Soạn Văn Lớp 7 Bài Liên Kết Trong Văn Bản Ngắn Gọn Hay Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Trong Lòng Mẹ (Siêu Ngắn)
  • Trong Lòng Mẹ (Trích Những Ngày Thơ Ấu)
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Trong Lòng Mẹ
  • Khái Quát Tác Phẩm Trong Lòng Mẹ
  • Đoạn Văn Ngắn Cảm Nhận Về Chú Bé Hồng
  • Soạn văn lớp 7 bài Liên kết trong văn bản ngắn gọn hay nhất : 2. Phương tiện liên kết trong văn bản a) Hãy sửa lại đoạn văn để En-ri-cô có thể hiểu được ý bố mình. Trả lời: Muốn sửa lỗi liên kết, phải nắm đoán định được ý đồ của người viết. Trong đoạn văn trên, người bố muốn nói cho En-ri-cô nhận thấy lỗi của mình khi đã thiếu lễ độ với mẹ, cũng là để giúp En-ri-cô hiểu được tình thương yêu vô bờ bến của mẹ dành cho con.

    Soạn văn lớp 6 trang bài Viết bài tập làm văn số 7 Soạn văn lớp 6 bài Luyện tập cách viết đơn và sửa lỗi

    Soạn văn lớp 7 trang 17 tập 1 bài Liên kết trong văn bản ngắn gọn hay nhất

    Câu hỏi bài Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản tập 1 trang 17

    1. Tính liên kết của văn bản

    – Hãy đọc đoạn văn sau:

    Trước mặt cô giáo, con đã thiếu lễ độ với mẹ. Bố nhớ, cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con! Hãy nghĩ xem, En-ri-cô à! Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con! Thôi, trong một thời gian con đừng hôn bố.

    a) Theo em, nếu bố En-ri-cô chỉ viết như vậy thì En-ri-cô có thể hiểu được điều bố muốn nói chưa?

    b) Nếu En-ri-cô chưa hiểu được điều bố muốn nói thì tại sao? Hãy xem xét các lí do sau:

    + Vì có câu văn viết chưa đúng ngữ pháp;

    + Vì có câu văn nội dung chưa thật rõ ràng;

    + Vì các câu văn chưa gắn bó với nhau, liên kết lỏng lẻo.

    c) Vậy, muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì nó phải có phẩm chất gì?

    2. Phương tiện liên kết trong văn bản

    a) Hãy sửa lại đoạn văn để En-ri-cô có thể hiểu được ý bố mình.

    b) Chỉ ra sự thiếu liên kết trong đoạn văn sau và sửa lại:

    Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là không ngủ được. Giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của đứa trẻ tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

    c) Qua hai đoạn văn trên, hãy tự rút ra:

    – Một văn bản như thế nào thì được xem là có tính liên kết?

    – Các câu trong văn bản phải sử dụng những phương tiện gì để văn bản có tính liên kết?

    Sách giải soạn văn lớp 7 bài Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản trang 17

    a, Nếu bố En-ri-cô chỉ viết mấy câu như vậy thì En-ri-cô không thể hiểu được điều bố định nói

    b, En-ri-cô chưa hiểu ý bố vì:

    – Có câu văn nội dung chưa rõ ràng

    – Giữa các câu còn chưa có sự liên kết

    c, Muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì các câu văn phải rõ ràng, nội dung phải có tính liên kết

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản trang 17

    a, Trong đoạn văn trên thiếu ý:

    + Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố

    + Nhớ lại điều ấy bố không thể nén được cơn tức giận đối với con

    ⇒ Điều này khiến đoạn văn tối nghĩa và khó hiểu

    b, Đoạn văn thiếu tính liên kết vì không có gì gắn bó với nhau

    – Để đoạn văn trở nên hợp lý, có nghĩa cần phải thêm cụm từ “Còn bây giờ” trước câu thứ hai và thay từ “đứa trẻ” bằng từ “con” ở câu ba

    c, Một văn bản có thiếu tính liên kết phải có điều kiện: Người nói và người viết phải làm thống nhất, gắn bó chặt chẽ nội dung với nhau. Các câu trong văn bản phải được liên kết hợp lí

    Câu hỏi Phần Luyện Tập bài Liên kết trong văn bản lớp 7 tập 1 trang 18

    Câu 1 (trang 18 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

    Sắp xếp những câu văn dưới đấy theo một thứ tự hợp lí để tạo thành đoạn văn có tính liên kết chặt chẽ.

