​giới Thiệu Tạp Chí Nghề Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Đà Nẵng
  • Hồ Sơ, Thủ Tục Ly Hôn Tại Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Luật Sư Chuyên Ly Hôn Đà Nẵng Tư Vấn: Án Phí Và Chi Phí Ly Hôn Đơn Phương
  • Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Tp Hcm
  • Luật Sư Ly Hôn Tại Tp Hcm Uy Tín, Ly Hôn Nhanh, Trọn Gói Tại Hồ Chí Minh
  • Tạp chí Nghề luật là cơ quan ngôn luận của Học viện Tư pháp được thành lập theo Quyết định số 2224/QĐ-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo chí số 141/GP-BVHTT ngày 21/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin với thời hạn hoạt động 05 năm kể từ ngày ký Giấy phép, gia hạn hoạt động theo Giấy pháp hoạt động báo chí số 1144/GP-BTTTT ngày 22/6/2012 của Bộ Thông tin và truyền thông với thời hạn cấp phép 10 năm kể từ ngày ký giấy phép. Kỳ hạn xuất bản 01 kỳ/02 tháng; khuôn khổ 19cm x 26,5 cm, số trang: 60, số lượng tin tối đa 3.000 bản/ 01 kỳ; nơi in tại Hà Nội. Giá bìa hiện nay 15.000đ/số.

    Ngày 15 tháng 4 năm 2022, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 195/GP-BTTTT cho phép Tạp chí Nghề luật tăng kỳ xuất bản từ 02 tháng/số lên 01 tháng/số từ tháng 5 năm 2022.

    Theo Giấy phép hoạt động, Tạp chí Nghề luật hoạt động với tôn chỉ, mục đích như sau:

    – Tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực tư pháp;

    – Thông tin về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Tư pháp;

    – Nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp của những người làm nghề luật; là diễn đàn cho các chức danh tư háp, những người học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật

    Đối tượng phục vụ của Tạp chí là các nhà lập pháp, giảng viên, học viên Học viện Tư pháp; sinh viên các cơ sở đào tạo luật học; đội ngũ những người giữ các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp và nhân dân

    Tạp chí Nghề luật đã được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công nhận là Tạp chí có điểm khoa học tại các Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Khoa học An ninh và Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Luật học (từ 0-0,5 điểm).

    Cơ cấu tổ chức của Tạp chí Nghề luật:

    1. Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Xuân Thu – Phó Giám đốc Học viện Tư pháp(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1274/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    2. Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: chúng tôi Nguyễn Minh Hằng(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1276/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Thanh Phú ( được bổ nhiệm theo Quyết định số 1275/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    3. Thư ký Tòa soạn: ThS. Đỗ Thị Thu Hằng-Phó Trưởng Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật(được bổ nhiệm theo Quyết định số 134/QĐ-HVTP ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp)

    Ban biên tập:

    Theo Quyết định số 422/QĐ-HVTP ngày 6 tháng 5 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc kiện toàn Ban Biên tập Tạp chí Nghề luật và Quyết định số 1011/QĐ-HVTP ngày 14/10/2016 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc bổ sung thành viên Ban Biên tập, hiện nay Ban biên tập có 14 thành viên:

    – TS. Đoàn Trung Kiên – Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Nguyễn Xuân Thu – P. Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Lê Mai Anh – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Nguyễn Thanh Phú – Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL;

    – chúng tôi Nguyễn Minh Hằng – Trưởng Khoa Đào tạo Luật sư;

    – TS. Lê Thu Hằng – Khoa Đào tạo Luật sư;

    – TS. Trần Thanh Phương – Trưởng Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự;

    – ThS. Phạm Thị Thúy Hồng – Phó Trưởng Khoa PT Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

    – ThS. Trần Minh Tiến – Trưởng Phòng Đào tạo và Công tác học viên;

    – TS. Ngô Thị Ngọc Vân – Phó Trưởng Khoa ĐT Luật sư;

    – TS. Đồng Thị Kim Thoa – Phó Trưởng Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

    – TS. Trần Văn Bách – Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng;

    – TS. Nguyễn Thị Vân Anh – Khoa Đào tạo Luật sư;

    – ThS. Đỗ Thị Thu Hằng – P. Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL

    Ban trị sự

    – ThS. Vũ Thị Thu Thủy- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trưởng Ban

    – CN. Nguyễn Thị Hương- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

    – CN. Hà Thị Lan Anh- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

    – BTV. Nguyễn Thị Thanh Hương- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Trị sự viên.

    Kết quả phát hành Tạp chí

    Từ năm 2005 đến tháng 9/2017, Tạp chí Nghề luật đã xuất bản được 79 số thường kỳ và số chuyên đề

    Số lượng xuất bản từ năm 2001-2017

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Lệ Gửi Bài Cho Tạp Chí Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Vingroup Và Sự Trỗi Dậy Đầy Nghi Vấn Của Một Đế Chế Kinh Tế
  • Tư Vấn Ly Hôn Miễn Phí Qua Zalo, Facebook
  • Trang Thơ Lưu Trọng Lư (100 Bài Thơ)
  • Phân Tích Bài Thơ Tiếng Thu Của Lưu Trọng Lư
  • Sfam: San Francisco Luật Sư Tạp Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Golden Gate University School Of Law, San Francisco, Hoa Kỳ
  • San Francisco Sẽ Xóa Bỏ Hàng Ngàn Án Tù Liên Quan Đến Cần Sa Từ Năm 1975
  • Vợ Chồng Gốc Á Mua Đứt Con Phố Ở San Francisco Vướng Kiện Tụng
  • A’ Design Award And Competition
  • Download Factors Associated With Alexithymia Among The Lebanese Population: Results Of A Crosssectional Study
  • SFAM có nghĩa là gì? SFAM là viết tắt của San Francisco luật sư tạp chí. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của San Francisco luật sư tạp chí, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của SFAM được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài SFAM, San Francisco luật sư tạp chí có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    SFAM = San Francisco luật sư tạp chí

    Tìm kiếm định nghĩa chung của SFAM? SFAM có nghĩa là San Francisco luật sư tạp chí. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của SFAM trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của SFAM bằng tiếng Anh: San Francisco luật sư tạp chí. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, SFAM được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho San Francisco luật sư tạp chí. Trang này là tất cả về từ viết tắt của SFAM và ý nghĩa của nó là San Francisco luật sư tạp chí. Xin lưu ý rằng San Francisco luật sư tạp chí không phải là ý nghĩa duy chỉ của SFAM. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của SFAM, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của SFAM từng cái một.

    Ý nghĩa khác của SFAM

    Bên cạnh San Francisco luật sư tạp chí, SFAM có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của SFAM, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sư Phe Ông Trump Và Biden Đến Florida Để ‘bảo Vệ Phiếu Bầu’
  • Hoá Thân Thành “thần Chết” Đi Khắp Các Bãi Biển Để Mọi Người Ở Nhà
  • Luật Sư Ở Florida Kêu Gọi Đảng Viên Đến Georgia Đăng Ký Bỏ Phiếu Bất Hợp Pháp
  • Cháy Lớn Tại Chợ Người Việt Ở Footscray: Thiệt Hại Lên Đến Con Số Gần 300 Tỷ
  • Không Đá Nh, Không M Ắng, Các Trường Mầm Non Ở Mỹ ‘p Hạt’ Trẻ Em Như Thế Nào?
  • Tạp Chí Xây Dựng Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Xuất Bản: Tiền Đề Để Phát Triển Văn Hóa Đọc
  • Sửa Luật Để Dẹp Loạn Thị Trường Xuất Bản
  • Luật Xuất Bản 2008 Sửa Đổi 12/2008/qh12
  • Luật Xuất Bản Sửa Đổi 2008
  • Luật Báo Chí 2022, Luật Số 103/2016/qh13 2022
  • Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trao đổi với các đại biểu

