Thuyết Minh Về Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam, Giới Thiệu Cây Lúa Nước,bài
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam
  • 9 Bài Thuyết Minh Về Cây Lúa Nước Việt Nam
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Nước
  • 6 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam Hay Nhất
  • Thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam

    Bao đời nay, hình ảnh con trâu lầm lũi kéo cày trên đồng ruộng là hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi đối với người nông dân Việt Nam. Vì thế, đôi khi con trâu đã trở thành người bạn tâm tình của người nông dân:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cất cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công…”

    Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu rừng là tổ tiên của các loài trâu nhà, sinh ở vùng Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa thấp ẩm, hiện còn tồn tại ở miền Trung nước ta. Khoảng 5- 6 ngàn năm trước, trâu đã thuần hóa cùng với sự ra đời nền văn minh lúa nước. Người Việt cổ đã biết săn bắt trâu, thần hóa chúng để giúp con người trong việc cày cấy.

    Trâu là động vật thuộc lớp thú, màu da thường là màu đen với lớp lông mao bao phủ toàn thân. Da trâu rất dày, có lông tơ như chiếc áo choàng. Thấp thoáng trong bộ áo đẹp đẽ là một làn da căng bóng mỡ. Trâu có một cái đuôi dài, thường xuyên phe phẩy như cái quạt của con người để đuổi ruồi và muỗi. Hai tai dài cũng trợ giúp cho cái đuôi rất nhiều. Tai trâu khá thính, nó giúp trâu nghe ngóng được những tiếng động xung quanh. Người nông dân có thể nhận biết sự lành, dữ ở loài trâu một phần nhờ đôi sừng trên đầu. Trâu có đôi sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, giúp trâu làm dáng và tự vệ chống lại kẻ thù. Trâu có một đặc điểm rất nổi bật là không có hàm răng trên, có thể vì vậy mà trâu phải nhai lại thức ăn. Không như các động vật khác, trâu có một kiểu ngủ rất đặc biệt.Hai chân trước của trâu gập vào trong, đầu ghé lên đó để ngủ. Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con. Trâu nuôi con bằng sữa tiết ra từ tuyến vũ. Trâu con gọi là nghé, nghé sơ sinh nặng khoảng 22-25kg. Khi mới sinh ra khoảng vài giờ đến một ngày, nghé có thể đứng thẳng, vài hôm sau có thể mở mắt, đi lại theo mẹ.Nghé lớn rất nhanh, nghé chưa có sừng, lớn lên sừng mới nhú dần ra nhưng các bộ phận bên ngoài chắc khác gì mẹ trâu.

    Trâu là một động vật rất có ích, là người bạn của nông dân,”Con trâu đi trước, cái cày đi sau”. Ngày xưa không có máy cày, trâu phải làm việc nặng nhọc, Trên con đường làng sáng tinh mơ hay giữa trưa hè nắng lửa, trâu vẫn cần cù nhẫn nại, mải miết làm việc cùng với người nông dân làm ra hạt lúa, hạt gạo. Trâu không chỉ kéo cày giúp con người trồng lúa, trồng hoa màu, mà còn là gia sản của người nông dân.Chẳng phải các cụ ta đã nói : “Con trâu là đầu cơ nghiệp” đó sao? Thật vậy, trâu có tầm quan trọng không nhỏ trong đời sống người nông dân. Điều đó cũng đã đi vào văn học dân gian với những câu ca dao quen thuộc:

    “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay”

    Không chỉ gắn bó với người nông dân, trâu còn góp phần tạo nên những kỉ niệm đẹp tuổi thơ ở khắp mọi vùng quê đất Việt. Trâu là người bạn thân thiết với trẻ em nông thôn một buổi đi học, một buổi đi chăn trâu. Nhà thơ Giang Nam trong bài “Quê hương” đã là người trong cuộc để nói với lũ trẻ chăn trâu:

    “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường, Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ. Ai bảo chăn trâu là khổ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

    Trong lúc các chú trâu thong thả gặm cỏ hay đầm mình trong dòng mương mát rượi, thì lũ trẻ bày trò chơi trận giả. Cũng có lúc ta gặp cảnh thật yên bình, yên ả: các cậu bé, cô bé chăn trâu nằm nghỉ ngơi trên lưng trâu ngắm cảnh diều sáo vi vu trên bầu trời. Hình ảnh tuyệt vời của trẻ thơ chăn trâu được các nghệ nhân đưa vào tranh Đông Hồ.Nhìn tranh, ta lại nhớ câu thơ của nhà vua Trần Nhân Tông trong “Thiên trường vãn vọng”: “Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết”. Và cũng có thể, trên cánh đồng lúa, ta còn bắt gặp những em bé nông thôn vừa chăn trâu, vừa học bài.Thời thơ ấu ở làng quê thật đẹp biết bao!

    Ngày nay, khi nông thôn đổi mới, máy móc nhiều cũng là lúc trâu được nghỉ ngơi . Còn nhớ những ngày người nông dân phải kéo cày thay trâu thì mới thấy cái giá trị khi có trâu. Trâu đã là biểu tượng của SEA Games 22 Đông Nam Á tổ chức tại Việt Nam . Biểu tượng “trâu vàng” mặc quần áo cầu thủ đón các vận động viên là sự tôn vinh trâu Việt Nam, tôn vinh người nông dân lao động.Trâu còn là một vật linh thiêng vì nó là một trong mười hai con giáp.Cứ mỗi năm vào mùa hè ở Đồ Sơn lại tổ chức hội chọi trâu để tìm con trâu khỏe nhất. Và trong chúng ta rất ít người biết về sự tích sông Kim Ngưu…

    Biết bao thế kỉ đã trôi qua, có lẽ từ khi nền văn minh lúa nước của người Việt khởi nguồn thì loài trâu cũng đã trở thành báu vật của người nông dân. Trên nền bức tranh thiên nhiên của làng quê Việt, bên những cánh đồng xanh tốt, thẳng cánh cò bay, dưới lũy tre làng luôn có hình ảnh quen thuộc của con trâu hiện diện. Chúng ta chăm sóc và bảo vệ trâu chính là ta đã giữ gìn một biểu tượng văn hóa truyền thống của người Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Sách Bài Tập Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Giới Thiệu Về Chiếc Bánh Chưng Ngày Tết
  • Thuyết Minh Về Chiếc Bánh Chưng
  • Thuyết Minh Về Chiếc Bánh Chưng Ngày Tết
  • Thuyết Minh Về Con Bò, Văn Mẫu Về Con Bò Sữa Việt Nam
  • Thuyết Minh Con Trâu Làng Việt Nam ( Dùng Nghệ Thuật , Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh ) Câu Hỏi 1143264

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Kiểu Bài Thường Gặp Văn Thuyết Minh 9
  • Bài Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Con Trâu
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9
  • Soạn Bài Tính Chuẩn Xác Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tính Chuẩn Xác, Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Trâu là động vật thuộc lớp thú, màu da thường là màu đen với lớp lông mao bao phủ toàn thân. Da trâu rất dày, có lông tơ như chiếc áo choàng. Thấp thoáng trong bộ áo đẹp đẽ là một làn da căng bóng mỡ. Trâu có một cái đuôi dài, thường xuyên phe phẩy như cái quạt của con người để đuổi ruồi và muỗi. Hai tai dài cũng trợ giúp cho cái đuôi rất nhiều. Tai trâu khá thính, nó giúp trâu nghe ngóng được những tiếng động xung quanh. Người nông dân có thể nhận biết sự lành, dữ ở loài trâu một phần nhờ đôi sừng trên đầu. Trâu có đôi sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, giúp trâu làm dáng và tự vệ chống lại kẻ thù. Trâu có một đặc điểm rất nổi bật là không có hàm răng trên, có thể vì vậy mà trâu phải nhai lại thức ăn. Không như các động vật khác, trâu có một kiểu ngủ rất đặc biệt.Hai chân trước của trâu gập vào trong, đầu ghé lên đó để ngủ.

    Quanh năm suốt tháng, trâu cùng người chăm lo việc đồng áng vì vậy người nông dân coi trâu như người bạn thân thiết nhất của mình. Trâu to khỏe, vạm vỡ lại chăm chỉ cần cù chịu thương chịu khó nên thường gánh vác những công việc nặng nhọc của nhà nông. Từ sáng sớm tinh mơ. khi mặt trời còn ngái ngủ, trâu đã cùng người ở “trên đồng cạn” rồi lại xuống “dưới đồng sâu”, cho đến khi ông mặt trời mệt mỏi sau một ngày làm việc, chuẩn bị đi ngủ trâu vẫn miệt mài bên luống cày.Trong những thời đại trước trâu còn dùng để kéo xe, chở hàng và có thể kéo tải trọng từ 400 – 500kg. Con trâu còn có thể kéo gỗ củi và hàng hóa. Trâu cung cấp cho ta rất nhiều sản lượng về lương thực và sữa. Đem bán thịt trâu cũng thu được những khoản tiền đáng kể. Người ta thường trồng cây xen lẫn các cây ăn quả, phân trâu ủ xanh là thuốc bón tốt nhất cho cây. .Sừng trâu dùng làm đồ mĩ nghệ, da trâu làm mặt trống, giày. Trâu chính là tài sản nên rất được người dân chăm sóc rất chu đáo.

    Bạn có còn nhớ về những chú trâu ởlễ hội đình đám như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng chứ?lễ hội đình đám như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng

    Những chú trâu được chăm sóc, luyện tập rất chu đáo. Con nào con nấy vạm vỡ, sừng cong như hình vòng cung, nhọn hoắt, da bóng loáng, mắt trắng, tròng đỏ chỉ chờ vào sân đấu. Trong tiếng trống giục giã, trong tiếng hò reo cổ vũ của mọi người hai con trâu lao vào nhau mà húc, mà chọi.

    Có thể thấy, trâu quả thực là người bạn của nhà nông, mang lại nhiều giá trị, nguồn lợi to lớn cho người nông dân và đóng góp lớn cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Mặc dù xã hội ngày càng hiện đại hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ nhưng hình ảnh trâu cày kéo luôn là biểu tượng đặc trưng khi nhắc đến nền công nghiệp lúa nước Việt Nam.

    Ngày nay, có rất nhiều máy móc hiện đại đã xuất hiện khắp nơi trên cánh đồng làng quê Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật gắn bó thân thiết với người nông dân. Trâu luôn là con vật không thể thiếu ở làng quê Việt Nam – con vật linh thiêng trong sâu thẳm tâm hồn người dân Việt Nam. Con vật thiêng ấy sẽ mãi mãi in đậm trang kí ức của người dân Việt, nhất là những người xa xứ.

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

    from dophuongngockNYPU to minhanhnguyenngoc6OuVr

    ^^không spam,không copy,không báo cáo linh tinh^^

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiết 4: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Văn Bài: Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Văn 10 Siêu Ngắn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh (Siêu Ngắn)
  • Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8
  • Soạn Bài Lớp 8: Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Giáo Án Tin Học Lớp 6
  • Bài 16: Định Dạng Văn Bản
  • Tội Vô Ý Làm Lộ Bí Mật Nhà Nước; Tội Làm Mất Vật, Tài Liệu Bí Mật Nhà Nước
  • Mục đích của bài ôn tập giúp học sinh hệ thống được kiến thức về văn bản thuyết minh.

    I. Ôn tập lí thuyết

    1. Văn bản thuyết minh có vai trò và tác dụng trong đời sống:

    Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương pháp trình bày, giới thiệu, giải thích.

    Chúng ta dùng kiểu văn bản này để thuyết minh cho cấu tạo, cách bảo quản, cách sử dụng một chiếc máy nổ, một chiếc máy bơm, hoặc một cái quạt, một chiếc xe máy. Chúng ta cũng có thể dùng kiểu văn bản này để thuyết minh cho một sản phẩm mới, một sáng kiến mới được áp dụng, hoặc để giới thiệu với mọi người về đặc sản quê hương, về danh lam thắng cảnh của đất nước với bạn bè năm châu.

    Qua việc đọc hoặc nghe văn bản thuyết minh, ngưòi đọc làm giàu vốn tri thức của mình bằng những hiểu biết về sự vật, hiện tượng một cách chính xác, trung thực.

