【#1】Bài Soạn Ngữ Văn 8 Tiết 5

TRONG LÒNG MẸ

(Trích Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng)

A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

– Khái niệm thể loại hồi kí.

– Cốt truyện, nhân vật, sự kiện trong đoạn trích “Trong lòng mẹ”

– Ngôn ngữ truyện thể hiện niềm khát khao tình cảm ruột thịt cháy bỏng của nhân vật.

– Ý nghĩa giáo dục: những thành kiến cổ hủ, nhỏ nhen, độc ác không thể làm cho khô héo tình cảm ruột thịt sâu nặng, thiêng liêng.

– Bước đầu biết đọc – hiểu một văn bản hồi kí.

– Vận dụng kiến thức về sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản tự sự để phân tích tác phẩm truyện.

3. Thái độ: Yêu quý tình cảm ruột thịt đặc biệt người mẹ đã có công sinh thành ra mình.

1. Thầy: Tư liệu bài dạy, sách tham khảo, giao án, bảng phụ, phiếu học tập, tư liệu về tác giả Nguyên Hồng.

2. Trò: Chuẩn bị nội dung bài học, đọc trước văn bản ở nhà, trả lời câu hỏi ở vở soạn.

C. TỔ CHỨC DẠY VÀ HỌC

Bước I: Ổn định tổ chức lớp.

– Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp.

Bước II: Kiểm tra bài cũ

Trả lời các câu hỏi sau :

Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức : Hôm nay tôi đi học.

– Phân tích tâm trạng của nhân vật Tôi trong đoạn văn.

Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc thiết tha, trong trẻo của nhân vật Tôi trong buổi đến trường đầu tiên qua văn bản” Tôi đi học”?

Ngày soạn: 20 tháng 08 năm 2012 Ngày dạy lớp 8B: 25 tháng 08 năm 2012 Tiết 5-6 đọc - hiểu văn bản Trong lòng mẹ (Trích Những ngày thơ ấu - Nguyên Hồng) A. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức. - Khái niệm thể loại hồi kí. - Cốt truyện, nhân vật, sự kiện trong đoạn trích "Trong lòng mẹ" - Ngôn ngữ truyện thể hiện niềm khát khao tình cảm ruột thịt cháy bỏng của nhân vật. - ý nghĩa giáo dục: những thành kiến cổ hủ, nhỏ nhen, độc ác không thể làm cho khô héo tình cảm ruột thịt sâu nặng, thiêng liêng. 2. Kĩ năng: - Bước đầu biết đọc - hiểu một văn bản hồi kí. - Vận dụng kiến thức về sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản tự sự để phân tích tác phẩm truyện. 3. Thái độ: Yêu quý tình cảm ruột thịt đặc biệt người mẹ đã có công sinh thành ra mình. B. Chuẩn bị: 1. Thầy: Tư liệu bài dạy, sách tham khảo, giao án, bảng phụ, phiếu học tập, tư liệu về tác giả Nguyên Hồng. 2. Trò: Chuẩn bị nội dung bài học, đọc trước văn bản ở nhà, trả lời câu hỏi ở vở soạn. C. Tổ chức dạy và học Bước I: ổn định tổ chức lớp. - Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp ... Bước II: Kiểm tra bài cũ Trả lời các câu hỏi sau : Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức: Hôm nay tôi đi học. - Phân tích tâm trạng của nhân vật Tôi trong đoạn văn. Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc thiết tha, trong trẻo của nhân vật Tôi trong buổi đến trường đầu tiên qua văn bản" Tôi đi học"? Bước III : Bài mới Hoạt động1 : Tạo tâm thế + Thời gian : 1phút + Phương pháp : thuyết trình. Mỗi chúng ta ai chẳng có một thời thơ ấu đã qua và không bao giờ trở lại. Có những tuổi thơ êm đềm, ngọt ngào song không ít những tuổi thơ đầy cay đắng, dữ dội. Tuổi thơ của chú bé Hồng trong văn bản" Trong lòng mẹ" là tuổi thơ ntn, qua đó chúng ta thấy được tình cảm của chú bé dành cho mẹ ra sao? Hoạt động 2 : Tri giác +Thời gian: 10 phút +Phương pháp - Kĩ thuật: Đọc, vấn đáp, thuyết trình, suy nghĩ một phút, động não, nhóm nhỏ Hoạt động của thầy. Hoạt động của trò. Nội dung cần đạt. GV: Cho học sinh nghiên cứu đọc lướt nhanh phần chú thích về tác giả Tác phẩm H: Em hãy nêu những nét chính về nhà văn Nguyên Hồng? GV bổ sung: Nguyên Hồng là một trong những cây bút tiêu biều của dòng văn học Hiện thực phê phán 30-45. Ông có một tuổi thơ đau khổ và đầy sóng gió . Sinh ra tại Nam Đinh song chủ yếu sống ở Hải Phòng , rất gần gũi với những người lao động nghèo của đất Càng. Thế giới nhân vật của Nguyên Hồng chủ yếu là những con người sống dưới đáy cùng của xã hội. Vì vậy ông được mệnh danh là nhà văn của những người khốn khổ, nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. H: Em biết gì về văn bản "Trong lòng mẹ" và tác phẩm "Những ngày thơ ấu"? H: Nhân vật chính và các nhân vật trung tâm trong truyện là ai? H: Đoạn trích thuộc chương mấy trong tác phẩm Những ngày thơ ấu? GV: yêu cầu đọc giọng chậm, tình cảm, chú ý các từ ngữ, hình ảnh thể hiện cảm xúc thay đổi của nhân vật tôi, nhất là đoạn cuối cuộc trò chuyện với bà cô , đoạn tả chú bé Hồng nằm trong lòng mẹ. Các từ ngữ hình ảnh lời nói ngọt ngào, giả dối, rất kịch của bà cô cần đọc với giọng đay đả,, kéo dài, lộ rõ sắc thái châm biếm cay nghiệt. + GV đọc mẫu một vài đoạn GV hướng dẫn tìm hiểu một số từ khó trong phần chú thích . - Tìm từ trái nghĩa với từ giỗ đầu; đồng nghĩa với từ đoạn tang. - Cụm từ - thành ngữ tha hương cầu thực, có nơi, có người lại nói tha phương cầu thực . ý kiên của em về hai dị bản trên? Hãy giải thích? - Nguyên Hồng (1918 - 1982) quê ở Nam Định, sống và viết chủ yếu ở Hải Phòng những năm trước cách mạng sau hòa bình (1954) gia đình ông chuyển về Hà Nội, Yên Thế, Bắc Giang, ông vẫn gắn bó với Hải Phòng. Là nhà văn rất bình dị trong sinh hoạt và giàu tình cảm, dễ xúc động. Là nhà văn cảu phụ nữ, nhi đồng, của những người khốn khổ. - "Những ngày thơ ấu" là tập hồi kí viết trước cách mạng tháng tám đăng báo 1938 in thành sách năm 1940 gồm 9 chương. Nhân vật chính là chú bé Hồng với những kỉ niệm thơ ấu nhiều đắng cay. - HS : 3- 4 em đọc và nhận xét cách đọc của bạn. I.Đọc - Chú thích. 1. Tác giả - tác phẩm a. Tác giả :. - Là nhà văn giàu tình cảm, dễ xúc động rất bình dị trong sinh hoạt. - Nhà văn của phụ nữ, nhi đồng và những người khốn khổ. b.Tác phẩm. - Trích chương IV trong tập hồi kí "Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng". 2. Đọc 3. Từ khó Hoạt động 3: phân tích, cắt nghĩa +Thời gian : 60 phút +Phương pháp - Kĩ thuật: vấn đáp, thuyết trình động não, trình bày, suy nghĩ một phút... Hoạt động của thầy . Hoạt động của trò. Nội dung cần đạt. GV hướng dẫn HS phân tích tìm hiểu tác phẩm. H: Xét về thể loại xếp văn bản thuộc loại nào? H. Trong tác phẩm có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai? H: Đoạn trích này có thể chia thành mấy đoạn, nội dung của từng đoạn? HS Nhận xét bố cục văn bản và nêu nội dung của từng đoạn H. Tóm tắt nội dung chính của văn bản? H. Theo dõi phần đầu văn bản cho biết: cảnh ngộ bé Hồng có gì đặc biệt? H. Từ cảnh ngộ ấy tạo nên thân phận bé Hồng như thế nào và bé luôn khao khát điều gì? H. Theo dõi cuộc đối thoại giữa người cô và bé Hồng hãy cho biết: - Nhân vật cô tôi có quan hệ như thế nào với bé Hồng? - Nhân vật người cô hiện lên qua những chi tiết, lời nói điển hình. Em hãy liệt kê những chi tiết lời nói ấy? H: Qua các chi tiết, lời nói này bà cô có phải thực sự quan tâm đến Hồng không hay là có mục đích khác? H: Bé Hồng có đoán ra dụng ý của bà cô không? H. Vì sao bé Hồng cảm nhận được rõ rắp tâm đó của bà cô? H: Trong những lời lẽ của người cô, lời nào là cay độc nhất? Vì sao? H: Qua những lời lẽ đó đã bộc lộ tính cách gì của bà cô? H. Khi bé Hồng trả lời "không" bà cô vẫn tiếp tục hỏi châm chọc và kể về hoàn cảnh của mẹ bé Hồng như thế nào? Thái độ ra sao? H: Bà cô đại diện cho hạng người nào trong xã hội? H. Nhận xét ngôn ngữ, giọng điệu lời văn trong đoạn? H. Trong cuộc đối thoại này, bé Hồng đã bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ của mình ntn ? H: Hãy tìm những chi tiết bộc lộ cảm nghĩ của bé Hồng đối với người cô? H. ở đây phương thức biểu đạt nào được vận dụng? Tác dụng? H. Em hiểu gì về chi tiết: "Giá những cổ tục" H. Có thể hiểu gì về bé Hồng từ trạng thái tâm hồn đó của em? H. Cảm xúc của em khi đọc những tâm sự đó của bé Hồng? H. Khi kể về cuộc đối thoại của người cô và bé Hồng tác giả đã sử dụng nghệ thuật tương phản? Hãy chỉ ra phép tương phản này và cho biết ý nghĩa? - Thể loại: tiểu thuyết - tự thuật kết hợp với các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả biểu cảm. - Nhân vật xưng tôi ngôi thứ nhất chính là tác giả (bé Hồng) là nhân vật chính. - Nội dung 2 phần: Phần 1: Từ đầu đến "đến chứ" Cuộc đối thoại giữa người cô và bé Hồng. Phần 2: Cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ. -HS tóm tắt. - HS trả lời như phần ghi bảng. - Cô độc đau khổ, luôn khao khát tình thương của mẹ. - Quan hệ ruột thịt (là cô ruột của bé Hồng) - Cô tôi gọi cười hỏi: Không? - Sao lại không vào... đâu? - Mày dại quá thăm em bé chứ. - Mục đích: làm cho bé Hồng ruồng rẫy khinh bỉ mẹ, gieo rắc những hoài nghi về mẹ - Vì trong lời kể của bà cô chứa đựng sự giả dối, qua giọng nói và trên nét mặt: cười hỏi chứ không phải lo lắng, nghiêm nghị hỏi cũng không phải âu yếm hỏi. - HS tự bộc lộ - Mỉa mai, hắt hủi thậm chí độc ác - Lời văn đầy sâu sắc. - Bé Hồng nhận ra ý nghĩa cay độc rất kịch . - Nhắc đến mẹ tôi ruồng rẫy mẹ tôi. - Hai tiếng em bé như ý cô tôi muốn. - Giá những cổ tục - Phương thức biểu cảm. Bộc lộ trực tiếp và gợi cảm trạng thái tâm hồn đau đớn của bé Hồng. -HS tự bộc lộ. II.Tìm hiểu văn bản. 1. Cuộc đối thoại giữa bà cô và bé Hồng. - GV kẻ đôi bảng: + Bà cô: lạnh lùng, tàn ác, tâm địa xấu xa là người đàn bà cay nghiệt, già dặn vô cảm sắc lạnh đến ghê rợn. - Phản ứng của bé Hồng: im lặng, lòng đau như cắt, khóe mắt cay cay, nước mắt dòng dòng đầm đìa. -Khóc không ra tiếng - Phương thức biểu cảm (nỗi căm ghét và tình thương mẹ) Hoạt động của thầy . Hoạt động của trò. Nội dung cần đạt. GV: Chuyển ý: Để biết được những lời nói của bà cô có đúng không chúng ta cùng kiểm chứng khi mẹ bé Hồng về. - HS đọc đoạn văn còn lại. H. Khi chợt thoáng thấy người ngồi trên xe giống mẹ bé Hồng có hành động cử chỉ như thế nào? H. Giọt nước mắt của bé Hồng lần này có gì khác lần trước "Nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ"? H: Em có nhận xét gì về phản ứng này của bé Hồng? H: Tác giả đã dùng một hình ảnh so sánh rất độc đáo để nói về bé Hồng gặp mẹ. Đó là hình ảnh nào? H: Tâm trạng của Hồng khi nghĩ người trên xe không phải là mẹ mình được diễn tả như thế nào? Tìm và phân tích? H. Nhận xét gì về ngòi bút miêu tả tâm lí của nhà văn trong đoạn? H. Hình ảnh người mẹ hiện lên qua những chi tiết nào? H. Nhân vật người mẹ được kể qua cái nhìn yêu thương của con có tác dụng gì? H. Bé Hồng đã có một người mẹ như thế nào? H. Trong đoạn này tình yêu thương mẹ của bé Hồng bộc lộ rõ nhất qua chi tiết nào? Vì sao? H. Nhận xét về phương thức biểu đạt trong các đoạn văn đó? Tác dụng? GV: Cảm giác sung sướng hạnh phúc của bé Hồng. Tác giả không gọi tên chỉ miêu tả sự mê mẩn không nhớ mẹ hỏi những gì niềm sung sướng và hạnh phúc tột độ của đứa con xa mẹ nay được thỏa nguyện. H: Qua văn bản em hiểu thế nào là hồi kí? H. Chứng minh văn Nguyên Hồng giàu chất trữ tình? H: Qua tìm hiểu trên hãy nêu nội dung của truyện? GV : Đó cũng chính là nội dung phần ghi nhớ sgk . - Trường từ vựng và cấp độ khía quát của từ ngữ khác nhau ở điểm nào? - Cho ví dụ? - HS đọc đoạn văn. - Nét chung về ý nghĩa chỉ bộ phận của cơ thể con người. - Tính hệ thống về mặt nghĩa (có chung về nghĩa). - Nằm trong những câu văn cụ thể có ý nghĩa xác định. - Chỉ hình dáng của con người. - Tìm các từ của trường từ vựng về "dụng cụ", "nấu nướng", chỉ số lượng. - Bộ phận của mắt: lòng đen, con ngươi, lông mày. - Hoạt động của mắt: ngó, trông, liếc. - Người nói chung: bộ phận, tính cách, trạng thái, hoạt động: trí tuệ, giác quan, đầu, tay, chân. Ví dụ: SGK. Ví dụ: SGK. - Trường mùi vị: chát, thơm. - Trường âm thanh: the thé, êm dịu - Trường thời tiết: hanh, ấm.. - Suy nghĩ của con người: tưởng, ngỡ, nghĩ. - Hoạt động: vui, mừng, buồn.. - Xưng hô: Cô, cậu, tớ Ví dụ: Trường từ vựng về cây: + Bộ phận: thân, rễ, cành. + Hình dáng: cao, thấp, to, bé - Cấp độ khái quát là tập hợp các từ có quan hệ song song về phạm vi nghĩa rộng hay hẹp trong đó các từ phải có cùng từ loại. Ví dụ: + Tốt (nghĩa rộng) - đảm đang (nghĩa hẹp) - tính từ. + Bàn (nghĩa rộng) - bàn gỗ (nghĩa hẹp) - danh từ. + Đánh (nghĩa rộng) - cắn (nghĩa hẹp) - động từ. I. Thế nào là trường từ vựng? * Ví dụ : a. mặt, mắt, da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, miệng - Chỉ bộ phận trên cơ thể con người. *Ghi nhớ: SGK/tr.20. 2. Lưu ý: a. một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ. b. một trường từ loại gồm những từ khác biệt nhau về từ loại. c. Do hiện tượng nhiều nghĩa một từ có thể có nhiều trường từ vựng khác nhau. d. Dùng trường từ vựng này để nói về một trường từ vựng khác. (phép NT nhân hóa, ẩn dụ, so ánh..) - Trường từ vựng là tập hợp những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa trong đó các từ có thể khác nhau về từ loại. Hoạt động 5 : luyện tập. +Thời gian: 30 phút +Phương pháp- Kĩ thuật: Vấn đáp, giải thích Phương pháp : Vấn đáp, giải thích, dùng các phiếu ( Phần III, Vở LTNV); Bài tập 1: Tìm các từ thuộc trường từ vựng " người ruột thịt" trong văn bản "Trong lòng mẹ" của nhà văn Nguyên Hồng. HS đọc lại văn bản và tìm các từ thuộc trường từ vựng người ruột thịt: VD: mẹ, con, cô, cháu, em, cha... Bài tập 2: Đặt tên trường từ vựng cho mỗi dãy từ : a. Dụng cụ đánh bắt thuỷ sản( phương tiện đánh bắt cá dưới nước). b. Dụng cụ để đựng( đồ dùng gia đình hoặc cá nhân) c. Hoạt động của chân d. Trạng thái tâm lí của con người. đ. Tính cách của người. e. Dụng cụ để viết( đồ dùng học tập). Bài tập 3: Các từ in đậm trong đoạn văn thuộc trường từ vựng: Thái độ. Bài tập 4: Xếp các từ vào đúng trường từ vựng: - Trường từ vựng khứu giác: mũi, thơm, điếc, thính - Trường từ vựng thính giác: tai, nghe, thính, điếc. Bài tập 5: Tìm các trường từ vựng: * " lưới": - Trường dụng cụ đánh bắt thuỷ sản: lưới, nơm, câu, vó. - Trường đồ dùng cho chiến sĩ: Lưới( lưới B40 ), võng, tăng, bạt. - Trường các hoạt động săn bắt của con người: Lưới, bẫy, bắn. đâm. * "lạnh": - Trường thời tiết và nhiệt độ: lạnh, nóng, hanh, ẩm, ấm, mát. - Trường tính chất của thực phẩm: Lạnh ( thịt lạnh), nóng ( cá sốt nóng) - Trường tính chất tâm lí hoặc tình cảm của người: Lạnh ( anh ấy hơi lạnh, mặt anh ấy lúc nào cũng lạnh như tiền ), nóng( ở bên chị ấy lúc nào cũng ấm áp; tính anh ấy nóng như lửa). * " phòng thủ": - Trường tự bảo vệ bằng sức mạnh của chính mình: phòng thủ, phòng ngự, cố thủ. - Trường các chiến lược, chiến thuật hoặc các phương án tác chiến của q đ: phòng thủ, phản công, tấn công, tổng tấn công. - Trường các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia: phòng thủ, tuần tiễu, tuần tra, trực chiến, canh gác. Bài tập 6: Những từ in đậm được chuyển từ trường từ vựng quân sự sang trường từ vựng nông nghiệp. * GV cho HS đọc lại đoạn văn trích trong văn bản " Cổng trường mở ra" và tìm xem có các trường từ vựng nào. " Vào đêm trước ngày khai trường của con...đang mút kẹo" VD:- Trường người ruột thịt: mẹ, con. * Từ nghe trong câu sau thuộc trường từ vựng nào? Nhà ai vừa chín quả đầu Đã nghe xóm trước vườn sau thơm lừng. D.Hướng dẫn về nhà và chuẩn bị bài học sau. Bài tập 7- SGK- 24. - Hướng dẫn: Tìm các từ chỉ hoạt động của người khi đá bóng, các từ chỉ đồ vật được dùng trong môn thể thao này, các từ chỉ lối chơi, các từ chỉ tính chất, mức độ của trận đấu... - Chuẩn bị : Bố cục của văn bản. Đọc trước phần ngữ liệu và xem lại bố cục của văn bản Tôi đi học. * Rút kinh nghiệm. Ngày soạn: 25 tháng 08 năm 2012 Ngày dạy lớp 8B: 27 tháng 08 năm 2012 Tiết 8 Bố cục của văn bản A. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức. - Bố cục của văn bản, tác dụng của việc xây dựng bố cục. 2. Kĩ năng: - Sắp xếp các đoạn văn trong bài văn theo một bố cục nhất định. - Vận dụng kiến thức về bố cục trong việc đọc - hiểu văn bản. 3. Thái độ: Hình thành thói quen viết văn theo bố cục. Có tính cách tốt ứng xử trong giao tiếp. B. Chuẩn bị: 1. Thầy: SGK- SGV- Soạn giáo án- Đọc tài liệu về văn bản - Thiết bị dạy học(bảng phụ) 2. Trò: SGK- Đọc ngữ liệu trong sách và tìm hiểu một sô các bài tập đơn giản. C. Tổ chức dạy và học Bước I: ổn định tổ chức lớp. - Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp ... Bước II: Kiểm tra bài cũ Trả lời các câu hỏi sau : Bước III : Bài mới Hoạt động1 : Tạo tâm thế + Thời gian : 1 phút + Phương pháp : thuyết trình. Trong khi nói và viết, chúng ta thường phải trình bày rõ ràng mạch lạc, đủ các phần trong một văn bản. Đặc biệt trong khi viết bài việc xây dựng bố cục cho một bài văn là công việc rất quan trọng vậy chúng ta cùng tìm hiểu bài học ngày hôm nay. Hoạt Động 2, 3, 4. Tri giác, phân tích, tổng hợp + Thời gian : 15 phút + Phương pháp-kĩ thuật : Vấn đáp ; Nêu vấn đề, thuyết trình, Phiêú học tập, ... Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cần đạt - Gọi Học sinh đọc văn bản "Người thầy đạo cao đức trọng". H. Văn bản trên có thể chia làm mấy phần? Tìm ranh giới giữa các phần đó? H. Hãy cho biết nhiệm vụ của từng phần trong văn bản? H. Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản? H. Từ việc phân tích bố cục của văn bản hãy cho biết bố cục của văn bản gồm mấy phần? Nội dung của từng phần là gì? Các phần của văn bản quan hệ với nhau như thế nào? - Mỗi phần có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng phải phù hợp với nhau. *Giáo viên chia nhóm. Nhóm 1: câu 1. Nhóm 2: câu 2. Nhóm 3: câu 3. Nhóm 4: câu 4. H: Phần thân bài văn bản "tôi đi học" được sắp xếp dựa trên những cơ sở chủ yếu nào? H. Các ý trong phần thân bài này được sắp xếp theo thứ tự nào? H. Hãy phân tích diễn biến tâm trạng của bé Hồng? H.Phần thân bài trong văn bản này được sắp xếp theo trình tự nào? H. Khi tả người, con vật, phong cảnh em sẽ lần lượt miêu tả theo trình tự nào? H. Hãy kể một số trình tự thường gặp mà em biết? H. Phân tích cách trình bày các ý làm sáng tỏ luận đề? "Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng". H. từ các bài tập trên và bằng những hiểu biết của em hãy cho biết cách sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản? Cách sắp xếp nội dung phần thân bài tùy thuộc vào các yếu tố nào? - 3 phần: *Mở bài: Giới thiệu ông Chu Văn An. *Thân bài: Kể về cuộc đời làm nghề *Kết bài: Tình cảm của trò đối với thầy. - Phần 2: Triển khai đề tài đã nêu ở phần mở bài. - Phần 3: Đánh giá kết luận đề tài. - Học sinh hoạt động theo các nhóm trả lời từng câu hỏi. + Nhóm 1: Sắp xếp theo sự hồi tưởng những kỉ niệm về buổi đến trường đầu tiên của tác giả. + Nhóm 2: Niềm thương mẹ và thái độ căm ghét cực độ những cổ tục đã đày đọa mẹ của bé khi nghe bà cô cố tình bịa đặt nói xấu mẹ mình. - Niềm vui sướng cực độ của bé Hồng khi ở trong lòng mẹ. + Nhóm 3: + Nhóm 4: thân bài gồm 2 ý kiến đánh giá về thầy Chu Văn An. - Chu Văn An là người tài cao. - Chu Văn An là người có đạo đức được học trò kính trọng. - Tùy thuộc vào kiểu bài. - Tùy thuộc vào ý đồ giao tiếp của người viết. I. Bố cục của văn bản. * Ví dụ : - Bố cục gồm 3 phần: + Mở bài: Giới thiệu + Thân bài: Triển khai + Kết bài: Đánh giá kết luận. II. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản. 1. Phần thân bài văn bản : Tôi đi học. - Thứ tự sắp xếp thời gian. 2. Tìm hiểu cách sắp xếp phần văn bản "trong lòng mẹ". - Sắp xếp theo diễn biến tâm trạng của bé Hồng. 3. Các trình tự khác.: - Thứ tự không gian, thời gian. 4. Tìm hiểu cách sắp xếp phần thân bài văn bản "Người thầy đạo cao đức trọng". III. Luyện tập. Hoạt động 5 : luyện tập. +Thời gian: phút +Phương pháp- Kĩ thuật: Vấn đáp, giải thích Phương pháp : Vấn đáp, giải thích, Khăn trải bàn, các mảnh ghép, dùng các phiếu ( Phần III, Vở LTNV); GV dùng lệnh yêu cầu HS đọc yêu cầu của từng bài tập và gợi ý cho các em làm bài tập. Bài tập 1: a. Trình bày theo thứ tự không gian: nhìn từ xa-đến gần- đến tận nơi- đi xa dần. b. Trình bày theo thứ tự thời gian: về chiều, lúc hoàng hôn. c. Hai luận cứ được sắp xếp theo tầm quan trọng của chúng đối với luận điểm cần chứng minh. Bài tập 3/26: - Cách sắp xếp chưa thật hợp lý. - Sắp xếp lại: + Giải thích câu tục ngữ. + Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ. D.Hướng dẫn về nhà và chuẩn bị bài học sau. + Bài 2: Đọc lại và chỉ ra cách sắp xếp ý trong phần thân bài của văn bản Trông lòng mẹ và thử sắp xếp lại sau đó nhận xét và đánh giá. - Soạn bài 3: Tức nước vỡ bờ. HS cần đọc trước phần chữ in nhỏ và chú thích trước khi soạn bài. * Rút kinh nghiệm:

