thành dưỡng dục của người mẹ kính yêu.

    Để những lời dạy bảo thêm thấm thía, người bố đã nhắc lại lần En-ri-cô bị ốm nặng mẹ đã phải thức suốt đêm chăm sóc, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con!… Ông nhấn mạnh đến tình thương yêu con vô hạn của người mẹ. Công lao của mẹ đối với con thật lớn lao! Cha thương con nhưng nghiêm khắc. Còn mẹ thương con bằng tấm lòng hiền hậu, bao dung. Vì thế mà con cái thường quyến luyến với mẹ hơn. Từ thuở còn trứng nước, mẹ cưu mang con chín tháng mười ngày. Rồi lúc sinh con, mẹ phải một mình vượt cạn với nguy hiểm khôn lường. Tháng ngày, mẹ chắt chiu dòng sữa nuôi con đến hao gầy thân xác. Con khỏe mẹ vui, con trái gió trở trời, mẹ thức trắng đêm chăm sóc cho con từng miếng ăn viên thuốc. Bằng lời ru ngọt ngào, mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng giữa những trưa hè oi ả hay trong những đêm đông lạnh giá. Đứa con lớn dần lên trong vòng tay ấp ủ của mẹ hiền. Mẹ dạy con tiếng nói đầu tiên. Mẹ dìu con những bước đi chập chững đầu tiên. Công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ sánh ngang với sông sâu, biển rộng.

    Điều người bố không ngờ là đứa con dám xúc phạm đến mẹ, người sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con.

    Tại sao người bố lại có thái độ kiên quyết như vậy? Bởi vì sự hỗn láo của đứa con đã làm cho ông thất vọng, ông vốn rất thương yêu con và muốn con hiểu ra lỗi lầm của mình, một lỗi lầm khó có thể tha thứ nếu tái phạm:

    Hãy nghĩ kĩ điều này, En-ri-cô ạ: Trong đời, con có thể trải qua những ngày buồn thảm, nhưng ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ.

    Khi đã khôn lớn, trưởng thành, khi các cuộc đấu tranh đã tôi luyện con thành người dũng cảm, có thể có lúc con sẽ mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay ra đón vào lòng. Dù có lớn khôn, khỏe mạnh thế nào đi chăng nữa, con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che. Con sẽ cay đắng khi nhớ lại những lúc đã làm mẹ đau lòng… Con sẽ không thể sống thanh thản, nếu đã làm cho mẹ buồn phiền. Dù có hối hận, có cầu xin linh hồn mẹ tha thứ… tất cả cũng chỉ vô ích mà thôi. Lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình. En-ri-cô này ***** Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó.

    Đây là đoạn văn hay nhất, cảm động nhất trong bức thư. Người bố viết cho con trai mình nhưng cũng chính là viết cho bao người con khác trong cuộc đời. Đến lúc trưởng thành, các con dần dần xa mẹ, nhưng trong cách nghĩ của mẹ thì; Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ, Đi suốt cuộc đời lòng mẹ vẫn theo con (Chế Lan Viên). Mẹ vẫn âm thầm dõi theo từng bước trên đường kiếm sống và tạo dựng sự nghiệp của con. Lúc con gặp sóng gió thì lòng mẹ là bến đậu an lành nhất. Một lời chia sẻ, động viên, khuyên nhủ chí tình của mẹ sẽ làm cho tâm hồn con thanh thản lại. Hiểu rõ điều đó nên người bố khẳng định sự thiệt thòi và đau khổ nhất trong cuộc đời của một con người là không còn mẹ.

    Thật hạnh phúc cho những đứa con được ấp ủ, khôn lớn trong vòng tay nâng niu của mẹ. Mẹ là người che chở, đùm bọc, là chỗ dựa đáng tin cậy nhất của các con trong mọi thành công hay thất bại trên đường đời. Nếu đứa con nào đó vô tình hay cố ý chà đạp lên tình mẫu tử thì không xứng đáng làm người và chắc chắn sẽ phải ân hận suốt đời.