    2. Văn bản thuyết minh có những tính chất khác với văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận:

    • Văn bản thuyết minh trình bày trung thành với những đặc điểm cơ bản của đối tượng, phản ánh một cách khách quan, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đơn nghĩa, nhằm giúp người đọc hiểu được đối tượng một cách đúng đắn, chi tiết, đầy đủ. Nội dung của văn bản thuyết minh không phải là nội dung hư cấu, tưởng tượng mà cần phải phản ánh đúng đắn nhất, chân thực nhất về đối tượng. Văn bản thuyết minh thường được viết theo một khuôn mẫu nhất định.
    • Văn bản tự sự chủ yếu trình bày sự việc: diễn biên hành động nhân vật trong thời gian, không gian, có hư cấu tưởng tượng. Trong cách viết văn bản tự sự, chấp nhận cách viết đa nghĩa không mang tính khuôn mẫu.
    • Văn bản miêu tả chủ yếu là trình bày tỉ mỉ, chi tiết sự vật, hiện tượng tồn tại trong thực tiễn, có hư cấu, tưởng tượng, không bắt buộc phải phản ánh một cách tuyệt đối chính xác, khoa học. Trong cách viết, văn bản miêu tả chấp nhận cách viết đa nghĩa, không mang tính khuôn mẫu.
    • Văn bản nghị luận chủ yếu là lí lẽ, luận điểm, là những suy luận mang dấu ấn của ngưòi viết nhằm giúp người đọc hiểu được vấn đề.

    3. Muốn làm tốt văn bản thuyết minh, người viết cần phải có vốn hiểu biết về đối tượng thuyết minh.

    Hiểu biết càng sâu sắc, thấu đáo thì nội dung văn bản thuyết minh càng hàm súc, mạch lạc và rõ ràng. Ngưòi viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, quan trọng.

    4. Những phương pháp thuyết minh thường được chú ý vận dụng:

    • Phương pháp định nghĩa, giải thích: là phương pháp được viết theo cấu trúc của một phán đoán: S là P.
    • Phương pháp liệt kê: là phương pháp kể ra, đưa ra một loạt tính chất, đặc điểm của đối tượng nhằm khẳng định hay nhấn mạnh cho một điều gì đó, một đặc tính nào đó cần thuyêt minh, làm rõ.
    • Phương pháp nêu ví dụ: là phương pháp dẫn ra, đưa ra những dẫn chứng lấy từ sách báo, từ đời sống thực tiễn để làm sáng tỏ cho điều mình trình bày.
    • Phương pháp số liệu: là phương pháp đưa vào văn bản những con số mang tính chất định lượng chính xác để giải thích, chứng minh hay giới thiệu về một sự vật, hiện tượng nào đó.
    • Phương pháp so sánh: là phương pháp đem so sánh, đôi chiếu sự vật, hiện tượng nào đó chưa thật gần gũi, còn mới mẻ với mọi người, với những sự vật, hiện tượng thông thưòng, dễ gặp, dễ thấy để giúp người đọc hiểu biết về sự vật, hiện tượng đó một cách cụ thể, dễ dàng hơn.

    1. Bài tập này yêu cầu học sinh nêu cách lập ý và lập dàn bài cho các đề trong SGK. Để làm được bài này, học sinh nên tham khảo các bài hướng dẫn trong SGK. Ví dụ, giới thiệu một đồ dùng học tập, học sinh có thể xem lại đoạn văn mà một bạn học sinh đã làm (SGK, trang 14), hay giới thiệu về một danh lam thắng cảnh ở quê hương em, có thể dùng lại dàn ý bài “Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn “, hoặc có thể dựa theo mẫu có lập lại dàn ý mới.

    2. Bài tập này yêu cầu học sinh viết đoạn văn theo các đề bài nêu trong SGK, trang 36.

    Chiếc nón có tự bao giờ? Mỗi lần thấy bà, thấy mẹ đội nón, tôi cứ bâng khuâng về câu hỏi đó.

    Cái nón quê kiểng bình dị thật ưa nhìn. Xương nón làm bằng tre, nứa, được vót tròn óng chuốt, được kết thành những vòng tròn có đường kính khác nhau theo khuôn nón. Cái chóp nón lúc nào cũng hướng về trời cao. Lá lợp nón là sản phẩm của núi rừng. Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên, Ư Minh… là nguồn vô tận về lá nón. Lá cọ, lá kè cũng để làm nón. Chiếc nón mới làm ra lại được quết một lớp mỏng dầu rái (thảo mộc), óng ánh, vừa bền vừa đẹp.

    Dáng hình chiếc nón cũng nhiều vẻ. Nón ba tầm quai thao của các cô gái Kinh Bắc trong lễ hội mùa xuân: hội Lim, hội chùa Dâu, hát quan họ. Lại có một chiếc nón của các bà, các cô đội lúc làm đồng, vừa chắc bền, vừa tiện lợi: che nắng mưa, làm quạt… Các cô thôn nữ làm duyên sau vành nón ấy. Chiếc nón thanh nhẹ còn che chở cho đôi má hồng, má lúm đồng tiền thêm xinh, thêm giòn.

    Ai đã sáng tạo ra chiếc nón bài thơ xứ Huế? Lá nón trắng nõn nà, bài thơ mờ tỏ, ẩn hiện. Chiếc quai nón bằng lụa thanh tao. Vành nón nghiêng nghiêng, dịu dàng, e lệ, thầm kín của cô gái miền núi Ngự sông Hương. Chả thế mà du khách, các cậu khoá ngẩn ngơ:

    Thấy cô gái Huế bước đi không đành.

    Còn có chiếc nón dấu anh lính thời xưa, mà khi xem phim ta mới biết:

    Ngang lưng thì thắt bao vàng, Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.

    Chiếc nón là vật dụng thân thiết của mọi người, nhất là nhà nông, vừa rẻ, vừa tiện lợi, nhẹ nhàng dễ mang theo. Có nhiều làng nghề thủ công làm nón nổi tiếng xưa nay từng được truyền tụng qua ca dao dân ca:

    Muôn đội nón tốt thì về làng Chuông. Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang. Phiền rằm chợ chính Yên Quang, Yên Hoa anh đợi hoa nàng mới mua.

    Chiếc nón làng Găng, chiếc nón bài thơ xứ Huế đã trở thành món quà lưu niệm của khách phương xa. Nghe nói trong phòng khách của nhà thơ Xi-mô-nốp (Nga) có chiếc điếu cày và chiếc nón bài thơ mà ông đã mang từ Việt Nam về? Và trong chúng ta, ai đã từng được xem điệu múa nón, tưởng như đàn bướm sặc sỡ đang rập rờn bay trong ngàn hoa? Hình ảnh cô nữ sinh Huế ngày xưa tưởng như gặp trong mộng.

    Những nàng thiếu nữ sông Hương, Da thơm là phấn, môi hường là son. Tựu trường san sát chân thon, Lao xao nón mới, màu sơn sáng ngời.

    (Tựu trường – Nguyễn Bính)

    Ngày nay, ở các đô thị, hầu như không thấy học sinh đội nón đến trường, mà chỉ thấy những chiếc mũ vải đủ màu sắc xinh xinh. Nhưng trên đường làng, giữa các phiên chợ miền quê, chiếc nón lá màu trắng thanh nhẹ vẫn thấy nhiều. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ..,.làm sao rời được chiếc nón quê hương?

    Trên con đường phát triển, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta ngày một phong phú hơn, sang trọng hơn. Nhưng giậu cúc tần, luỹ tre xanh, đồng lúa chín, con trâu hiền lành, tiếng sáo diều… và chiếc nón ba tầm, chiếc nón bài thơ sẽ con mãi trong tâm hồn nhân dân ta. Những câu hát bài ca về chiêc nón bình dị, quê kiểng ấy vẫn là sợi nhớ, sợi thương giăng mắc trong hồn ngươi, man mác và bâng khuâng có bao giờ vơi…