    Vai trò quản lý nhà nước và chính sách đối với hoạt động xuất bản. Nhiều đại biểu có ý kiến đề nghị cần tăng cường phân cấp quản lý về hoạt động xuất bản giữa trung ương, địa phương và cơ sở; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản; rõ hơn nội dung công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị nên phân cấp về một số địa phương đọc và chịu trách nhiệm về nội dung một số xuất bản phẩm để giảm tải cho Bộ Thông tin truyền thông. Đối với chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản cần quy định cụ thể chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản, các chính sách cần xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động xuất bản, bảo đảm tính chiến lược và khả thi. Quy định tập trung ưu tiên, hỗ trợ cho lĩnh vực xuất bản, chỉ ưu tiên cho các cơ sở thực hiện các nhiệm vụ phục vụ đối tượng, địa bàn thuộc diện ưu tiên của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại. Đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) cho rằng các chính sách được quy định còn rất chung, để đảm bảo có thể áp dụng được trong thực tế đề nghị bổ sung thêm một khoản quy định là Chính phủ quy định cụ thể các chính sách ưu đãi, hỗ trợ được quy định tại điều này, đảm bảo mục tiêu đối tượng hiệu quả và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ. Với đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) hoạt động xuất bản có tính chất đặc thù nên nhà nước phải có chính sách đối với hoạt động xuất bản là phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay chưa có nhà xuất bản tư nhân. Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch phát triển mạng lưới các nhà xuất bản, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế, lãi suất vay vốn, hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, ưu đãi về tiền thuê nhà đất, chính sách trợ giá, trợ cước.

    Tổ chức bộ máy và nhân sự của nhà xuất bản.Nhiều ý kiến đề nghị không nên bó hẹp đối tượng thành lập nhà xuất bản để phát huy các nguồn lực xã hội đầu tư cho sự nghiệp xuất bản và tạo điều kiện cho ngành xuất bản phát triển năng động hơn. Có đại biểu đề nghị cần quy định rõ trong Luật về các tổ chức khác được thành lập nhà xuất bản. Bên cạnh đó, đại biểu thấy quy định về mô hình hoạt động của nhà xuất bản như trong Dự thảo Luật chưa bao quát được hết các loại hình đang tồn tại trong thực tiễn. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) cho rằng đối tượng được quy định trong Luật chưa rõ ràng. Nên quy định rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm in, phát hành trong thực tế… Vì hiện tại không thống nhất trong quản lý nhà nước về vấn đề này.

    Nhiều ý kiến đề nghị cần quy định về loại hình tổ chức nhà xuất bản mở hơn, tạo nhiều cơ hội lựa chọn hơn về mô hình cho các nhà xuất bản, tạo điều kiện để các nhà xuất bản năng động hơn trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhà nước cần quy định chặt chẽ các điều kiện thành lập nhà xuất bản, tránh tình trạng nhiều nhà xuất bản ra đời mà không đủ điều kiện hoạt động dẫn đến chất lượng yếu kém. Đại biểu Lê Hữu Phước (Bình Dương) kiến nghị cần cho phép tư nhân tham gia thành lập Nhà xuất bản để phát huy nguồn lực xã hội nhưng pháp luật cần có quy định chặt chẽ hơn.

    Đối với tổ chức, nhân sự của nhà xuất bản nhiều đại biểu đề nghị nên cụ thể tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập, biên tập viên của nhà xuất bản. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) đánh giá dự thảo Luật lần này đã được mở rộng hơn nhưng vẫn có sự bó hẹp, không nên áp đặt các chức danh mà để nhà xuất bản tự thực hiện… Có đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của chức danh chủ tịch hội đồng thành viên trong Dự thảo Luật và thêm tiêu chuẩn về trình độ cao cấp lý luận chính trị cho người lãnh đạo của nhà xuất bản. Đại biểu Phạm Thị Trung (Kon Tum) quan tâm đến đội ngũ đọc lưu chiểu của cơ quan quản lý nhà nước hiện nay là quá mỏng, chính sách còn nhiều hạn chế so với khối lượng xuất bản phẩm và trách nhiệm của họ phải làm. Chất lượng đội ngũ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ… Vì vậy để nghị dự thảo cần nghiên cứu quy định trong Luật này như vấn đề về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đội ngũ đọc lưu chiểu, vấn đề thời hạn nộp tác phẩm trước khi phát hành, thời hạn lưu giữ xuất bản phẩm lưu chiểu. Đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm khắc phục các hiện trạng nêu trên.

    Việc phát hành xuất bản phẩm, dự thảo Luật đã bỏ quy định về các điều kiện được cấp phép và thủ tục cấp phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm; bổ sung quy định cơ sở phát hành đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước. Về vấn đề này, theo đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) để người dân các khu vực này tiếp cận nhiều hơn với các xuất bản phẩm thì nên đầu tư vào các thư viện, các tủ sách văn hóa tại các địa phương. Làm như vậy vừa giảm áp lực cho các địa phương về bố trí quỹ đất, giảm chi phí xây dựng các nhà xuất bản trong khi các xuất bản phẩm vẫn đến tay người đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trên 250 Triệu Xuất Bản Phẩm Ra Mắt 6 Tháng Đầu Năm 2022
  • Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản
  • Thông Tư Mới Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản
  • Luật Xuất Bản Hiện Nay
  • Luật Xuất Bản Số 19/2012/qh13 Năm 2012
  • Tạp Chí Dân Vận Số 3/2019

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 11
  • Các Cấp Hội Phụ Nữ Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng
  • Đổi Mới Nội Dung Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Vận Động Phụ Nữ Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam Hiện Nay
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Hội Và Phong Trào Phụ Nữ
  • Kế Hoạch 01/bcđ138/cp Của Ban Chỉ Đạo Chương Trình Quốc Gia Phòng, Chống Tội Phạm Về Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 09/1998/nq
  • Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định rõ nội dung lãnh đạo công tác phụ nữ là: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và chính sách đổi mới lao động nữ, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”. Đó là những định hướng rất cụ thể, thiết thực về sự lãnh đạo của Đảng và những nội dung để Hội LHPN đổi mới phương thức hoạt động trong thời kỳ mới.

    Thực tiễn cho thấy, hơn 30 năm qua phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ và đạt hiệu quả cao hơn. Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Ngày 19/9/1993, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 28-CT/TW để lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác vận động phụ nữ mới ban hành. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Bí thư đã chỉ đạo các cấp, các ngành sơ kết, đánh giá và ban hành Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW. Qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng đều có định hướng rõ nội dung, phương hướng lãnh đạo công tác phụ nữ để các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị thực hiện. Sau khi có nghị quyết Trung ương, các cấp ủy đều xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Việc tổ chức học tập, quán triệt đều được tổ chức chặt chẽ, có nhiều đổi mới trong chuyển tải nội dung đến cán bộ, đảng viên nên nhận thức về công tác phụ nữ có chuyển biến tiến bộ.

    Trên cơ sở các chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội đã thể chế thành các văn bản pháp luật để thực hiện như ban hành: Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… Chính phủ ban hành nhiều nghị định, đề án để thực hiện.

    Trong đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng rất quan tâm đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị, trong đó có cán bộ của các cấp hội. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu của Đảng các khóa đều ghi rõ tăng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH”; “Phấn đấu đến năm 2022, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ chủ chốt lãnh đạo là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”.

    Thực tế nhiệm kỳ 2022 -2021 ở Trung ương, nhiệm kỳ 2022 – 2022 ở địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị nói chung đều tăng cao hơn các nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ cấp ủy cơ sở cả nước là 19,18%, cấp trên cơ sở là 14,63%, cấp tỉnh, thành chiếm 13,1%. Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đều tăng. Hàng năm có nhiều nhà khoa học và doanh nhân nữ được tôn vinh về sự cống hiến trong nghiên cứu khoa học, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.