    Người bố khuyên con bằng lời lẽ chí tình: Từ nay, không bao giờ con được thốt ra một lời nói nặng với mẹ. Con phải xin lỗi mẹ, không phải vì sợ bố, mà do sự thành khẩn trong lòng. Con hãy cầu xin mẹ hôn con, để cho chiếc hôn ấy xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con. Bố rất yêu con, En-ri-cô ạ, con là niềm hi vọng tha thiết nhất của đời bố, nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ. Thôi, trong một thời gian con đừng hôn bố: bô sẽ không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được.

    Giọng văn ở đoạn này dịu dàng, tha thiết, lắng sâu. Người cha lấy cái lí để phê phán và lấy cái tình để khuyên nhủ, dạy dỗ, khiến đứa con không thể không thấm thía. En-ri-cô xúc động thật sự vì nội dung bức thư của bố. Cậu kính yêu cha mẹ vô cùng nên đã rất ân hận về lỗi lầm của mình. Tại sao người bố không trực tiếp dạy bảo con mà lại dùng hình thức viết thư? Bởi vì có những điều tế nhị và phức tạp của tình cảm khó có thể nói ra bằng lời. Hơn nữa, viết thư tuy là cách giao tiếp gián tiếp nhưng lại có tác dụng rất lớn. Nó vừa thể hiện được mục đích của người viết, vừa không làm cho người mắc lỗi cảm thấy bị xúc phạm.. Đây chính là bài học về cách ứng xử khéo léo trong quan hệ gia đình nói riêng và ngoài xã hội nói chung. Bài văn đề cập đến khía cạnh quan trọng của đạo làm con. Kính yêu cha mẹ là tình cảm tự nhiên. Bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là thước đo phẩm chất đạo đức của mỗi người. Trong kí ức của mỗi chúng ta, mẹ luôn chiếm một vị trí quan trọng. Mẹ gắn liền với những hình ảnh thân thuộc của quê hương như mái đình, gốc đa, bến nước, con đò, cầu tre lắt lẻo, hoa cau rụng trắng đêm trăng, bữa cơm đầm ấm, sum vầy… Kỉ niệm về mẹ mãi mãi theo ta suốt cả cuộc đời. Nếu trong hành trình tiến lên phía trước, có lúc nào mỏi gối chùn chân, ta hãy quay về miền thơ ấu ở đó, hình ảnh mẹ kính yêu sẽ tiếp thêm sức mạnh cho ta vững bước. Chúc pạn hok tốt!!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Các Văn Bản Và Thơ Lớp 9
  • Trình Bày Ngắn Gọn Những Hiểu Biết Về Hoàn Cảnh Ra Đời Và Tác Giả, Dịch Giả Của Chinh Phụ Ngâm… 3. Trình Bày Đặc Điểm Nghệ Thuật Của Văn Bản Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Mẹ Tôi Hay Nhất
  • Bài Văn Mẫu Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Văn Mẹ Tôi Của Nhà Văn Ét
  • Top 9 Bài Văn Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Văn Bản “mẹ Tôi” Của A
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Uy

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn: Soạn Bài: Uy
  • Văn Phòng Ubnd Tỉnh Quảng Nam
  • Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Việt Bắc” (Tố Hữu)
  • Cách Căn Chỉnh Lề, Khổ Giấy Trên Word Chuẩn Theo Quy Định Của Nhà Nước.
  • I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    – Hô-me-rơ tên thật là Mê-lê-xi-gien, là nghệ sĩ hát rong, là thi sĩ mù. Ông sinh ra bên nờ sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX-VII TCN, quê hương của nhà thơ chưa được xác định cụ thể.