    (1) Một quan chức của thành phố đã kết thúc buổi lễ phát thưởng như sau: (2) Và ông đưa tay chỉ về phía các thầy giáo, cô giáo ngồi trên các hành lang. (3) Các thầy, các cô đều đứng dậy vẫy mũ, vẫy khăn đáp lại, tất cả đều xúc động về sự biểu lộ lòng mến yêu ấy của học sinh. (4) “Ra khỏi đây, các con ạ, các con không được quên gửi lời chào và lòng biết ơn đến những người đã vì các con mà không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến cả trí thông minh và lòng dũng cảm cho các con, những người sống và chết vì các con và họ đây này!”. (5) Nghe lời kêu gọi cảm động, đáp ứng đúng những tình cảm của mình, tất cả học sinh đều đứng dậy, dang tay về phía các thầy, các cô.

    Tôi nhớ đến mẹ tôi “lúc người còn sống tôi lên mười”. Mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, tôi nói với mẹ có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ. Còn chiều nay, mẹ hiền từ của tôi cho tôi đi dạo chơi với anh con trai lớn của bác gác cổng.

    Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của … và nhớ lại ngày nào … trồng cây, … chạy lon ton bên bà. … bảo khi nào cây có quả … sẽ dành quả to nhất, ngon nhất cho …, nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. … bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu.

    (Theo Nguyễn Thị Thuỷ Tiên, Những bức thư đoạt giải UPU)

    Câu 4 (trang 19 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

    Tại sao khi hai câu văn sau bị tách ra khỏi đoạn thì chúng trở nên lỏng lẻo về mặt liên kết:

    “Đêm nay mẹ không ngủ được. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con.”

    (Cổng trường mở ra)

    Câu 5 (trang 19 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

    Em có liên hệ gì giữa câu chuyện về Cây tre trăm đốt và tính liên kết của văn bản?

    Sách giải soạn văn lớp 7 bài Phần Luyện Tập

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 18

    Trình tự hợp lý: câu (1)→ (4) → (2) → (5) → (3)

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 19

    Về mặt hình thức tưởng chừng đoạn văn có tính liên kết, nhưng phần nội dung hoàn toàn phi logic:

    + Khi nhân vật “tôi” đang nhớ tới mẹ “lúc còn sống, tôi lên mười” thì không thể kể chuyện “sáng nay”, “chiều nay” được nữa

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 19

    Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của bà và nhớ lại ngày nào bà trồng cây, cháu chạy lon ton bên bà. Bà bảo khi nào có quả bà sẽ dành quả to nhất, ngon nhất cho cháu nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. Thế là bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu.

    Trả lời câu 4 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 19

    – Hai câu trên đặt cạnh nhau tạo cảm giác không có sự liên kết chặt chẽ giữa chúng nhưng đọc tiếp câu sau: “mẹ sẽ đưa con đến trường… một thế giới kì diệu sẽ mở ra” sẽ tạo được tính liên kết chặt chẽ cho đoạn văn

    Trả lời câu 5 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 19

    Thông qua chuyện Cây tre trăm đốt, chúng ta hiểu vai trò của liên kết đối với văn bản:

    Nếu không có liên kết, các câu sẽ tồn tại rời rạc nhau, không thể tạo thành chỉnh thể hoàn chỉnh

    Tags: soạn văn lớp 7, soạn văn lớp 7 tập 1, giải ngữ văn lớp 7 tập 1, soạn văn lớp 7 bài Liên kết trong văn bản ngắn gọn , soạn văn lớp 7 bài Liên kết trong văn bản siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Văn Bản “trong Lòng Mẹ”, Qua Văn Bản Đó Em Suy Nghĩ Gì Về Tình Mẫu Tử? Cũng Trong Văn Bản Đó Hãy Chì Ra Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng
  • Giải Thích Và Bình Luận Câu Tục Ngữ: “đói Cho Sạch, Rách Cho Thơm”. Từ Đó Em Rút Ra Bài Học Gì Cho Bản Thân?
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Hiểu Về Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Tiếng Việt
  • Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Truyện Trung Đại Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Luyện Tập Tóm Tắt Tác Phẩm Tự Sự Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Về Truyện Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Thuyết Minh Về Quyển Sách Ngữ Văn 9 Tập 1 Có Dàn Ý Chi Tiết
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8
  • Tóm Tắt, Bố Cục Văn Bản Những Đứa Trẻ Lớp 9
  • Soạn văn lớp 9 ☞ Soạn bài: Kiểm tra truyện trung đại Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 Trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 hay nhất cực đầy đủ, chi tiết và bám sát chương trình nhất. Đây là tài liệu cực kỳ bổ ích dành cho các em học sinh cuối cấp. Với đặc thù chương trình Ngữ vă lớp 9 sẽ là nội dung trọng tâm trong hệ thống đề thi chuyển cấp. Chính vì vậy các em cần phải nắm chắc các bài soạn văn lớp 9. Đó là hệ thống các kiến thức trọng tâm, sát đề thi và rất dễ ghi nhớ.