    Thực hiện các đề án của Trung ương, của Chính phủ, đội ngũ cán bộ nữ có triển vọng được đưa vào nguồn quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng. Các cấp ủy đảng luôn tăng cường sự lãnh đạo đối với tổ chức Hội Phụ nữ nhiều tỉnh, thành đã phân công các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách, theo dõi hoạt động của Hội. Ban Bí thư, thường trực cấp ủy các cấp đều duy trì tốt chế độ làm việc với Đảng đoàn, Ban Thường vụ Hội Phụ nữ theo quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Việc bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội LHPN các nhiệm kỳ, cấp ủy đảng đều tôn trọng, phát huy dân chủ, bầu cử có số dư. Tổ chức đảng giới thiệu đảng viên ứng cử các chức danh chủ chốt của Hội, không gò ép, áp đặt.

    Để tổ chức đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ vào thực tiễn cuộc sống, các cấp ủy đảng thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, nhờ đó nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ lãnh đạo quản lý đối với công tác vận động phụ nữ, công tác Hội Phụ nữ có chuyển biến rõ nét.

    Tuy nhiên việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ còn một số mặt hạn chế. Các cấp ủy đảng chưa chỉ đạo sâu sắc và lãnh đạo cụ thể hóa có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhưng việc thể chế hóa thành văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện có lĩnh vực còn chậm. Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về vận động phụ nữ; việc dự báo xu hướng phát triển của phụ nữ, tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ để đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ nữ có hiệu quả hơn chưa được quan tâm đúng mức. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên phụ nữ trong một số khu công nghiệp, khu chế xuất, trong doanh nghiệp chưa tốt. Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững thiếu đồng bộ. Một số địa phương chưa thực sự tạo điều kiện cho Hội LHPN làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, tham gia cấp ủy các cấp còn thấp so với mục tiêu chỉ tiêu đề ra, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Một số lĩnh vực, ngành, địa phương nguồn cán bộ nữ hẫng hụt nhưng việc xây dựng quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức…

    Để đổi mới phương thức lãnh đạo công tác phụ nữ trong tình hình hiện nay, đề nghị Trung ương Đảng nghiên cứu, xem xét, lãnh đạo các cấp ủy Đảng, Nhà nước thực hiện một số vấn đề sau đây:

    Một là, các cấp ủy đảng cần tăng cường việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác phụ nữ. Trên cơ sở đó cụ thể hóa phương châm, nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để bổ sung quan điểm, đường lối lãnh đạo, xây dựng chiến lược công tác phụ nữ phù hợp với từng giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.

    Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỷ nguyên số hóa, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng hội nhập quốc tế… sẽ tác động đến chất lượng, cơ cấu, số lượng lao động nữ, sự chuyển dịch lao động nữ từ lĩnh vực nông nghiệp sang dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng. Tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, thiên chức… của phụ nữ cũng có những tác động thay đổi cần phải nắm bắt, dự báo chủ động để lãnh đạo công tác phụ nữ ngày càng có hiệu quả. Để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, các cấp ủy đảng, các cơ quan chức năng phải khảo sát, điều tra đánh giá thực chất, thực trạng tình hình phụ nữ trên các lĩnh vực để có hình thức, phương thức vận động, tập hợp có kết quả hơn. Vấn đề bạo hành gia đình, phân biệt đối xử, bình đẳng giới, tình trạng buôn bán phụ nữ… diễn ra trong nền kinh tế thị trường cũng cần được nghiên cứu, phân tích khoa học để khắc phục một cách bền vững. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, tình hình thế giới và trong nước đã có sự thay đổi nhanh chóng, rất cần thiết để Trung ương ban hành một nghị quyết mới nhằm tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ trong thời gian tới.

    Hai là, đổi mới nội dung ban hành nghị quyết và phương pháp tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng về công tác phụ nữ đáp ứng yêu cầu thiết thực, hiệu quả.

    Báo cáo Chính trị Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu việc ban hành nghị quyết phải ngắn gọn, súc tích, đánh giá rõ thực trạng, nguyên nhân hạn chế, đặt ra nhiệm vụ, giải pháp phải khả thi, trong đó làm rõ việc cân đối các nguồn lực, hình thức tổ chức học tập quán triệt nghị quyết phải sáng tạo, phải kết hợp tất cả các phương tiện truyền thông để làm chuyển nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Hết sức coi trọng lựa chọn nội dung trọng tâm nhất để truyền đạt cũng như tổ chức các lớp học chặt chẽ và chọn cử báo cáo viên có chất lượng. Tăng cường hình thức đối thoại, trao đổi để các đối tượng học tập, quán triệt nghị quyết, nhận thức thấu đáo nội dung. Thành công nghị quyết của Đảng quyết định nhất ở khâu tổ chức thực hiện. Trước hết các quan điểm, đường lối mà nghị quyết nêu phải lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, thành cơ chế, chính sách kịp thời để mỗi người dân thực hiện. Hàng năm và cả nhiệm kỳ Nhà nước phải cân đối các nguồn lực và đưa vào kế hoạch để thực hiện. Trên từng lĩnh vực, từng chương trình, đề án triển khai phải phân rõ tổ chức nào thực hiện, thời gian hoàn thành và cán bộ nào chịu trách nhiệm chính. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện, định kỳ sơ kết, đánh giá thực tế gắn với khen thưởng, biểu dương đảng bộ, đơn vị làm tốt và phê bình, góp ý kịp thời nơi làm kém, chuyển biến chậm. Nếu làm tốt việc nâng cao chất lượng nội dung nghị quyết, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, học tập nghị quyết và chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết thì công tác phụ nữ sẽ có sự chuyển biến tích cực.

    Trên cơ sở luật pháp phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử… để mọi người dân đều hiểu pháp luật, làm theo pháp luật. Tăng cường hơn nữa công tác giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật ở các cấp, các ngành trong đó có luật lao động, luật bảo hiểm, luật bình đẳng giới, luật hôn nhân gia đình, luật phòng chống bạo lực gia đình… Định kỳ cần sơ kết, đánh giá kết quả thực thi pháp luật ở các cấp, các ngành để khen thưởng, biểu dương những nơi làm tốt, đồng thời xử lý nghiêm minh những người vi phạm. Trong điều kiện ngân sách phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế mà số lượng luật lại rất nhiều, vì thế cần nghiên cứu phương pháp, cách tuyên truyền có hiệu quả nhất phù hợp với từng đối tượng, các tầng lớp nhân dân.

    Theo đánh giá hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nữ công nhân lao động, làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong các doanh nghiệp là khó khăn nhất… Hội LHPN cần phối hợp chặt chẽ với Tổng LĐLĐ Việt Nam để giám sát chủ doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật, tăng cường chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên. Việc vận động nữ nông dân, thanh niên, trí thức, doanh nhân, nữ lực lượng vũ trang, nữ công nhân viên chức đòi hỏi rất cao vai trò, trách nhiệm chỉ đạo sâu sát của các cấp Hội. Hiện nay, chính sách đối với cán bộ, lao động nữ và hoạt động của các cấp hội còn nhiều bất cập, đòi hỏi các cơ quan chức năng như ngành lao động, tổ chức, nội vụ, giáo dục, y tế, tài chính… phải kịp thời tham mưu chính sách cho Nhà nước để góp phần làm cho công tác phụ nữ có biến chuyển mới.