【#2】Hướng Dẫn Soạn Bài Nhân Hóa Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2

Bài 22 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập hai. Nội dung bài Soạn bài Nhân hóa sgk Ngữ văn 6 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, tự sự, cảm thụ, phân tích, thuyết minh… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 6 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn lớp 6.

I – Nhân hóa là gì?

Khái niệm: Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn dược dùng để gọi hoặc tả con người.

– Làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người

– Biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.

1. Trả lời câu hỏi 1 trang 56 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Tìm phép nhân hoá trong khổ thơ sau:

Mặc áo giáp đen Muôn nghìn cây mía

(Trần Đăng Khoa)

Trả lời:

Phép nhân hóa trong khổ thơ:

– Ông trời mặc áo giáp đen ra trận.

– Muôn nghìn cây mía múa gươm.

– Kiến hành quân đầy đường.

2. Trả lời câu hỏi 2 trang 57 sgk Ngữ văn 6 tập 2

So với cách diễn đạt sau, cách miêu tả sự vật, hiện tượng ở khổ trên hay ở chỗ nào?

– Bầu trời đầy mây đen. – Muôn nghìn cây mía ngả nghiêng, lá bay phấp phới. – Kiến bò đẩy đường. Trả lời:

Cách miêu tả sự vật, hiện tượng ở khổ thơ trên hay hơn ở chỗ nó cho người đọc thấy dường như là con người đang hành động, không phải sự vật, con vật làm.

– Bầu trời đầy mây đen. Bầu trời trở nên gần gũi, có hồn hơn.

– Muôn nghìn cây mía ngả nghiêng, lá bay phấp phới. Những cây mía trong gió sắc sảo, uốn lượn.

– Kiến bò đẩy đường. Sự liên tưởng ngộ nghĩnh, thú vị.

II – Các kiểu nhân hóa

Có ba kiểu nhân hoá thường gặp:

– Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật.

– Dùng những từ vốn chí hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.

– Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người.

1. Trả lời câu hỏi 1 trang 57 sgk Ngữ văn 6 tập 2

a) Từ đó, lão Miệng, bác Tai, Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả.

(Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)

b) Gậy tre, chông tre, chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.

(Thép Mới)

Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày cho ta.

(Ca dao)

Trả lời:

Những sự vật được nhân hoá:

a) Miệng, Tai, Mắt,Chân,Tay.

b) Gậy tre, công tre, tre.

c) Trâu.

2. Trả lời câu hỏi 2 trang 57 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Dựa vào các từ in đậm, cho biết mỗi sự vật trên được nhân hoá bằng cách nào?

Trả lời:

Các nhân hoá những sự vật trong các câu văn, thơ:

– Câu a) dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi sự vật: lão, cô, bác, cậu.

– Câu b) dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật: “chống lại”, “xung phong”, “giữ”.

– Câu c) trò chuyện, xưng hô với vật như với người.

III – Luyện tập

1. Trả lời câu hỏi 1 trang 58 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của phép nhân hóa trong đoạn văn sau:

Bến càng lúc nào cũng đông vui. Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nước. Xe anh, xe em tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều bận rộn.

(Phong Thu)

Trả lời:

Phép nhân hóa: Bến cảng – đông vui; tàu mẹ, tàu con; xe anh, xe em- tíu tít; bận rộn.

Tác dụng: thể hiện không khí tươi vui, bận rộn của con người qua sự vật.

2. Trả lời câu hỏi 2 trang 58 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Bến cảng lúc nào cũng rất nhiều tàu xe. Tàu lớn tàu bé lúc nào cũng đậu mặt nước. Xe to, xe nhỏ nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều hoạt động liên tục. Trả lời:

– Đoạn văn này không sử dụng phép nhân hóa, Chỉ đơn thuần là đoạn văn miêu tả, kể lể thuần túy. Không gợi được sự sinh động, gần gũi hay mối liên hệ mật thiết giữa con người với thế giới sự vật.

– Đoạn văn ở câu 1 trên có nhiều phép nhân hoá, nhờ vậy mà sinh động và hấp dẫn hơn.

3. Trả lời câu hỏi 3 trang 58 sgk Ngữ văn 6 tập 2

– Cách 1:

Trong họ hàng nhà chổi thì cô bé Chổi Rơm vào loại xinh xăn nhất. Cô có chiếc váy vàng óng, không ai đẹp bằng. Áo của cô cũng bằng rơm thóc nếp vàng tươi, được tết săn lại, cuốn từng vòng quanh người, trông cứ như áo len vậy.

(Vũ Duy Thông)

– Cách 2:

Trong các loại chổi, chổi rơm vào loại đẹp nhất. Chổi được tết bằng rơm nếp vàng. Tau chổi được tết săn lại thành sợ và quấn quanh thành cuộn. Trả lời:

Sự khác nhau trong hai cách viết:

– Cách 1: Có dùng nhân hoá bằng cách gọi chổi rơm là cô bé, cô.

– Cách 2 Không dùng nhân hoá.

Vậy có thể dùng cách viết 1 cho văn bản biểu cảm, cách viết 2 cho văn thuyết minh.

4. Trả lời câu hỏi 4 trang 59 sgk Ngữ văn 6 tập 2

a) Núi cao chi lắm núi ơi

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương!

(Ca dao)

b) Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác tận đâu cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi. Suốt ngày, họ cãi cọ om bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một mồi tép, có những anh Cò gầy vêu vao ngày này bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếc mỏ, chẳng được miếng nào.

(Tô Hoài)

c) Dọc sông, những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước. […] Nước bị cản văng bọt tứ tung, thuyền vùng vằng cứ chực trút xuống, quay đầu chạy về lại Hòa Phước.

(Võ Quảng)

d) Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh dưới nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn.

(Nguyễn Trung Thành)

Trả lời:

a)

Núi ơi: Xưng hô với vật như đối với người.

Coi vật trở thành người tri âm, tri kỉ để bộc lộ tình cảm, giãi bày suy nghĩ, tình cảm trong lòng.

b)

(cua cá) tấp nập; (cỏ, vạc, sếu, le …) cãi cọ om sòm; họ (cò, sếu, vạc, le …), anh (cò): Dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động tính chất của người để chỉ vật.

Miêu tả bức tranh đời sống của động vật sống động như chính đời sống của con người.

c)

(chòm cổ thụ) dáng mãnh liệt, đứng trầm ngâm, lặng nhìn; (thuyền) vùng vằng: Dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động tính chất của người để chỉ vật.

Thế giới cây cối, đồ vật giàu sức sống, sinh động như chính thế giới của con người.

d)

(cày) bị thương; thân mình, vết thương, cục máu: Dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động tính chất của người để chỉ vật.

Cây xà nu được nhân hóa thể hiện sức sống kiên cường, bất khuất của con người và cây cối nơi đây.

5. Trả lời câu hỏi 5 trang 59 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Hãy viết một đoạn văn miêu tả ngắn với nội dung tự chọn, trong đó có sử dụng phép nhân hoá.

Trả lời:

Các em có thể tham khảo một trong các đoạn văn sau:

Bút Chì, chú Thước Kẻ mới đẹp làm sao! Cô Bút Chì mặc một chiếc áo màu đỏ ánh vàng còn chú Thước Kẻ thì khoá c trên mình áo màu xanh lam…

Trong vườn, những bông hoa đua nhau khoe sắc. Nụ hồng mỉm cười chúm chím. Hoa thược dược vươn cao trong bộ áo vàng, tím, đỏ. Cả những cành lay ơn khoe áo đẹp dưới ánh nắng ban mai. Cánh hoa trắng mịn màng, tinh khiết như đang nói với các bạn rằng:” Tôi là loài hoa mang đến niềm hạnh phúc cho mọi người”.

Bầu trời hôm nay thật đẹp và trong lành. Những cô mây nhẹ nhàng trôi theo chị gió đi tới những miền trời xa xôi. Dọc đường chị gió còn tinh nghịch nô đùa cùng hoa lá. Những bé sương đã thức giấc đang nhảy nhót trên những chiếc lá. Từ phía chân trời xa, mặt trời khe khẽ nhô lên tỏa những tia nắng ấm áp sưởi ấm muôn loài. Tất cả cùng tạo nên bức tranh buổi sớm thật tuyệt vời.

Anh mèo nhà tôi, mập ú, lông đen mượt, bộ ria dài cong vuốt. Từng chiếc móng sắc nhọn, vô tình cào cấu vào da thịt là chỗ ấy không ngừng quệt hồng. Trông thế thôi mà hay nghịch lắm. Mỗi lần gõ bát, chú không bao giờ vắng mặt, ngửi thấy mùi cá chú mò đến ngay. Chú mèo đáng yêu lắm, một người bạn thân thiết của tôi.

Mỗi sáng em thức dậy thì đã thấy ông Mặt Trời lấp ló sau đỉnh núi. Chị gió luôn thoang thoảng qua những cánh đồng. Cô mây múa lượn từng tăng trên bầu trời. Quang cảnh thiên nhiên thật đẹp. Trên con đường đến trường, cây xanh tô điểm cho con đường thêm xanh tươi, thêm sinh động. Em yêu lắm con đường quê em.

Bầu trời buổi sớm thật là trong lành. Những cô mây dậy sớm để lên núi dạo chơi. Các em bé sương tinh nghịch đang nhảy nhót trên những chiếc lá non. Ông mặt trời đứng dậy vươn vai sau một giấc ngử dài. Còn chị gió thì mải miết rong chơi và nô đùa cùng hoa lá. Lũ chim cũng đua nhau ca hát để đón chào một ngày mới. Tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp.

Thu đến. Những cơn gió mang theo hơi lạnh đã bắt đầu len lỏi khắp phố phường. Những chiếc lá vàng run rẩy lìa cành rơi xuống mặt đất. Bầu trời như chất chứa một nỗi sầu nhung nhớ. Nhưng dẫu sao mùa thu vẫn là mùa em thích nhất trong năm, và em vẫn mong mùa thu đến vô cùng.

Áp dụng

1. Tìm từ nhân hoá trong đoạn thơ sau

Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên lũy nên thành tre ơi ? Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu! Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chất dồn lâu hóa nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khố vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Trả lời:

Các từ nhân hóa là các từ: “gầy guộc”, “ơi”, “siêng”, “nghèo”, “cần cù”, “vươn mình”, “kham khổ”, “hát ru”, “yêu”, “đứng”.