    (Theo Tạ Đức Hiền, Nâng cao Ngữ văn 8,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 7
  • Scan Là Gì? Scan Ảnh, Scan Tài Liệu Là Gì?
  • Hướng Dẫn Scan Tài Liệu Với 3 Bước Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Cách Scan Tài Liệu Sang Pdf Cho Vào Máy Tính
  • Scan Là Gì? Có Công Dụng Gì? Làm Sao Để Scan Giấy Tờ Được?
  • Chủ Đề Văn Bản Thuyết Minh Văn Thuyết Minh Và Phương Pháp Làm Bài Văn Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Viết Đoạn Văn Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8 Hay Đầy Đủ Nhất
  • Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Mà Em Yêu Thích
  • Thuyết Minh Tên Loài Hoa Hay Loài Cây Mà Em Yêu Thích
  • Thuyết Minh Về Một Loài Hoa (Cây Mai Ngày Tết)
  • Thuyết Minh Về Một Loài Hoa
  • Chủ đề :Văn bản thuyết minh Văn thuyết minh và phương pháp làm bài văn thuyết minh. Ngày soạn: Ngày dạy: I.Mục tiêu cần đạt: -Giúp học sinh củng cố khái niệm về văn thuyết minh,tri thức,cách trình bày một văn bản thuyết minh và nhưng phương pháp thuyết minh trong bài văn thuyết minh. -Rèn kĩ năng hiểu và nhận biết,nắm rõ các đặc điểm của văn bản thuyết minh. II.Chuẩn bị: -Giáo viên:Ngiên cứu tài liệu,soạn giáo án.Bảng phụ. -Học sinh:Học lí thuyết. III.Tiến trình dạy và học: A.ổn định tổ chức:Kiểm tra sĩ số B.Kiểm tra bài cũ:Kết hợp trong giờ. C.Bài ôn: Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy học ?Thế nào là văn bản thuyết minh? ?Cho ví dụ về văn bản thuyết minh dã học? ?Tri thức trong văn bản thuyết minh phải đảm bảo yêu cầu gì? ?Muốn văn bản thuyết minh có sức thuyết phục thì cách trình bày ngôn ngữ ra sao? ?Thế nào là phương pháp thuyết minh? ?Muốn làm tốt một văn bản thuyết minh,người viết cần phải làm gì? ?Trong văn bản thuyết minh cần sử dụng những phương pháp nào? ?Nêu định nghĩa và tác dụng của từng phương pháp? I.Lí thuyết: 1.Thế nào là văn bản thuyết minh? -Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng ttrong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) vầ đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên và xã hội bằng phương pháp trình bày, giới thiệu, giải thích. VD:Văn bản Ôn dịch thuốc lá hay Cây dừa Bình Định. -Tri thức trong văn bản thuyết minh cần khách quan,xác thực và hữu ích cho con người. -Muốn văn bản thuyết minh hay và thuyết phục ,có giá trị phải: +Trình bày rõ ràng và hấp dẫn những đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh. +Ngôn ngữ sử dụng phải cô đọng,chính xác,chạt chẽ ,sinh động. 2.Phương pháp thuyết minh: -Phương pháp thuyết minh là vấn đề then chốt của bài văn thuyết minh để biết lựa chọn thông tin nào, lựa chọn số liệu nào để thuyết minh về vật,hiện tượng. -Người viết cần quan sát và tìm hiểu kĩ sự vật,hiện tượng cần được thuyế minh, nhất là phải nắm được bản chất,đặc trưng của chúng để tránh sa vào trình bày những biểu hiện không tiêu biểu. -Để bài văn thuyết minh có tính thuyết phục,dễ hiểu,sáng rõ,người ta có thể sử dụng các phương pháp thuyết minh như: định nghĩa,giải thích,dùng số liệu,so sánh a.Phương pháp định nghĩa,giải thích: -Vị trí: Phần lớn ở đầu bài,đầu đoạn văn, nó thường giữ vai trò giới thiệu. -Quy sự vật được định nghĩa vào loại của nó, và chỉ ra đặc điểm,công dụng riêng, khi định nghĩa ta thường sử dụng đến hệ từ "là". VD: Sách là một đồ dùng học tập thiết yếu của học sinh. b.Phương pháp liệt kê: Liệt kê bằng cách chỉ ra các đặc điểm,tính chất của sự vật, hiện tượng theo một trình tự hợp lí nào đó. Vai trò:Giúp người đọc hiểu sâu sắc, toàn diện,ấn tượng về nội dung được thuyết minh. c.Phương pháp nêu ví dụ: Là nêu ví dụ cụ thể để người đọc tin vào những nội dung được thuyết minh. d.Phương pháp dùng số liệu: Là phương pháp dùng số liệu chính xác để khẳng định độ tin cậy của các tri thức được cung cấp.Phương pháp nêu số liệu giúp người đọc tin tưởng vào vấn đề thuyết minh,khẳng định người viết không suy diễn. e.Phương pháp so sánh: So sánh hai đối tượng cùng loại hoặc khác loại nhằm làm nổi bật các đặc điểm, tính chất của đối tượng cần thuyết minh. g.Phương pháp phân loại,phân tích: -Nghĩa là ta chia đối tượng thuyết minh ra từng mặt,từng khía cạnh,từng bộ phận,từng vấn đề dể thuyết minh. -Tác dụng: Giúp người đọc hiểu được từng mặt của đối tượng một cách có hệ thống,có cơ sở để hiểu đối tượng một cách đầy đủ, toàn diện. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và chuẩn bị cho giờ sau thực hành Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh Ngày soạn: Ngày dạy: I.Mục tiêu cần đạt: -Giúp học sinhnắm được các đề văn thuyết minh dưới nhiều kiểu cấu trúc câu diễn đạt khác nhau, nắm chắc cách làm bài văn thuyết minh có đầy đủ bố cục ba phần và yêu cầu làm bài trong từng phần. -Rèn kĩ năng phát hiện dề chính xác,diễn đạt bài văn trôi chảy,mang sức thuyết phục cao. II.Chuẩn bị: -Gíao viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. -Học sinh :Ôn bài. III.Tiến trình dạy và học: A.ổn định tổ chức:Kiểm tra sĩ số B.Kiểm tra bài cũ: ?Kể tên các phương pháp thuyết minh?Nêu rõ các khái niệm? C.Bài ôn: Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt ?Đề văn thuyết minh là gì? ?Đối tượng được đề cập đến trong văn thuyết minh? ?Có mấy dạng đề văn thuyết minh?Cho ví dụ? ?Có thể quy các đề văn thuyết minh vào các nhóm nào? ?Trước khi làm bài văn thuyết minh,cần phải làm gì? ?Ngôn ngữ trong văn bản phải đảm bảo yêu cầu nào? ?Bố cục bài văn thuyết minh gồm mấy phần? Nêu nội dung của mỗi phàn? GV:Đọc văn bản: "ở xã đồng Tháp hôm nay". ?Hãy xác định dàn ý chi tiết của văn bản trên? ?Hãy xác định các phần của văn bản? 1/Đề văn thuyết minh: -Đề văn thuyết minh nêu các đối tượng để người làm bài trình bày các tri thức về chúng. -Đối tượng dược đề cập đến trong bài văn thuyết minh rất rộng vì lĩnh vực nào trong đời sống cũng có rất nhiều đối tượng cần được giới thiệu. -Có hai dạng đề: +Dạng đề có cấu trúc đầy đủ: VD:Thuyết minh về một lọ hoa, đĩa hoa em đã cắm để tặng mẹ nhân ngày QT Phụ nữ 8/3. -Dạng đề có cấu trúc không đầy đủ, thường chỉ đề cập dến đối tượng được thuyết minh. VD: Thuyết minh về mọt gương mặt trẻ của thể thao Việt Nam? -Các nhóm đề văn thuyết minh: +Thuyết minh về người. +Thuyết minh về đồ dùng gia đình. +Thuyết minh về vật dụng cá nhân. +Thuyết minh về phong tục tập quán. +Thuyết minh về món ăn. +Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh. +Thuyết minh về loài hoa,loài cây. +Thuyết minh về vật nuôi. +Thuyết minh về tác phẩm văn học 2.Cách làm bài văn thuyết minh: -Để làm bài văn thuyết minh cần xác định rõ yêu cầu của đề.Tìm hiểu kĩ dối tượng cần thuyết minh, xác định rõ phạm vi tri thức về đối tượng đó, sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp. +Ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh cần đảm bảo tính chính xác cao,dễ hiểu. -Bố cục: Gồm ba phần: +MB: Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh. +TB: Gồm có nhiều ý,sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trình bày đặc điểm,cấu tạo,lợi ích của đối tượng +KB: Bày tỏ thái độ với đối tượng. II.Thực hành: Đề bài: Cho văn bản: Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân -VB trên gồm ba phàn: +MB:Từ đầu-dân gian: Giớ thiệu hội thổi cơm thi ở Đồng Vân +TB:Tiếp -với dân làng: Giới thiệu cụ thể cuộc thi. +KB: Còn lại:Trình bày suy nghĩ của em về hội thi. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và chuẩn bị cho giờ sau thực hành :cách làm bài văn thuyết minh về một thứ dồ dùng Ngày soạn: Ngày dạy: I.Mục tiêu cần đạt: -Giúp học sinh củng cố bài làm văn thuyết minh về đồ dùngg trong dời sống; Thuyết minh về chiếc nón lá. -Rèn kĩ năng dùng từ, diễn đạt câu trôi chảy,bài viết trong sáng,rõ ràng. II.Chuẩn bị: -Gíao viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. -Học sinh :Ôn bài. III.Tiến trình dạy và học: A.ổn định tổ chức:Kiểm tra sĩ số B.Kiểm tra bài cũ: ?Kể tên các phương pháp thuyết minh?Nêu rõ các khái niệm? C.Bài ôn: Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy và học ?Muốn làm được bài văn thuyết minh về đồ dùng,ta phải làm như thế nào? ?Nêu bố cục của văn bản thuyết minh? ?Xác định thể loại của đề? ?Xác định về nội dung? GV hướng dẫn học sinh lập dàn ý để viết bài. ?Mở bài em cần dẫn dắt,giới thiệu như thế nào? ?Lần lượt giới thiệu những nội dung nào? ?Phần kết bài nêu như thế nào? I.Lý thuyết: 1.Muốn làm một bài văn thuyết minh về một đồ dùng,trước tiên phải quan sát, tìm hiểu kĩ cấu tạo,tính năng, tác dụng,cơ chế hoạt động của đồ dùng đó. -Khi trình bày,cần giới thiệu lần lượt những bộ phận tạo thành, nói rõ tác dụng và cách sử dụng, bảo quản của nó,sao cho người đọc hiểu. 2.Bố cục: Ba phần: -MB: Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh. -TB:Lần lượt giới th thiệu các ý chính và pp thuyết minh: +Nguồn gốc. +Cấu tạo,đặc điểm,hình dáng. +Phân loại . +Tác dụng-ý nghĩa. +Cách bảo quản,sử dụng(nếu có) -KB:Nêu suy nghĩ của bản thân về đối tượng thuyết minh. Đề 1:Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam. Tìm hiểu đề: -Thể loại:Thuýêt minh. -Nội dung: Chiếc nón lá Việt Nam. Dàn ý: *MB: Chiếc nón lá Việt Nam góp phần không nhỏ tạo nên nét độc đáo, sự duyên dáng tinh tế thật đẹp và đặc biệt cho người phụ nữ Việt Nam. *T B: -Nguồn gốc:Do nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa quanh năm nắng lắm,mưa nhìeu. -Hình dáng: Nón có hình chóp nhọn. -Nguyên liệu: Chủ yếu làm bằng lá cọ. -Phải chọn lá vừa tuổi,về phải phơi nắng hoặc sây khô lá bằng than củi,cắt bớt đầu đuôi để độ dài còn khoảng 50cm.Người thợ còn phải làm vành nón-vành dưới cùng to,dậm hơn,càng lên cao càng nhỏ. -Khi đã có lá,vành, người thợ bắt đầu khâu nón. Vết khâu phải đều và thẳng hàng. Nón khâu xong được đính thêm cái "xoài" kết bằng chỉ tơ cho bền và đẹp. -Lòng nón được trang trí thêm hoa văn hình hoa lá cỏ cây kèm theo mấy câu thơ đặc sắc. -Những nơi làm nón:Làng Chuông, Huế, Quảng Bình. -Tác dụng của nón: +Nón giúp con người che nắng mưa. +Nón có thể làm quà để tặng nhau, nón cũng có thể được dùng để múa nhằm tôn thêm vẻ duyên dáng +Nón đi vào thơ ca, nhạc,họa *KB: Nêu suy nghĩ của em về chiếc nón lá. Chiếc nón lá được coi như một di sản văn hoá bền vững.Chiếc nón vẫn là nét đặc trưng riêng của thị hiếu thẩm mĩ hết sức tinh tế với người Việt Nam, là niềm tự hào của dân tọc Việt Nam. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và viết hoàn chỉnh đề văn trên vào vở cách làm bài văn thuyết minh về một thứ Đồ dùng Ngày soạn: Ngày dạy: I.Mục tiêu cần đạt: -Giúp học sinh củng cố bài làm văn thuyết minh về đồ dùngg trong dời sống; Thuyết minh về đôi dép lốp. -Rèn kĩ năng dùng từ, diễn đạt câu trôi chảy,bài viết trong sáng,rõ ràng. II.Chuẩn bị: -Gíao viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. -Học sinh :Ôn bài. III.Tiến trình dạy và học: A.ổn định tổ chức:Kiểm tra sĩ số B.Kiểm tra bài cũ: ?Nêu nhữn ý chính trong bài văn thuyết minh về chiếc nón lá? C.Bài ôn: Đề 2:Thuyết minh về đôi dép lốp cao su. Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy và học ?Xác định thể loại của đề? ?Xác định về nội dung? GV hướng dẫn học sinh lập dàn ý để viết bài. ?Mở bài em cần dẫn dắt,giới thiệu như thế nào? ?Lần lượt giới thiệu những nội dung nào? ?Nêu hình dáng của đôi dép? ?Nêu công dụng và cách sử dụng? ?Chúng ta bảo quản dép cao su như thế nào? ?Nêu suy nghĩ của em về đôi dép? *Tìm hiểu đề: -Thể loại: Thuyết minh. -Nội dung: đối tượng là đôi dép lốp cao su. *Dàn ý: -MB: Các bạn ạ! đôi dép lốp cao su bây giờ với chúng ta quá xa lạ phải không? Thế nhưng trong hia cuộ ckháng chiến chống Pháp, Mĩ nó lại rất gắn bó với cán bộ và chiến sĩ Việt Nam ta.đôi dép là một vật dụng rất tiện lợi và cần thiết,thể hiện sự sáng tạo độc đáo.Để hiểu ró hơn tôi xin giới thiệu để các bạn cùng nghe. -TB: +Hình dáng: đôi dép cao su có hình dáng giống các đôi dép khác,quai dép được làm bằng săm xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau,hai quai sau song song vắnt ngang vào cổ chân. Bề ngoài của quai khoảng 1,5cm.Quai được luồn xuống đế qua các lỗ thủng vừa khít với quai.Đế dép được làm bằng lốp. 2.Công dụng;Cách sử dụng: -Dép lốp cao su dễ làm, giá rẻ tiện sử dụng trong mọi thời tiết nắng mưa. -Trong kháng chiến chống Pháp và Mĩ đôi dép cao su là vật dụng để các chiến sĩ hành quân đánh giặc. -Dùng dép lốp cao su để hành quân thì mọi việc đơn giản hơn nhiều.Trời nắng dép nhẹ dễ vận động.Nếu trời mưa gặp đường lầy chỉ cần đổ một ít bi đông nước ra thì có thể đi tiếp không bị trượt chân. -Đôi dép cao su là biểu tượng giản dị,thuỷ chung trong hai cuộc chiến tranh giải phóng oanh liệt của dân tộc ta.Đôi dép cao su còn gắn với cuộc đời giản dị của Chỉ tịch Hồ Chí Minh.đôi dép cao su, đôi dép Bác Hồ dã trở thành một đề tài phong phú của biết bao nhiêu nhà thơ Quân đội. 3.Cách bảo quản: -Dép cao su có ích với những người chiến sĩ trong kháng chiến.Chúng ta cần bảo quản tốt,trtánh ánh nắng,để nơi khô ráo. -KB: Đôi dép cao su có ý nghĩa thật quan trọng dối với người dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.Vì vậy,chúng ta phải yêu quý, bảo vệ nó,mãi coi nó là một vật vô giá trong tâm hồn mỗi người. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và viết hoàn chỉnh đề văn trên vào vở cách làm bài văn thuyết minh về một thứ Đồ dùng Ngày soạn: Ngày dạy: I.Mục tiêu cần đạt: - Giúp học sinh củng cố bài làm văn thuyết minh về đồ dùng trong dời sống; Thuyết minh về cây bút bi. - Rèn kĩ năng dùng từ, diễn đạt câu trôi chảy,bài viết trong sáng,rõ ràng. II.Chuẩn bị: - Gíao viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. - Học sinh : Ôn bài. III.Tiến trình dạy và học: A. ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số B. Kiểm tra bài cũ: ?Nêu những ý chính trong bài văn thuyết minh về đôi dép lốp? C.Bài ôn: Đề 3: Thuyết minh về cây bút bi. Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy và học ?Xác định thể loại của đề? ?Xác định về nội dung? GV hướng dẫn học sinh lập dàn ý để viết bài. ?Mở bài em cần dẫn dắt,giới thiệu như thế nào? ?Lần lượt giới thiệu những nội dung nào? ?Nêu nguồn gốc, hình dáng của chiếc bút ? ? Nêu cấu tạo của chiếc bút? ?Nêu công dụng và cách sử dụng? ? Chúng ta bảo chiếc bút bi như thế nào? ?Nêu suy nghĩ của em về chiếc bút bi? *Tìm hiểu đề: -Thể loại: Thuyết minh. -Nội dung: đối tượng là chiếc bút bi. *Dàn ý: -MB: Trong các đồ dùng học tập của học sinh có lẽ không ai không biết đến chiếc bút bi. Chiếc bút bi có tầm quan trọng rất lớn. Nó là đồ dùng của học sinh để viết chữ. Và cụ thể chiếc bút bi như thế nào tôi sẽ giới thiệu cùng các bạn. -TB: + Nguồn gốc: Chiếc bút bi ra đời muộn hơn bút ta, bút máy và nhanh chóng chứng tỏ ưu thế của mình. +Hình dáng: Bút bi thon, nhỏ, có hình trụ dài, làm bằng nhựa, đường kính 0,8cm, dài khoảng 15cm. + Cấu tạo: Gồm hai bộ phận: Trong và ngoài. Bộ phận bên ngoài có vỏ bút và khuy cài. Vỏ bút bằng nhựa, nhiều màu: đen, xanh, trắngDầu của ngòi bút thon nhỏ về phía ngòi, có miếng đệm bằng cao su để dễ cầm. ở vỏ bút bi thiết kế một bộ phận để đìêu khiển ruột bi và lò so phía bên trong. Chúng ta chỉ cần ấn nhẹ bộ phận này là đầu bi có thể trồi ra hoặc thụt vào.Vỏ bi có thể tháo ra nhờ ren ở thân bút dễ dàng, tiện lợi cho việc thay ruột bi khi bút hết mực. Bộ phận bên trong: ruột là bộ phận quan trọng của bút bi gồm một ống đựng mực và một đầu bút. ống đựng mực làm bằng nhựa chứa mực. đầu bi được làm bằng sắt, thép có mạ I nôc, hình dáng thon nhỏ, tạo ngòi để viết. Đầu ngòi bút có một viên bi nhỏ, khi viết, viên bi lăn đều để mực chảy. - Loại bút: Hiện nay bút bi được sử dụng nhiều. Trên thị trường phổ biến là loại bút bi Bến Nghé và Thiên Long. Giá một chiếc bút khoảng 1 500 - 2000 đ, cũng có loại từ 15 - 20 000 đ. - Công dụng: Bút bi có tác dụng rất lớn. Nó là vật không thể thiếu đối với học sinh, sinh viên, những người làm công việc viết láchNhờ có cây bút bi mà chúng ta có thể ghi những ý tưởng, những bài văn, bài thơ của mình lên trang giấy. - Cách bảo quản: Khi sử dụng xong, cần bấm bút bi để ngòi không trồi ra ngoài, tránh để bút bi rơi hoặc đâm đầu bi vào cật cứng. -KB: Chiếc bút bi thật có ích với học sinh nói riêng, con người nói chung. Mỗi chúng ta cần phảI yêu quý, bảo vệ chiếc bút bi thật tốt. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và viết hoàn chỉnh đề văn trên vào vở cách làm bài văn thuyết minh về một thứ dồ dùng Ngày soạn: Ngày dạy: I. Mục tiêu cần đạt: - Giúp học sinh củng cố bài làm văn thuyết minh về đồ dùngg trong dời sống; Thuyết minh về cái phích nước. - Rèn kĩ năng dùng từ, diễn đạt câu trôi chảy,bài viết trong sáng,rõ ràng. II. Chuẩn bị: - Gíao viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. - Học sinh : Ôn bài. III. Tiến trình dạy và học: A. ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số B. Kiểm tra bài cũ: ?Nêu những ý chính trong bài văn thuyết minh về chiếc bút bi? C. Bài ôn: Đề 4: Thuyết minh về cái phích nước. Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy và học ?Xác định thể loại của đề? ?Xác định về nội dung? GV hướng dẫn học sinh lập dàn ý để viết bài. ?Mở bài em cần dẫn dắt,giới thiệu như thế nào? ? Lần lượt giới thiệu những nội dung nào? ? Nêu hình dáng của phích nước? ? Nêu cấu tạo của phích nước? ? Nêu công dụng và cách sử dụng? ? Chúng ta bảo quản phích nước như thế nào? ?Nêu suy nghĩ của em về cái phích nước? *Tìm hiểu đề: -Thể loại: Thuyết minh. -Nội dung: đối tượng là cái phích nước. *Dàn ý: -MB: Phích nước là một thứ đồ dùng thường có trong mỗi gia đình và công dụng của nó -TB: +Hình dáng: Phích nước có hình trụ cao khoảng 35 - 40 cm. + Cấu tạo: Gồm hai phần: Phần ruột và phần vỏ. Bộ phận quan trọng nhất của phích là ruột phích . Nó được làm bằng hai lớp thuỷ tinh, ở giữa là một lớp chân không có tác dụng hạn chế khả năng truyền nhiệt ra ngoài; phía trong lớp thuỷ tinh có tráng một lớp bạc mỏng có tác dụng hắt nhiệt trở lại giữ nhiệt, miệng bình nhỏ làm giảm khả năng truyền nhiệt. Bộ phận vỏ phích làm bằng nhựa hoặc nhôm, sắt thường có các màu xanh, đỏ , trắngcó tác dụng bảo vệ ruột phích khỏi bị vỡ và giữ nhiệt độ nước được lâu hơn. Để cầm phích nước được tiện lợi, người ta làm tay cầm nếu là phích bằng nhựa làm bằng nhựa, phích sắt thì quai bằng nhôm. + Công dụng: Phích nước có hiệu quả giữ nhiệt cho nước. Trong vòng 6 tiếng, nước có thể giữ nhiệt từ 100 độ C xuống còn 60 độ C. +Cách bảo quản; sử dụng: Khi mới mua về, phải tráng qua nước sôi Đổ nước sôi phải đổ dần dần, tránh làm nóng đột ngột dễ gây vỡ ruột phích. Sau khi dùng cần tráng ruột phích dể tránh gây cặn. Để phích nơi khô ráo, tránh nhiệt độ cao và để xa tầm tay trẻ em -KB: Chiếc phích rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày trong mọi gia đình. D.Củng cố: -Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm trong bài E.Hướng dẫn học tập ở nhà: -Học kĩ kí thuyết và viết hoàn chỉnh đề văn trên vào vở Thuyết minh về một thể loại văn học Ngày soạn: Ngày dạy: I .Mục tiêu cần đạt: - Giúp học sinh nắm chắc cách làm bài văn thuyết minh về một thể loại văn học: Thơ, truyện, tác phẩm - Rèn kĩ năng dùng từ, diễn dạt câu đúng, chính xác II. Chuẩn bị: Giáo viên nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án. Học sinh ôn bài. III. Tiến trình dạy và học: ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số. Kiểm tra bài cũ: ? Giới thiệu về chiếc phích nước? Ôn tập: Hoạt động của thầy và trò Nội dung dạy và học ? Muốn thuyết minh về một thể loại văn học ta phải làm thế nào? ? Có thể phân thành những đoạn nào? ? Nêu bố cục? ? Phần mở bài giới thiệu như thế nào? ?Để làm bài văn thuyết minh cần có yêu cầu gì? ? Xác định thể loại? ? Xác định nội dung? ? Phần MB? ? Lần lượt thuyết minh các đặc điểm của thể thơ này? ? Nêu nguồn gốc? ? Nêu số câu, số chữ trong bài? Ví dụ? ? Quy định về vần, luật? VD? Giới thiệu về đối và niêm của thể thơ này? VD? ? Cách gieo vần? ?Nêu bố cục bài thơ? ? Nêu cách ngắt nhịp? ? Em có nhận xét gì về ưu, nhược điểm của thể thơ? ? Cảm nhận của em về thể thơ này? GV: Chốt để học sinh nắm vững. Lí thuyết: Cách làm: - Muốn thuyết minh về một thể loại văn học: Một thể thơ,một văn bản cụ thểtrước hết phảI quan sát, nhận xét, sau đó kháI quát thành những đặc điểm. - Khi nêu các đặc điểm, cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu, quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ đặc điểm ấy. 2. Bố cục: a. Thuyết minh về một thể loại văn học: - MB : Giới thiệu khái quát về thể loại. - TB: Trình bày các yếu tố hình thức của thể loại. + Thơ: Số dòng, tiếng, vần, nhịp, B, T, bố cục + Truyện: Cốt truyện, tình huống, nhân vật + Nghị luận: Bố cục, phương pháp lập luận b. Bài thuyết minh về tác phẩm: - MB: Giới thiệu tác giả và hoàn cảnh sáng tác. - TB: + Tóm tắt nội dung tác phẩm. + Giới thiệu đặc điểm nổi bật của tác phẩm. Đặc điểm nội dung. Đặc điểm hình thức. + Tác dụng: - KB: Suy nghĩ về bài thơ, ảnh hưởng của tác phẩm với cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Soạn Lớp 10: Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Thuyết Minh Về Cái Kéo
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Đầy Đủ Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8 Tập 2
  • Giáo Án Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Giáo Án Điện Tử Ngữ Văn 10
  • Bài Thuyết Minh Về Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Chiếc Nón Lá Truyền Thống Của Việt Nam
  • Thuyết Minh Cây Dừa Lớp 9 Có Miêu Tả Và Biểu Cảm
  • Top 7 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Dừa Quê Em Lớp 9
  • Top Các Bài Văn Thuyết Minh Về Đồ Dùng Học Tập Hay Nhất
  • Kiểm Tra Ngữ Văn 8
  • 1.1. Mở bài: Giới thiệu về con trâu