    Năm là, đổi mới và tăng cường hơn nữa việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

    Thực tế từ xưa đến nay nguồn cán bộ nữ của đất nước rất dồi dào; vấn đề quan trọng là sự quan tâm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ. Trên cơ sở các chỉ tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH và tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) về công tác cán bộ để ban hành một số quy định cụ thể về công tác cán bộ nữ cho thời kỳ mới. Trước hết thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ cho nhiệm kỳ 2022 – 2025 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành, các đơn vị trong cả hệ thống chính trị nhất thiết phải cơ cấu cán bộ nữ hợp lý. Cấp ủy các cấp phải đạt chỉ tiêu quy định, nếu tỷ lệ cán bộ nữ chưa đạt thì cấp ủy cấp trên chưa phê duyệt đề án nhân sự, trường hợp thật đặc biệt thì cho phép đại hội bầu thiếu số lượng để khi nào chuẩn bị tốt nhân sự cấp uỷ nữ mới bầu bổ sung. Sau các nhiệm kỳ đại hội cần chỉ đạo sơ kết, đánh giá công tác cán bộ nữ, đảng bộ nào thực hiện tốt thì biểu dương, đảng bộ nào thực hiện không tốt thì phê bình. Ngoài cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, các cấp ủy đảng phải tiếp tục lãnh đạo Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát huy đội ngũ nữ trí thức, nữ doanh nhân, nữ lao động sản xuất kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực để họ đóng góp, cống hiến cho đất nước.

    Sáu là, các cấp uỷ đảng tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc xây dựng, củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp Hội LHPN Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

    Trước hết, các cấp ủy đảng phải chủ động có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội LHPN cho nhiều thời kỳ. Ngoài tiêu chuẩn chung cần phải quan tâm lựa chọn những cán bộ tiêu biểu, có tâm huyết, có kinh nghiệm, có khả năng quy tụ, tập hợp được đông đảo hội viên để tạo nguồn. Từng nhiệm kỳ phân công cấp ủy viên nữ có năng lực, phẩm chất tốt, có tín nhiệm cao trực tiếp phụ trách công tác Hội và ứng cử tham gia lãnh đạo tổ chức Hội LHPN đồng cấp. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội để có định hướng lãnh đạo, chỉ đạo công tác Hội sát đúng với từng thời kỳ cách mạng. Định kỳ đánh giá chất lượng, hiệu quả việc vận động, tập hợp hội viên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ các chủ trương về công tác vận động phụ nữ. Lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội tăng cường sự phối hợp với Hội LHPN các cấp để thực hiện tốt chính sách về bình đẳng giới, xây dựng, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ nữ, đặc biệt là chính sách lao động – việc làm, giáo dục – đào tạo, dạy nghề, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, hôn nhân gia đình…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tiếp Tục Đẩy Mạnh Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Mới
  • Sơn La: Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Phụ Nữ
  • Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Nhận Thức Về Văn Hóa, Con Người Việt Nam Trong Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa Xi
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dụng Nền Văn Hóa Việt Nam ​
  • Tạp Chí Dân Vận Số 5/2016

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Thị Về Nhiệm Vụ Chủ Yếu Năm Học 2022
  • Chương Trình Hành Động Của Chi Bộ Mầm Non Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ Xi
  • Xây Dựng Và Phát Triển Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xi Của Đảngpgs, Ts. Phạm Công Nhất
  • Hà Nội: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Chương Trình Hành Động Số 38 Ctrhđ/tu Ngày 08/07/2008 Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thành Phố Về Thực Hiện Nghị Quyết Số 20
  • Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo; với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tại có khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau. Nghị quyết của Đảng khẳng định: “Công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng”(1). Bởi quần chúng tôn giáo là một lực lượng quan trọng của cách mạng, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng thời, tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực xấu, thù địch triệt để lợi dụng để thực hiện các lợi ích cá nhân và mưu đồ chính trị.

    Thực hiện quan điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo, qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW (khóa IX) về công tác tôn giáo và các chủ trương, nhiệm vụ công tác tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, công tác tôn giáo được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực. Thể hiện rõ nhất là tư tưởng mặc cảm, định kiến với tôn giáo trong xã hội đã giảm rõ rệt; coi đồng bào có tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhìn nhận sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng là sinh hoạt văn hóa bình thường của nhân dân, quần chúng có đạo. Đặc biệt, việc thể chế hóa chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng có bước tiến triển mạnh mẽ, với việc Hiến pháp năm 2013 được ban hành thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người; trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIII đã đưa vào chương trình xây dựng Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nhằm giải quyết những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đã có hướng dẫn cụ thể các quy định về thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo và giúp cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp hơn.

    Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”(2).

    Quán triệt và thực hiện công tác tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

    1- Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân những quan điểm mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo. Khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Từ nhận thức mới này để tiếp tục khắc phục những nhận thức thiển cận về tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam vào mặt trận chung, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Chú trọng tới công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, tạo động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    2- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là vấn đề quan trọng đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, đảm bảo thực sự quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người theo Hiến pháp 2013. Mục tiêu của công tác quản lý không chỉ là việc hướng dẫn các hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, mà điều có tác dụng cơ bản và lâu dài là phải tạo hành lang pháp lý đẩy đủ cho các hoạt động tôn giáo, thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

    Thực tế tình hình tôn giáo luôn có những vấn đề mới đặt ra cần phải được điều chỉnh, trong khi các chính sách, pháp luật còn có những bất cập. Vì vậy, nhiệm kỳ 2022 – 2022, Quốc hội dự kiến ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để kịp thời hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh chính sách, pháp luật cho phù hợp; xây dựng ý thức hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật. Quan tâm củng cố tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp theo tinh thần Kết luận số 78-KL/TW, ngày 14/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI); nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở.

    3- Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Thực tế cho thấy, giáo lý, giáo luật và những lời răn dạy của các tôn giáo đều hướng con người làm lành, tránh ác, yêu thương con người, yêu thương đồng loại. Quá trình hội nhập và mở cửa, mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hoá đang làm mai một những giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc, tha hoá đạo đức, lối sống của một bộ phận con người thì những răn dạy, hướng thiện đó cũng góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo của tôn giáo cũng góp phần cùng với các cấp, các ngành chung tay giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội.

    Như vậy, cần quan tâm chỉ đạo và có những giải pháp, chính sách tạo điều kiện cho tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo phát huy những yếu tố tích cực, hướng thiện trong văn hoá, đạo đức tôn giáo và những hoạt động xã hội, từ thiện phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, nhất là các hoạt động y tế, giáo dục, chăm sóc người bị bệnh hiểm nghèo… theo quy định của pháp luật.

    4- Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng với các nội dung chủ yếu: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức công dân, quan tâm chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho đồng bào có đạo; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Trong đó, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết hợp lý các nhu cầu hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo như: Tổ chức lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo; việc đào tạo, bổ nhiệm chức sắc; giải quyết đất đai, xây sửa cơ sở thờ tự…. Chú trọng công tác vận động chức sắc, cốt cán tôn giáo nhằm phát huy vai trò của chức sắc, cốt cán trong vận động tín đồ, tổ chức tôn giáo đồng hành cùng dân tộc.

    5- Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng là cơ sở để đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo là tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, điều kiện đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện tốt. Đây là hai mặt của một vấn đề có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó nhấn mạnh việc chủ động quan tâm giải quyết các nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, theo pháp luật của quần chúng tôn giáo, từ đó loại bỏ những nguyên cớ mà các thế lực xấu có thể lợi dụng kích động, xuyên tạc; quần chúng yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tự giác đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

    Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, đồng bào có đạo. Thực hiện công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực làm công tác dân vận, công tác tôn giáo. Quan tâm công tác phát triển đảng viên là người có đạo, xây dựng cốt cán trong tôn giáo; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chủ trương, nhiệm vụ của cấp uỷ các cấp được triển khai thực hiện có hiệu quả.