2. Xác định kiểu nhân hoá và sự vật được nhân hoá trong mỗi trường hợp sau

a) Em hỏi cây kơ nia

Gió mày thối về đâu? Về phương mặt trời mọc.

(Bóng cây kơ nia, Ngọc Anh)

b) Vì sương nên núi bạc đầu

Biển lay bởi gió, hoa sầu vì mưa.

(Ca dao)

c) Bác Giun đào đất suốt ngày

Hôm nay chết dưới gốc cây sau nhà.

(Đám ma bác giun, Trần Đăng Khoa)

Trả lời:

a) Kiểu nhân hóa: Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người (hỏi, mày).

Sự vật được nhân hoá: Cây kơ nia, Gió.

b) Kiểu nhân hoá: Dùng từ chỉ hoạt động, tính chất của người đế chỉ vật (bạc đầu, sầu).

Sự vật được nhân hoá: Núi, Hoa.

c) Kiểu nhân hoá: Dùng từ vốn gọi người đế gọi vật (bác).

Sự vật được nhân hoá: Giun.

3. Tìm 5 câu thơ có sử dụng phép nhân hoá

Trả lời: a) Vung tay đón gió gật dầu gọi trăng. Cây dừa cao toá nhiều tàu b) Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi. Đứng canh trời đất bao la c) Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn. Chuông ơi, chuông nhỏ còn reo nữa? d) Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài! Trái bưởi kia vàng ngọt với ai Con cá bơi, yêu nước; Con chim ca, yêu trời.

(Cây dừa – Trần Đăng Khoa)

(Cây dừa – Trần Đăng Khoa)

(Bác ơi! – Tố Hữu)

(Bác ơi ! – Tố Hữu)

Trả lời:

(Tiếng ru – Tố Hữu)

4. Xác định từ ngữ có tác dụng nhân hoá trong đoạn truyện sau

Trả lời: Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi Con chó khóc đứng khóc ngồi Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi đồng riềng. Đến khi nó lớn nó quện nhau đi Tò vò ngồi khóc ti ti Nhện ơi, nhện hỡi! Nhện di đường nào? Nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu Ở đời không khéo chi đâu Chẳng qua củng chi hơn nhau chữ cần. Núi che mặt người chẳng thấy người thương.

Kiến đã được lên trên khô rồi, kiến mới tìm cách báo thù lại. Hễ bao giờ thấy con cá nào vố phúc lạc lên bờ là kiến rủ nhau từng dây, từng lũ đến mà cắn cá. Cá thấy vậy cũng giận lắm, cứ rình hề bao giờ nước tràn be bờ, trời làm lụt ngập, kiến ta xuống nước là cá lại bảo nhau ăn kiến như xưa “.

(Kiến với cá – Truyện ngụ ngôn)

Các từ ngữ có tác dụng nhân hoá như: “báo thù”, “báo nhau”, “rủ nhau”, “giận lắm”.

5. Tìm một số câu ca dao có sử dụng phép nhân hóa và phân tích tác dụng của chúng

Tác dụng chung: Lấy vật để nói người, hoặc nói với vật như nói với người, làm cho:

– Nội dung diễn đạt về vật thêm sinh động và có hồn.

– Những ý nghĩa cần diễn đạt về con người thêm tế nhị và kín đáo.

“Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

【#3】Soạn Văn Lớp 12: Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx

Soạn văn lớp 12 tập 1: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX. Câu 2: Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có thể chia làm 3 chặng:

Câu 1: Những nét chính về tình hình lịch sử, xã hôi, văn hóa có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

– Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho dân tộc, nhân dân và nền văn học mới.

– Nền văn học từ sau Cách mạng tháng Tám phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên đã thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ.

– Từ năm 1945 đến 1975, đất nước trải qua nhiều biến cố, sự kiện lớn, tác động sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật.

+ Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ hết sức vĩ đại, hào hùng.

+ Công cuộc xây dựng CNXH trên miền Bắc.

– Chiến tranh kéo dài, liên tục, khiến nền kinh tế nghèo nàn, điều kiện giao lưu với văn hóa nước ngoài hạn chế (chỉ tiếp xúc, ảnh hưởng của văn hóa, văn học các nước trong phe XHCN).

Câu 2: Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có thể chia làm 3 chặng:

Thành tựu chủ yếu của mỗi chặng:

– Chủ đề: phản ánh niềm vui sướng hồ hởi của nhân dân khi dành được thắng lợi trên mặt quân sự, ca ngợi tổ quốc, kêu gọi tinh thần đoàn kết. Từ 1946 trở đi bắt đầu ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp tin vào một tương lai tươi sáng hơn.

– Thể loại:

– Truyện ngắn:

+ Các tác phẩm tiêu biểu: Kí sự một lần tới thủ đô, Đôi mắt, Thư nhà.

+ Từ 1950 xuất hiện những tập truyện kí khá dày: Vùng mỏ, Xung kích.

– Thơ đạt thành tựu xuất sắc tiêu biểu có: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Bên kia sông Đuống, Tây tiến, …

– Kịch: Bắc sơn, Chị hòa.

– Lí luận phê bình: chưa phát triển lắm nhưng có một số sự kiện quan trọng chủ nghĩa Mác và những vấn đề văn hóa của Trường Chinh.

– Chủ đề: ca ngợi công cuộc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phản ánh nỗi đau chia cắt nước nhà.

– Thể loại:

– Truyện ngắn: mở rộng đề tài, mở rộng phạm vi thâm nhập đến từng ngóc ngách của đời sống xã hội.

+ Đề tài kháng chiến chống Pháp: Sống mãi với thủ đô, Cao điểm cuối cùng.

+ Đề tài hiện thực cuộc sống: Vợ nhặt, Tranh tối tranh sáng.

+ Công cuộc xây dựng CNXH: Người lái đò sông Đà, Mùa lạc, Cái sân gạch.

– Thơ: có sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực: Gió lộng, Ánh sáng và phù sa, Riêng chung.

– Chủ đề: ca ngợi tình thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

– Thể loại:

– Truyện kí:

+ Miền Nam: phản ánh cuộc chiến đấu gian nan của miền Nam: Rừng xà nu, Người mẹ cầm súng.

+ Miền Bắc: kí chống mỹ, truyện ngắn của Vũ Thành Long.

– Thơ: phát triển với khuynh hướng đào sâu vào hiện thực với những cái tên như Phạm tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Chính Hữu …

– Kịch: có nhiều phát triển ví dụ như kịch quê hương Việt Nam thời tiết ngày nay.

Câu 3: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 – 1975

– Văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của đất nước

+ Nền văn học mới được kiến tạo theo mô hình ” Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn – chiến sĩ. Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao, nhà văn gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu.

+ Văn học tập trung vào đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn xuyên suốt thơ ca và truyện kí.

+ Cùng với đề tài Tổ quốc, chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học giải đoạn này. Văn học đề cao lao động, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, của con người mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau ngày giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh.

– Nền văn học gắn liền với quần chúng nhân dân.

+ Văn học gắn bó sâu sắc với nhân dân lao động, hướng về đại chúng và trước hết là công nông binh.

+ Văn học mang tính nhân dân sâu sắc, thể hiện bằng việc nhà văn quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động, nói lên những nỗi bất hạnh của họ trong cuộc sống cũng như niềm vui, tự hào của họ về cuộc đời mới, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng; tập trung khắc họa hình tượng quần chúng cách mạng, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động.

– Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

+ Văn học mang đậm chất sử thi, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Nó hướng tới những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, hướng tới vẻ đẹp cao cả, lí tưởng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng lời văn trang trọng và đẹp một cách hào hùng, tráng lệ. Đó là vẻ đẹp của Người mẹ cầm súng, của Người con gái Việt Nam, của Dáng đứng Việt Nam

+ Khuynh hướng sử thi thường được kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên nét thẩm mĩ đặc trưng cho nền văn học chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc.

Câu 4: Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa, hãy giải thích vì sao văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX phải đổi mới.

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo và đã từng bước chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học. Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học.

Câu 5: Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX

Giai đoạn văn học từ năm 1975 đến hết thể kỉ XX có thể chia làm hai thời kì nhỏ là từ năm 1975 đến năm 1985 và từ sau năm 1986 trở đi. Từ năm 1975 đến năm 985 là chặng đường chuyển tiếp, trăn trở; từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học có nhiều đổi mới. Văn học trong giai đoạn này bộc lộ tiếng lòng và những trắc ẩn đối với con người; nó nở rộ những trường ca với mục đích tổng kết, khái quát về chiến tranh; chất nhân dân, nhân văn được đề cao hơn, đi sâu vào những nỗi đau và bất hạnh của từng thân phận con người sau chiến tranh.

Đổi mới văn học trong giai đoạn này có thể hiểu là đổi mới cách viết về chiến tranh, đối mới cách nhìn nhận về con người, khám phá ra trong con người những mối quan hệ đa dạng, phức tạp chứ không đơn điệu như trước đây.

Các tác giả tiêu biểu của giai đoạn này có thể kể đến là Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Xuân Quỳnh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy, Ma Văn Kháng, Trần Nhuận Minh … Các tác phẩm như Đất trắng, Hai người trở lại trung đoàn, Đứng trước biển, Cù lao Tràm, Cha và con, Gặp gỡ cuối năm, Mùa lá rụng trong vườn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Tướng về hưu, Bến không chồng, Nỗi buồn chiến tranh, Cát bụi chân ai, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, …

Trên lĩnh vực kịch cũng có nhiều tác phẩm biểu hiện như Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang; Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#4】Em Hãy Tóm Tắt Và Soạn Thảo Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Tài Liệu Học Tập

Tóm tắt văn bản:

Chị Dậu bưng bát cháo đến bên chồng “Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột”. Anh Dậu mới kề bát cháo đến miệng thỡ cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến thúc sưu. Chị Dậu từ tốn van xin khất số tiền sưu còn thiếu. Cai lệ quát mắng chị sa sả nhưng chị vẫn cố chịu nhẫn nhục van xin. Cai lệ không nghe lời van xin của chị Dậu, hắn đánh chị và sấn đến trói anh Dậu. Chị Dậu liều cự lại đánh tên cai lệ và người nhà lí trưởng với cơn giận không nguôi “Thà ngồi tù. dể cho chúng làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được.”

– Bố cục văn bản:

+ Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng

+ Cảnh chị Dậu đối mặt với bọn tay sai

Đọc – hiểu văn bản:

Câu 1: Bọn thống trị ra sức bắt thuế.

– Anh Dậu thiếu 1 suất thuế của người em đã chết.

Câu 2:

Cai lệ là viên cai chỉ huy 1 tốp lính phục vụ hầu hạ nơi quan nha chỉ là chức quan thấp nhất trong quân đội chế độ Td Pháp.

– Hắn là tên tay sai đến để tróc thuế người dân.

– Anh Dậu còn thiếu suất thuế của người em đã chết từ năm ngoái.

– Hắn sầm sập tiến vào, trợn ngược 2 mắt chửi chị Dậu: Mày định nói cho cha mày nghe đấy à?…rồi hầm hè đe doạ: Nếu ko có tiền nộp sưu cho ông, ông dở cả nhà mày đi…

– Hắn sai trói anh Dậu, khi tên kia còn lóng ngóng thì hắn đùng

đùng giật phắt cái thừng, chạy đến bịch vào ngực chị Dậu, sấn đến để trói anh, bị chị ngăn cản, hắn tát vào mặt chị đánh bốp…

– Hắn ko cần biết anh Dậu là người ốm nặng, chị Dậu là phụ nữ yếu đuối.

– Hắn hung dữ, đánh trói người là nghề của hắn, hắn lại nhân danh nhà nước phép nước để hành động nên ko hề ngần ngại.

Câu 3:

Đọc Tắt Đèn, qua cuộc đời chị Dậu, ta hiểu biết được khá sâu sắc cuộc sống của nhân dân ta, của người phụ nữ nông dân Việt Nam trước đây dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Hình tượng chị Dậu với những nét điển hình về nỗi khổ sở ( chị cần cù làm ăn hết năm này sang năm khác, cùng chồng đấu tắt mặt tối, không dám chơi ngày nào, mà vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Gia đình ở trong một căn nhà chật hẹp mà chủ nợ còn doạ cắm làm chuồng xí. Với chúng, ngôi nhà ngoài giá trị ấy ra không còn giá trị nào khác. Chị không còn một tài sản nào có thể bán để nộp sưu, ngoài mấy đứa con, đàn chó, hai gánh khoai…), đau xót ( vì phải nhìn đám con ngồi mót khoai, nhưng đã đói vàng cả mắt không nhặt được nữa; đau xót vì phải nghe đứa con van xin ” thầy u đừng bán con”. Đau xót vì phải bỏ cả gia đình, làng mạc lên tỉnh đi ở vú… ), và những đức tính phẩm cách trong sạch ( chị hi sinh tất cả cuộc đời cho chồng, cho con; chị luôn luôn bảo vệ phẩm cách trong sạch và đã có dũng khí để đấu tranh… ), đã có một tác dụng tố cáo lớn, rạch toang cái màn nhung che đậy sự thối nát của bọn quan lại cường hào, địa chủ sống phè phỡn, dâm dục trên xương máu mồ hôi, nước mắt của nông dân.

Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn. Trong cái đêm tối của xã hội cũ, cái “đốm sáng” càng sáng, vì vậy mà ngày nay hình tượng chị Dậu mãi mãi sống trong lòng chúng ta. Chúng ta vừa thương mến, vừa kính phục chị. Xót xa cho cuộc đời chị, chúng ta càng thêm căm ghét cái xã hội bạo tàn đã vùi dập chị

Câu 4: Tức nước vỡ bờ là đoạn trích của tác phẩm Tắt đèn đã cho ta thấy sự can đảm của chị dậu, vì bảo vệ chồng nên chị đã dám chống lại bọn tay sai, ý nghĩa của câu tức nước vỡ bờ là(ví dụ nhu 1 li nước gần đầy mà lại thêm nhiều giọt nước nữa thì nước trong li sẽ tràn ra ngoài và đó cũng chính là lòng căm thù giặc của chi Dậu, khiến cho chị Dậu phải đứng lên chống lại)tức nước vỡ bờ là như vậy

“Tức nước vỡ bờ “cũng chính là nội dung của đoạn trik trong tp “Tắt đèn “của Ngô Tất Tố.

Ví dụ như ở đê vậy, khi nước nhiều và mạnh, dâng lên thì sắt sẽ vỡ đê.

Cũng giống như chị Dậu, nhịn trong lòng lâu rồi, thậm chí phải hạ giọng để cầu xin nhà ông lí nhưng đổi lại ko đc gì, cục tức, sự căm hờn, fẫn nộ của hcị như nước ấy, đã bắt đầu dâng lên và ngập ứ rồi, nó đnag chực trào ra, vì thế khi chị Dậu vùng lên để đánh ng nhà lí trưởng cũng là lúc bờ vỡ, khi đó mức chị đựng đã quá rồi

Cũng giống câu “Con giun xéo lắm cũng quằn “ấy mà

Câu 5: Có trong tờ văn mẫu

Câu 6: Tắt đèn có nhiều nét giống Lão Hạc, Chí Phèo…Tất cả đều viết về quá trình bần cùng hóa của người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng tám.Ở đó, người nông dân mỗi người mỗi cảnh bị bóc lột theo mỗi kiểu khác nhau.Thế nhưng cuối cùng hậu quả của sự bóc lột lại giống nhau:họ đều mất heat chẳng còn gì.Tuy nhiên không phải lúc nào người nông dân cũng cuối đầu cam chịu.Trong Tức nước vỡ bờ có những lúc họ đã vùng lean.Tất nhiên có sự “nổi day” được nhà văn sắp đặt.Chẳng thế mà có người đã đưa ra nhân xét vô cùng xác đáng “Với tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn” (Nguyễn Tuân).

Thực ra khái niệm “nổi loạn”ở nay phải hiểu khá là linh hoạt.Về cơ bản đó chỉ là những cuộc vùng lean tự phát theo kiểu “con giun xéo mãi cũng quần”, theo kiểu “tức nước” thì “vỡ bờ”.Sự nổi loạn ấy chưa phải là sự đấu tranh được tính toán kỹ càng mà chỉ là sự phản ứng khi bị nay đến đường cùng.Thực tế đã cho thấy các tác phẩm văn học hiện thực của Việt Nam trong giai đoạn này đã dựng lên hàng loạt cuộc đời với sự vùng lên như vậy.

Riêng các sự “xui” ở tác phẩm Tắt đèn như lời nhận xét của Nguyễn Tuân, chúng ta lại cũng phải nhìn trong cái tương quan với những điều đã nêu trên.Chúng ta biết nhân vật là của nhà văn nhưng không phải trong quá trình sáng tạo, ta muốn đặt vào nhân vật điều gì theo ý muốn chủ quan cũng được.Nhân vật cũng giống như con người ngoài cuộc sống.Họ phải va chạm với các tính cách khác trong một môi trường nhất định.Ở tác phẩm này, chị Dậu được đặt trong tương quan với nhiều nhân vật nhưng đặc biệt là mối quan hệ với vợ chồng Nghị Quế và bọn tay sai, quan lại ở làng Đông Xá.Đó là những mối tương quan nghẹn thou và không phải cứ muốn là có thể “nổi loạn” dễ dàng như cái anh chàng say Chí Phèo kia được.Vậy ở đây, Ngô Tất Tố muốn “xui” nhân vật của mình phá phách nghĩa là phải tạo ra nay đủ những tiền đề (những mâu thuẫn giàu kịch tính) để nhân vật buộc phải bộc lộ cái bản năng sống trong hoàn cảnh quẫn cùng.

Cái “xui” ấy được nhà văn sắp xếp dàn trải và tăng cấp.Nhưng có thể nói lần nổi loạn của chị nông dân làng Đông Xá ở đoạn trích Tức nước vỡ bờ là lần ghê gớm nhất.