    – Hô-me-rơ là nhà thơ lớn mở đầu cho lịch sử văn học cổ đại Hi Lạp, “cha đẻ của thơ ca Hi Lạp”

    – Sự nghiệp sáng tác: I-li-át và Ô-đi-xê, hai sử thi nổi tiếng của đất nước Hi Lạp, thường được coi là sáng tạo của Hô-me-rơ.

    2. Tác phẩm

    a. Xuất xứ

    – Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Tác phẩm ra đời trong giai đoạn chiến tranh vừa kết thúc, người Hi Lạp bắt đầu bước vào công cuộc xây dựng hòa bình, khát khao mở rộng địa bàn cư trú ra biển. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Hi Lạp chuyển từ chế độ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, gia đình hình thành.

    – Ô-đi-xê gồm 12 110 câu, chia thành 24 khúc ca. Ô-đi-xê kể về cuộc hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau chiến thắng thành tờ-roa. Ô-đi-xê là bài ca về cuộc sống hòa bình. Tác phẩm ca ngợi sức mạnh trí tuệ của con người.

    – Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về thuộc khúc ca 23, cuộc đoàn tụ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp.

    b. Tóm tắt đoạn trích Uy-lít-xơ trở về

    Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội. Qua màn thử thách về bí mật của chiếc giường, Pê-nê-lốp nhận ra chộng mình và hai vợ chồng Uy-lít-xơ đoàn tụ cùng nhau.

    c. Bố cục: 2 phần

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Nhân vật Pênêlốp

    – Là một người vợ thuỷ chung, kiên trinh đợi chờ chồng suốt 20 năm trời khi chồng đi chinh chiến. Nàng đã tìm đủ mọi cách để trì hoãn (chuyện dệt bức thảm, chuyện nêu điều kiện bắn xuyên 12 vòng tròn trên 12 lưỡi rìu) để khước từ bọn cầu hôn.

    – Gặp lại Uylitxơ tại cung điện của mình sau sự kiện “người hành khất” đã bắn xuyên 12 lưỡi rìu và giết chết 108 vị cầu hôn. Nói với nhũ mẫu, nàng thận trọng cho rằng người vừa bắn xuyên 12 lỗ rìu là “một vị thần” còn “Uylitxơ đã chết rồi”. Nhũ mẫu nói về “cái sẹo” do lợn lòi húc ở chân Uylitxơ thì nàng vẫn thận trọng cho đó là “ý định huyền bí của thần linh bất tử”.

    – Sau khi xuống lầu, Pênêlốp băn khoăn “không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện….” hay nên lại gần, ôm lấy đầu, cầm lấy tay người mà hôn, khi thì nàng lại “đăm đăm nhìn chồng”, khi lại không nhận ra chồng dưới bộ quần áo rách mướt.

    – Khi bị con trai trách mẹ là “tàn nhẫn”, “độc ác quá chừng”, “lòng dạ mẹ rắn hơn cả đá” thì Pênêlốp “kinh ngạc quá chừng” và tin rằng, nàng và Uylitxơ sẽ nhận ra nhau qua “những dấu hiệu riêng” chỉ có hai người biết còn người ngoài không ai biết hết. Thật là thận trọng, thông minh và giàu niềm tin.

    – Uylitxơ trách “nàng thật là người kì lạ”, các thần đã ban cho nàng “một trái tim sắt đá”… Lúc bấy giờ Uylitxơ vừa tắm và thay quần áo xong “đẹp như một vị thần”. Nàng ra lệnh cho nhũ mẫu “Khiêng giường ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố… “để thử chồng”… Khi nghe Uylitxơ nói lên chân giường là một gốc cây cảm lảm không thể nào di chuyển được thì Pênêlốp “bủn rủn cả chân tay”,… “chạy ngay lại, nước mắt chan hoà, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng”. Hai mươi năm ấy biết bao nhiêu tình! Pênêlốp nhìn chàng không chán mắt và hai tay trắng muốt của nàng cứ ôm lấy cổ chồng không lỡ buông rời”.