    Các cấp chính quyền kịp thời thể chế hoá chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, nhiệm vụ cụ thể về công tác tôn giáo. Tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật; chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có quần chúng tôn giáo bằng các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; đảm bảo thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

    1. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo.

    2. Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Nxb CTQG, H.2016, tr.165.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Dân Tộc, Tôn Giáo Của Đảng Là Sự Gắn Bó Giữa “ý Đảng, Lòng Dân”
  • Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước” Tại Đảng Bộ Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Và Đảng Bộ Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Ngành Du Lịch Cụ Thể Hóa Nghị Quyết Đh Đảng Xii Thành Các Mục Tiêu Hành Động
  • Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết Số 12
  • Công Tác Đảng Tại Các Doanh Nghiệp Ngoài Nhà Nước: Nhìn Từ Hà Nội
  • Tạp Chí Dân Vận Số 3/2016

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Tộc Vào Cuộc Sống
  • Ban Dân Vận Tỉnh Ủy: Giám Sát Việc Thực Hiện Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Trên Địa Bàn Huyện Hớn Quản
  • Quảng Ninh Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Dân Số, Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Triển Khai Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới
  • Thực Hiện Tốt Hơn Nữa Nghị Quyết Của Đảng Về Doanh Nghiệp Nhà Nước Và Kinh Tế Tập Thể Phi Nông Nghiệp
  • Đây là bài học sâu sắc, là sự kế thừa tư tưởng “dân là gốc” của ông cha ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ triều đại nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn. Mở đầu “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ông là người đã sớm đưa ra nhận định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” để cảnh báo cho những ai đi ngược lại lợi ích của dân, làm trái lòng dân.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII thành công tốt đẹp. Một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng được đề cập trong Nghị quyết là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”.

    Nghị quyết đưa ra ba mục tiêu rất rõ của công tác dân vận: “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    Để phấn đấu thực hiện các mục tiêu công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ cho cấp ủy các cấp phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

    1. Tổ chức học tập, quán triệt đến các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị, đến các tầng lớp nhân dân về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong đó có nội dung công tác dân vận của Đảng. Đồng thời, xây dựng và ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận.

    Nội dung cốt lõi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, về tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận.

    Trên cơ sở các nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội XII và tình hình thực tế của từng đảng bộ, để các cấp, các ngành, các đơn vị xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của địa phương, tổ chức mình.

    Chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khả thi nhất để tổ chức đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong đó quan tâm các nguồn lực (bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực) để có cơ sở, điều kiện thực hiện.

    2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các cấp ủy đảng và chính quyền cần quan tâm, tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào tôn giáo, góp phần xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, để mỗi đảng viên đều nêu gương cho quần chúng noi theo.

    Các cấp ủy đảng thường xuyên sâu sát cơ sở, kiểm tra và kịp thời tổng kết, sơ kết các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận như nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI), nghị quyết về giai cấp công nhân, thanh niên, phụ nữ, doanh nhân, trí thức, người Việt Nam ở nước ngoài… Trên cơ sở đó để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống có hiệu quả.

    Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm.

    3. Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

    Để nắm được những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân thì các tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức chính trị – xã hội, các đại biểu dân cử phải thường xuyên sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, lắng nghe ý kiến góp ý, phản ảnh của các tầng lớp nhân dân như công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, sinh viên…

    Trên cơ sở trực tiếp gặp nhân dân, qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các buổi tiếp dân mà tập hợp những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân để phản ảnh cho cấp ủy, các cơ quan chức năng của nhà nước giải quyết kịp thời. Các cấp ủy đảng, các cơ quan quản lý nhà nước cần lập đường dây nóng, hộp thư điện tử để người dân phản ảnh, kiến nghị nhanh nhất; đồng thời, tạo điều kiện cho các cơ quan thông tấn báo chí hoạt động thuận lợi phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của cơ sở. Cấp ủy, chính quyền phải tổ chức đối thoại trực tiếp với dân, nhất là những nơi có những vấn đề bức xúc có thể trở thành “điểm nóng”. Chỉ đạo tốt công tác tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tùy tình hình và mức độ khác nhau ở từng địa phương, nhưng đông đảo nhân dân quan tâm, bức xúc về đời sống, việc làm, đền bù, giải phóng mặt bằng đất đai, tham nhũng, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, tệ nạn ma túy, … cần được cấp ủy, cơ quan nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả.

    4. Lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

    Trước hết, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

    Thực tiễn chứng minh rằng, nghị quyết của Đảng chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật, thành kế hoạch, thành các chương trình, đề án và có nguồn lực cụ thể để các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện.

    Mặc dù Chính phủ, Quốc hội đã rất tích cực trong việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật nhưng còn nhiều vấn đề để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế cần phải được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách, luật pháp hoặc bổ sung, sửa đổi những vấn đề bất hợp lý trong các văn bản pháp luật đã ban hành.

    5. Tiếp tục lãnh đạo, tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị

    Đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ – pháp quyền, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, đẩy nhanh việc áp dụng Chính phủ điện tử.

    6. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận

    “Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu Ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội”(1). “Củng cố ban dân vận các cấp, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, đặc biệt là độ ngũ cán bộ tham mưu chiến lược. Có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận, chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về công tác dân vận”(2). Tăng tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ kinh qua thực tiễn cơ sở và có kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng. Hằng năm, mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về dân vận cho đội ngũ cán bộ mới, nhất là sau đại hội, các nhiệm kỳ của đảng bộ các cấp. Sớm bổ sung các quy chế, quy định về công tác cán bộ, như quy định tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu làm công tác dân vận chuyên trách”.

    1. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

    2. Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước”
  • Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Nghị Quyết 02 Của Đảng Uỷ Đối Với Công Tác Thanh Niên
  • Quan Điểm Của Đảng Về Công Tác Thanh Niên Hiện Nay
  • Tạp Chí Gia Đình Và Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Bất Cập Trong Quy Định Của Bộ Luật Lao Động (Sửa Đổi) Năm 2012
  • Quy Định Của Pháp Luật Lao Động Hiện Hành Về Tháng Lương Thứ 13
  • Lương Tháng 13 Là Gì? Công Thức Tính Lương Tháng Thứ 13 Chi Tiết
  • Tháng Lương Thứ 13 Và Thưởng Tết Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Xuất Khẩu Lao Động Đài Loan 2022
  • 07:18:54 03/04/2018

    Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp (ở giữa), bà Tống Thị Minh – Cục trưởng Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, ông Nguyễn Mạnh Cường – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế tại buổi làm việc.

    Ông Hà Đình Bốn – Vụ trưởng Vụ Pháp chế phát biểu.

    Dự án Luật này, lần trước là sửa đổi bổ sung, lần này theo chỉ đạo của Chính phủ cũng như ý kiến của Quốc hội, sẽ thay đổi căn bản và toàn diện và là Bộ luật Lao động sửa đổi, năm mà Dự án Luật được thông qua sẽ là tên thay thế Bộ luật hiện hành 2012.

    Ông Hà Đình Bốn cũng cho biết, nội dung Bộ luật Lao động sửa đổi đã được trình lên 10 Nhóm chính sách và đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của Bộ LĐTBXH. Theo quy định, các góp ý của người dân đều đã được đăng tải và trả lời. Ban soạn thảo cũng đã cập nhật các thông tin đề xuất từ địa phương/ngành, các đánh giá tổng kết 3 năm và sau là 5 năm. Song song với việc trình hồ sơ lên Quốc hội và Chính phủ, Ban soạn thảo cũng chủ động phân công công việc trong nội bộ, đảm bảo hoàn thành từng nhóm vấn đề theo dự kiến chung đã đề ra.