Thuế thân, hai tiếng vừa cất lên đã khiến nhiều người phải rùng mình.Nhà chị Dậu cũng hãi hùng khi nghe đến hai từ kinh sợ ấy.Nhà chị nghèo lại kèm năm sáu miệng ăn.Ở trong cái làng Đông Xá ấy có đi làm thêm cả cái nghề kẻ cướp cũng chẳng đủ ăn chứ nhà chị làm ăn hiền lành thì khổ lame.Mùa sưu thuế đến, nhà chị bán sạch sành sanh cũng chẳng đủ một suất thuế thân.Anh Dậu chồng chị vì thế mà bị bọn nha dịch lôi ra đình đánh cho nhừ tử.Chị Dậu đau long xót ruột gửi đám con nheo nhóc chạy vay khắp nơi.May thay chị kiếm đủ tiền lo suất sưu cho anh chồng đương sắp chết.Nhưng thay, suất của chồng vừa mới gón gém lo xong lại sinh ra suất sưu của chú Hợi.Mà chú ấy thì chết đã lâu, chỉ vì cái sự nhập nhằng giữa lịch Ta lịch Tây mà chị Dậu lạ thêm một phen phải lao đao.Tiền nộp sưu không có, cứ thế là những đợt roi thước lại đổ liên hồi trên cái bộ xương của anh Dậu.Ôi! Còn cái đau dớn nào hơn với một người vợ khi cứ nhìn tận mắt cái cảnh chồng mình bị hành hạ đến chết mòn.

May thay bọn nha dịch lại cho phép anh về.Chị Dậu cõng anh về rồi nấu ngay nồi cháo (có được là nhờ long thong của bà hàng xóm).Nhưng cháo chưa kịp húp thị bọn nha dịch tay dao tay thước lại rầm rập xông vào.Thế là căn nhà rách nát của chị Dậu ầm lên tiếng kêu xin, tiếng chửi mắng, tiếng đấm đá bùm bụp.Chị Dậu vẫn kiên nhẫn kêu xin nhưng sự chịu đựng chỉ có hạn.Khi tên cai lệ cứ vừa thụi vào ngực chị, vừa tát vào mặt chị lại còn sấn sổ lao vào anh Dậu thì cái giới hạn của sự chịu đựng rất mong manh kia òa vỡ. Chị Dậu vùng lên quyết liệt và khỏe mạnh.Chị túm, chị dúi, chị lẳng tên nha dịch bằng sức của đàn bà lực điền và bằng cả sự tức giận của còn giun xéo lâu ngày.Ngay lúc ấy chị không can thiết phải nể sợ ai.Lúc ấy trong chị, sự tức giận trùm lấy đi tất cả. Chị vùng lên và “nổi loạn”.

Như vậy ở trong cả truyện Tắt đèn và nhất là đoạn trích Tức nước vỡ bờ, Ngô Tất Tố đã dựng lên được một chuỗi những tình huống mâu thuẫn giàu kịch tính.Các tình huống ấy đã đẩy chị Dậu vào cái thế quẫn cùng mà vùng lên “nổi loạn”.Sự nổi loạn ấy hoàn toàn tự phát.Đó là sự vùng lên rất tự nhiên của con người khi cái giới hạn chịu đựng đã bị phá vỡ.

chúng tôi

【#5】Em Hãy Tóm Tắt Và Soạn Thảo Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ

Em hãy tóm tắt và soạn thảo văn bản Tức nước vỡ bờ

Tóm tắt văn bản:

Chị Dậu bưng bát cháo đến bên chồng “Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột”. Anh Dậu mới kề bát cháo đến miệng thỡ cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến thúc sưu. Chị Dậu từ tốn van xin khất số tiền sưu còn thiếu. Cai lệ quát mắng chị sa sả nhưng chị vẫn cố chịu nhẫn nhục van xin. Cai lệ không nghe lời van xin của chị Dậu, hắn đánh chị và sấn đến trói anh Dậu. Chị Dậu liều cự lại đánh tên cai lệ và người nhà lí trưởng với cơn giận không nguôi “Thà ngồi tù. dể cho chúng làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được.”

– Bố cục văn bản:

+ Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng

+ Cảnh chị Dậu đối mặt với bọn tay sai

Đọc – hiểu văn bản:

Câu 1: Bọn thống trị ra sức bắt thuế.

– Anh Dậu thiếu 1 suất thuế của người em đã chết.

Câu 2:

Cai lệ là viên cai chỉ huy 1 tốp lính phục vụ hầu hạ nơi quan nha chỉ là chức quan thấp nhất trong quân đội chế độ Td Pháp.

– Hắn là tên tay sai đến để tróc thuế người dân.

– Anh Dậu còn thiếu suất thuế của người em đã chết từ năm ngoái.

– Hắn sầm sập tiến vào, trợn ngược 2 mắt chửi chị Dậu: Mày định nói cho cha mày nghe đấy à?…rồi hầm hè đe doạ: Nếu ko có tiền nộp sưu cho ông, ông dở cả nhà mày đi…

– Hắn sai trói anh Dậu, khi tên kia còn lóng ngóng thì hắn đùng

đùng giật phắt cái thừng, chạy đến bịch vào ngực chị Dậu, sấn đến để trói anh, bị chị ngăn cản, hắn tát vào mặt chị đánh bốp…

– Hắn ko cần biết anh Dậu là người ốm nặng, chị Dậu là phụ nữ yếu đuối.

– Hắn hung dữ, đánh trói người là nghề của hắn, hắn lại nhân danh nhà nước phép nước để hành động nên ko hề ngần ngại.

Câu 3:

Đọc Tắt Đèn, qua cuộc đời chị Dậu, ta hiểu biết được khá sâu sắc cuộc sống của nhân dân ta, của người phụ nữ nông dân Việt Nam trước đây dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Hình tượng chị Dậu với những nét điển hình về nỗi khổ sở ( chị cần cù làm ăn hết năm này sang năm khác, cùng chồng đấu tắt mặt tối, không dám chơi ngày nào, mà vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Gia đình ở trong một căn nhà chật hẹp mà chủ nợ còn doạ cắm làm chuồng xí. Với chúng, ngôi nhà ngoài giá trị ấy ra không còn giá trị nào khác. Chị không còn một tài sản nào có thể bán để nộp sưu, ngoài mấy đứa con, đàn chó, hai gánh khoai…), đau xót ( vì phải nhìn đám con ngồi mót khoai, nhưng đã đói vàng cả mắt không nhặt được nữa; đau xót vì phải nghe đứa con van xin ” thầy u đừng bán con”. Đau xót vì phải bỏ cả gia đình, làng mạc lên tỉnh đi ở vú… ), và những đức tính phẩm cách trong sạch ( chị hi sinh tất cả cuộc đời cho chồng, cho con; chị luôn luôn bảo vệ phẩm cách trong sạch và đã có dũng khí để đấu tranh… ), đã có một tác dụng tố cáo lớn, rạch toang cái màn nhung che đậy sự thối nát của bọn quan lại cường hào, địa chủ sống phè phỡn, dâm dục trên xương máu mồ hôi, nước mắt của nông dân.

Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn. Trong cái đêm tối của xã hội cũ, cái “đốm sáng” càng sáng, vì vậy mà ngày nay hình tượng chị Dậu mãi mãi sống trong lòng chúng ta. Chúng ta vừa thương mến, vừa kính phục chị. Xót xa cho cuộc đời chị, chúng ta càng thêm căm ghét cái xã hội bạo tàn đã vùi dập chị

Câu 4: Tức nước vỡ bờ là đoạn trích của tác phẩm Tắt đèn đã cho ta thấy sự can đảm của chị dậu, vì bảo vệ chồng nên chị đã dám chống lại bọn tay sai, ý nghĩa của câu tức nước vỡ bờ là(ví dụ nhu 1 li nước gần đầy mà lại thêm nhiều giọt nước nữa thì nước trong li sẽ tràn ra ngoài và đó cũng chính là lòng căm thù giặc của chi Dậu, khiến cho chị Dậu phải đứng lên chống lại)tức nước vỡ bờ là như vậy

“Tức nước vỡ bờ “cũng chính là nội dung của đoạn trik trong tp “Tắt đèn “của Ngô Tất Tố.

Ví dụ như ở đê vậy, khi nước nhiều và mạnh, dâng lên thì sắt sẽ vỡ đê.

Cũng giống như chị Dậu, nhịn trong lòng lâu rồi, thậm chí phải hạ giọng để cầu xin nhà ông lí nhưng đổi lại ko đc gì, cục tức, sự căm hờn, fẫn nộ của hcị như nước ấy, đã bắt đầu dâng lên và ngập ứ rồi, nó đnag chực trào ra, vì thế khi chị Dậu vùng lên để đánh ng nhà lí trưởng cũng là lúc bờ vỡ, khi đó mức chị đựng đã quá rồi

Cũng giống câu “Con giun xéo lắm cũng quằn “ấy mà

Câu 5: Có trong tờ văn mẫu

Câu 6: Tắt đèn có nhiều nét giống Lão Hạc, Chí Phèo …Tất cả đều viết về quá trình bần cùng hóa của người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng tám.Ở đó, người nông dân mỗi người mỗi cảnh bị bóc lột theo mỗi kiểu khác nhau.Thế nhưng cuối cùng hậu quả của sự bóc lột lại giống nhau:họ đều mất heat chẳng còn gì.Tuy nhiên không phải lúc nào người nông dân cũng cuối đầu cam chịu.Trong Tức nước vỡ bờ có những lúc họ đã vùng lean.Tất nhiên có sự “nổi day” được nhà văn sắp đặt.Chẳng thế mà có người đã đưa ra nhân xét vô cùng xác đáng “Với tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn” (Nguyễn Tuân).

Thực ra khái niệm “nổi loạn”ở nay phải hiểu khá là linh hoạt.Về cơ bản đó chỉ là những cuộc vùng lean tự phát theo kiểu “con giun xéo mãi cũng quần”, theo kiểu “tức nước” thì “vỡ bờ”.Sự nổi loạn ấy chưa phải là sự đấu tranh được tính toán kỹ càng mà chỉ là sự phản ứng khi bị nay đến đường cùng.Thực tế đã cho thấy các tác phẩm văn học hiện thực của Việt Nam trong giai đoạn này đã dựng lên hàng loạt cuộc đời với sự vùng lên như vậy.

Riêng các sự “xui” ở tác phẩm Tắt đèn như lời nhận xét của Nguyễn Tuân, chúng ta lại cũng phải nhìn trong cái tương quan với những điều đã nêu trên.Chúng ta biết nhân vật là của nhà văn nhưng không phải trong quá trình sáng tạo, ta muốn đặt vào nhân vật điều gì theo ý muốn chủ quan cũng được.Nhân vật cũng giống như con người ngoài cuộc sống.Họ phải va chạm với các tính cách khác trong một môi trường nhất định.Ở tác phẩm này, chị Dậu được đặt trong tương quan với nhiều nhân vật nhưng đặc biệt là mối quan hệ với vợ chồng Nghị Quế và bọn tay sai, quan lại ở làng Đông Xá.Đó là những mối tương quan nghẹn thou và không phải cứ muốn là có thể “nổi loạn” dễ dàng như cái anh chàng say Chí Phèo kia được.Vậy ở đây, Ngô Tất Tố muốn “xui” nhân vật của mình phá phách nghĩa là phải tạo ra nay đủ những tiền đề (những mâu thuẫn giàu kịch tính) để nhân vật buộc phải bộc lộ cái bản năng sống trong hoàn cảnh quẫn cùng.

Cái “xui” ấy được nhà văn sắp xếp dàn trải và tăng cấp.Nhưng có thể nói lần nổi loạn của chị nông dân làng Đông Xá ở đoạn trích Tức nước vỡ bờ là lần ghê gớm nhất.

Thuế thân, hai tiếng vừa cất lên đã khiến nhiều người phải rùng mình.Nhà chị Dậu cũng hãi hùng khi nghe đến hai từ kinh sợ ấy.Nhà chị nghèo lại kèm năm sáu miệng ăn.Ở trong cái làng Đông Xá ấy có đi làm thêm cả cái nghề kẻ cướp cũng chẳng đủ ăn chứ nhà chị làm ăn hiền lành thì khổ lame.Mùa sưu thuế đến, nhà chị bán sạch sành sanh cũng chẳng đủ một suất thuế thân.Anh Dậu chồng chị vì thế mà bị bọn nha dịch lôi ra đình đánh cho nhừ tử.Chị Dậu đau long xót ruột gửi đám con nheo nhóc chạy vay khắp nơi.May thay chị kiếm đủ tiền lo suất sưu cho anh chồng đương sắp chết.Nhưng thay, suất của chồng vừa mới gón gém lo xong lại sinh ra suất sưu của chú Hợi.Mà chú ấy thì chết đã lâu, chỉ vì cái sự nhập nhằng giữa lịch Ta lịch Tây mà chị Dậu lạ thêm một phen phải lao đao.Tiền nộp sưu không có, cứ thế là những đợt roi thước lại đổ liên hồi trên cái bộ xương của anh Dậu.Ôi! Còn cái đau dớn nào hơn với một người vợ khi cứ nhìn tận mắt cái cảnh chồng mình bị hành hạ đến chết mòn.

May thay bọn nha dịch lại cho phép anh về.Chị Dậu cõng anh về rồi nấu ngay nồi cháo (có được là nhờ long thong của bà hàng xóm).Nhưng cháo chưa kịp húp thị bọn nha dịch tay dao tay thước lại rầm rập xông vào.Thế là căn nhà rách nát của chị Dậu ầm lên tiếng kêu xin, tiếng chửi mắng, tiếng đấm đá bùm bụp.Chị Dậu vẫn kiên nhẫn kêu xin nhưng sự chịu đựng chỉ có hạn.Khi tên cai lệ cứ vừa thụi vào ngực chị, vừa tát vào mặt chị lại còn sấn sổ lao vào anh Dậu thì cái giới hạn của sự chịu đựng rất mong manh kia òa vỡ. Chị Dậu vùng lên quyết liệt và khỏe mạnh.Chị túm, chị dúi, chị lẳng tên nha dịch bằng sức của đàn bà lực điền và bằng cả sự tức giận của còn giun xéo lâu ngày.Ngay lúc ấy chị không can thiết phải nể sợ ai.Lúc ấy trong chị, sự tức giận trùm lấy đi tất cả. Chị vùng lên và “nổi loạn”.

Như vậy ở trong cả truyện Tắt đèn và nhất là đoạn trích Tức nước vỡ bờ, Ngô Tất Tố đã dựng lên được một chuỗi những tình huống mâu thuẫn giàu kịch tính.Các tình huống ấy đã đẩy chị Dậu vào cái thế quẫn cùng mà vùng lên “nổi loạn”.Sự nổi loạn ấy hoàn toàn tự phát.Đó là sự vùng lên rất tự nhiên của con người khi cái giới hạn chịu đựng đã bị phá vỡ.

chúng tôi

Từ khóa tìm kiếm:

【#6】Hướng Dẫn Soạn Bài Sông Nước Cà Mau Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2

Hướng dẫn Soạn Bài 19 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập hai. Nội dung bài Soạn bài Sông nước Cà Mau sgk Ngữ văn 6 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, tự sự, cảm thụ, phân tích, thuyết minh… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 6 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn lớp 6.

Văn bản

1. Thể loại

Văn miêu tả.

2. Bố cục

– Đoạn 1 : từ đầu đến ” lặng lẽ một màu xanh đơn điệu” – Những ấn tượng chung ban đầu về thiên nhiên Cà Mau.

– Đoạn 2: tiếp theo đến ” khói sóng ban mai” – Nói về các kênh rạch ở vùng Cà Mau và tập trung miêu tả con sông Năm Căn rộng lớn.

– Đoạn 3: còn lại: cảnh chợ Năm Căn đông vui, trù phú và nhiều màu sắc độc đáo.

3. Tóm tắt

Bài văn miêu tả cảnh quan thiên nhiên, sông nước vùng Cà Mau, mảnh đất tận cùng phía nam của Tổ quốc. Cảnh thiên nhiên ở đây thật rộng lớn, hoang dã và hùng vĩ, đặt biệt là những dòng sông và rừng đước. Cảnh chợ Năm Căn là hình ảnh trù phú, độc đáo, tấp nập về sinh hoạt của con người ở vùng đất ấy.

4. Nghệ thuật

– Ngôi kể thứ nhất (tôi), trực tiếp quan sát, miêu tả cảnh từ trên thuyền.

– Sử dụng nhiều phương thức và thủ pháp miêu tả (quan sát, so sánh, tưởng tượng), nhất là việc huy động nhiều giác quan để cảm nhận và tô đậm ấn tượng.

– Miêu tả bao quát đến cụ thể một cách hấp dẫn.

– Sử dụng ngôn ngữ địa phương.

– Kết hợp miêu tả và thuyết minh.

Đọc – Hiểu văn bản

1. Trả lời câu hỏi 1 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Bài văn miêu tả cảnh gì? Theo trình tự như thế nào? Dựa vào trình tự ấy em hãy tìm bố cục của bài văn.

Em hãy hình dung vị trí quan sát của người miêu tả. Vị trí ấy có thuận lợi gì trong việc quan sát và miêu tả.

Trả lời:

– Bài văn miêu tả về cảnh quan sông nước vùng Cà Mau ở cực Nam Tổ quốc. Trình tự miêu tả trong bài đi từ những ấn tượng chung về thiên nhiên vùng đất Cà Mau, rồi tập trung miêu tả, thuyết minh về các kênh rạch, sông ngòi với cảnh vật hai bên bờ, cuối cùng là cảnh chợ Năm Căn họp ngay trên mặt sông.

– Bài văn chia thành ba đoạn:

+ Đoạn 1 : từ đầu đến ” lặng lẽ một màu xanh đơn điệu” – Những ấn tượng chung ban đầu về thiên nhiên Cà Mau.

+ Đoạn 2: tiếp theo đến ” khói sóng ban mai” – Nói về các kênh rạch ở vùng Cà Mau và tập trung miêu tả con sông Năm Căn rộng lớn.

+ Đoạn 3: còn lại: cảnh chợ Năm Căn đông vui, trù phú và nhiều màu sắc độc đáo.

– Vị trí quan sát của người miêu tả là ở trên thuyền. Vị trí ấy giúp người miêu tả có thể miêu tả lần lượt về các con sông, kênh rạch và cảnh vật hai bên bờ, có thể dừng lại miêu tả kĩ hoặc lướt qua.

2. Trả lời câu hỏi 2 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Trong đoạn văn (từ đầu đến lặng lẽ một màu xanh đơn điệu) tác giả diễn tả ấn tượng ban đầu bao trùm về sông nước vùng Cà Mau. Ấn tượng ấy như thế nào và được cảm nhận qua những giác quan nào?