    Cách 1: Giới thiệu khái quát về con trâu

    Một trong những con vật thân thuộc và hữu ích nhất ở làng quê Việt Nam, giúp đỡ người nông dân những công việc đồng áng là con trâu. Con trâu từ lâu đã trở thành người bạn gắn bó với người nông dân, trở thành biểu tượng cho tính cần cù, chăm chỉ, hiền lành của người nông dân Việt.

    Cách 2: dẫn dắt từ một câu thơ, câu ca dao về con trâu.

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày là việc nông gia

    Ta đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

    hay:

    “Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”

    hay trong bài thơ “Quê hương” của Giang Nam

    “Ai bảo chăn trâu là khổ

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao”

    1.2. Thân bài: Thuyết minh về đặc điểm, công dụng, ý nghĩa của con Trâu

    *Nguồn gốc, đặc điểm chung về hình dáng của loài trâu.

    – Loài trâu ở Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy, có đặc tính hiền lành và biết nghe lời, không hung dữ hoặc nổi loạn như những loài trâu rừng hay loài trâu không thuần. Trâu được nuôi ở rộng khắp các tỉnh thành ở Việt Nam, đặc biệt ở vùng nông thôn.

    – Hình dáng và đặc điểm bên ngoài của loài trâu có sự khác biệt giữa giống đực và giống cái, cụ thể:

    + Giống đực: có tầm vóc cao lớn hơn con cái, phía trước thường cao hơn hẳn, phía sau thấp hơn.

    + Giống cái: Con cái thường nhỏ hơn con đực, linh hoạt hơn trong chuyển động.

    + Cân nặng trung bình khoảng 250-500kg, có sự khác biệt giữa trâu đực, trâu cái và độ tuổi cũng như tình trạng sức khỏe của từng chú trâu.

    + Các bộ phận như đầu, cổ, thân, chân, đuôi, và da: đầu dài, trên đầu là cặp sừng dài, cong vút, trán rộng, phẳng, hơi gồ, da khô, mắt to, tròn, đen láy, lanh lẹ, miệng trâu rộng, khít, răng nhiều, nhưng hàm trên không có răng mà chỉ có một miếng đệm rất dai, dẻo. Trâu là loài động vật nhai lại, thường ăn thực vật, đặc biệt là cỏ và có thể nhai được cỏ khô, rơm khô trong mùa đông hay trong điều kiện khan hiếm thức ăn.

    + Chân trâu rất khỏe, có thể chống đỡ cả cơ thể, đuôi trâu to, dài, thường phe phẩy để đuổi một số loài như ruồi, muỗi.

    *Lợi ích to lớn mà loài trâu mang lại cho người nông dân Việt.

    Trâu là loài vật mang đến rất nhiều lợi ích, không chỉ có giá trị với nông nghiệp mà còn mang lại những giá trị tinh thần to lớn.

    + Trâu được sử dụng với mục đích hỗ trợ người nông dân trong công việc đồng áng, đến mùa cấy gặt hay trồng hoa màu, đất cần được cày bừa lên để thêm phần tơi xốp, trâu sẽ kéo cày đúng như câu nói “con trâu theo trước cái cày theo sau”.