    Theo kế hoạch, tháng 5/2019, Quốc hội sẽ có ý kiến thì chậm nhất tháng 12/2018, toàn bộ dự thảo đầy đủ Bộ luật Lao động sửa đổi phải được trình lên Chính phủ.

    Ông Yoon Youngmo – Chuyên gia cao cấp của ILO và ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam (từ trái sang phải).

    Cho rằng các mốc thời gian đưa ra khá là gấp, ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam đề nghị Bộ LĐTBXH nhanh chóng cùng ILO tiến hành các vòng tham vấn. Để đảm bảo tháng 12/2018, Bộ luật Lao động sửa đổi trình được trình lên Chính phủ thì khoảng tháng 10/2018, Bộ LĐTBXH đã phải có “Dự thảo thô”. Ngoài Dự thảo Luật, Bộ LĐTBXH cũng cần có các báo cáo tác động, báo cáo thực hiện Bộ luật… Phía ILO đề nghị Bộ LĐTBXH đưa ra các khung thời gian cụ thể để đạt được tiến độ như mong muốn, và trao đổi rõ hơn về cách thức làm việc của Ban soạn thảo, Tổ biên tập.

    Tiếp thu các ý kiến đóng góp của ILO, Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp một lần nữa khẳng định lại kế hoạch trình Bộ luật Lao động sửa đổi lên Chính phủ và Quốc hội. Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cũng cho biết sẽ chỉ có một Ban soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi nhưng chia thành nhiều nhóm làm việc, nhóm về quan hệ lao động, nhóm về tiền lương… Mỗi nhóm sẽ huy động tối đa sự tham gia của các chuyên gia, cán bộ từ các Cục/Vụ/Viện. Các đánh giá về tác động của Bộ luật cũng đã được Bộ LĐTBXH triển khai. Ban soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi trong quá trình làm việc đã luôn luôn soi các điều khoản của Luật theo các tiêu chuẩn của ILO sao cho phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam.

    Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Vụ Pháp chế khẩn trương lên kế hoạch khung thời gian xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi cũng như đưa ra các nội dung cần sự hỗ trợ của ILO; giữa Bộ LĐTBXH và ILO cũng sẽ tổ chức một hội thảo nhỏ để bàn cụ thể hơn về vấn đề này.

    Có thể nói, Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ thay đổi căn bản, toàn diện, vì thế sự hỗ trợ của ILO là cần thiết để Bộ luật Lao động sửa đổi hài hòa, phù hợp với thực tiễn hơn.

    Bàn thêm về quá trình xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi, ông Nguyễn Mạnh Cường – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế cho biết, trong quá trình soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bên cạnh sự hỗ trợ của Tổ chức ILO tại Việt Nam, Bộ LĐTBXH cũng đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức nước ngoài như: Nhật Bản, EU, Úc, Canada, Đức… Tuy nhiên, mỗi tổ chức lại có những mối quan tâm khác nhau: Úc quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới trong lao động, các nước EU quan tâm đến vấn đề quan hệ lao động, Nhật Bản và Canada cùng quan tâm đến đối thoại tại nơi làm việc, Chính phủ Đức và Tổ chức hợp tác Đức (GIZ) quan tâm đến bảo hiểm xã hội và thời gian làm thêm…

    Sự tham gia của ILO sẽ đảm bảo sự tham vấn xuyên suốt. Trong kế hoạch tổng thể xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi, ông Nguyễn Mạnh Cường sẽ đề xuất Chính phủ trình văn bản chính thức Bộ luật Lao động sửa đổi cho ILO.

    Toàn cảnh buổi làm việc.

    Chuyên gia Yoon Youngmo cho rằng việc sửa đổi các Nghị định này là cần thiết và quan trọng vì luôn luôn có sự khác biệt giữa Luật và Nghị định, giữa lý thuyết và thực tiễn.

    Tiếp theo, Công ước quốc tế 98 và 87 cũng được phía ILO đưa ra bàn thảo. Ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam mong muốn kế hoạch phê chuẩn hai công ước quốc tế sẽ được phản ánh trong Bộ luật Lao động sửa đổi. Mặc dù, việc trình Chính phủ Bộ luật Lao động sửa đổi và việc phê duyệt Công ước được tiến hành hoàn toàn độc lập nhưng vẫn phải có sự gắn kết với nhau. Ông hy vọng, Việt Nam sẽ sớm phê duyệt hai công ước quốc tế quan trọng này.

    Đáp lại mong mỏi của ILO, Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cho biết các công ước 98, 87 hay 105 sẽ nằm trong cam kết của Chính phủ Việt Nam. Có thể, Bộ luật Lao động sửa đổi được thông qua trước khi các công ước này được phê duyệt hoặc ngược lại. Rất khó để cả hai cùng được thông qua một lúc, nhưng cho dù điều nào xảy ra trước thì chắc chắn Luật sẽ được xây dựng hài hòa với các công ước.

    Bài và ảnh: Thanh Huyền/GĐ&TE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Luật Lao Động
  • 17 Điểm Mới Trong Bộ Luật Lao Động (Sửa Đổi) Người Lao Động Cần Biết
  • Bộ Luật Lao Động Sửa Đổi 2002
  • Quy Định Nghỉ Phép Năm Của Bộ Luật Lao Động
  • Đi Làm Muộn, Công Ty Có Được Phạt Tiền Không?
  • Tạp Chí Dân Vận Số 9/2017

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xiii Của Đảng
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Vấn Đề Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
  • Quan Điểm Đổi Mới Của Đảng Về Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
  • Tiếp Tục Sắp Xếp, Tinh Giản Biên Chế
  • Đổi Mới, Sắp Xếp Tổ Chức Bộ Máy Của Hệ Thống Chính Trị Tinh Gọn, Hoạt Động Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo đang tồn tại. Từ khi được thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. 

    Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam đa số là nông dân lao động, có tinh thần yêu nước, có tình cảm và niềm tin tôn giáo, dù hiểu giáo lý có phần chưa thật sâu sắc nhưng lại tham gia các nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo một cách chăm chỉ, nhiệt tâm. Đa số chức sắc chức việc, nhà tu hành yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “Tốt đời, đẹp đạo”; có vai trò quan trọng đối với tổ chức giáo hội và tín đồ, là cầu nối trong mối quan hệ giữa giáo hội với Nhà nước. Các tổ chức tôn giáo và tín đồ tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, hoạt động nhân đạo từ thiện, xóa đói, giảm nghèo, giúp đỡ người khó khăn trong cuộc sống, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn trở thành lễ hội văn hóa, tinh thần chung của đông đảo Nhân dân, thể hiện Đạo – Đời hòa hợp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Từ tình hình trên, ngày 12/3/2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo (gọi tắt là Nghị quyết số 25) nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Từ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng các văn bản, như: Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định số 22/NĐ-CP (năm 2005), Nghị định số 92/NĐ-CP (năm 2012) của Chính phủ…. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Gần đây, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

    Qua 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 25 đã tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức của các cấp uỷ, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đối với tôn giáo và công tác tôn giáo, từ tư duy đáp ứng nhu cầu tôn giáo của một bộ phận Nhân dân chuyển sang việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; tâm lý định kiến, sự phân biệt giữa tín đồ tôn giáo với người không theo tôn giáo giảm dần, quan tâm việc phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo tốt đẹp trong đời sống xã hội, đảm bảo tốt hơn sự bình đẳng giữa các tôn giáo; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo; các tầng lớp Nhân dân hiểu biết đầy đủ hơn về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo.

    Công tác vận động quần chúng tôn giáo được chú trọng, tiếp tục được thực hiện với nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, từ đó đã xuất hiện nhiều mô hình, điển hình trong công tác vận động chức sắc, tín đồ, tổ chức tôn giáo; các nguồn lực của tôn giáo được phát huy trong việc tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội.