Trả lời:

– Ấn tượng ban đầu bao trùm về sông nước vùng Cà Mau:

+ Không gian rộng lớn mênh mông.

+ Sông ngòi kênh rạch chằng chịt.

+ Tất cả được bao bọc bởi màu xanh của trời, nước của rừng cây.

+ Tiếng rì rào của rừng của sóng biển Đông.

+ Không gian tạo cảm giác đơn điệu như ru ngủ.

– Ấn tượng ấy được cảm nhận các giác quan : thị giác, thính giác, cảm giác.

3. Trả lời câu hỏi 3 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Qua đoạn văn nói về cách đặt tên cho các dòng sông, con kênh ở vùng Cà Mau, em có nhận xét gì về các địa danh ấy? Những địa danh này gợi ra đặc điểm gì về thiên nhiên vùng Cà Mau?

Trả lời:

Cách đặt tên cho các dòng sông, con kênh không phải bằng những danh từ mĩ lệ, mà cứ theo đặc điểm riêng biệt của nó mà tạo thành tên: Chà Là, Cái Keo, Bảy Háp, Múi Giầm, Ba Khía … góp phần làm nên màu sắc địa phương không thể trộn lẫn với các vùng sông nước khác.

Cách đặt tên như vậy đã cho thấy thiên nhiên ở đây còn rất tự nhiên, hoang dã, phong phú; con người sống rất gần với thiên nhiên.

4. Trả lời câu hỏi 4 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Em hãy đọc kĩ lại đoạn văn từ Thuyền chúng tôi chèo thoát qua đến sương mù và khói sóng ban mai và trả lời các câu hỏi:

a) Tìm những chi tiết thể hiện sự rộng lớn, hùng vĩ của dòng sông và rừng đước.

b) Trong câu ” Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông cửa lớn, xuôi về Năm Căn ” có những động từ nào chỉ cùng một hoạt động của con thuyền? Nếu thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu thì có ảnh hưởng gì đến nội dung được diễn đạt không? Nhận xét về sự chính xác và tinh tế trong cách dùng từ PDF EPUB PRC AZW miễn phí đọc trên điện thoại – máy tính, ứng dụng đọc file epub, prc reader, azw reader của tác giả ở câu này?

c) Tìm trong đoạn văn những từ miêu tả màu sắc của rừng đước và nhận xét về cách miêu tả màu sắc của tác giả.

Trả lời:

a) Những chi tiết thể hiện sự rộng lớn, hùng vĩ của dòng sông, rừng đước:

– Con sông rộng hơn ngàn thước;

– Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác;

– Cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng bạc trắng;

– Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

b) Các động từ có trong câu: thoát, qua, đổ ra, xuôi về. Không thể thay đổi trình tự các động từ trong câu vì như thế sẽ làm sai lạc nội dung, đặc biệt là sự diễn tả trạng thái hoạt động của con thuyền trong mỗi khung cảnh.

– Thoát qua: con thuyền vượt qua một nơi khó khăn, nguy hiểm;

– Đổ ra: con thuyền từ con kênh nhỏ ra dòng sông lớn;

– Xuôi về: con thuyền nhẹ nhàng xuôi theo dòng nước ở nơi dòng sống êm ả.

c) Những từ miêu tả màu sắc của rừng đước: màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. Những từ ngữ ấy chỉ cùng một màu xanh đã miêu tả các lớp cây đước từ non đến già.

5. Trả lời câu hỏi 5 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Những chi tiết, hình ảnh nào về chợ Năm Căn thể hiện được sự tấp nập, đông vui, trù phú và độc đáo của chợ vùng Cà Mau?

Trả lời:

Những chi tiết, hình ảnh về chợ Năm Căn thể hiện sự tấp nập, đông vui, trù phú, độc đáo :

– Hoạt động của chợ thật ồn ào, tấp nập, bến vận hà nhộn nhịp dọc dài theo sông.

– Chợ chủ yếu họp trên sông với những nhà bè, khu phố nổi và những con thuyền bán hàng mà người mua không cần bước ra khỏi thuyền.

– Sự đa dạng về màu sắc, trang phục, tiếng nói của người bán hàng đến từ nhiều nơi khác nhau: người Hoa, người Chà Châu Giang…

⇒Cảnh chợ Năm Căn với sự đông vui, tấp nập đã đem đến cho người đọc một không khí tươi vui và đầy màu sắc, âm thanh.

6. Trả lời câu hỏi 6 trang 22 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Qua bài văn này, em cảm nhận được gì về vùng Cà Mau cực Nam của Tổ quốc?

Trả lời:

– Qua bài văn, có thể cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã, hùng vĩ, con người và sinh hoạt độc đáo vùng sông nước Cà Mau.

– Qua cách miêu tả của tác giả, với việc sử dụng các từ ngữ tinh tế, gợi cảm, có thể cảm nhận được vẻ đẹp trù phú của vùng sông nước Cà Mau. Đó là vùng đất hoang dã, hùng vĩ với không gian sông nước mênh mông, những rừng đước bạt ngàn và có cảnh con người sinh sống tấp nập, đông vui, chân chất.

– Qua văn bản có thể cảm nhận được những nét rất riêng của cực Nam Tổ quốc về tự nhiên, về con người. Nó khiến người đọc tự hào về Tổ quốc đồng thời khơi dậy khao khát một lần được tới thăm vùng đất này.

– Qua bài văn, ta hình dung cảnh thiên nhiên của vùng cực nam Tổ quốc thật rộng lớn, hoang dã và hùng vĩ, đặc biệt là những vùng dòng sông và rừng đước. Cảnh chợ Năm Căn là hình ảnh trù phú, độc đáo tấp nập về sinh hoạt của con người vùng đất ấy.

Luyện tập

1. Trả lời câu hỏi 1 trang 23 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về vùng Cà Mau qua bài Sông nước Cà Mau đã học.

Trả lời:

Các em có thể tham khảo đoạn văn sau:

Đất rừng Phương Nam là một tác phẩm rất hay viết cho thiếu nhi của nhà văn Đoàn Giỏi. Đọc đoạn trích Sông nước Cà Mau trích trong tác phẩm này ta bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp, nét riêng đặc biệt của kênh rạch, sông ngòi “bủa giăng chi chit như mạng nhện”, của một điệu xanh như thế. Dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Đoàn Giỏi, cả vùng Cà Mau hiện lên thật là sinh động, cảnh vật biến hoá, màu sắc biến hoá.

Những dòng sông, kênh, rạch, rừng đước và cả khu chợ Năm Căn nữa hiện lên vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa dạt dào sức sống, cảnh xa lạ mà vẫn gợi bao yêu mến, làớ thương. Thiên nhiên Cà Mau bao la, hào phóng; con người Cà Mau mộc mạc, hiền hậu, dễ thương. Đọc những trang văn của Đoàn Giỏi, ta có cảm giác như đang giữa sông nước Cà Mau, tận hưởng hương rừng Cà Mau, đến chơi chợ Năm Căn, ngược lại, bước lên những ngôi nhà bè xem và mua một vài món quà lưu niệm.

Đọc đoạn trích Sông nước Cà Mau hẳn trong mỗi chúng ta thêm hiểu, thêm yêu đất và người nơi đây. Và bạn, cũng như tôi ấp ủ một ước muốn: được đặt chân lên mảnh đất ấy, được theo thuyền xuôi dòng Năm Căn và chắc hẳn sẽ ghé chợ Năm Căn để tự mình cảm nhận một nét rất riêng trong sinh hoạt của vùng sòng nước.

Khám phá bài Sông nước Cà Mau của Đoàn Giỏi, ta thấy như hiện ra trước mắt một Cà Mau với những vẻ đẹp rất riêng biệt. Dưới ngòi bút tài hoa của Đoàn Giỏi bức tranh Cà Mau hiện lên thật sinh động với những dòng sông, kênh rạch chằng chịt, những cánh rừng đước hùng vĩ và đặc biệt là khu chợ Năm Căn mang đầy vẻ hoang sơ mà vẫn dạt dào sức sống. Ta đâu thể quên những con người Cà Mau chân chất, mộc mạc. Tất cả như những sợi nhớ sợi thương chôn chặt trong trái tim mỗi con người Việt Nam khi nhớ tới miền cực Nam của Tổ quốc.

Đọc “Sông nước Cà Mau”, ta như được phiêu lưu đến một thế giới rộng lớn phủ sắc xanh, mây trời xanh, nước xanh, chung quanh những khu rừng bất tận xanh. Rồi những con sông, kênh rạch chằng chịt. Đi qua những con sông, con rạch, thấy những loài động vật, cây cối lạ lẫm, hoang dã, vừa thấy sợ lại vừa thấy hay. Nét độc đáo ở đây phải nói tới khu chợ Năm Căn tấp nập, trù phú, đầy sức sống, con người lại mộc mạc, thân thiện. Vùng đất cực nam của tổ quốc ta sao mà đẹp thế.

2. Trả lời câu hỏi 2 trang 23 sgk Ngữ văn 6 tập 2

Kể tên một vài con sông ở quê hương em hoặc địa phương mà em đang ở, giới thiệu vắn tắt về một trong những con sông ấy.

Trả lời:

Một vài nét chính khi giới thiệu về con sông quê hương :

– Thiên nhiên : dòng nước, bờ sông, rặng cây,…

– Con người và sinh hoạt : người dân, chèo thuyền, bắt cá,…

Ví dụ: Sông Hồng:

Con sông Hồng chảy qua quê hương em, giữa các bãi mía, bờ dâu xanh ngắt. Mặt sông thường đỏ như màu gạch non nên mới mang tên là sông Hồng. Dòng sông đẹp như một dải lụa đào vắt ngang lên tấm áo màu xanh của đồng bằng Bắc Bộ.

Ví dụ: Sông Hương:

Sông Hương ôm trọn thành phố Huế, mơ màng trong sương khói, điệu chảy lặng lờ, sắc nước đổi màu theo ngày (sớm xanh, trưa vàng, chiều tím),…

Ví dụ: Sông Đuống:

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng…

(Hoàng Cầm)

Các bài văn hay

1. Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc xong đoạn văn Sông nước Cà Mau

Bài làm:

Đoạn văn Sông nước Cà Mau trích từ chương XVIII trong tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Qua câu chuyện lưu lạc của một thiếu niên thành phố vào vùng rừng u Minh, tác giả đã đưa người đọc đến với thiên nhiên hoang dã và cuộc sống chân chất của con người ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Có thể xem đây là một bàivăn miêu tả khá hoàn chỉnh. Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống ở vùng đất mũi Cà Mau hiện lên vừa cụ thể, vừa khái quát thông qua cảm nhận trực tiếp và vốn hiểu biết phong phú của nhà văn.

Mở đầu đoạn văn, tác giả nêu lên cảm giác của nhân vật chính trước vùng đất Cà Mau xa lạ; sau đó miêu tả cụ thể các kênh rạch và con sông Năm Căn rộng lớn cùng cảnh chợ Năm Căn họp ngay trên mặt sông, đông vui và nhiều màu sắc độc đáo.

Vị trí của người kể chuyện (nhân vật An) trong bài này là ỏ trên con thuyền xuôi theo các kênh rạch chằng chịt rồi đổ ra sông Năm Căn và cuối cùng dừng lại ở chợ Năm Căn. Suốt cuộc hành trình, nhân vật có điều kiện quan sát một vùng thiên nhiên rộng lớn.

Cảm giác đầu tiên là màu xanh tràn ngập khắp nơi: xanh trời, xanh nước, xanh cây. Trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá. Trong cảnh sắc tràn ngập màu xanh ấy là tiếng rì rào vọng về của hơi gió muối – tức là âm thanh và hơi thở mặn mòi của miền sông nước Cà Mau.

Chúng ta có thể hình dung những hình ảnh trong bài văn hiện lên như trong một cuốn phim, lúc nhanh, lúc chậm. Có đoạn đặc tả cận cảnh, có đoạn lùi xa bao quát toàn cảnh.

Trước hết là cách đặt tên cho các dòng sông, dòng kênh của người dân ở vùng này. Người ta không dùng những danh từ mĩ lệ, mà cứ theo đặc điểm riêng biệt của nó mà gọi thành tên:Chẳng hạn như gọi rạch Mái Giầm, vì hai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cọng tròn xốp nhẹ, trên chỉ xoà ra độc một cái lá xanh hình chiếc bơi chèo nhỏ; gọi là kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt, đen như hạt vừng…; gọi kênh Ba Khía vì ở đó hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây… Còn như xã Năm Căn thì nghe nói ngày xưa trên bờ sông chỉ độc có một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng nên, cũng như Cà Mau là nói trại đi theo chữ “tức khơ mâu”, tiếng Miên nghĩa là “nước đen”.

Cách đặt tên ấy cho thấy thiên nhiên ở đây rất hoang dã và con người sống gần gũi với thiên nhiên nên rất giản dị, chất phác.

Sau khi đi qua các dòng kênh, con thuyền thoát ra kênh Bọ Mắt đổ vào con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng… Hai bên bờ sông, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

Trạng thái hoạt động của con thuyền ở mỗi cảnh được diễn tả bằng những từ ngữ chính xác và tinh tế. Thoát qua là ý nói con thuyền vượt qua một nơi khó khăn, nguy hiểm; đổ ra diễn tả con thuyền từ kênh nhỏ ra dòng sông lớn; xuôi về diễn tả con thuyền nhẹ xuôi theo dòng nướcở nơi dòng sông êm ả.

Màu xanh của rừng đước được tả qua ba sắc độ khác nhau: màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. Những sắc độ ấy chỉ màu xanh của các lớp cây đước từ non đến già tiếp nối nhau loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

Ở đoạn trước, tác giả đặc tả cảnh sông nước Năm Căn; đến đoạn này, ông miêu tả cuộc sống của con người trên sông nước. Chợ Năm Căn rộng lớn, tấp nập, hàng hoá phong phú, thuyền bè san sát: những đống gỗ cao như núi… những bến vận hà nhộn nhịp dọc dài theo sông… những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực trên mặt nước như những khu phố nổi…

Chợ Năm Căn tập trung đặc điểm của các chợ họp trên sông của vùng sông nước Cửu Long. Những con thuyền bán hàng len lỏi mọi nơi, người ta có thể cập thuyên lại, bước sang gọi một món xào, món nấu Trung Quốc hoặc một đĩa thịt rừng nướng ướp kiểu địa phương kèm theo vài cút rượu, ngoài ra còn có thể mua từ cây kim cuộn chỉ, những vật dụng cần thiết, một bộ quần áo may sản hay một món nữ trang đắt giá chẳng hạn, mà không cần phải bước ra khỏi thuyền.

Chợ còn là sự đa dạng về màu sắc, trang phục, tiếng nói của người bán, kẻ mua thuộc nhiều dân tộc: người Việt, người Hoa, người Khơ-me, người Chà Châu Giang. Những người con gái Hoa kiều bán hàng xởi lởi, những người Chà Châu Giang bán vải, những bà cụ già người Miên bán rượu, với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độc đáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.

Phải là người sống và gắn bó thân thiết với mảnh đất Cà Mau, nhà văn mới cảm nhận và viết được những đoạn văn miêu tả tinh tế, đặc sắc như thế.

Bằng ngòi bút miêu tả sắc nét, vừa bao quát, vừa cụ thể, sinh động, qua đoạn văn Sông nước Cà Mau, nhà văn Đoàn Giỏi đã giúp cho người đọc tưởng tượng ra trước mắt cảnh thiên nhiên kì thú của sông nước Cà Mau và càng thêm yêu mến con người ở mảnh đất tận cùng của Tổ quốc.

2. Viết một bài văn trình bày cảm nhận của em về vùng đất Cà Mau qua đoạn văn Sông nước Cà Mau

Bài làm:

Em rất thích xem bộ phim Đất phương Nam chiếu trên màn ảnh nhỏ. Đây là bộ phim được dàn dựng từ tác phẩm nổi tiếng của Đoàn Giỏi – một nhà văn chuyên viết về đề tài thiên nhiên và con người vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ thời kì chống Pháp xâm lược.

Tác phẩm Đất rừng phương Nam được sáng tác vào năm 1957, sau khi nhà văn Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc. Tác giả đã đem đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ và phong phú, từ đó thêm yêu mến thiên nhiên và con người ỏ mảnh đất tận cùng của Tổ quốc. Sông nước Cà Mau trích từ chương XVIII của tác phẩm nói trên.

Qua đoạn văn này, em nhận thấy rằng đất mũi Cà Mau có vẻ đẹp phong phú, hùng vĩ và hoang dã. Chợ Năm Căn là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc sống tấp nập, trù phú, độc đáo ở vùng đất cực Nam Tổ quốc.

Em có cảm tưởng như được cùng với chú bé An (nhân vật chính của truyện) ngồi trên con thuyền len lỏi qua các kênh rạch chằng chịt như mạng nhện của rừng u Minh để rồi đổ ra sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Cả một không gian rộng lớn được bao phủ bởi một màu xanh bất tận: trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá.

Âm thanh đặc trưng của xứ sở này là tiếng rì rào bất tận của những khu rừng đước bạt ngàn, cùng tiếng sóng ì ầm từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối…

Tên đất, tên sông ở đây thật mộc mạc, giản dị: gọi là rạch Mái Giầm vì hai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cọng tròn xốp nhẹ, trên chỉ xoà ra độc một cái lá xanh hình chiếc bơi chèo nhỏ; gọi là kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt, đen như hạt vừng, chúng cứ bay theo thuyền từng bầy như những đám mây nhỏ… Gọi là kênh Ba Khía vì ở đó hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây… Còn như xã Năm Căn thì nghe nói ngày xưa trên bờ sông chỉ độc có một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng nên, cũng như Cà Mau là nói trại đi theo chữ “tức khơ mâu” tiếng Miên, nghĩa là “nước đen”.

Hình ảnh gây ấn tượng rất mạnh cho em là hình ảnh của dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi, nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lóp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ,… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

Chợ Năm Căn nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập – nơi tập trung đặc điểm của những chợ nổi họp trên mặt sông của vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ. vẫn là cái quang cảnh quen thuộc của một xóm chợ vùng rừng cận biển thuộc tỉnh Bạc Liêu, với những túp lều lá thô sơ kiểu cổ xưa nằm bên cạnh những ngôi nhà gạch văn minh hai tầng, những đống gỗ cao như núi chất dựa bờ, những cột đáy, thuyền chài, thuyền lưới, thuyền buôn dập dềnh trên sóng…

Ngoài những thứ đó, chợ Năm Căn còn có một nét rất riêng mà các chợ khác không có được. Đó là cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô phang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc.