    2. Nhân vật Uylitxơ

    – Với kì mưu “con người gỗ thành Tơroa” chàng là một người trần mà mưu trí “sánh ngang thần linh”. Mười năm trời lênh đênh biển cả, trải qua bao gian nguy, Uylitxơ là hiện thân của lòng dũng cảm, mưu trí và có nghị lực phi thường.

    – Là một con người giàu lòng yêu quê hương, gia đình, vợ con.

    – Lập mưu giết bọn cầu hôn chứng tỏ “cha vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan, không một kẻ phàm trần nào sánh kịp” như Têlêmác đã nói.

    – Bình tĩnh, rất giàu tình cảm. Sự thật vốn không ưa trang trí, hãy kiên nhẫn đợi chờ để sự thật nói lên sự thật! Uylitxơ để cho “cái chân giường nói lên sự thật”. Và khi Pênêlốp nhận ra chàng đích thực là chồng nàng thì Uylitxơ “ôm lấy vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời chung thuỷ của mình, mà khóc dầm dề”.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    Đoạn trích đề cao và ca ngợi vẻ đẹp sức mạnh trí tuệ và tinh thần của con người. Đồng thời, làm rõ giá trị hạnh phúc gia đình khi người Hi Lạp cổ đại chuyển từ chế độ thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ.

    2. Nghệ thuật

    – Miêu tả tâm lí nhân vật chi tiết, cụ thể.

    – Lối so sánh sinh động, đặc sắc, mang đậm đặc trưng của sử thi.

    – Ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết.

    – Khắc họa thành công những mâu thuẫn, xung đột tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn trích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Thạch Sanh – Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài: Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tác Phẩm: Tức Nước Vỡ Bờ (Trích “Tắt Đèn”)
  • Soạn Bài: Tôi Đi Học – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Soạn Bài Thơ Sóng Của Tác Giả Xuân Quỳnh
  • Hướng Dẫn Phân Tích Đọc Hiểu : Sóng
  • Một Số Đề Đọc Hiểu Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Văn Năm 2022
  • – Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tê ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh

    – Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào

    – Phần 1 (khổ 1+2) : Sóng – Khát vọng tình yêu của người con gái.

    – Phần 2 (khổ 3+4) : Ngọn nguồn của sóng – Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu.

    – Phần 3 (khổ 5+6+7) : Sóng – Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu.

    – Phần 4 (Khổ 8+9) : Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.

    1. Sóng – Khát vọng tình yêu của người con gái.

    – Hình tượng sóng bao trùm, xuyên suốt bài thơ. Sóng được miêu tả cụ thể, sinh động với nhiều trạng thái mâu thuẫn (lúc dữ dội, ồn ào, lúc lặng lẽ,…) gợi ra vẻ đẹp của thiên nhiên mênh mông.

    – Đồng thời sóng cũng được miêu tả có hồn, có tính cách, tâm trạng, mang ý nghĩa biểu tượng. Sóng là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho tâm hồn, tính cách của người phụ nữ đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của cái tôi trữ tình. Sóng song hành cùng em, tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc hòa nhập nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn khát vọng tình yêu của nhà thơ.

    – Sóng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ. Âm điệu bài thơ dạt dào, thể thơ năm chữ với cách ngắt nhịp linh hoạt, kết cấu trùng điệp, bài thơ gợi ra nhịp điệu của sóng biển sôi nổi, dạt dào, lúc dịu êm, sâu lắng. Đó cũng là nhịp điệu của sóng lòng đang tràn ngập khát khao tình yêu.

    – Tác giả mượn hình ảnh sóng để nói và nghĩ về tình yêu. Hành trình của sóng tìm đến biển là hành trình tình yêu vượt lên cái nhỏ bé, tầm thường để hướng về sự cao thượng, vị tha, đồng điệu. Đó là khát vọng muôn đời của con người trong tình yêu.