    Công tác đối ngoại tôn giáo đạt kết quả quan trọng, góp phần để các tổ chức quốc tế, các nước hiểu rõ hơn về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời, đấu tranh đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm chống phá Đảng, Nhà nước; cải thiện hình ảnh của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, hợp tác với nước ngoài.

    Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25, đến nay, tình hình tôn giáo ở nước ta cơ bản ổn định và có những thay đổi lớn cả về quy mô tổ chức, cơ sở thờ tự và số lượng chức sắc, tín đồ. Tính đến tháng 6/2017, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức tôn giáo thuộc 15 tôn giáo với khoảng 25,3 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, so với năm 2003 (tăng 35%), với 60.799 chức sắc (tăng 65%), 133.662 chức việc (tăng 69%); 27.916 cơ sở thờ tự (tăng 33%).

    Tuy nhiên, trong quá trình quán triệt, chỉ đạo, thực hiện Nghị quyết số 25, một số cấp ủy, chính quyền, nhất là ở cơ sở còn hạn chế, chưa sâu sắc, còn nhận thức khác nhau trong xử lý một số vấn đề cụ thể; có nơi còn chủ quan, buông lỏng quản lý nhưng có nơi lại quá chặt chẽ, tạo cớ cho các thế lực xấu, thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Hệ thống chính trị cơ sở, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa được quan tâm củng cố vững chắc, vai trò lãnh đạo, quản lý mờ nhạt; đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hoạt động chưa hiệu quả. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội ở vùng đồng bào có đạo chưa được đổi mới; tỷ lệ tập hợp, thu hút đoàn viên, hội viên còn thấp, chưa hiệu quả; một số vùng có đông đồng bào Công giáo, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong đời sống và việc làm. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo còn bộc lộ một số bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế, dẫn đến một số vụ việc kéo dài, chậm được giải quyết, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự xã hội.

    Từ thực tiễn 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 25 có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm, đó là:

    Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tôn giáo, quán triệt và nhận thức sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.

    Thứ hai, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động; phát huy các yếu tố nhân văn, các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, đoàn kết đồng bào các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân; quan tâm giải quyết nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đồng bào có đạo theo quy định pháp luật.

    Thứ ba, coi trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về chính sách, pháp luật của Nhà nước cho chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo, đặc biệt là công tác vận động chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo.

    Thứ tư, quan tâm phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo. Đẩy mạnh việc thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.

    Thứ năm, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị cơ sở ở vùng có đông đồng bào theo tôn giáo. Chú trọng công tác phát triển đảng viên là người có tôn giáo, xây dựng đội ngũ trong vùng có đông đồng bào tôn giáo làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng tôn giáo.

    Thứ sáu, xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo có trình độ lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn, có kỹ năng vận động quần chúng, nắm vững pháp luật; tăng cường công tác phối hợp để nâng cao hiệu quả công tác vận động và quản lý nhà nước.

    Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết số 25 trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục quan tâm thực hiện một số nội dung sau:

    Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo; tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn

    Tăng cường thông tin, tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo trong các tầng lớp Nhân dân, tránh nhận thức phiến diện, cực đoan, mặc cảm đối với tôn giáo; chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác tôn giáo; đưa nội dung tôn giáo vào chương trình tổng điều tra dân số trên phạm vi toàn quốc để làm cơ sở cho công tác hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật.

    Hai là, đầu tư và thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của Nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo

    Lồng ghép nội dung, nhiệm vụ công tác tôn giáo, các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào tôn giáo, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người cận nghèo, người gặp khó khăn trong cuộc sống.

    Ba là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo

    Bốn là, tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng có đông đồng bào theo tôn giáo

    Năm là, tăng cường công tác đối ngoại tôn giáo, chủ động tham gia các diễn đàn quốc tế nhằm giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ tình hình, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về tôn giáo; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia hoạt động quốc tế phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

    Sáu là, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong hoạt động tôn giáo; chủ động, kịp thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chia rẽ Nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Của Đảng Ta Về Vấn Đề Tôn Giáo
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Số 65
  • Dấu Ấn 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xviii: Bài 13
  • Thực Hiện Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới: Vận Hội, Thách Thức Và Giải Pháp
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội
  • 2935.tạp Chí Luật Khoa Thiếu Tín Nghĩa Tt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nữ Sinh Khoa Luật Đh Tôn Đức Thắng ‘gây Thương Nhớ’ Với Nhan Sắc Trong Veo
  • Sinh Viên Khoa Luật Với Chuyên Đề “thực Nghiệm Giám Định Pháp Y”
  • Dây Đeo Thẻ Sinh Viên Đại Học Tôn Đức Thắng Khoa Luật Chất Liệu Nylon In Nh
  • Khoa Luật Uef Tổ Chức Lễ Tổng Kết Và Phát Động Phong Trào Nckh Sinh Viên Năm Học 2022
  • Miss Uef 2022 Gọi Tên Cô Sinh Viên Khoa Luật Phan Ngọc Qúy
  • Ông Ngô Văn Chiêu độc lập với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Ông Trần Phương viết: Vị môn đồ đầu tiên đó chính là ông Ngô Văn Chiêu, sau này là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài.

    Ông Ngô Văn Chiêu là môn đệ đầu tiên của Đức Cao Đài là một sự thật hiển nhiên.

    Nhưng ông Chiêu không phải là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài.

    Chúng tôi xin làm rõ như sau:

    Trên thực tế: Đức Chí Tôn dự định phong cho Ngài Chiêu làm Giáo Tông nhưng Ngài không nhận nên Ngài không phải là Anh Cả. Không nhận hoàn toàn khác với có nhận rồi sau đó từ nhiệm.

    Ngài học với Đức Chí Tôn một pháp môn có tên là: Pháp Môn Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, (danh hiệu có 12 chữ). Hiện nay các hậu duệ của Ngài cũng đã đăng ký với nhà cầm quyền danh hiệu nói trên và có tổ đình tại Cần Thơ.

    Ngài Chiêu không phải là Chức sắc của ĐĐTKPĐ.

    Chúng tôi dẫn chứng từ 3 phương diện lịch sử, pháp luật và đạo lý.

    Ngài Ngô Văn Chiêu không có đứng tên trong TỜ KHAI ĐẠO. Ngày Lễ Khai Đạo Tại Chùa Gò Kén Ngài cũng không có mặt. Các ảnh của Ngài lưu lại không có một ảnh nào mặc thiên phục Giáo Tông. Hậu duệ của Ngài thường giới thiệu ảnh Ngài mặc sắc phục của một vị quan chức.

    Về pháp luật đạo: Tôn giáo Cao Đài là một tôn giáo pháp quyền. Từ phẩm Giáo Tông cho đến hàng Đạo Hữu cùng chịu chung một khuôn luật. Theo pháp luật ĐĐTKPĐ từ phẩm Phối Sư trở lên phải hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Suốt trong quá trình sinh hoạt của ĐĐTKPĐ tại Tòa Thánh Tây Ninh Ngài Chiêu không có tham gia. Tất cả kinh sách của Hội Thánh ĐĐTKPĐ ban hành không hề có nội dung nào xác định Ngài Chiêu là Chức sắc. Chính Ngài cũng không hề có một lời dạy nào cho tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Như vậy nếu nói Ngài Chiêu là Giáo Tông (Anh Cả) thì còn gì là một tôn giáo pháp quyền?

    : Nếu Ngài Chiêu là Anh Cả thì Hội Thánh Cao Đài đã lấy ngày mất của Ngài Chiêu để kỷ niệm như Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt hay những vị khác. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh dạy toàn thể tín đồ ĐĐTKPĐ thực hành Nhơn Nghĩa mà Ngài Chiêu không là Anh Cả nên Hội Thánh đã cư xử đúng khuôn phép.