Chợ Năm Căn phong phú về hàng hoá, về các món ăn chứng tỏ Cà Mau là nơi đất lành chim đậu. Các dân tộc Việt, Hoa, Miên, Chà Châu Giang… chung sống thành một cộng đồng đoàn kết với đủ mọi giọng nói líu lo, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độc đáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.

Đất mũi Cà Mau đẹp như một bức tranh. Mảnh đất này đã đi vào thơ ca, nhạc hoạ và nổi tiếng anh dũng kiên cường trong những cuộc kháng chiến chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc. Cảm ơn nhà văn Đoàn Giỏi đã cho em một chuyến du lịch đầy bất ngờ và thú vị qua những trang sách tuyệt vời của ông. Mong rằng có một dịp nào đó, em sẽ được đặt chân đến nơi mà Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi qua những vần thơ:

Mũi Cà mau: mầm đất tươi non

Mấy trăm đời lấn luôn ra biển…

Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau.

3. Phong cảnh thiên nhiên và nghệ thuật miêu tả qua hai bài Sông nước Cà Mau và Vượt thác

Hai đoạn văn Sông nước Cà MauVượt thác đều miêu tả cảnh sông nước. Em hãy nêu những nét đặc sắc của phong cảnh thiên nhiên được miêu tả ở mỗi đoạn văn và nghệ thuật miêu tả của từng tác giả.

Bài làm:

Đoạn văn Sông nước Cà Mau trích từ chương XVIII, truyện Đất rừng phương Nam nổi tiếng của Đoàn Giỏi – một nhà văn chuyên viết về đề tài thiên nhiên và con người Nam Bộ. Những trang viết của ông mang đậm màu sắc hoang sơ của một vùng đất mới – mũi Cà Mau – mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc Việt Nam giàu. đẹp. Có thể nói đây là xứ sở đặc biệt được tạo nên từ trăm ngàn sông rạch nối với nhau cùng với những rừng tràm, rừng đước bạt ngàn, tạo thành cái tên quen thuộc: U Minh.

Bài Vượt thác trích trong truyện Quê nội của nhà văn Võ Quảng – người con của dải đất miền Trung Trung Bộ. Bằng ngòi hút tài hoa, tác giả đã vẽ nên một bức tranh sinh động về dòng sông Thu Bồn thân yêu của quê hương mình. Tuy cả hai bài văn đều tả về con người và dòng sông quê hương nhưng ở mỗi bài văn, cảnh vật đều có những nét đặc sắc khác nhau.

Khung cảnh thiên nhiên trong Sông nước Cà Mau hiện lên thật sống động trước mốt người đọc, giúp chúng ta hình dung, ra rõ ràng vùng đất cực Nam với hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện, len lỏi chảy qua những rừng tràm, rừng đước bạt ngàn để cuối cùng đổ vào sông Năm Căn rồi tuôn ra biển lớn.

Mũi Cà Mau được bao bọc trong một màu xanh bát ngát: Trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá…

Những tên đất, tên sông mộc mạc, dân dã, dễ gọi và dễ nhớ cũng nói lên được đặc điểm của vùng đất này. Rạch Mái Giầm hai bên bờ mọc toàn là thứ cây có lá giống như chiếc mái giầm. Kênh Bọ Mắt tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt, đen như hạt vừng… Kênh Ba Khía hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây… Còn như xã Năm Căn thì nghe nói ngày xưa trên bờ sông chỉ độc có một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng nên, cũng như Cà Mau là nói trại đi theo chữ tức khơ mâu tiếng Miên nghĩa là “nước đen”.

Thật hoang sơ và hùng vĩ là cảnh dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giũa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ,… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

Bên cạnh bức tranh thiên nhiên là bức tranh sinh hoạt rất đặc trưng của vùng đất mũi: Chợ Năm Căn nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập… những cột đáy, thuyền chài, thuyền lưới, thuyền buôn dập dềnh trên sóng… Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô phang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc.

Bao tình cảm mến yêu của nhà văn Đoàn Giỏi dành cho xứ sở này đã tuôn chảy theo ngòi bút, thể hiện trong từng câu, từng chữ, từng hình ảnh, âm thanh tiêu biểu và đặc sắc. Có thể nói đoạn văn Sông nước Cà Mau là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

Đoạn văn Vượt thác của Võ Quảng viết về cảnh sông nước miền Trung. Miền Trung Trung Bộ là dải đất hẹp, địa hình phức tạp. Sông ở đây ngắn và chảy xiết, rất nhiều thác và bãi đá. Hành trình ngược dòng sông Thu Bồn trên chiếc thuyền nhỏ của mấy con người quả là vất vả và nguy hiểm. Tuy vậy, thiên nhiên hai bên sông vẫn có sức hấp dẫn lạ lùng đối với họ.

Trước tiên là hình ảnh những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến tận những làng xa tít gợi cảm giác bình yên của làng quê. Sau đó, càng về ngược, vườn tược càng um tùm. Dọc sông, những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước. Núi cao như đột ngột hiện ra chắn ngang trước mặt… Thuyền chuẩn bị vượt nhiều thác nước.

Thiên nhiên như muốn thử thách ý chí và nghị lực của con người. Thuyền ngược dòng phải chống bằng sào, có khi suốt buổi phải chống liền tay không phút hở… NƯỚC từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn… Dòng sông cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững. Dọc sườn núi, những cây to mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước.

Khung cảnh thiên nhiên trải dài theo hành trình ngược dòng sông của con thuyền nên rất phong phú. Song song với việc tả cảnh, tác giả tập trung miêu tả hình ảnh con người, nổi bật là nhân vật dượng Hương Thư trong cuộc vượt thác.

Các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng có hiệu quả trong miêu tả ở đoạn này là phép so sánh và nhân hoá. So sánh thân hình của dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc thể hiện nét gân guốc, khoẻ mạnh và vững chãi của nhân vật. Còn nhận xét trông dượng giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ lại thể hiện vẻ dũng mãnh, tư thế hào hùng của con người trước thiên nhiên. Bên cạnh nghệ thuật so sánh và nhân hoá còn có nhiều hình ảnh tiêu biểu, chọn lọc, có khả năng gợi cảm cao khiến cho bài văn thêm sinh động.

4. Cảm nhận của em sau khi học xong đoạn trích Sông nước Cà Mau trong tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi

Bài làm:

Bài văn Sông nước Cà Mau trích từ chương XVIII truyện Đất rừng phương Nam (1987) của nhà văn Đoản Giỏi. Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học thiếu nhi nước ta, được nhiều thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi yêu thích. Tác phẩm được in lại nhiều lần, được dựng thành phim khá thành công. Bộ phim Đất Phương Nam ra đời đã chiếm được tình cảm mến mộ của công chúng. Tuy trích từ một tác phẩm truyện nhưng văn bản này có thể xem là miêu tả khá hoàn chỉnh về cảnh quan sông nước vùng Cà Mau ở cực nam của Tổ quốc.

Đoàn Giỏi miêu tả cảnh quan sông nước vùng Cà Mau theo một trình tự: bắt đầu từ những ấn tượng chung về thiên nhiên vùng đất Cà Mau, rồi tập trung miêu tả và thuyết minh về các kênh rạch, sông ngòi với cảnh vật hai bên bờ. Cuối cùng là cảnh chợ Năm Căn họp ngay trên sông nước.

Với trình tự tự nhiên, hợp lý những hình ảnh trong bài văn được hiện lên như trong khuôn hình của một cuốn phim, lúc lướt nhanh, lúc chậm lại, có đoạn đặc tả cận cảnh, có chỗ lùi xa bao quát toàn cảnh. Điếm nhìn để quan sát và miêu tả của người kể chuyện là “trên con thuyền” xuôi theo các kênh rạch và dừng lại ở chợ Năm Căn.

Mở đầu “cuốn phim” là đoạn văn nêu ấn tượng chung ban đầu về vùng sông nước Cà Mau. Tác giả chưa miêu tả một hình ảnh cụ thể nào mà chỉ là những hình ảnh khái quát được cảm nhận qua thị giác và thính giác của nhà văn.

Đó là ấn tượng về một vùng không gian rộng lớn mênh mông với sông ngòi, kênh rạch bủa giăng chi chít như mạng nhện và tất cả được bao trùm trong màu xanh của trời của nước, và tiếng rì rào bất tận của rừng cây, của sóng và gió. “Màu xanh” đã thành một ấn tượng nổi bật: trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, xung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá tạo nên cái quang cảnh chỉ lặng lẽ một màu xanh đơn điệu.

Và tiếng rì rào cũng thành một thứ âm thanh đơn điệu, triền miên ru ngủ thính giác: đó là tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mùa, cùng tiếng sóng rì rào từ biển Đông và vịnh Thái lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối….

Dòng sông Năm Căn hiện lên với một vẻ đẹp riêng: rộng lớn, hùng vĩ mà hoang dã. Cải nét rộng lớn, hùng vĩ được nhà văn tập trung miêu tả trong nhiều chi tiết gây ấn tượng: con sông mênh mông rộng lớn hàng ngàn thước, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên, hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận….

Còn cái vẻ “hoang dã” thì được vẽ lại tài tình trong cái màu xanh rừng đước hai bên sông với những mức độ, sắc thái khác nhau: Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp :rày chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

Những “bậc” màu xanh ấy đã miêu tả các lớp cầy đước từ non đến già, tiếp nối nhau từ bao đời nay vẫn như thế! Nhà văn không những đã quan sát tinh tế mà còn miêu tả lại một cách tài tình bức tranh phong cảnh thiên nhiên, thể hiện qua cách dùng tính từ chỉ màu sắc. Trong cách dùng động từ cũng vậy: thuyền chúng tôi cheo thoát qua kềnh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn.

Các động từ “thoát qua”, “đổ ra”, “xuôi về” đều chỉ hoạt động của con thuyền nhưng không thể thay đổi trình tự các động từ ấy trong câu: “thoát qua” nói con thuyền vượt qua một nơi khó khăn, nguy hiểm; “đổ ra” diễn tả con thuyền từ kênh nhỏ ra dòng sông lớn; còn “xuôi về” là lúc con thuyền nhẹ nhàng xuôi theo dòng nước êm ả trên sông Năm Căn.

Chỉ nửa trang văn mà tác giả đã làm sống lại như thật trước mắt ta cảnh sắc của cái chợ ở vùng đất cuối cùng của Tổ quốc với vẻ đẹp riêng vừa trù phú, vừa độc đáo. Sự trù phú được thể hiện qua khung cảnh rộng lớn, tấp nập, hàng hoá phong phú, thuyền bè san sát, với các chi tiết tiêu biểu: những đống gỗ cao ngất như núi, những bến vân hà nhộn nhịp dọc dài theo sông, những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng sông chiếu rực trên mặt nước mui những khu phố nổi….

Tác giả đã sử dụng thành công biện pháp liệt kê với điệp từ “những” để gây ấn tượng về sự trù phú của chợ trên sông, “những”…, rồi lại “những”… cả đoạn văn có đến 12 chữ “những”. Tuy nhiên, không chỉ trù phú, chợ Năm Căn còn có vẻ đẹp độc đáo: “một xóm chợ vùng cận biển” có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô trương sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc.

Chợ họp ngay trên sông nước với những nhà bè như những khu phố nối và những con thuyền bán hàng len lỏi mọi nơi, có thể có mọi thứ mà không cần bước ra khỏi thuyền, với sự đa dạng về màu sắc, trang phục, tiếng nói của người bán hàng thuộc nhiều dân tộc: Những người em gái Hoa kiều bán hàng xởi lởi, những người Chà Châu giang bán vải, những cụ già người Miên bán rượu, với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sác độc đáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.

“Cuốn phim” được khép lại sau cảnh chợ Cà Mau, nhưng lại gợi ra những suy nghĩ cho người xem. Phải chăng đó là bức tranh Sông nước Cà Mau với những vẻ đẹp riêng độc đáo của nó, tác giả không chỉ đem lại cho độc giả những hiểu biết mới, những phát hiện thú vị về vùng đất này, mà quan trọng hơn, nhà văn đã truyền cho chúng tã tình yêu đất nước để ta càng thêm yêu mảnh đất cực nam của Tồ quốc, bởi một lẽ giản dị rằng: đất nước ta, nơi nào cũng đẹp, cũng đáng yêu !

5. Học xong văn bản Sông nước Cà Mau của nhà văn Đoàn Giỏi, em thích nhất đoạn văn nào? Nêu cảm nghĩ của em về đoạn văn đó

Bài làm:

Em đã được xem phim Đất Phương Nam dựa theo truyện Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Quãng đời lưu lạc của bé An- nhân vật chính trong phim đã làm cho em vô cùng cảm phục. Còn hình ảnh sông nước Cà Mau, đặc biệt là cảnh sắc chợ Năm Căn nằm trên mảnh đất cuối cùng cực nam của Tổ quốc thì mãi mãi tới tận hôm nay, sau khi học xong văn bản Sông nước Cà Mau mới để lại trong tâm trí em những ấn tượng vô cùng mới lạ, qua tài năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả điêu luyện của nhà văn Đoàn Giỏi.

Một đoạn văn không dài (chỉ nửa trang văn) mà tác giả đã làm sống lại như thật trước mắt người đọc cảnh sắc của cái chợ ở vùng sông nước Cà Mau một vẻ đẹp riêng, vừa trù phú vừa độc đáo làm sao!

Dưới ngòi bút miêu tả đặc sắc của nhà văn, lần đầu tiên em được “thưởng thức” một cảnh chợ nằm sát bên bờ dòng sông Năm Căn. Với những túp lều lá thô sơ kiểu cổ xưa nằm bên cạnh những ngôi nhà gạch văn minh hai tầng… Phải chăng đó là kiểu cấu trúc vừa mang dáng dấp của thời đại vừa giữ được truyền thống dân tộc: Vẫn là quang cảnh quen thuộc của một xóm chợ vùng rừng cận biển thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Nhưng không, đó là một sự “ồn ào, đông vui, tấp nập”. Không những thế, “Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô phang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc”. Sự trù phú của nó được thể hiện qua khung cảnh rộng lớn tấp nập, hàng hoá phong phú, thuyền bè san sát: những đống gỗ cao như núi, những bến vân hà nhộn nhịp dọc dài theo dòng sông, những ngôi nhà bè… Với 12 điệp từ những trong đoạn văn, có thể nói Đoàn Giỏi đã thành công trong biện pháp liệt kê gây ấn tượng về sự trù của chợ Năm Căn.

Trù phú thôi chưa đủ! Chợ còn có vẻ đẹp, một vẻ đẹp độc đáo mà chẳng thể có nơi nào có được. Chợ họp ngay trên sông nước với những nhà bè như những khu phố nổi và những con thuyền bán hàng len lỏi ở mọi nơi. Khách mua hàng có thể mua mọi thứ mà không phải bước ra khỏi thuyền.

Chợ lại họp cả ban đêm nữa mới thích chứ! Những ngôi nhà lá ban đêm ánh đèn măng sông chiểu rực trên mặt nước như những khu phố nổi, và ở nơi đây người ta có thể cập thuyền lại… Đọc đến đây khiến em liên tưởng đến một hội hoa đăng trên sông nước, hay là một bầu trời đầy sao in hình xuống dòng sông Năm Căn lung linh, lấp lánh như một “thiên cung”. Đẹp làm sao! Em đã phải thầm thốt lên trong tâm trí của mình.

Chợ Năm Căn đã đẹp lại còn đẹp hơn bởi sự tô điểm về màu sắc, trang phục, tiếng nói của người bán hàng của rất nhiều các dân tộc: những người con gái Hoa kiều bán hàng xởi lởi, những người Chà Châu giang bán vải, những bà cụ già người Miền bán rượu với đủ các giọng nói líu lô, đủ cách ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độc đáo hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.

Chợ Năm Căn còn “khêu gợi” hấp dẫn du khách bởi những hương vị của các “món xào”, món nấu Trung quốc rất mới lạ, hoặc những món ăn dân dã không kém phần thú vị: một đĩa thịt rừng nướng ướp kiểu địa phương kèm theo vài cút rượu. Thật tài hoa! Nhà văn như “hội tụ” được những hương vị đậm đà của đời thường vào ngòi bút của mình để rồi “toả” ra trên những trang viết làm ngất ngây lòng người.

Cảnh chợ Năm Căn là một bức tranh vô cùng sống động. Một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ văn chương có đường nét, hình khối, có màu sắc âm thanh, và đặc biệt còn có cả hương vị đậm đà mà chỉ một vùng đất cuối cùng của Tổ quốc mới có được. Nhờ có bức tranh này mà chợ Năm Căn được hiện lên với những màu sắc độc đáo cùng với sự tấp nập của nó.

Tuy chưa được đặt chân lên vùng đất xa xôi này nhưng những trang văn đã giúp em vừa hình dung được cụ thể, vừa có những hiểu biết rộng lớn hơn để yêu mến mảnh đất ở tận cùng phía nam của đất nước. Học xong bài Sông nước Cà Mau bỗng nhiên trong em ấp ủ một ước mơ khát vọng: sau này khi đã trưởng thành, em sẽ được đến mảnh đất yêu thương này để được tận mắt chiêm ngưỡng và đóng góp một phần trí tuệ, sức lực của mình xây dựng và bảo tồn những nét văn hoá đẹp cúa chợ Năm Căn.

6. Nghệ thuật đặc sắc trong văn bản Sông nước Cà Mau của nhà văn Đoàn Giỏi

Bài làm:

Sông nước Cà Mau tuy được trích trong truyện Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, nhưng văn bản này có thể xem là một bài văn miêu tả khá hoàn chỉnh về cảnh quan sông nước vùng Cà Mau ở cực nam Tổ quốc. Bài văn như một “cuốn phim” lần lượt mở ra trước mắt người đọc những vẻ đẹp riêng và độc đáo của vùng Sông nước Cà Mau. Đó chính là sự phối hợp rất khéo léo, tài tình PDF EPUB PRC AZW miễn phí đọc trên điện thoại – máy tính, ứng dụng đọc file epub, prc reader, azw reader của tác giả với nghệ thuật vừa tả cảnh, vừa kể chuyện và thuyết minh được đan xen, lồng ghép hợp lí. Tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên kì thú và một bức tranh sinh hoạt đặc sắc của con người không thể nào quên.