    – Khổ thơ đầu là trạng thái của sóng – trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đang yêu:

    – Kết cấu đối lập, song hành: dữ dội/ dịu êm, ồn ào/ lặng lẽ.

    – Đặt là dịu êm, lặng lẽ ở cuối câu, ý thơ như nghiêng hẳn về phía đó. Xuân Quỳnh mượn trạng thái thất thường, đối lập của sóng để diễn tả những phức tạp, bí ẩn trong tâm trạng người con gái khi yêu. Đó là tâm trạng vừa phong phú, vừa phức tạp của một trái tim phụ nữ nhạy cảm và khát khao yêu đương: có lúc nồng nàn, sôi nổi, đắm say; cũng có lúc dịu dàng, đằm thắm. Những mặt trạng thái ấy mâu thuẫn mà thống nhất với nhau.

    – Con sóng không bằng lòng với khuôn khổ nhỏ hẹp của sông, nên nó tìm ra tận bể để hiểu đúng tầm vóc, bản chất của mình.

    – Trái tim yêu của người phụ nữ cũng vậy: không chấp nhận sự tầm thường, hạn hẹp, tù túng mà luôn muốn vươn tới cái lớn lao, cao cả để tìm thấy chính mình trong tình yêu. Đó cũng là quan niệm mới mẻ trong tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh: sự chủ động, kiêu hãnh khi yêu của người phụ nữ, không nhỏ bé, cam chịu mà mạnh mẽ, táo bạo.

    – Hành trình của sóng tìm ra biển là hành trình tình yêu hướng tới cái vô biên, tuyệt đích. Tâm hồn người phụ nữ khi yêu muốn vượt lên những giới hạn tầm thường để tìm đến tình yêu cao đẹp, lớn lao, được là chính mình. Nói cách khác, đó là khát vọng vươn tới sự đồng cảm, thấu hiểu trong tình yêu.

    – Khổ thơ thứ hai nói đến tình yêu của tuổi trẻ là khát vọng muôn đời:

    – Tình yêu là khát vọng chính đáng muôn đời của con người. Sóng trường tồn cùng thời gian cũng như tình yêu muôn đời vẫn bồi hồi, thổn thức trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ. Như vậy, mượn hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã bộc lộ khát vọng được yêu, được sống hết mình trong tình yêu.

    2. Ngọn nguồn của sóng – Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu.

    – Tình yêu là lẽ tự nhiên như hơi thở, cần thiết như ăn cơm, uống nước hàng ngày. Ấy thế mà tình yêu là gì mà có sức quyến rũ đến như vậy thì chưa ai giải thích được. Ngay đến Xuân Diệu – một nhà thơ tình nổi tiếng, một con người luôn khát khao giao cảm với đời, say đắm với tình yêu mà cũng bất lực:

    – Làm sao có thể cảnh giác được tình yêu. Nó đến lúc nào ta đâu có biết và nó chiếm hồn ta lúc nào ta đâu có hay. Trước một vấn đề khó lí giải như vậy, em làm sao tránh khỏi sự băn khoăn trăn trở:

    – Em nghĩ nghĩa là em đang thao thức, đang lo lắng, đang đặt ra nhiều câu hỏi.

    – Điệp từ em nghĩ làm cho câu thơ đằm lại dịu dàng và càng làm rõ hơn sự suy nghĩ trong lòng em. Và như thế nhà thơ có một chút bối rối ưu tư muốn tìm hiểu về anh về em về biển lớn chứ không phải chỉ quen bồng bềnh, quen si mê, chỉ yêu và đơn thuần chỉ là yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không đơn giản, yêu cháy bỏng nồng say nhưng không vì thế mà hời hợt.