    + Trâu có thể sinh sản và tạo ra nhiều lứa trâu, trâu con có thể được nuôi lớn để tiếp tục phục vụ cày bừa, cũng có thể được bán đi để có thêm thu nhập. Trâu 3 năm tuổi có thể đẻ được lứa đầu, một đời trâu có thể đẻ được từ 5-6 nghé con.

    + Trâu được sử dụng như một nguồn cung cấp thịt cho con người, khả năng cho thịt của trâu là 45%, hơn thế nữa, trâu còn có khả năng cho sữa, da trâu có thể làm được mặt trống, làm giày, sừng trâu có thể làm đồ mỹ nghệ hoặc đồ trang trí trong nhà.

    + Một trong những lợi ích to lớn mà trâu đóng góp cho việc phát triển nông nghiệp là tạo ra phân trâu, hữu ích trong việc nuôi dưỡng cây trồng, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, tiết kiệm được một khoản chi phí khác cho người nông dân.

    – Bên cạnh những lợi ích về nông nghiệp, trâu còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.

    + Trâu từ lâu đã trở thành người bạn của người nông dân trên ruộng đồng, những hôm cày bừa vất vả hay những lúc nghỉ ngơi dưới bóng cây đều có trâu làm bạn.

    + Trâu còn xuất hiện trong các lễ hội, mang đến sự giải trí và giá trị tinh thần cao cho những người đi xem hội, góp phần xây dựng bản sắc văn hóa Việt. Một số lễ hội chọi trâu nổi tiếng như hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng, hội đâm trâu ở Tây Nguyên, là biểu tượng của Sea Game 22 Đông Nam Á được tổ chức tại Việt Nam.

    1.3. Kết bài: Khái quát lại nội dung về con Trâu

    Tổng kết lại nội dung thuyết minh, nêu cảm nghĩ cá nhân

    Trâu là loài vật thích hợp với cuộc sống thôn quê Việt Nam. Chính bởi những lợi ích to lớn cũng như giá trị mà trâu mang lại, loài vật hiền lành này được yêu quý bởi biết bao thế hệ người nông dân Việt. 

    2. Bài văn mẫu thuyết minh về con trâu làng ở Việt Nam

    2.1. Bài văn mẫu thuyết minh về con trâu làng ở Việt Nam số 1

    Con trâu là hình ảnh vô cùng quen thuộc, gắn bó mật thiết với làng quê Việt Nam, với những khóm tre, cánh đồng ruộng và người nông dân chân lấm tay bùn, không gì có thể thay thế được. Từ bao đời nay, mỗi khi nhắc đến con trâu là chúng ta sẽ lại nghĩ ngay đến những vai trò, lợi ích vô cùng to lớn của nó đối với nền nông nghiệp của nước nhà. Đó cũng chính là biểu tượng của việc không ngại gian khổ của người nông dân Việt Nam.

    Những con trâu ở Việt Nam hiện nay là những con trâu rừng đã được đưa về nuôi và thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy, phân bố khá rộng rãi ở khắp Việt Nam và một số nước ở châu Á. Người Việt không chỉ biết săn trâu mà còn biết thuần hóa những con trâu rừng biến chúng thành vật nuôi, lợi dụng sức khỏe của trâu để phục trong việc đồng áng, hỗ trợ trong lao động sản xuất. Trâu là một loại động vật ăn cỏ thuộc lớp có vú, thân hình của trâu vô cùng to lớn, lông mọc ở trên thân con trâu là lông mao thường có màu đen đậm. Da trâu rất là dày và bóng loáng, có thể màu đen hoặc màu đen vàng. Hai tai của trâu như hai cái lá sung lúc nào cũng vẫy vẫy để đuổi ruồi. Bên cạnh đó tai trâu cũng vô cùng thính giúp trâu có thể nghe được tất cả những âm thanh từ khá xa. Mũi trâu lúc nào cũng ươn ướt, màu đen, người ta thường luồn dây thừng vào mũi trâu để dễ kéo đi theo ý muốn của mình. Mắt của trâu rất to và tròn, trâu và bò đều là 2 động vật thuộc nhóm động vật nhai lại do chúng chỉ có một hàm răng dưới để nhai thức ăn. So với kích thước của cơ thể thì đuôi của trâu hơi ngắn. Hai cái sừng trâu ở phía trên đầu uốn cong như hình lưỡi liềm giúp trâu bảo vệ bản thân trước sự tấn công của kẻ thù Sừng trâu khá dài nhưng phía bên trong thì đều rỗng tuếch. Trâu mỗi năm sẽ sinh con từ 1 đến 2 lần, mỗi lần là một con. Những con trâu mới được sinh ra được gọi là nghé, nghé vừa chào đời sẽ có cân nặng khoảng 20-25 kg. Khi mới sinh ra khoảng vài giờ đến một ngày thì nghe đã có thể tự đứng dậy, mấy ngày sau có thể mở mắt và đi lại bú sữa mẹ. Trâu nuôi con bằng sữa tiết ra từ tuyết vú. Những chú nghé lớn rất nhanh và chưa có sừng như trâu trưởng thành còn lại các bộ phận khác không hề khác so với trâu mẹ.

    Trâu có hai loại là trâu đực và trâu cái, chúng đều có đặc tính, bản chất giống nhau nhưng hình dáng và kích thước thì khác nhau tuy nhiên không đáng kể.Trâu đực thường có ngoại hình bên ngoài to lớn hơn trâu cái, những cái sừng cũng to, nhọn và dày hơn, đôi chân thì chắc chắn , lúc chạy vô cùng nhanh. Đầu trâu đực thường có kích thước lớn hơn trâu cái một chút. Tuy có sự khác nhau như vậy nhưng bản chất những con trâu lại là con vật hiền lành nhưng khá nặng nề trong việc đi lại. Mỗi con trâu trưởng thành thường nặng từ 300-600 kg tùy vào sức khỏe và thể trạng của mỗi con. Sức chịu lực của trâu rất dẻo dai, nó có thể kéo được rất nhiều đồ đạc có khối lượng lớn hơn cân nặng của nó. Không giống như những động vật khác thì trâu có một kiểu ngủ khá đặc biệt đó là hai chân của trâu sẽ gập vào trong và đầu sẽ để trên đó để ngủ. Để có thể nuôi được trâu không hề khó như mọi người vẫn nghĩ. Vì trâu làm việc từ sáng đến tối nên cho ăn 3 bữa chính là sáng sớm, trưa, tối. Cỏ là thức ăn chính của những con trâu nên vào mùa xuân và mùa hạ chúng ta có thể dễ dàng tìm được cỏ trên những cánh đồng, những đồi cỏ để cho trâu ăn. Còn vào những ngày đông rét buốt nhất là các tỉnh thành ở phía Bắc nhiệt độ có thể xuống tới 5-7 độ C vì vậy cỏ không thể mọc được. Cho nên tốt nhất chúng ta nên dự trữ trước cỏ khô hoặc rơm rạ cho cho trâu ăn. Ủ xanh cỏ cũng là cũng là một cách rất tốt vừa giúp cỏ được tươi lâu, cỏ được ủ bổ sung hệ vi sinh cho đường ruột giúp hệ tiêu hóa của những con trâu hoạt động tốt hơn. Sau khi trâu làm việc mệt nhọc mới về đừng cho trâu ăn ngay mà hãy cho chúng được nghỉ ngơi rồi pha ít nước muối pha loãng sau đó ta mới cho trâu ăn. Hằng ngày phải cũng cấp đủ nước cho những con trâu với 20 lít nước/ 1 con trâu/ 1 ngày. Muốn những con trâu luôn được khỏe mạnh để chúng hỗ trợ trong việc đồng áng thì cần phải có chế độ chăm sóc, ăn uống, ngủ nghỉ thật phù hợp và chu đáo. Sau khi từ cánh đồng về, hãy xoa bóp vai cày cho những con trâu bởi đó là bộ phận sử dụng nhiều nhất trong ngày. Tắm mỗi ngày khoảng 30-45 phút để có thể điều hòa được nhiệt độ cơ thể của chúng. Trong mỗi buổi cày , không nên bắt trâu cày liên tục trong nhiều giờ mà cần cho trâu nghỉ ngơi từ 3-5 lần , mỗi lần như vậy khoảng 15-20 phút để đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho chúng, tránh để trâu làm việc quá lâu sẽ không hiệu quả.Còn nếu trâu phải làm việc cả tuần thì cần cho chúng nghỉ một ngày không nên bắt chúng làm việc quá nhiều sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và lâu dần sẽ bị suy yếu. Nếu trong quá trình làm việc mà thấy sức của những con trâu có dấu hiệu bị sụt giảm cần cho nghỉ ngơi 1 tuần để cho lại sức, bồ bổ nhiều cỏ tươi và cháo cám. Đối với những người nông dân thì con trâu chính là tất cả tài sản của họ cho nên việc chăm sóc, bảo vệ chúng là rất cần thiết và vô cùng quan trọng.

    Quanh năm suôt tháng những con trâu cùng người nông dân chăm lo chuyện đồng áng. Những con trâu to khỏe, chăm chỉ, cần cù nên thường phải làm những công việc rất nặng nhọc, vất vả của nhà nông. Từ sáng sớm khi mặt trời còn chưa mọc, những con trâu đã cùng những người nông dân ở trên những cánh đồng cho đến khi màn đêm đã buông xuống những con trâu vẫn miệt mài bên những luống cày..

    Trâu là nguồn cung cấp sức kéo vô cùng quan trọng cho người nông dân, lực kéo trung bình của một con trâu ở trên những cánh đồng là khoảng 70-80 kg. Những con trâu loại A mỗi ngày cày được 3-4 sào ruộng, loại B sẽ là khoảng 2-3 sào ruộng và cuối cùng loại C là từ 1,5-2 kg. Sức của con trâu còn được sử dụng để kéo đồ đạc, chở hàng hóa nếu ở trên đường tốt thì có thể kéo được 700-800 kg còn nếu ở trên đường xấu thì ccó thể kéo được 400-500 kg. Trong trường hợp kéo trên đường nhựa thì có thể lên tới 1 tấn hàng, trường hợp kéo trên đường đồi núi những chú trâu có thể kéo được 1m^3gỗ trên đoạn đường từ 3-5 km. Trâu làm việc với cường độ mạnh như vậy, sử dụng nhiều sức lực như vậy nhưng bữa ăn của trâu vô cùng đơn giản chỉ có rơm và cỏ. Trâu cũng là một nguồn cung cấp thực phẩm cho con người sử dụng. Thịt trâu chứa nguồn dinh dưỡng chất đạm rất cao và chất béo khá thấp. Bên cạnh đó sữa trâu cũng là nguồn cung cấp chất đạm và chất béo vô cùng dồi dào. Da của con trâu có thể dùng làm mặt trống hoặc làm giày dép. Sừng trâu được sử dụng để sản xuất đồ mĩ nghệ như lược, tù và,… Con trâu không chỉ đóng góp vào đời sống vật chất của người nông dân Việt Nam mà còn đóng góp vô cùng lớn vào đời sống tinh thần của mọi người dân nơi đây. Đã từ xa xưa, trâu là một trong 12 con giáp và trở thành con vật gắn liền với tuổi đời của con người sinh năm con trâu, những người mang tuổi trâu thường rất hiền lành và chịu khó. Trong đời sống tinh thần, con trâu là một con vật vô cùng thiêng liêng và được tôn trọng dùng để tế lễ thần linh vào trong các ngày lễ như lễ hội cơm mới, lễ hội xuống đồng. Những con trâu chăm chỉ cũng gắn liền với các lễ hội, lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng là một ví dụ điển hình. Những con trâu được chăm sóc một cách vô cùng cẩn thận, được luyện tập chu đáo. Những con trâu tham gia vào lễ hội đều có thân hình to lớn, vạm vỡ với cặp sừng hình vòng cung nhọn hoắt, da trâu đen bóng loáng tất cả như chỉ chờ lệnh được vào sân. Trong tiếng trống rộn ràng cùng tiếng ro hò nhiệt tình của những người cổ vũ hai con trâu đấu với nhau.Tìm Trâu là một động vật rất to lớn và chịu khó. Xuất phát từ nền văn minh lúa nước, những cánh đồng lúa, những mảnh ruộng cày đã gắn bó với đời sống của những người nông dân Việt Nam từ bao đời nay. Công việc đồng áng vô cùng khó khăn và vất vả nhưng những người nông dân vẫn luôn có một “người bạn” ở cạnh giúp đỡ mình đó là chú trâu. Dù ngày nắng hay ngày mưa, dù có gian nan vất vả chỉ cần người nông dân cần đến thì những con trâu sẵn sàng, không ngại gian lao để cùng người nông dân cày cấy những thửa ruống đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Người nông dân vẫn hay nói với nhau rằng “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Nhưng những con trâu thì không cần gì ngoài những ngọn cỏ ngoài đồng cùng một nơi để nghỉ ngơi lúc hoàn thành công việc. Những ngày nhàn rỗi, trâu lại làm bạn với tiếng sao trong trẻo trên đồi cỏ, những cánh diều mộng mơ của những đứa trẻ mục đồng. Những chú bé cưỡi trên lưng trâu đùa nghịch tạo nên những kỷ niệm tuổi thơ khó quên trong cuộc đời của các em cho đến tận sau này. Là một loài động vật giúp ích cho những người nông dân ngoài ra những con trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu chứa rất nhiều hàm lượng chất đạm và chứa ít hàm lượng chất béo. Sữa trâu cung cấp cho người sử dụng một lượng chất đạm và chất béo dồi dào. Da trâu được sử dụng trong việc sản xuất mặt trống, làm giày dép. Sừng trâu sẽ được sử dụng làm đồ mĩ nghệ như lược, tù và,…Con trâu còn gắn liền với lễ hội truyền thống của nước Việt Nam như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng. Những chú trâu được chăm sóc một cách chu đáo, cẩn thận từ rất lâu để chuẩn bị thật tốt cho ngày lễ hôm đó. Con nào cũng rất vạm vỡ, sừng cong và nhọn hoắt, da bóng loáng trông rất oai phong hùng dũng chỉ chờ vào sân để thi đấu trong tiếng trống giục giã, trong tiếng reo hò của người cổ vũ. Tìm hiểu nguồn gốc của lễ hội chọi trâu thì nó mang ý nghĩa vô cùng lớn lao và quan trọng. Ngoài để vui chơi, giao lưu thì còn để tưởng nhớ đến công ơn của các vị thần đã giúp đỡ trong thời gian vừa qua ; vừa để duy trì kỷ cương phong tục của làng xã và cầu nguyện cho công việc được thuận lợi. Ngoài ra chúng ta có thể kể thêm một lễ hội đó là lễ hội đâm trâu. Đây là phong tục tập quán của những người dân ở Tây Nguyên. Câu trâu bị giết sẽ được đưa đi xẻ thịt và chia đều cho tất cả những hộ gia đình ở buôn làng cùng chúc mừng một mùa màng thội thu. Người Đồ Sơn gắn lễ hội chọi trâu với việc thờ cúng thành hoàng làng với mong muốn những chuyến đi ra biển thuận buồm xuôi gió vì vậy ngày hội càng trở nên thiêng liêng và trang trọng.