Đoạn đầu của văn bản, nhà văn đă sử dụng hiệu quả văn tả cảnh với những hình ảnh khái quát được cảm nhận qua thị giác và thính giác Sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng chi chít như mạng nhện… tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mùa, cùng tiếng sóng rì rào từ biển Đỏng và vịnh Thái lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối…

Phải chăng đó là ấn tượng về một vùng không gian rộng lớn mênh mông sông ngòi, kênh rạch? Tất cả được bao trùm trong màu xanh – trên trời thì xanh, dưới nước thì xanh, chung quanh mình củng chỉ toàn một sắc xanh cây lá… những khu rừng xanh bốn mùa. Những màu sắc, âm thanh đã được hoà quyện lại tạo nên được cái ấn tượng chung ban đầu về cảnh quan thiên nhiên vùng Cà Mau. Có thể nói, đoạn văn như những “thước phim” quay chậm, mà người quay đã lùi xa để bao quát được toàn cảnh.

Tiếp dẫn là đoạn văn thuyết minh, giải thích về một số địa danh của thiên nhiên và con người vùng Cà Mau được đan xen vào với đoạn văn đặc tả dòng sông Năm Căn. Kênh rạch vùng Cà Mau được kể qua những cái tên lạ: rạch Mái Giầm, kềnh Bọ Mát, kênh Ba Khía… và những lời giải thích vô cùng thú vị: chẳng hạn như gọi rạch Mái Giầm, vìhai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cong xốp nhẹ… hoặc Ba Khía là một loại còng biển lai cua, càng sắc tím đỏ, làm mắm xé ra trộn tỏi ớt ăn rất ngon…

Qua cách đặt tên ta thấy thiên nhiên ở đây còn rất tự nhiên, hoang dã, phong phú và con người sống rất gần với thiên nhiên. Họ giản dị, chất phát ngay từ cách đặt tên cho kênh rạch, đất đai Không phải bằng những danh từ mĩ lệ, mà cứ theo đặc điểm riêng biệt của nó mà gọi thành tên.

Rồi đến đoạn tả dòng sông Năm Căn, nhà văn đã kết hợp nhiều nghệ thuật đặc sắc như: tập trung nhiều chi tiết để miêu tả sự rộng lớn, hùng vĩ của dòng sông và rừng đước một cách rất ấn tượng: Con sông mênh mông hàng ngàn thước, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đần đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng…

Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận… Cách dùng động từ chính xác và tinh tế để cùng chỉ một hoạt động của con thuyền: Thuyền chúng tôi chèo thoát ra qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Các cụm động từ thoát ra, đổ ra, xuôi về đều chỉ hoạt động của con thuyền.

Nhưng cái tài của nhà văn đã lựa chọn từ và sắp xếp các từ đó theo một trình tự “tối ưu” gợi ra khung cảnh mà con thuyền vượt qua: “thoát qua” diễn tả trạng thái vượt qua nơi khó khăn, nguy hiểm; đổ ra diễn tả trạng thái từ nơi hẹp (kênh nhỏ) ra nơi rộng (sông lớn); còn xuôi về diễn tả trạng thái con thuyền nhẹ nhàng trôi trên dòng sông nước êm ả.

Như vậy chẳng phải là – nghệ thuật đặc sắc đó sao? Còn cái vẻ hoang dã của dòng sông Năm Căn thì được vẽ lại tài tình bằng cái màu xanh rừng đước hai bên sông với những mức độ sắc thái khác nhau: Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm táp, lớp này chồng lèn lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai.

Những cung bậc màu xanh ấy đã miêu tả các lớp cây đước từ non đến già, tiếp nối nhau từ bao đời nay vẫn như thế! Quả thật là nhà văn đã quan sát tinh tế mà miêu tả lại càng tài tình trong cách dùng tính từ chỉ màu sắc.

Cảnh sắc chợ Năm Căn như được hiện lên rõ rệt và sinh động trước mắt người đọc. Phải chăng tác giả đã quan sát kỹ lưỡng, vừa bao quát vừa cụ thể, kết hợp giữa kể và tả, giữa liệt kê và chọn lọc chi tiết đặc sắc, cuốn hút chúng ta đến với vẻ đẹp vừa trù phú vừa độc đáo của chợ.

Bằng hàng loạt các chi tiết liệt kê: những đống gỗ cao như núi, những bến vân hà nhộn nhịp dọc dài theo sông, những ngôi nhà bè ban đêm, ánh đền măng sông chiếu ì ục trên mặt nước như những khu phố nổi… Đoạn văn đã sử dụng đến 12 chữ những đế gây ấn tượng về sự trù phú. Không chỉ trù phú, chợ Năm Căn còn có vẻ đẹp độc đáo: một xóm chợ vùng cận biển có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô phang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc.

Chợ họp chủ yếu ngay trên sông nước với những nhà bè như những khu phố nổi và những con thuyền bán hàng len lỏi mọi nơi., có thể mua mọi thứ mà không cần bước ra khỏi thuyền. Với sự đa dạng màu sắc, trang phục, tiếng nói cùa người bán hàng thuộc nhiều dân tộc: người Hoa, Miên, người Chà Châu giang…

Mảnh đất tận cùng phía nam của Tổ quốc hiện lên thật sống động thông qua nghệ thuật miêu tả đầy sáng tạo của nhà văn. Tác giả đã huy động các giác quan và nhiều điểm nhìn để quan sát, miêu tả cùng với sự hiểu biết phong phú về thiên nhiên và cuộc sống ở vùng đất ấy, giúp cho người đọc vừa hình dung được cụ thể, vừa có thêm những hiểu biết để yêu mảnh đất Cà Mau thân yêu!

“Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

【#7】Soạn Bài Trường Từ Vựng Môn Văn 8 Trang 21 Ngắn Gọn Nhất: Đọc Văn Bản Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng, Tìm Các Từ Thuộc Trường Từ Vựng “người Ruột Thịt”

Soạn bài Trường từ vựng trang 21 môn Ngữ văn lớp 8 (ngắn gọn). Đọc văn bản của Nguyên Hồng, tìm các từ thuộc trường từ vựng “người ruột thịt”. Các từ thuộc trường từ vựng “người ruột thịt” trong văn bản Trong lòng mẹ : Thầy, mẹ, cô, mợ, con, cháu, anh em….

Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhât một nét chung về nghĩa.

I. THẾ NÀO LÀ TRƯỜNG TỪ VỰNG Câu 1.

Các từ in đậm: “mặt, mắt, da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, miệng” cùng là các bộ phận trên cơ thể con người.

II. LUYỆN TẬP

Câu 1: Các từ thuộc trường từ vựng “người ruột thịt” trong văn bản Trong lòng mẹ : Thầy, mẹ, cô, mợ, con, cháu, anh em.

Câu 2: Đặt tên trường từ vựng:

a. Dụng cụ đánh bắt thủy sản.

b. Vật dụng để chứa.

c. Hoạt động của chân.

d. Trạng thái tâm lý, tình cảm.

e. Tính cách.

g. Dụng cụ để viết.

Câu 3: Các từ in đậm trong đoạn văn thuộc trường từ vựng: Thái độ tình cảm.

Câu 4: Khứu giác: Mũi, thính, điếc, thơm, rõ

Thính giác: nghe, tai, thính, điếc, rõ.

Câu 5: – Lưới:

+ Trường đồ dùng bắt cá: vó, chài.

+ Trường dụng cụ, máy móc: rào lưới sắt, túi lưới, mạng lưới điện…

– Lạnh:

+ Trường thời tiết: rét, buốt, cóng…

+ Trường tình cảm: lạnh nhạt, giọng nói lạnh lùng, mặt lạnh như tiền..

+ Trường màu sắc: màu xám lạnh, màu xanh ngắt.

Câu 6: Tác giả đã chuyển trường từ vựng “quân sự” sang trường từ vựng “nông nghiệp”.

Câu 7: – Đoạn văn có trường từ vựng “môn bóng đá”:

Bóng đá được biết đến là một môn thể thao đồng đội, chơi giữa hai đội, mỗi đội có 11 cầu thủ. Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành đối thủ. Ngoài thủ môn, các cầu thủ không được cố ý dùng tay hoặc cánh tay để chơi bóng. Đội chiến thắng là đội ghi được nhiều điểm hơn khi kết thúc trận đấu.

【#8】Soạn Văn 8 Vnen Bài 2: Trong Lòng Mẹ

Soạn văn 8 VNEN Bài 2: Trong lòng mẹ

A. Hoạt động khởi động

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. (trang 9, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: Trong lòng mẹ

2. (trang 9, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu văn bản

a. Tìm các chi tiết miêu tả lời nói, thái độ , cử chỉ của bà cô trong cuộc đối thoại của bé Hồng. Tại sao tác giả lại gọi những cử chỉ ấy “rất kịch”?

b. Em hãy phân tích:

* Phản ứng tâm lí của bé Hồng khi nghe bà cô xúc phạm tới người mẹ bất hạnh bằng những lời lẽ giả dối thâm độc

* Cảm giác sung sướng cực điểm của chú bé Hồng khi gặp lại và nằm mơ trong lòng người mẹ mà chú mong chờ mỏi mắt.

Qua đó nhận xét về tình cảm của chú bé Hồng đối với người mẹ của mình.

c. Qua đoạn trích, em hiểu thế nào là hồi kí ? Dấu ấn hồi kí trong đoạn trích này thể hiện qua những câu văn nào và có tác dụng gì trong việc biểu đạt nội dung tình cảm của văn bản ?

d. Thành công trong nghệ thuật kể chuyện của văn bản Trong lòng mẹ là gì ?

Trả lời:

a. Các chi tiết miêu tả lời nói, thái độ , cử chỉ của bà cô trong cuộc đối thoại của bé Hồng:

+ “Gọi tôi đến bên cười hỏi:

– Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa với mẹ mày không?”

+ “Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu?”

+ “Vỗ vai tôi cười mà nói rằng:

…Bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ.”

+ “Đổi giọng nghiêm nghị…chập chừng nói tiếp”

+ “Tháng tám là giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày, và mày còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ”.

+ “Khi thấy Hồng đã bật khóc nức nở, bà ta vẫn cứ “tươi cười kể chuyện” về người mẹ “ăn mặc rách rưới,…”cùng túng,… cố ý làm cho cháu mình phải đau khổ vì người mẹ”.

Tác giả gọi những cử chỉ ấy của bà cô “rất kịch” vì người cô luôn muốn mỉa mai, chửi rủa mẹ Hồng, nhưng lại cố tỏ ra “ngọt ngào”, quan tâm và hỏi han đứa cháu đáng thương.

b. + Phản ứng tâm lí của bé Hồng khi nghe bà cô xúc phạm tới người mẹ bất hạnh bằng những lời lẽ giả dối thâm độc:

– Dù hơn một năm không có tin tức của mẹ nhưng Hồng vẫn không hề trách cứ, ghét bỏ mẹ.

– Tưởng tượng ra vẻ mặt rầu rầu, hiền từ của mẹ

– Nhận ra dã tâm chia rẽ tình mẫu tử của bà cô độc ác, Hồng vẫn luôn yêu thương, kính trọng mẹ.

– Muốn nghiến nát những cổ tục đã đày đọa mẹ, thấu hiểu hoàn cảnh, nỗi đau mẹ đã phải trải qua

+ Cảm giác sung sướng cực điểm của chú bé Hồng khi gặp lại và nằm mơ trong lòng người mẹ mà chú mong chờ mỏi mắt:

– Gặp lại mẹ Hồng sung sướng, hạnh phúc, quên hết những uất ức, khổ cực khi phải sống trong gia đình giả dối, nhẫn tâm.

– Muốn bé lại để được mẹ yêu thương, chăm sóc, vỗ về.

Nhận xét:

Qua đó, ta có thể thấy được tình cảm của chú bé Hồng đối với người mẹ của mình là: Dù còn ít tuổi, nhưng Hồng rất hiểu và thương mẹ. Hồng hiểu được vì hoàn cảnh mà mẹ Hồng phải đi tha hương cầu thực. Em đã khóc vì thương mẹ phải chịu những lời lẽ lăng nhục của người cô, bị đối xử bất công. Em khóc vì bản thân còn là trẻ con, yếu đuối, cô đơn không bênh vực được mẹ. Càng thương mẹ, em càng căm ghét những hù tục phong kiến vô lí, tàn nhẫn đã đầy đoạ, trói buộc mẹ em. Và càng thương nhớ mẹ bao nhiêu, Hồng lại càng hạnh phúc bấy nhiêu khi được ở trong vòng tay ấm áp, tràn đầy tình yêu thương của mẹ.

c. – Qua đoạn trích, em hiểu thế hồi kí là:

+ Hồi kí thuộc thể kí, là truyện kể từ bằng chính ngôi kể tác giả kể về những sự kiện có thật trong quá khứ mà tác giả đã chứng kiến hoặc trải qua

+ Hồi kí giống nhật kí ở việc được giãi bày theo trình tự thời gian. Hồi ký mang tính chủ quan nhưng sinh động chân thật bởi những dòng diễn đạt cảm tưởng trực tiếp của tác giả.

– Dấu ấn hồi kí trong đoạn trích này thể hiện qua những câu văn sau:

+ “Cô tôi vẫn cứ tươi cười….lấy nón che “.

+ “Từ ngã tư….bế em bé chứ”.

– Các câu văn mang dấu ấn hồi kí có tác dụng rất lớn trong việc biểu đạt nội dung tình cảm của văn bản. Các chi tiết này thể hiện thái độ “rất kịch” của bà cô với dã tâm cố tình đâm lưỡi dao găm vào lòng Hồng, muốn ngăn cách mẹ con Hồng. Đồng thời qua cách hồi tưởng và giọng kể của Hồng, đoạn trích đã thể hiện sự căm ghét của Hồng đối với bà cô khi nói xấu, lăng nhục mẹ mình, từ đó thể hiện tình thương của em dành cho mẹ.

d. Thành công trong nghệ thuật kể chuyện của văn bản Trong lòng mẹ là:

+ Tình huống truyện và nội dung đặc sắc

+ Cách kể chuyện chân thực và cảm động.

+ Nghệ thuật miêu tả ngoại hình để bộc lộ tính cách và nội tâm nhân vật.

3. (trang 13, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về trường từ vựng

a. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi :

Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má . Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

* Các từ in đậm trong đoạn trích trên có nét chung nào về nghĩa ?

* Các từ in đậm đó thuộc một trường từ vựng. Vậy em hiểu thế nào là trường từ vựng ?

A. Do hiện tượng nhiều nghĩa, một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau

B. Một từ không thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau.

C. Từ thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau chỉ có duy nhất một nghĩa.

D. Từ có nhiều nghĩa chỉ thuộc một trường từ vựng.

c. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi :

Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng để lấy lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa :

Mừng à ? Vẫy đuôi à ? Vẫy đuôi thì cũng giết ! Cho cậu chết !

Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhẹ nhẹ vào lưng nó và dấu dí :

À không ! À không ! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ !… Cậu Vàng của ông ngoan lắm ! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi…

(Nam Cao, Lão Hạc)

* Trong đoạn văn trên, các từ in đậm thuộc trường từ vựng nào ?

* Các từ in đậm trong đoạn văn trên được dùng cho đối tượng nào ? Cách dùng từ như vậy có ý nghĩa gì ?

Trả lời:

a. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi :

* Các từ in đậm: mặt, mắt, đầu, gò má, đùi, đầu, cánh, tay có nét chung nào về nghĩa đều chỉ bộ phận cơ thể con người.

* Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa.

b) Hoàn thiện sơ đồ:

Chọn đáp án A. (Do hiện tượng nhiều nghĩa, một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau).

c. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Các từ in đậm:

* tưởng, mừng, ngoan : trường từ vựng chỉ thái độ, trạng thái của con người

* cậu, cậu Vàng : trường từ vựng chỉ nhân vật trong truyện, cụ thể là con chó Vàng của lão Hạc

Tác dụng: Cách dùng các từ thuộc cùng một trường từ vựng như vậy làm cho đoạn văn trở nên sinh động, hấp dẫn và có hồn hơn, tránh lặp từ, gây nhàm chán.

4. (trang 15, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Bố cục của văn bản:

a. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Người thầy đạo cao đức trọng

* Văn bản trên có thể chia làm mấy phần ? Chỉ ra các phần đó.

* Nhiệm vụ của từng phần trong văn bản trên là gì ? Các sự việc chính của văn bản được sắp sếp theo trình tự nào ?

* Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản trên.

* Từ việc phân tích trên, hãy cho biết một cách khái quát : Bố cục của một văn bản gồm mấy phần ? Nhiệm vụ của từng phần là gì ? Các phần của văn bản quan hệ với nhau như thế nào?

b. Nối các vế của cột A với các vế của cột B để được các mệnh đề đúng:

Trả lời:

a. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

+ Bố cục

Văn bản trên có thể chia thành 3 phần:

– Phần 1 ( Từ đầu…không màng danh lợi)

– Phần 2 ( tiếp… không cho vào thăm)

– Phần 3 ( còn lại)

+ Nhiệm vụ từng phần trong văn bản trên:

– Phần 1 (mở bài): giới thiệu về thầy Chu Văn An

– Phần 2 (thân bài): Thầy Chu Văn An vừa là người thầy giỏi, nghiêm khắc có nhiều học trò theo học thành tài. Thầy lại là bậc trung thần, đức trọng

– Phần 3 ( kết bài): Niềm tiếc thương và kính trọng đối với thầy Chu Văn An.

+ Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản trên:

+ Khái quát:

– Bố cục văn bản gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.

– Nhiệm vụ của từng phần:

b. Sau khi nối các vế của cột A với các vế của cột B, ta được các mệnh đề đúng:

C. Hoạt động luyện tập

1. (trang 16, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Luyện tập về đọc hiểu văn bản Trong lòng mẹ

a. Văn bản tôi đi học của Thanh Tịnh là dòng hoài niệm về những kỉ niệm ấu thơ. Em hãy tìm ra điểm khác biệt trong các thể hiện dòng cảm xúc hoài niệm giữa văn bản Trong lòng mẹTôi đi học

b. Có nhà nghiên cứu nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. Nên hiểu như thế nào về nhận định đó? Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, em hãy chứng minh nhận định trên.