    Xin vui lòng xem bảng đối chiếu sau đây:

    Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có bản sắc trong lành của nó mới đủ tư cách để xây dựng nền văn minh Cao Đài Giáo.

    Ngài Chiêu được Thầy dạy Pháp Môn Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi trước. Sau đó Thầy dạy các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang lập ra Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (6 chữ) gọi tắt là Đạo Cao Đài (03 chữ) nên Ngài Chiêu là đàn anh.

    Pháp Môn của Ngài Chiêu độc lập với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một sự thật xét về lịch sử, pháp luật và đạo lý. Chúng tôi kính trọng Ngài Chiêu nên cung cấp sự thật rằng: Ngài Chiêu không phải là Anh Cả của tất cả tín đồ Cao Đài như ông Trần Phương đã viết.

    Hội Thánh Em Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Email: [email protected]

    Whatsapp: +1 469 642 4667. (Ban Truyền Thông).

    BẰNG CHỨNG TẠP CHÍ LUẬT KHOA THẤT TÍN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Khoa Tín Tăng Cường Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Dịp 30/4
  • Học Trung Cấp Luật Tphcm
  • Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (Faculté De Droit).
  • Sinh Viên Khoa Luật Đam Mê Nghệ Thuật
  • Xác Minh Giảng Viên Khoa Luật Bị Tố Quấy Rối Nữ Sinh
  • Tạp Chí Dân Vận Số 11/2015

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Nội Vụthực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Về Công Tác Tôn Giáo
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Tôn Giáo Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Thực Hiện Nghiêm Túc, Hiệu Quả Các Nghị Quyết Của Đảng Trong Việc Tinh Giản Biên Chế
  • Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Theo Tinh Thần Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xii
  • Về Tinh Giản Biên Chế Của Các Cơ Quan Trung Ương Hiện Nay
  • Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Trong quá khứ và hiện tại, tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội của Việt Nam. Đến nay, cả nước có khoảng 24,3 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm hơn 25% dân số; gần 80 ngàn chức sắc, nhà tu hành, 133,7 ngàn chức việc, trên 27,9 ngàn cơ sở thờ tự.

    Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đảng ta đã có sự đổi mới căn bản nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo. Nhiều nghị quyết, chỉ thị… về công tác tôn giáo được Đảng và Nhà nước ban hành, triển khai thực hiện đã tạo những chuyển biến tích cực trong công tác tôn giáo. Đặc biệt, ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo. Đến nay sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, Ban Bí thư Trung ương đã có văn bản chỉ đạo tổng kết Nghị quyết. Các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo tiến hành tổng kết từ cấp cơ sở. Kết quả thực hiện Nghị quyết cho thấy:

    Thứ nhất, đã làm chuyển biến căn bản nhận thức của xã hội, nhất là nhận thức của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở các cấp về tôn giáo và công tác tôn giáo. Nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; coi trọng những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo tốt đẹp; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Tâm lý mặc cảm, định kiến với tôn giáo giảm dần; coi đồng bào có tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng là sinh hoạt văn hóa bình thường của nhân dân, quần chúng có đạo. Công tác vận động tín đồ, chức sắc tôn giáo được đẩy mạnh, gắn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước.

    Chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo phấn khởi; đồng bào có đạo an tâm tu hành, tích cực phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, giữ gìn an ninh, trật tự, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện của tổ chức, cá nhân tôn giáo được chính quyền các cấp tạo điều kiện. Tiêu biểu như thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội, trường mầm non, nhóm, cơ sở khám chữa bệnh, trường trung cấp nghề hoặc trung tâm dạy nghề; tổ chức các hoạt động nhân đạo, từ thiện… đã góp phần tích cực cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội và toàn xã hội chung tay bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết những bức xúc trong đời sống nhân dân.

    Nhờ hệ thống chính sách, pháp luật và những hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể, có thể nói, chưa bao giờ sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thuận lợi như hiện nay. Sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, tín đồ được bảo đảm, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo được hướng dẫn và giải quyết nhanh chóng theo trình tự quy định của pháp luật. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa IX) và Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo đã có thêm 23 tổ chức và 01 hệ phái tôn giáo đủ điều kiện được cơ quan Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, nâng tổng số các tổ chức tôn giáo được công nhận lên 39 tổ chức, thuộc 14 tôn giáo hiện đang có mặt tại Việt Nam. Các tôn giáo ở Việt Nam đều có sự phát triển về tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, cơ sở thờ tự được xây dựng mới, tu bổ khang trang, các lớp đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, in ấn kinh sách, các lễ hội tôn giáo…

    Thứ ba, xác định nội dung cốt lõi công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp đã quan tâm đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tôn giáo. Quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân; tập trung giải quyết vấn đề an sinh xã hội, phát triển văn hóa, tạo điều kiện cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. Đẩy mạnh công tác vận động chức sắc, tín đồ tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”; tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo… Tỷ lệ thu hút quần chúng tôn giáo tham gia vào MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội không ngừng tăng lên cả về số và chất lượng; nhiều chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo là nòng cốt tiêu biểu của các tổ chức. Quốc hội khóa XII có 6 đại biểu, Quốc hội khóa XIII có 10 đại biểu là chức sắc các tôn giáo; tham gia Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa VII có 46 vị và khóa VIII có 59 vị chức sắc, nhà tu hành; hàng ngàn vị là đại biểu HĐND cấp tỉnh, huyện, xã và tham gia Ban chấp hành của 5 tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương đến cơ sở.

    Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 25 (khóa IX) về công tác tôn giáo còn một số tồn tại, bất cập, hạn chế như: Ở một số nơi việc quán triệt, triển khai Nghị quyết chưa sâu rộng; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tôn giáo và công tác tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết 25 còn hạn chế; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, chức sắc, tín đồ tôn giáo còn tư tưởng mặc cảm, tự ti. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tồn tại hai khuynh hướng, có nơi còn mặc cảm, khắt khe, giải quyết nhu cầu hoạt động tôn giáo chưa đảm bảo sự công bằng giữa các tôn giáo; có nơi lại buông lỏng quản lý, dẫn tới một số chức sắc, tổ chức tôn giáo ở cơ sở có các hoạt động lấn lướt chính quyền, vi phạm pháp luật trong hoạt động tôn giáo, chưa được nắm bắt và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Công tác vận động, tập hợp tín đồ tôn giáo của các tổ chức chính trị – xã hội ở một số nơi, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc theo tôn giáo còn hạn chế, chậm đổi mới nội dung, phương thức cho phù hợp với đặc điểm từng dân tộc, tôn giáo, tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên thấp… Tình hình tôn giáo ở một số địa bàn còn nảy sinh và tiềm ẩn những vấn đề phức tạp.

    Qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 25 của Đảng về công tác tôn giáo, những kết quả đạt được rất quan trọng, khẳng định chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước là đúng đắn và phù hợp với đường lối phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới.

    Công tác tôn giáo trong thời gian tới đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt những quan điểm, nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết; nắm bắt và giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực tôn giáo; tham mưu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Tập trung củng cố tổ chức, bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ngày càng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đổi mới phát triển của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Biểu Các Tôn Giáo Nghiên Cứu Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Chương Trình Hành Động Số 38 Ctrhđ/tu Ngày 08/07/2008 Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thành Phố Về Thực Hiện Nghị Quyết Số 20
  • Hà Nội: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Xây Dựng Và Phát Triển Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xi Của Đảngpgs, Ts. Phạm Công Nhất
  • Chương Trình Hành Động Của Chi Bộ Mầm Non Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ Xi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100