    Hình ảnh những con trâu đã in sâu vào trong ký ức của những đứa bé lớn lên tại vùng quê. Chắc ai cũng biết Đinh Bộ Lĩnh đã làm nên lịch sử khi thống lĩnh được 12 sứ quân, người đã từng có một tuổi thơ gắn bó với những những con trâu qua những trò đánh trận giả hay là trò đua trâu đầy hấp dẫn. Chắc rằng mỗi chúng ta đều đã bắt gặp hình ảnh rất nên thơ của làng quê Việt Nam đó là hình ảnh những chú bé mục đồng ngồi trên lưng trâu đọc sách hay hình ảnh những cậu bé mục đồng đang thổi sáo bên những con trâu,… tất cả những hình ảnh đó đều trở thành nguồn cảm hứng cho các nghệ nhân tranh Đông Hồ và các nhà văn học.Con trâu là biểu tượng của Seagames 22 Đông Nam Á được tổ chức ngay tại Việt Nam. Biểu tượng con trâu vàng mặc bộ quần áo của các vận động viên của nước khác vào ngày 25/12/2002 đã tôn vinh sự trân trọng và yêu quý của người dân Việt Nam dành cho con trâu. Mang một ý nghĩa hết sức to lớn về mọi mặt trong đời sống của những người nông dân, con trâu đã trở thành một con vật không thể thiếu và xứng đáng để họ có trách nhiệm bảo vệ, nâng niu và quý trọng. Cho dù bây giờ cuộc sống hiện đại, có rất nhiều các loại máy móc thay thế vai trò của những con trâu trong lao động sản xuất nhưng ý nghĩa của nó mang lại thì không gì có thể thay thế được trong cuộc sống của nông dân Việt Nam với hình ảnh cần cù, chung thủy đã in sâu vào trái tim mỗi người.

    2.2. Bài văn mẫu thuyết minh về con trâu làng ở Việt Nam số 2

    “Ai bảo chăn trâu là khổ

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao”

    (Quê hương_Giang Nam)

    Đã từ lâu, hình ảnh con trâu không chỉ gắn với cái cuốc,cái cày, những công việc đồng áng mà còn gắn bó với kỉ niệm tuổi thơ tươi đẹp của nhiều thế hệ trẻ. Con trâu đã trở thành người bạn của người nông dân Việt, đóng một vai trò quan trọng, không chỉ đối với nông nghiệp mà còn có giá trị tinh thần to lớn.

    Trâu Việt Nam là giống trâu thuần chủng, hiền lành, được gọi là trâu đầm lầy, xuất hiện ở khắp các vùng nông thôn trên mọi miền Tổ Quốc. 

    Về đặc điểm hình dáng, trâu có sự khác biệt giữa giống đực và giống cái, giống đực thường to hơn, giống cái nhỏ hơn nhưng lại linh hoạt hơn trong chuyển động. Trâu có đầy đủ các bộ phận như đầu, cổ, thân mình, chân, đuôi. Điều đặc biệt, trâu có miệng rộng, chỉ có một hàm dưới, hàm trên không có răng chỉ có miếng đệm rất dẻo, dẻo, phù hợp với đặc tính của động vật nhai lại. Nói về đặc điểm này của loài trâu, có một bài ca dao như sau:

    “Con trâu có một hàm răng

    Ăn cỏ đồng bằng uống nước bờ ao”

    Câu ca dao trên đồng thời cũng nói thêm về một đặc tính nữa của loài vật này là rất dễ nuôi, thức ăn chính là cỏ, một loài cây phổ biến và dễ tìm ở vùng nông thôn Việt Nam.

    Loài trâu to khỏe phù hợp với tính chất công việc là cày bừa, làm những công việc nặng nhọc hỗ trợ người nông dân. Bên cạnh đó, trâu cũng mang đến nhiều giá trị khác như nuôi lấy thịt, da trâu làm đồ trang trí, trang sức, vật dụng, sừng trâu làm đồ mỹ nghệ. Đúng như ca dao xưa đúc kết:

    “Thời sống mày đã thương tao

    Bây giờ mày chết cầm dao xẻ mày

    Thịt mày tao nấu linh đình

    Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mày tao tiện con cờ

    Làm dao, cán mác, lược dày, lược thưa.”

    Không chỉ góp phần quan trọng trong đời sống vật chất, con trâu còn đóng góp to lớn vào nâng cao giá trị tinh thần của người Việt. Trâu là con một con vật xuất hiện trong 12 con giáp, là những con vật thân thuộc nhất của người Việt. Những người tuổi trâu thường là người hiền lành, chăm chỉ, cần cù, giống như đặc tính của linh vật thiêng liêng đại diện cho nó.

    Trâu trở thành người bạn của người nông dân cả những khi ở trên ruộng đồng hay những lúc nghỉ ngơi. Đối với trẻ thơ, trâu còn là loài vật gắn với những kỉ niệm không thể nào quên, những buổi thả diều, cắt cỏ, những buổi nhặt rạ nướng khoai trong khi chăn trâu, những khi gió mát được nằm trên thảm cỏ xanh tươi mơ mộng…

    Hơn thế nữa, trâu còn gắn với những lễ hội đình đám, thu hút đông đảo người xem, như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Những chú trâu được chăm sóc rất cẩn thận, chu đáo, con nào cũng vạm vỡ, to khỏe, sừng cong vút, hứa hẹn mang đến cho khán giả những màn biểu diễn tốt nhất. Âm thanh rộn rã, sống động, giục giã và không khí háo hức trong lễ hội là một nét đặc trưng ở Việt Nam. Ngoài ra, ở một số vùng như ở Tây Nguyên còn có lễ hội đâm trâu với mục đích cầu mong cho buôn làng một mùa màng bội thu.

    Con trâu của quê hương đất Việt còn vượt ra khỏi lũy tre làng để trở thành biểu tượng của SEA Game 22, tượng trưng cho sức mạnh, tinh thần thượng võ, sự trung thực. Hình ảnh chú trâu xuất hiện làm hình ảnh trang trí cho nhiều vật dụng và đồ trang trí càng thể hiện sự thân thuộc và tầm quan trọng của loài vật này trong cuộc sống của người Việt.

    Như vậy, chắc hẳn mỗi người đã có những hiểu biết chung nhất về con trâu Việt Nam, loài vật hiền lành, chăm chỉ, mang tới nhiều giá trị quý báu. Loài vật này sẽ mãi trở thành biểu tượng thân quen của mỗi người con đất Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Con Bò Lớp 9 Hay Nhất
  • Tổng Hợp Văn Mẫu Thuyết Minh Về Cái Phích Nước (Bình Thủy)
  • Bài Học: Tổng Kết Phần Tập Làm Văn
  • Bài Văn: Thuyết Minh Về Bánh Chưng
  • Top 10 Bài Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Hãy Thuyết Minh Về Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Con Trâu Trong Công Việc Nhà Nông
  • Đoạn Văn Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9 Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Con Trâu
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Con Trâu
  • Sử Dụng Mội Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Bài tham khảo số 1 Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

    Bao đời nay, hình ảnh con trâu đã trở nên gắn bó với người nông dân Việt Nam. Trâu Việt Nam là trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy và thường sống ở miền khí hậu nhiệt đới. Thân hình vạm vỡ nhưng thấp, ngắn, bụng to, da dày màu xám đen nhưng vẫn tạo cảm giác mượt bởi bên ngoài được phủ một lớp lông mềm. Điều đặc biệt ở trâu mà không thể không nhắc đến đó là trâu thuộc họ nhai lại.

    Quanh năm suốt tháng, trâu cùng người chăm lo việc đồng áng vì vậy người nông dân coi trâu như người bạn thân thiết nhất của mình. Trâu to khỏe, vạm vỡ lại chăm chỉ cần cù chịu thương chịu khó nên thường gánh vác những công việc nặng nhọc của nhà nông. Từ sáng sớm tinh mơ, khi mặt trời còn ngái ngủ, trâu đã cùng người ở “trên đồng cạn” rồi lại xuống “dưới đồng sâu”, cho đến khi ông mặt trời mệt mỏi sau một ngày làm việc, chuẩn bị đi ngủ trâu vẫn miệt mài bên luống cày. Nhựa sống căng tràn trong từng bước đi vững chắc nhưng chậm chạp của trâu.

    Trâu là nguồn cung cấp sức kéo quan trọng. Lực kéo trung bình của trâu trên đồng ruộng là 70 – 75kg, tương đương 0,36 – 0,1 mã lực. Trâu loại A một ngày cày được 3 – 4 sào Bắc Bộ, loại B khoảng 2 – 3 sào và loại C khoảng 1,5- 2 sào. Trâu còn được dùng để kéo đồ, chở hàng. Trên đường xấu, trâu có thể kéo với tải trọng là 400 – 500 kg, đường tốt là 700 – 800 kg, còn trên đường nhựa với bánh xe hơi thì tải trọng có thể lên đến 1 tấn. Trên đường đồi núi, trâu kéo từ 0,5 – 1m khối gỗ trên quãng đường 3 – 5km. Khỏe như vậy nhưng bữa ăn của trâu rất giản dị, chỉ là rơm hoặc cỏ.

    Trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm khá cao, hàm lượng chất béo thấp. Sữa trâu có tính năng cao trong việc cung cấp chất đạm, chất béo. Da trâu làm mặt trống, làm giày. Sừng trâu làm đồ mĩ nghệ như lược, tù và,…

    Không chỉ góp phần quan trọng trong đời sống vật chất của người dân, trâu còn có mặt trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Từ xa xưa, trâu hay còn gọi là ngưu, sửu đã có mặt trong 12 con giáp. Con trâu trở thành con vật gắn liền với tuổi tác của con người. Người mang tuổi trâu thường chăm chỉ, cần cù, thậm chí vất vả. Trong đời sống văn hóa tinh thần, trâu còn là con vật thiêng dùng để tế lễ thần linh trong ngày lề hội cơm mới, lễ hội xuống đồng.