Trả lời:

a. Điểm khác biệt trong các thể hiện dòng cảm xúc hoài niệm giữa văn bản Trong lòng mẹTôi đi học qua bảng so sánh:

b. – Có nhà nghiên cứu nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. Ta nên hiểu như về nhận định đó như sau:

+ Nhân vật trong các sáng tác chính của ông là phụ nữ và trẻ em: hồi kí Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết Bỉ vỏ, Khi đứa con ra đời, Hai nhà nghỉ…

+ Nguyên Hồng luôn thấu hiểu, đồng cảm với những thân phận nhỏ bé bị o ép trong xã hội cũ.

+ Ông nhìn thấy được phẩm chất tốt đẹp cao quý của người phụ nữ, sự ngây thơ trong sáng của trẻ nhỏ.

– Chứng minh qua đoạn trích Trong lòng mẹ:

+ Nhân vật bà cô đại diện những hủ tục phong kiến còn tồn tại

+ Nhân vật mẹ Hồng: hiện sinh hình ảnh người phụ nữ tảo tần, yêu thương con, biết lo lắng và hy sinh cho gia đình nhưng lại phải chịu nhiều vất vả, điều tiếng tủi nhục.

+ Nhân vật bé Hồng: sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm, mất mát trong gia đình.

2. (trang 16, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Luyện tập về trường từ vựng

b. Trong đoạn thơ sau, tác giả đã chuyển các từ in đậm trường từ vựng nào sang trường từ vựng nào?

Ruộng rẫy là chiến trường,

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.

(Hồ Chí Minh)

c. Viết một đoạn văn có ít nhất năm từ cũng một trường từ vựng chỉ “trường học” hoặc trường từ vựng chỉ “gương mặt”.

Trả lời:

a. Gạch chân từ không cùng trường từ vựng trong bảng:

b. Trong đoạn thơ trên, tác giả đã chuyển các từ (chiến trường, vũ khí, chiến sĩ) từ trường từ vựng “quân sự” sang trường từ vựng “nông nghiệp” .

d. Viết đoạn văn miêu tả mẹ có sử dụng các từ thược trường từ vựng chỉ “gương mặt”:

Trong mỗi khoảnh khắc quan trọng của cuộc đời, dù buồn dù vui, tôi đều nhớ đến gương mặt mẹ. Sự vất vả của mẹ thể hiện rất rõ qua những nếp nhăn, vết chân chim trên gương mặt ấy. Khuôn mặt trái xoan cùng vầng trán cao và đôi lông mày ngang tạo nên nét thanh thoát riêng biệt của mẹ. Mẹ tôi có đôi mắt bồ câu đen láy, ánh lên sự hiền dịu, trìu mến. Nhưng khi tôi chưa vâng lời, đôi mắt ấy lại đượm buồn khó tả. Chiếc mũi mẹ cao dọc dừa, trông hài hòa với những nét vốn có của mẹ. Hình ảnh trên gương mặt mẹ để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất chính là nụ cười. Nụ cười của mẹ rạng rỡ chính nhờ khóe miệng nhỏ nhắn, đôi môi trái tim và hàm răng trắng đều tăm tắp. Nụ cười ấy như ánh mặt trời ban mai, ấm áp, thân thiện, chan hòa và đầy tình thương yêu. Khi nào buồn, chỉ cần nhìn vào nụ cười động viên của mẹ, tôi lại có thêm động lực. Đôi lúc, nụ cười ấy lại tan biến, thay vào đó là những giọt nước mắt. Lúc đó, trông mẹ như một bông hoa đang úa dần, buồn đến lạ…! Nên tôi luôn thầm nhủ phải học thật chăm, thật giỏi để giữ mãi nụ cười trên đôi môi mẹ.

3. Luyện tập về bố cục của văn bản

(trang 17, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Văn bản Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của bé Hồng. Hãy chỉ ra những diên biến tâm trạng của cậu bé để thấy được trình tự mà tác giả thể hiện.

Trả lời:

Cụ thể như sau:

+ Sau khi nghe những lời mà người cô nói, Hồng nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô. Tác giả sử dụng những so sánh liên tiếp, những động từ mạnh, giọng văn dồn dập để thể hiện được nỗi uất hận, căm ghét mãnh liệt của bé Hồng đối với những hủ tục phong kiến đã đày đọa mẹ em, mà bà cô là người đại diện.

D. Hoạt động vận dụng

Có thể làm theo một số gợi ý sau:

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

1. (trang 17, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm Những ngày thơ ấu của nhà văn Nguyên Hồng.

2. (trang 17, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc và giới thiệu với các bạn trong lớp một cuốn sách hay về tình mẫu tử.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

【#9】Soạn Bài Trong Lòng Mẹ ( Trích Những Ngày Thơ Ấu

Muốn soạn bài trong lòng mẹ hay và đầy đủ? Bạn đừng bỏ qua bài viết này của Đọc Tài Liệu

Qua phần sơ lược kiến thức cùng hướng dẫn trả lời câu hỏi sách giáo khoa chi tiết, qua bài soạn này bạn sẽ nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học trong lòng mẹ trong chương trình học môn ngữ văn 8.

Cùng tham khảo…

Hướng dẫn soạn bài trong lòng mẹ chi tiết

Hướng dẫn trả lời chi tiết các câu hỏi phần Đọc – Hiểu văn bản trang 20 sách giáo khoa:

1 – Trang 20 SGK

Phân tích nhân vật bà cô trong cuộc đối thoại giữa bà ta với chú bé Hồng

+ Lời hỏi lần thứ nhất: “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?…

Nét mặt khi cười rất kịch, giọng nói rất cay độc.”

– Gợi dậy nỗi đau của chú bé, để nói xấu về người mẹ.

+ Lời hỏi thứ hai: “Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu?”

+ Mỉa mai, chế giễu mẹ cậu bé, dù biết rằng mẹ cậu rất nghèo khổ nhưng vẫn cố tình nói mỉa.

+ Lời nói lần thứ ba: “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mơ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ!”

Tươi cười khi nói về tình cảnh thảm thương của mẹ chú bé “ăn mặc rách rưới, mặt xanh bảng, người gầy rạc. Trong lúc cậu bé đau đớn phẫn uất nước mắt ròng ròng.

+ Đánh vào nỗi đau đớn trong lòng cậu bé, nhằm chia rẽ tình mẹ con; gieo rắc vào trong đầu cậu bé Hồng những hoài nghi để cậu khinh miệt và ruồng rẫy mẹ. Cười cợt trên nỗi đau khổ của cháu bé; nhục mạ hoàn cảnh đáng thương của người em dâu góa bụa; nghèo khổ đang tha phương cầu thực kiếm sống ở phương xa.

Bà cô là người độc ác; nham hiểm, sống tàn nhẫn không có lòng vị tha, bao dung. Bà cô đại diện cho những thành kiến; những hủ tục đầy đọa người phụ nữ trong xã hội cũ.

2 – Trang 20 SGK

Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện như thế nào?

Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được bộc lộ trong hai hoàn cảnh: khi nghe bà cô nói những lời giả dối, thâm độc về mẹ và khi bất ngờ gặp mẹ trở về.

* Biểu hiện của chú bé khi bà cô xúc phạm mẹ

+ Tình cảnh của Hồng: cha mất, mẹ xa quê kiếm sống vì nợ nần túng quẫn, Hồng sống nhờ vào bà nội, rất thiếu thốn tình thương, non một năm ròng người mẹ không gửi thư, không gửi quà; không nhắn một lời thăm con, nhưng Hồng không mảy may oán trách.

+ Phản ứng tâm lí của Hồng trước những lời xúc phạm của bà cô: với trái tim nhạy cảm, dễ bị tổn thương, Hồng rất tỉnh táo và cảnh giác cao độ; Hồng đã ứng đối rất thông minh. Ban đầu cúi đầu không đáp; bà cô vẫn tiếp tục tấn công Hồng vẫn dứt khoát: “Không! Cháu không muốn vào”. Và đến khi bà cô đánh đúng vào chỗ hiểm yếu nhất “thăm em bé chứ” thì cậu bé Hồng lúc đó nước mắt chan hòa đầm đìa.

+ Tình cảm đối với mẹ:

Dụng ý của bà cô là gieo rắc những hoài nghi trong đầu Hồng về người mẹ để Hồng xa lánh ruồng rẫy, thế nhưng tình yêu thương và lòng kính mến mẹ không hề bị “những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm”, ngược lại chú càng thương mẹ, càng muốn bảo vệ mẹ.

* Khi nghe tin mẹ sinh em bé mới với người chồng khác, Hồng khóc ròng ròng không phải sợ mình bị mẹ bỏ rơi mà vì thương mẹ, căm tức những thành kiến tàn ác để mẹ phải xa lìa anh em và sinh nở một cách giấu giếm.

* Khi nghe bà cô nói về tình cảnh rách rưới, nghèo khổ của mẹ dụng ý là cậu bé khinh rẫy mẹ. Lúc đấy trong lòng Hồng trào lên cơn sóng cảm xúc mãnh liệt, vừa thương yêu, vừa căm tức những định kiến bất công tàn bạo:

“Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết về ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.”

Suy nghĩ rất sâu sắc xuất phát từ lòng yêu thương vô bờ đối với người mẹ.

* Biểu hiện tình yêu của cậu bé Hồng khi gặp mẹ:

+ Niềm đợi chờ khao khát: Sống trong cảnh thiếu thốn tình thương của người mẹ, trong trái tim của cậu bé Hồng luôn khắc khoải một nỗi chờ mong chính vì vậy mới thoáng thấy bóng người giống mẹ chú đã gọi rối rít: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!…” mà không cần kiểm chứng người đó có đúng là mẹ mình không? – Niềm khát khao ấy được ví như là người bộ hành khát nước giữa sa mạc.

+ Sự cương quyết khi được gặp mẹ: Diễn tả niềm vui sắp được gặp mẹ của cậu bé Hồng, tác giả diễn tả hàng loạt hành động liên tiếp dồn dập, gấp gáp thể hiện sự cuống quýt, vội vã của cậu bé.

  • Tôi liền đuổi theo
  • Gọi bối rối
  • Tôi đuổi kịp
  • Thở hồng hộc
  • Trèo lên xe, ríu cả hai chân
  • òa lên khóc rồi cứ thế nức nở

* Sự sung sướng hồi hộp khi được gặp mẹ.

* Tiếng khóc giải tỏa bao nhiêu uất ức dồn nén bấy lâu.

+ Cảm giác sung sướng khi được ở trong lòng mẹ: Được tác giả miêu tả rất tỉ mỉ tinh tế.

* Ngắm nhìn chân dung của mẹ một cách thỏa thích sau bao ngày mong nhớ “gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”.

* Cảm giác mơn man sung sướng, của niềm hạnh phúc lớn lao, ngọt ngào khi được nằm trong lòng mẹ:

“Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”.

Đoạn văn là bài ca chân thành và cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng và bất diệt . Sự cảm nhận từ hơi ấm, mùi thơm, cái dịu dàng vuốt ve ôm ấp của mẹ làm cho cậu bé chìm đi trong sự ngây ngất sung sướng “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. Trong giây phút đó, cậu bé dường như quên hết tất cả những đau khổ những lời nói độc địa của bà cô, chỉ còn sự êm dịu, rạo rực, ngây ngất trong lòng mẹ.

Tham khảo thêm những bài văn phân tích nhân vật bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ hay đã được Đọc Tài Liệu biên soạn.

3 – Trang 20 SGK

Qua đoạn trích “Trong lòng mẹ”, em hãy chứng minh rằng văn Nguyên Hồng giàu chất trữ tình.

Chất trữ tình của một tác phẩm thường được toát lên từ các phương diện: đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện. Có thể phân tích chất trữ tình của đoạn trích Trong lòng mẹ qua những mặt cụ thể sau:

+ Đối tượng, nội dung thể hiện:

* Tình huống và nội dung câu chuyện.

* Dòng cảm xúc phong phú của chú bé Hồng.

Trong quá trình diễn biến này, mọi cảm xúc (nỗi xót xa tủi nhục, lòng căm giận sâu sắc, quyết liệt, tình yêu thương nồng nàn, thắm thiết) đều bị dồn nén rồi được đẩy lên ngày một cao và đến cực điểm.

+ Phương thức thể hiện:

* Kết hợp nhuần nhuyễn giữa kể với bộc lộ cảm xúc.

* Các hình ảnh thể hiện tâm trạng: các so sánh đều gây ấn tượng và giàu sức gợi cảm.

* Lời văn giàu cảm xúc, nhiều khi mê say khác thường.

4 – Trang 20 SGK

Qua văn bản trích giảng, em hiểu thế nào là hồi kí?

Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến… Người viết hồi kí chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình. Hơn nữa, bản thân người viết hồi kí luôn luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất.

5 – Trang 20 SGK

Có nhà nghiên cứu nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. Nên hiểu thế nào về nhận định đó. Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, em hãy chứng minh nhân vật trên.

Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, ta thấy nhà văn Nguyên Hồng đã thể hiện cái nhìn thông cảm với những khổ đau của người phụ nữ. Bênh vực, bảo vệ khát vọng hạnh phúc cho họ (góa chồng; đi bước nữa) trước những hủ tục khắt khe cổ hủ của xã hội phong kiến; định kiến “gái chính chuyên một chồng”, đoạn tang ba năm xong mới được đi bước nữa.

– Nguyên Hồng còn là nhà văn của tuổi thơ. Ông hiểu và đồng cảm khát vọng về tình thương trong tâm hồn trẻ thơ, những nỗi đau về tinh thần trong những tâm hồn non trẻ.

Soạn bài trong lòng mẹ ngắn nhất

Nhân vật người cô:

– Vẻ mặt tươi cười, giọng nói ngọt ngào nhưng rất “kịch”

– Cố tình nói mẹ Hồng đang phát tài và ngân dài hai tiếng “em bé”

– Dù lòng chú bé đã “thắt lại”, “nước mắt ròng ròng” nhưng bà cô vẫn tươi cười kể chuyện để Hồng ruồng rẫy, và khinh ghét mẹ.

Bài 2 trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 1

⇒ Qua cuộc đối thoại, ta thấy bà cô là người có những rắp tâm tanh bẩn, là người ra vẻ quan tâm nhưng thực chất là ý đồ xấu, chia rẽ tình cảm mẹ con giữa Hồng và mẹ, cố dựng chuyện để Hồng giận mẹ.

Tình yêu thương của chú bé Hồng đối với mẹ:

+ Thấy căm ghét những hủ tục đã đày đọa mẹ khiến mẹ phải khổ và càng thấy thương mẹ hơn khi nghe những lời xúc phạm tới mẹ mình.

Bài 3 trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 1

+ Sung sướng đến cực độ, hạnh phúc vỡ òa khi được gặp lại mẹ sau bao ngày xa cách.

Văn của Nguyên Hồng giàu chất trữ tình

– Tình huống truyện: bà cô thâm độc muốn chú bé oán ghét mẹ mình nhưng ngược lại, chú lại luôn tin và thương mẹ mình nhiều hơn.

– Dòng cảm xúc của Hồng: Niềm mong nhớ, thương mẹ da diết, đau đớn tủi nhục, căm giận, phẫn nộ, tình yêu nồng nàn, sâu sắc…

– Phương thức biểu đạt: kết hợp giữa tự sự và biểu cảm.

Bài 4 trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 1

– Lời văn: những câu văn so sánh độc đáo giàu hình ảnh, gợi cảm xúc mãnh liệt

Bài 5 trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 1

Hồi kí là truyện kể từ bằng chính ngôi kể tác giả kể về những sự kiện có thật trong quá khứ mà tác giả đã chứng kiến hoặc trải qua.

– Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng tức là những tác phẩm ông viết đa phần là về phụ nữ và nhi đồng, về những câu chuyện, những tâm lí, tình cảm của họ.

  • Viết về tình mẫu tử thiêng liêng sâu nặng giữa chú bé Hồng và mẹ.
  • Dù xa cách mẹ, người cô luôn ở bên nói xấu mẹ nhưng Hồng càng thương và tin tưởng mẹ; hạnh phúc khi gặp mẹ.
  • Người mẹ vì hoàn cảnh phải xa con nhưng khi trở về vội vã ôm con vào lòng, chở che, vỗ về con.

– Đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã minh chứng điều đó:

Kiến thức cơ bản

Những kiến thức bạn ghi nhớ của bài học này:

Nguyên Hồng (1918-1982) tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng; quê ở Thành phố Nam Định. Trước Cách mạng, ông sống chủ yếu ở Thành phố cảng Hải Phòng trong một xóm lao động nghèo.

Ngay từ tác phẩm đầu tay, Nguyễn Hồng đã hướng ngòi bút về những người cùng khổ gần gũi mà ông yêu thương thắm thiết. Sau Cách mạng, Nguyên Hồng tiếp tục bền bỉ sáng tác; ông viết cả tiểu thuyết, kí, thơ, nổi bật hơn cả là các bộ tiểu thuyết sử thi nhiều tập.

Nguyên Hồng được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính: “Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Cửa biển…”

“Những ngày thơ ấu” là tập hồi kí kể về tuổi thơ cay đắng của tác giả. Tác phẩm gồm 9 chương, đăng trên báo năm 1938, in thành sách lần đầu năm 1940. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” là chương IV của tác phẩm.

+ Đoạn trích “Trong lòng mẹ”; trích hồi kí “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng, đã kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng, tủi cực cùng tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn đối với người mẹ bất hạnh.

Giá trị nội dung

Đoạn văn “Trong lòng mẹ” trích hồi kí ” Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng đã kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng và tủi cực cùng tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh, đáng thương của mình

Giá trị nghệ thuật

– Lời văn nhẹ nhàng, tình cảm, giàu hình ảnh và chan chứa cảm xúc

– Mạch truyện, mạch cảm xúc tự nhiên, chân thực

– Kết hợp lời văn kể chuyện với miêu tả, biểu cảm

– Khắc họa thành công hình tượng nhân vật bé Hồng thông qua lời nói, hành động, tâm trạng sinh động chân thật.

Nghe bài giải Trong lòng mẹ

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài trong lòng mẹ một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.