    – Đến đây, nhân vật trữ tình có vẻ không thống nhất. Nếu ở đoạn thơ trên, em còn giấu mình trong lớp sóng ngoài kia thì đến đoạn này dường như nhà thơ không kìm chế nổi tình yêu đang dâng lên dạt dào trong ngực trẻ. Nhân vật trữ tình đã thoát ra khỏi lớp áo ẩn dụ để xưng em:

    – Anh phải chăng là biển lớn, là cuộc đời mênh mông. Em là con sóng dạt dào, là biểu tượng cho một tình yêu trỗi dậy. Xuân Quỳnh nghĩ về tình yêu, về anh nhưng vẫn nghĩ đến cuộc đời chung. Đó là điều đáng quý. Nhà thơ nắm bắt được mối liên hệ giữa hạnh phúc riêng và cuộc sống chung của mọi người.

    – Nếu sóng tìm ra tận bể để tự hiểu mình thì em cũng sẽ tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người đích thực của em.

    – Và trước không gian bao la của biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi tự ngàn xưa:

    – Xuân Quỳnh muốn cắt nghĩa về nguồn gốc của sóng để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tìm mình. Nhà thơ muốn dựa vào quy luật của tự nhiên để tìm ra qui luật của tình yêu.

    – Lời thú nhận nhỏ nhẹ, thành thực có phần nũng nịu, bối rối: em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau?. Tình yêu như sóng biển, làm sao hiểu hết được, tình yêu là tiếng nói của cảm xúc, trái tim nên khó lí giải. Cách cắt nghĩa tình yêu chân thành, đầy nữ tình của Xuân Quỳnh.

    – Thế là ra tận bể mà sóng vẫn chưa hiểu nổi mình. Em đã hòa nhập vào biển lớn của tình yêu mà nào em đã hiểu em. Em yêu anh từ đâu? Khi nào? Từ cái gì? Ánh mắt, nụ cười, giọng nói?

    – Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm về cội nguồn của nó. Nhưng em cũng không biết nữa. Mà biết để làm gì? Chỉ cần hiểu rằng: Ta vẫn yêu nhau là đủ. Cái thiêng liêng nhất, tuyệt diệu nhất trong tình yêu là sự giao cảm, hòa hợp sâu xa giữa hai tâm hồn, hai nửa cuộc đời tự nguyện gắn bó với nhau để tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, vĩnh viễn không trước cũng không sau.

    3. Sóng – Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu.

    – Xuân Diệu từng viết:

    Hay Nguyễn Đình Thi:

    – Còn Xuân Quỳnh thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu qua nhiều cung bậc:

    + Trong tình yêu, ta vẫn thường thấy hai mặt yêu và nhớ, yêu say đắm thì nhớ thiết tha:

    + Đó là những cung bậc khác nhau của nỗi nhớ anh. Dù trên mặt nước hay dưới lòng sâu thì con sóng vẫn đều có bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve, vỗ về, là cái đích để đi đâu về đâu sóng lúc nào cũng nhớ đến, cũng không quên, ngay cả đó là ngày hay đêm:

    + Nỗi nhớ có cái biểu hiện ra bên ngoài, có cái ẩn chứa tự sâu trong đáy lòng. Vắng anh, em nhớ, khi thức, em nhớ đến anh. Đó là biểu hiện bình thường. Nhưng ở đây, trong mơ em vẫn nhớ. Đó là nỗi nhớ da diết, khắc khoải, thổn thức cứ trằn trọc không yên:

    – Lòng thủy chung vừa như một thuộc tính, vừa là bản chất của tình yêu chân chính:

    + Xưa nay, nỗi nhớ luôn gắn liền với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian, nó không có ngày đêm; với không gian, nó không có phương hướng. Không gian có bốn phương là Đông, Tây, Nam, Bắc nhưng trongn tình yêu thì chỉ có một phương duy nhất và đó chính là anh. Trong đời, em quen biết nhiều người, họ có thể hơn hẳn anh thế nhưng em lại chọn anh, yêu anh và chỉ biết có anh. Chỉ riêng anh là khiến em luôn nghĩ tới và hướng về:

    + Những người đang yêu bao giờ cũng hướng về nhau, họ là mặt trời suốt đời soi sáng và sưới ấm cho nhau.