    Trâu còn gắn liền với những lễ hội đình đám như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng. Những chú trâu được chăm sóc, luyện tập rất chu đáo. Con nào con nấy vạm vỡ, sừng cong như hình vòng cung, nhọn hoắt, da bóng loáng, mắt trắng, tròng đỏ chỉ chờ vào sân đấu. Trong tiếng trống giục giã, trong tiếng hò reo cổ vũ của mọi người hai con trâu lao vào nhau mà húc, mà chọi. Ngoài ra, chúng ta còn có lễ hội đâm trâu. Đây là phong tục tập quán của một số dân tộc ở Tây Nguyên. Con trâu bị giết được đem xẻ thịt chia đều cho các gia đình trong buôn làng cùng liên hoan mừng một vụ mùa bội thu.

    Hình ảnh con trâu còn in đậm trong kí ức của những đứa trẻ vùng quê. Chắc không ai quên Đinh Bộ Lĩnh, người làm nên kì tích thống lĩnh 12 sứ quân, đã có một tuổi thơ gắn bó với chú trâu trong trò đánh trận giả hay trò đua trâu đầy kịch tính. Chắc mỗi chúng ta đều có lần bắt gặp những hình ảnh rất đặc trưng, rất nên thơ của làng quê Việt Nam, đó là hình ảnh chú bé mục đồng ngồi vắt vẻo trên lưng trâu đọc sách hay hình ảnh các chú bé đang ngồi trên lưng trâu nghiêng nghiêng cái đầu trái đào với cây sáo trúc… Những hình ảnh tuyệt vời đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho những nghệ nhân làng tranh Đông Hồ và cũng là nguồn cảm hứng cho các tác giả dân gian:

    Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta. Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công. Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

    Trong những năm gần đây, chú trâu đã vượt ra khỏi lũy tre làng, tham gia vào các hoạt động văn hóa thể thao. Với hình ảnh “trâu vàng” trong SEA GAMES 22, trâu không chỉ là giống vật nuôi quen thuộc của người nông dân Việt Nam mà đã trở thành hình ảnh thú vị đối với bạn bè quốc tế. Con trâu đã trở thành biểu tượng cho sự trung thực, cho sức mạnh và tinh thần thượng võ. Từ hình ảnh chú trâu vàng, các sản phẩm trâu tập võ, trâu chạy maratong, trâu đội nón… rất ngộ nghĩnh, độc đáo đã ra đời. Ngày nay, nhiều loại máy móc hiện đại đã xuất hiện trên cánh đồng làng Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật không thể thiếu đối với người nông dân. Hình ảnh con trâu cần cù, chung thủy mãi mãi in sâu trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Con Trâu Việt Nam
  • Thuyết Minh Về Cây Bút Chì
  • 22 Bài Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9
  • Thuyết Minh Về Cây Bút Bi
  • Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Nhất
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Văn Bản Thạch Sanh Ngữ Văn 6
  • Đề Kiểm 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Uy Lít Xơ Trở Về
  • Phân Tích Ý Nghĩa Văn Bản “uy
  • Đọc các văn bản trong sách giáo khoa (trang 114 – 115) để trả lời các câu hỏi.

    Mỗi văn bản trên trình bày, giới thiệu, giải thích điều gì?

    Em thường gặp các loại văn bản đó ở đâu?

    Hãy kể thêm một vài văn bản cùng loại mà em biết?

    • Văn bản Cây dừa Bình Định
      • Trình bày đặc điểm của cây dừa, nói về lợi ích của cây dừa mà các loài cây khác không có.
      • Đặc điểm này đưa đến lợi ích của cây dừa. Dĩ nhiên tất cả các cây dừa ở vùng khác nhau đều có đặc điểm đó, nhưng bài này nói riêng về cây dừa Bình Định, gắn bó với nhân dân Bình Định.
    • Văn bản Tại sao cây có màu xanh lục
        Giải thích về tác dụng của chất diệp lục khiến lá cây có màu xanh.
    • Văn bản Huế
      • Giới thiệu Huế như là một trung tâm văn hóa, nghệ thuật lớn của Việt Nam. Bài viết nêu lên những đặc điểm tiêu biểu của Huế.
      • Các loại văn bản cùng loại mà em biết như
        • Giới thiệu phong cảnh Phong Nha, Kẻ Bàng.
        • Giới thiệu sân chim Minh Hải.
        • Giới thiệu núi Ngũ Hàng Sơn.

    Các văn bản trên có thể xem là văn bản tự sự không? tại sao? chúng khác với văn bản khác ở chỗ nào?

    • Các văn bản trên không thể xem là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận) vì chúng khác với các văn bản này ở cách trình bày, diễn đạt riêng.
    • Nó là văn bản có tính chất khoa học thông dụng, không phải là tư duy hình tượng của văn học nghệ thuật.
    • Nó chỉ cung cấp tri thức về đặc điểm tiêu biểu của sự vật, hiện tượng.

    Các văn bản trên có những đặc điểm chung nào làm chúng trở thành một kiểu riêng?

    • Các văn bản này trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng.
    • Giải thích lí do phát sinh, phát triển, biến hóa của sự vật.
    • Cung cấp tri thức và hướng dẫn sử dụng cho con người.
    • Khi mua một ti vi, một máy bơm, một bàn là (bàn ủi) đều có kèm theo bài thuyết minh về cách sử dụng, giúp người dùng nắm được tính năng, tác dụng của máy.

    Các văn bản đã thuyết minh về đối tượng bằng những phương thức nào?

    • Các văn bản đã dùng phương thức trình bày đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh một cách khách quan, gắn liền với tư duy khoa học.
    • Đòi hỏi các dữ kiện đưa ra phải chính xác, rõ ràng.
    • Vì vậy muốn viết văn bản thuyết minh phải điều tra, nghiên cứu kĩ đối tượng mới làm được.
      Ngôn ngữ của văn bản trên là ngôn ngữ khoa học

    • Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,…của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.
    • Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người.
    • Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 6: Văn Bản Thánh Gióng
  • Soạn Bài Thánh Gióng (Chi Tiết)
  • Bài 3. Tức Nước Vỡ Bờ
  • Thuyết Minh Về Văn Bản Trong Lòng Mẹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Nhà Văn Nguyên Hồng Và Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Dàn Ý Phân Tích Đoạn Trích
  • Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Làm Văn Hay: Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ
  • Trong văn đàn Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng được đồng nghiệp và bạn đọc ưu ái gọi bằng một “danh hiệu”: Nhà văn của phụ nữ và trẻ em.

    Nhà văn Nguyên Hồng sinh năm 1918 mất năm 1982. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Nguyên Hồng sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng. Nguyên Hồng từng có một tuổi thơ bất hạnh. Hồi kí Những ngày thơ ấu được coi là những dòng hồi ức sinh động, chân thực đầy cay đắng về tuổi thơ không êm đềm của nhà văn.

    Ông viết nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ. Các tác phẩm chính của Nguyên Hồng: Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938); Những ngày thơ ấu (hồi kí, 1938); Trời xanh (tập thơ, 1960); Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976); Núi rừng Yên Thế (bộ tiểu thuyết lịch sử nhiều tập chưa viết xong); Bước đường viết văn (hồi kí, 1970).

    Trong những tác phẩm của Nguyên Hồng, hình ảnh người phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ được nhà văn dành nhiều niềm yêu thương, đồng cảm. Với những đóng góp của Nguyên Hồng dành cho nền văn học dân tộc, ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

    Văn bản Trong lòng mẹ được trích từ tập hồi kí Những ngày thơ ấu. Hồi kí là một thể thuộc loại kí, nhằm ghi những sự việc thuộc quá khứ, qua sự nhớ lại. Hồi kí đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thực của câu chuyện; sự việc, số liệu, thời gian phải chính xác. Bởi thế, tác phẩm được coi là thiên truyện kể về tuổi thơ cay đắng của chính tác giả. Đó là cả một quãng đời cơ cực mồ côi cha, không được sống với mẹ mà phải sống với người cô độc ác được tái hiện lại sinh động. Chính tình mẫu tử thiêng liêng, tình yêu tha thiết đối với mẹ đã giúp chú bé vượt qua giọng lưỡi xúc xiểm độc ác của người cô cùng với những dư luận không mấy tốt đẹp về người mẹ tội nghiệp. Đặc biệt, đoạn truyện tả cảnh đoàn tụ giữa hai mẹ con là một đoạn văn thấm đẫm tình cảm và thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo. Nó góp phần lí giải tại sao Nguyên Hồng được trân trọng gọi là “nhà văn của phụ nữ và trẻ em”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Thuyết Minh Về Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • 1. Hãy Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Để Phân Loại Phép Liệt Kê Xét Theo Cấu Tạo Và Xét Theo Ý Nghĩa 2. Tìm Thêm Những Loại Văn Bản Hà…
  • Trình Bày Sự Khác Nhau Giữa 3 Văn Bản: Lão Hạc, Trong Lòng Mẹ Và Tức Nước Vỡ Bờ? Nêu Giá Trị Bao Gồm Nội Dung, Nghệ Thuật Và Cảm Nhận Của 1 Văn Bản… Tài Liệu Học Tập
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu Của Nguyên Hồng)
  • Khái Quát Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ
  • Khái Niệm Về Văn Thuyết Minh, Văn Bản Thuyết Minh Là Kiểu Văn Bản Thông Dụng Trong Mọi Lĩnh Vực Đời

    --- Bài mới hơn ---

  • Xuất Khẩu Khó Vì Corona, Bộ Công Thương Ra Văn Bản Khẩn
  • Hướng Dẫn 3 Cách Kẻ Khung, Tạo Đường Viền Trong Văn Bản Word
  • Tạo Trang Bìa Có Khung Viền Đẹp Và Chuẩn Cho Bìa Báo Cáo Tốt Nghiệp Đồ Án 1/2021
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 8 Tuần 12 Bài 12 Tiết 47 Phương Pháp Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8 Ngắn Gon
  • – Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu.

    – Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng.

    (Từ điển từ Hán Việt – Phan Văn Các)

    2. Văn thuyết minh là gì?

    – Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, trong xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

    Ví dụ:

    – Giới thiệu một nhân vật lịch sử.

    – Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lí…

    – Ciới thiệu một đặc sản, một món ăn.

    – Giới thiệu một vị thuốc.

    – Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú, v.v…

    – v.v…

    3.Tính chất của văn thuyết minh

    Các văn bản thuyết minh tốt là một văn bản trình bày rõ ràng, hấp dẫn đặc điểm cơ bản của đối tượng đang được nói tới. Sự xác thực là tiêu chí hàng đầu của thuyết minh.

    Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản thuyết minh phải chính xác, chặt chẽ, cô

    đọng và sinh động. Cách viết màu mè, dài dòng sẽ gây cho người đọc sự nghi ngờ, khó chịu, cần hết sức tránh.

    Ví dụ:

    a, Đền Ngọc Sơn

    Ở Hà Nội có cảnh đẹp là cảnh đền Ngọc Sơn ở giữa hồ Hoàn Kiếm. Đền này làm từ đời nhà Hậu Lê, trên một cái gò nổi lên ở giữa Hồ. Người đi lại phải qua một cái cầu bằng gỗ. Ở ngoài dường đi vào, về bên trái, có một cái núi đá, người ta đắp lên, và có xây một cái tháp vuông, ở trên ngọn có cái ngòi bút đề là “Búp Tháp”.

    Vào đến gần cầu, ở trên cái cửa tò vò có cái nghiên đá, đề là “Nghiễn Đài”. Vì đền Ngọc Sơn thờ Văn Xương Đế Quân là một vị thần coi về việc văn học, cho nên mới xây những nghiên bút như thế.

    Trước cửa đền có cái nhà thuỷ tạ gọi là ‘Trấn Ba Đình”, giữa có dựng cái bia đá để ghi sự tích cái đền ấy. Đến mùa nóng nực, người ta hay ra đấy hóng mát và ngắm phong cảnh, thật là có bề thanh thú lắm”.

    (Theo Quốc Văn giáo khoa thư)

    b, Ca Huế

    Fes-ti-van Huế đã để lại bao ấn tượng tuyệt đẹp cho du khách gần xa. Không gian Huế (cảnh sắc thiên nhiên núi sông, các công trình kiến trúc như lăng tẩm. chùa chiền, phong cảnh làng vườn…), ẩm thực Huế, thiếu nữ Huế, con người Huế, đặc biệt là những đêm ca Huế trên sông Hương đã để lại những cảm tình nồng hậu đối với những ai đã một lần đến thăm Huế.

    Chỉ nói riêng về ca Huế, đã tuyệt vời. Cảnh trăng nước Hương Giang. Chiếc thuyền rồng nhẹ trôi êm đềm. Hình ảnh các ca công, những nam thanh nữ tú điệu nghệ, tài hoa, duyên dáng trong sắc phục Huế. Tiếng đàn tranh réo rắt, huyền diệu. Giọng ca trầm bổng du dương, lai láng tình non nước, tình trai hiền gái lịch, tình người vấn vương…

    “Thương thì xin đó đừng phai

    Ấy ai tình tự, tạc dạ chớ phai

    Chớ phai, hỡi người tình tự!”.

    Về nguồn gốc, ca Huế có hai loại: điệu Bắc và điệu Nam. Các điệu Nam. giọng réo rắt, man mác, thương cảm.., chịu ảnh hưởng của ca khúc Chiêm Thành ngày xưa. Các điệu Bắc có lẽ phỏng theo từ khúc của Trung Quốc mà ra, có giọng du dương, sôi nổi.

    Ca Huế rất phong phú về làn điệu với gần một trăm ca khúc thanh nhạc và khí nhạc. Các điệu ca Huế như cổ bản, Kim tiền, Tứ đại cảnh, Lưu thuỷ, Hành vân. Nam ai, Nam thương, Nam bình, Vọng phu, v.v… đã thấm sâu vào hồn người mấy trăm năm qua.

    Hãy đến với Huế, nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ trong mờ sương, ngắm tà áo dài tím Huế và chiếc nón bài thơ của thiếu nữ Huế, nhìn dòng sông Hương thơ mộng những đêm trăng và thưởng thức ca Huế.

    Hãy đến với Fes-ti-van Huế và nền văn hoá Huế…

    “Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ

    Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt”…

    c. Trường đại học Harvard (Ha-vơt)

    Tốt nghiệp Harvard (Ha-vơt) là một danh dự ở Mĩ vì trường đại học này có những truyền thống lâu đời. Trường ở thành phố Cambrige (Cambritgiơ) thuộc ngoại vi Boston. Cambrige nguyên là tên một thành phố đại học của Anh.

    Trường Harvard được thành lập năm 1636 bởi Công ty Anh Massachusetts Bay Company. Trường mang tên Harvard, một mục sư trẻ để lại cho trường một nửa tài sản (780 bảng) và thư viện (320 cuốn) của mình. Lúc đầu chỉ có 12 học sinh và một thầy giáo, do giáo phái Thanh giáo xây dựng, với mục đích đào tạo mục sư cho các thuộc địa mới của Anh. Trường lấy tên Cambrige trước khi đổi tên là tnrờng Trung học và sau là trường Đại học Harvard.

    Việc tổ chức chế độ nội trú và chế độ trợ lí học tập là sáng kiến đầu tiên của hiệu trưởng A.L.Powell (Pauơl). Ông còn sửa đổi “chế độ lựa chọn”, vì ông cho rằng “một người có học phải am tường một vài môn và có hiểu biết chung về các môn khác”. Nhờ các khoản tiền giúp qua nhiều thập kỉ, trường đã xây được 10 khu nội trú cho thầy, trò và các trợ lí.

    Sau đó, hiệu trưởng J.B. Conant (Câunơnt) đã thực hiện chương trình giáo dục tổng hợp vào năm 1949, quy định mỗi sinh viên bắt buộc phải học các môn thuộc 3 lĩnh vực – khoa học nhân văn, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Ông đặt ra chế độ học bổng giúp các thanh niên ưu tú có điều kiện học tập.

    Hiện nay trường Đại học Harvard là một tổ chức học đường có quyền tự hào với 100 thư viện lưu giữ trên 10 triệu cuốn sách, 8 viện bảo tàng, và đầy đủ nhữngĐến năm 1953, hiệu trưởng N.M. Pusey (Piuzi) tổ chức các trung tâm nghiên cứu Đông Á, Trung Đông và Liên Xô. Ngoài ra trường còn ra báo hàng ngày cho sinh viên H Harvard, tờ “The Crimson Eye” là cơ quan phát triển các nhân tài báo chí Mĩ như: Donald Graham, chủ bút báo “Washington Post”, Peter Kann, trợ lí chủ bút báo “Wall Street Journal”,Anthony Lewis, nhà báo chuyên giữ một mục của tờ “New York Times’. Cần kể thêm những nhà báo lớn của Mĩ, như: Walter Lippman, các nhà văn có hạng như: T. s. Eliot, Robert Frost và Wallace Stevens…

    phương tiện học tập và nghiên cứu độc nhất ở nước Mĩ. Năm 1965, trường sát nhập với một trường Đại học nữa là Radcliffe Colege.

    Trong 353 năm tồn tại, trường Harvard đã đào tạo nhiều chính khách và nhiều nhà khoa học, trong số đó có 6 tổng thống, 29 nhà khoa học và hoạt động xã hội được giải thưởng Nobel, và 27 người được giải thưởng Pulizer. Trường Harvard đã cho ra mắt thế giới chiếc máy tính dùng số đầu tiên, chiếc phổi bằng sắt đầu tiên, chiếc đồng hồ chính xác nhất và một loạt các phát minh và phát kiến, kể cả lí thuyết di truyền về hành vi của con người.

    Học sinh mới vào trường được chào đón bằng câu châm ngôn nổi bật trên tường: “Vào đây để lớn lên trong sự thông thái, ra đi để phục vụ tốt hơn đất nước và đồng loại của bạn”.

    Ngày nay, để được tiếp nhận vào trường Đại học Harvard, mỗi thí sinh phải hoàn thành các thủ tục nhập học khá chặt chẽ và phải đóng 60.000 đô la cho 4 năm học. Mỗi năm, trường tiếp nhận đơn xin học của khoảng 14.000 sinh viên, không riêng của Mĩ mà của cả các nước trên khắp thế giới, nhưng chỉ có khoáng 16% đủ tiêu chuẩn vào học. Trường có khoảng 36.000 sinh viên.

    Hữu Ngọc

    * Hi vọng trong tương lai, có một số học sinh là độc giả cuốn sách này, trở thành sinh viên trường Đại học Harvard, sẽ đem tài năng phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trong Ngành Thiết Kế Có Bao Nhiêu Kiểu Thiết Kế?
  • Các Kiểu Dữ Liệu Trong Excel
  • Hàm Text Và Các Ứng Dụng Tuyệt Vời Của Hàm Text Trong Excel
  • Xử Lý Dữ Liệu Kiểu Text Và Number
  • Các Kiểu Dữ Liệu Trong Mysql
  • Soạn Văn Bài: Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiết 4: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Thuyết Minh Con Trâu Làng Việt Nam ( Dùng Nghệ Thuật , Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh ) Câu Hỏi 1143264
  • Những Kiểu Bài Thường Gặp Văn Thuyết Minh 9
  • Bài Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Con Trâu
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9
  • Soạn văn bài: Ôn tập về văn bản thuyết minh

    I. Ôn tập lý thuyết

    Câu 1: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm tính chất, nguyên nhân … của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội.

    Câu 2: Xem lại câu trả lời ở mục I.2.a của bài “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh”

    Câu 3: Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát sự vật, hiện tượng cần thuyết minh hoặc tra cứu sách vở, hỏi han những người hiểu biết để có kiến thức đáng tin cậy. Ngoài ra, phải xác đỉnh rõ phạm vi tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh, sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp, ngôn từ chính xác, dễ hiểu. Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật được bản chất, đặc trưng của hiện tượng, sự vật cần thuyết minh, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.

    Câu 4: Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Hãy nêu cách lập ý và lập dàn bài đối với các đề bài sau (gợi ý chung và ví dụ cụ thể)

    * Giới thiệu một đồ dùng

    a. Mở bài: Giới thiệu đồ dùng một cách chung nhất.

    b. Thân bài:

    c. Kết bài: Bày tỏ thái độ đối với đồ dùng

    * Giới thiệu một danh lam thắng cảnh:

    a. Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh (vị trí địa lý, bao gồm những bộ phận nào ….)

    b. Thân bài: lần lượt mô tả, giới thiệu từng phần trong danh lam thắng cảnh.

    c. Kết bài: Vị trí của thắng cảnh trong đời sống tình cảm của con người.

    * Giới thiệu một thể loại văn học

    a. Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể loại đó.

    b. Thân bài: Nêu các đặc điểm của thể loại đó (có ví dụ kèm theo minh họa)

    c. Kết bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thể loại văn học đó.

    Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

    a. Nguyên vật liệu

    b. Cách thức tiến hành (giới thiệu theo trình tự)

    c. Kết quả thu được và yêu cầu chất lượng đối với đồ dùng học tập hay thí nghiệm đó.

    Câu 2: Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau:

    a. Giới thiệu một đồ dùng:

    Chiếc bàn học của em do chính ba em làm từ những tấm ván và thanh gỗ lựa từ đống củi mẹ mới mua. Suốt một ngày chủ nhật cưa, bào, đục, đẽo… không ngơi tay, ba em đã đóng xong chiếc bàn xinh xắn. Nó được kê ngay cửa sổ, hướng đông nên suốt ngày có đủ ánh sáng. Hình dáng chiếc bàn này giống hệt chiếc bàn ở lớp nhưng kích thước của nó chỉ bằng một nửa. Mặt bàn được bào nhẵn. Ba em đánh véc-ni thật kĩ. Các đường vân nổi lên rất đẹp. Dưới mặt bàn là hai ngăn rộng rãi, đủ để đựng sách vở và đồ dùng học tập. Bàn đóng liền với ghế, có chỗ dựa lưng thoải mái. Ba mua cho em một cây đèn nê-ông nhỏ, bệ đèn là chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng. Cây đèn được gắn cố định vào mặt bàn để buổi tối em có đủ ánh sáng học bài.

    b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em:

    Thành phố Nha Trang là một trung tâm du lịch lớn của cả nước với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn của mình. Nha Trang – Khánh Hoà có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch đa dạng. Nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, thành phố Nha Trang có diện tích 251 km2, bao gồm 27 xã, phường và 19 hòn đảo, với trên 2.500 hộ và khoảng 15.000 người sống trên các đảo. Đảo lớn nhất là Hòn Tre rộng 36km2 nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang ( nằm trong số 29 vịnh đẹp nhất trên thế giới) trở nên kín gió và êm sóng. Nơi đây được nhiều du khách mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông” nhờ những bãi tắm đẹp, con đường nhựa xanh sạch, các ngôi biệt thự ẩn mình trong rừng hoa và cây xanh.

    c. Giới thiệu một thể loại văn học:

    Lục bát là một thể thơ dân tộc với số lượng tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát). Thể thơ này gieo vần lưng và vần chân về luật bằng trắc, chỉ có quy định cho những tiếng chẵn mà thường là tiếng thứ 4 trắc, còn lại bằng. Về ngắt nhịp, thể thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn.

    d. Giới thiệu về một loài hoa.

    Cây hoa mai có nhiều loại, phổ biến nhất là mai vàng (Hoàng Mai), sau đó là mai tứ quý, rồi đến mai trắng (Bạch Mai) và mai chiếu thuỷ.Cây mai vàng dễ sống, ưa đất gò pha cát hoặc đất bãi ven sông. Có thể trồng đại trà thành vườn rộng hàng vài mẫu mà cũng có thể trồng dăm cây trong vườn, hoặc trong chậu sứ. Đất trồng mai có độ ẩm vừa phải và không úng nước. Phân bón cho mai thường là phân bò khô trộn với tro bếp, khô dầu và một ít u-rê, ka-li…

    e. Giới thiệu một loài động vật.

    Chú thỏ con nhà tôi xinh thật là xinh. Chú có cái mũi đo đỏ lúc nào cũng ươn ướt luôn hít hít thở thở. Bộ ria mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng tròn xoe như hai hòn bi trông rất hiền. Hai tai thỏ như hai lá doi lúc nào cũng vểnh lên.

    f. Giới thiệu về một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam

    Nghĩ đến người Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến tà áo dài, bánh chưng.. nhưng không thể nhắc đến những chiếc nón lá của những thiếu nữ, dù hiện nay lớp thanh niên nam nữ dùng nhiều đến muc. Nón có hình chóp, được làm từ lá cọ, dừa và các thanh tre được vuốt nhỏ, chuốt trơn. Ở nước ta có một số vùng nổi tiếng làm nón mà khi đi du lịch, người ta không thể không mua làm quà tặng người thân. Đó là Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 10 Siêu Ngắn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh (Siêu Ngắn)
  • Soạn Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Lập Dàn Ý Chi Tiết Thuyết Minh Về Văn Bản Nhớ Rừng..
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100