    + Dùng hình thức điệp, điệp cấu trúc kết hợp với nghệ thuật đối lập qua cách nói ngược xuôi bắc, ngược nam, tác giả muốn nhấn mạnh rằng: bất chấp sự cách trở của không gian và thời gian, người phụ nữ vẫn giữ vững lời thề vàng đá, vẫn thủy chung son sắt.

    + Tình yêu đẹp là vậy, trong sáng là vậy, mãnh liệt bay bổng là vậy nhưng nó không tránh khỏi những dâu bể của đời thường. Chính vì thế những người đang yêu ngoài sự say mê còn phải đủ nghị lực và lí trí để vượt qua mọi thử thách, giông bão của cuộc đời với niềm tin sẽ tới đích:

    + Những con sóng ở đại dương dù gió xô bão táp tới phương nào đi chăng nữa thì cuối cùng sóng vẫn trở về với bờ. Em cũng như sóng, cho dù gặp bao khó khăn em cũng sẽ vượt qua hết để đến với anh, bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh.

    4. Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.

    – Từ nỗi nhớ lúc dữ dội – ồn ào, lúc êm đềm – lặng lẽ, ý thơ dồn thành khát vọng sống mãnh liệt của sóng. Sóng tìm đến cái đích cảu tình yêu trong một niềm tin mạnh mẽ:

    + Xuân Quỳnh mượn quy luật của sóng biển, mây trời để diễn tả quy luật của lòng người. Là một phụ nữ nhạy cảm và đa đoan, Xuân Quỳnh ý thức rất đời: cuộc sống là dài, rộng, là muôn vời cách trở.

    + Càng thấp thỏm, lo âu, Xuân Quỳnh càng cháy bỏng một niềm tin tha thiết, cảm động: tình yêu sẽ vượt qua mọi trở ngại để tới đích, như những con sóng con nào chẳng tới bờ và mây vẫn bay về xa.

    – Lời thơ cứ thế triền miên cùng sóng. Cuối cùng sóng hiện ra trong khát khao hạnh phúc mãnh liệt nhất: khát khao tình yêu vĩnh hằng, bất tử:

    + Đứng trước biển, đối diện với cái mênh mông rộng lớn của thời gian và không gian Xuân Quỳnh ý thức được sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc.

    + Nhà thơ muốn được có mặt mãi trên cõi đời để được sống và bất tử trong tình yêu. Khát vọng hóa thân và phân thân trong sóng thật mạnh mẽ. Hai chữ “tan ra” vừa cháy bỏng nồng nhiệt, vừa thăm thẳm nỗi niềm phụ nữ – cái thăm thẳm của hai khát vọng hòa làm một: yêu hết mình và dâng hiến hết mình. Đó cũng chính là vẻ đẹp thánh thiện của người phụ nữ trong tình yêu.

    Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

    – Bài thơ mang âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng, gợi nhịp độ của con sóng liên tiếp.

    – Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp, các câu thơ ngắn, đều đặn gợi sự nhịp nhàng.

    – Thành công trong việc xây dựng hình tượng sóng: hình tượng sóng trở đi trở lại với nhiều cung bậc, gợi nhũng trạng thái cảm xúc đa dạng trong cõi lòng người con gái đang yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẻ Đẹp Mộng Mơ Và Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Bài Thơ Mây Và Sóng Của Ta
  • Bài Thơ Sóng (Xuân Quỳnh)
  • Bài Thơ Mây Và Sóng
  • 4 Bài Tóm Tắt Truyện Kiều Hay Nhất, Chọn Lọc
  • Sơ Lược Tác Phẩm Sóng (Xuân Quỳnh)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100