    Câu 1: Lập bảng thống kê, ghi những kiến thức cần thiết vào từng cột theo mẫu

    Câu 2: Bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ qua tác phẩm Chuyện Người con gái Nam Xương và qua các đoạn trích Truyện Kiều.

    a. Vẻ đẹp:

    ☞ Đẹp ở nhan sắc tài năng (Chị em Thúy Kiều). Đặc biệt là vẻ đẹp của Thúy Kiều.

    ☞ Đẹp ở tâm hồn, tình cảm:

    ☞ Hiếu thảo, thủy chung, son sắc: Thúy Kiều thủy chung với Kim Trọng, hiếu thảo với cha mẹ, Vũ Nương thủy chung với chồng, tận tâm chăm sóc mẹ chồng.

    ☞ Nhận hậu, vị tha.

    ☞ Luôn khát vọng tự do, công lý, chính nghĩa: Thúy Kiều báo ân, báo oán phân minh. Vũ Nương lấy cái chết để bày tỏ sự trong sạch, chết rồi nhưng nhờ Phan Lang nói với chồng lập đàn giải oan, hiện về dương gian trong chốc lát.

    b. Bi kịch:

    ☞ Đau khổ, oan khuất: Vũ Nương bị nghi oan, không minh oan được, phải gieo mình xuống dòng Hoàng Giang.

    ☞ Tình yêu tan vỡ: Thúy Kiều và Kim Trọng đã từng thề nguyền dưới trăng vậy mà bỗng chốc mối tình ấy tan vỡ. Đau đớn thay!

    ☞ Nhân phẩm bị chà đạp: Vũ Nương bị chồng mắng mỏ, đến nỗi phải tự vẫn. Thúy Kiều bị coi như một món quà hàng đem ra mua bán, bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích trong nỗi cô đơn tuyệt vọng.

    Câu 3: Bộ mặt xấu xa, thối nát của giai cấp thống trị, của xã hội phong kiến:

    ☞ Ăn chơi xa hoa, truỵ lạc ( Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh)

    ☞ Hèn nhát, xu nịnh ngoại bang ( Hoàng Lê nhất thống chí).

    ☞ Giả dối, bất nhân, vì tiền mà táng tận lương tâm ( Truyện Kiều).

    Câu 4: Phân tích hình tượng các nhân vật:

    ☞ Nguyễn Huệ:

    ☞ Lòng yêu nước nồng nàn

    ☞ Quả cảm, tài trí

    ☞ Nhân cách cao đẹp

    ☞ Lục Vân Tiên:

    ☞ Lí tưởng đạo đức cao đẹp

    ☞ Thể hiện quan điểm đạo đức Nho gia và quan niệm đạo đức của nhân dân

    Câu 5: Nguyễn Du và Truyện Kiều:

    ☞ Tiểu sử

    ☞ Nguyễn Du (1765☞1820) quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống về văn học.

    ☞ Cuộc đời Nguyên Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII ☞ nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật: chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi.

    ☞ Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh, sau đó ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813☞1814 ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Năm 1820 ông được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, mất tại Huế.

    ☞ Học vấn: Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Ông có vốn sống phong phú, niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân.

    ☞ Sự nghiệp: Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn cả bằng chữ Hán và chữ Nôm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Ứng Dụng Giải Bài Tập Offline
  • Tóm Tắt Văn Bản Tiếng Việt Tự Động Với Mô Hình Sequence
  • Các Trang Web Dịch Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Phần Mềm Nghe Đọc Tiếng Anh Có Hướng Dẫn Balabolka Doc
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Lớp 9 Hay Đầy Đủ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Tại Sao Hiến Pháp Lại Là Luật Cơ Bản Của Nhà Nước, Có Hiệu Lực Pháp Lí Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam?
  • Luật Giao Thông Đường Bộ Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Hơn Quy Chuẩn 41
  • Mẫu Bản Quy Định Về Phòng Cháy Và Chữa Cháy Năm 2021
  • SOẠN BÀI LUYỆN TẬP TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ

    I- Sự cần thiết của việc tóm tắt văn bản tự sự

    1. Tìm hiểu các tình huống sau 2. Suy nghĩ và thực hiện các yêu cầu sau:

    a. Nhận xét về sự cần thiết phải tóm tắt văn bản tự sự: Trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng có thời gian và điều kiện để trực tiếp xem một bộ phim hoặc đọc một tác phẩm, vì vậy việc tóm tắt văn bản tự sự là nhu cầu tất yếu do cuộc sống tạo ra

    b. Các tình huống khác cần phải tóm tắt văn bản tự sự:

    • Bà nhờ em kể lại vở kịch chiếu trên ti vi
    • Con kể lại cho mẹ nghe về một ngày học tập của mình
    • Chú bộ đội kể lại một trận đánh

    II- Thực hành tóm tắt một văn bản tự sự

    Câu 1 trang 58 SGK văn 9 tập 1:

    a. Các nhân vật và sự kiện nhìn chung đã nêu đầy đủ nhưng vẫn còn thiếu một sự việc quan trọng, đó là một đêm Trương Sinh cùng con trai ngồi bên đèn, đứa bé chỉ vào chiếc bóng của Trương Sinh trên tường và nói đó là cha.

    Đây là sự việc quan trọng vì nó là chi tiết thắt nút, cũng là mở nút của câu chuyện

    b. Các sự việc nêu chưa hợp lí và cần bổ sung ý quan trọng đã tìm ở trên vào sau ý thứ tư trước khi viết tóm tắt

    Câu 2 trang 59 SGK văn 9 tập 1:

    Tóm tắt Người con gái Nam Xương:

    Trương Sinh cưới Vũ Nương, là một người con gái xinh đẹp, lại hiền dịu nết na. Kết hôn chưa được bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, để mẹ già và người vợ trẻ bụng mang dạ chửa ở lại. Mẹ Trương Sinh vì thương nhớ con mà mất, Vũ Nương lo ma chay chu tất. Giặc tan, Trương Sinh về nhà, nghe lời nói hồn nhiên của con, nghi ngờ vợ mình không chung thủy. Vũ Nương bị oan, bèn gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự tử. Một đêm, Trương Sinh cùng con ngồi bên chiếc đèn, đứa con chỉ chiếc bóng trên tường và nói rằng đó là bố. Lúc đó, Trương Sinh mới biết là vợ mình bị oan. Phan Lang là người cùng làng với Vũ Nương, do cứu nạn Linh Phi, vợ vua Nam Hải nên khi gặp nạn được Linh Phi cứu để trả ơn. Phan Lang gặp lại Vũ Nương, nhân việc Phan Lang trở về trần gian, Vũ Nương gửi chiếc hoa vàng và lời nhắn đến Trương Sinh. Trương Sinh nhìn thấy chiếc hoa vàng của vợ, tin lời Phan Lang là thật, bèn lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Vũ Nương trở về, ngồi trên chiếc kiệu hoa ở giữa dòng, nói lời tạm biệt với Trương Sinh rồi biến mất

    Câu 3 trang 59 SGK văn 9 tập 1:

    Tóm tắt Người con gái Nam Xương ngắn gọn:

    Xưa có chàng Trương Sinh, vừa cưới vợ đã phải đi lính. Vợ chàng là Vũ Nương ở nhà sinh được một đứa con trai và lo ma chay chu tất khi mẹ chồng mất. Giặc tan, Trương Sinh về nhà, nghe lời con nghĩ vợ không chung thủy. Vũ Nương bèn gieo mình xuống sông tự vẫn. Một đêm, khi con trai chỉ chiếc bóng trên tường và nói là bố, Trương Sinh mới biết vợ bị oan. Phan Lang là người cùng làng, vì cứu mạng Linh Phi nên được trả ơn. Phan Lang gặp lại Vũ Nương, khi về trần gian được nàng gửi cho chiếc hoa vàng và lời nhắn tới Trương Sinh. Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, thấy Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa trở về, nói lời tạm biệt rồi biến mất.

    III- Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc:

    Lão Hạc là một nông dân nghèo, hiền lành, chất phác. Con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ nên quẫn chí bỏ đi đồn điền cao su. Lão ở nhà làm thuê làm mướn, kiếm ăn qua ngày. Người bạn thân nhất của lão chỉ có con chó Vàng. Nhưng vì sức khỏe yếu kém, lại bão gió, mất mùa lão đành phải gạt nước mắt bán cậu Vàng. Lão nhờ ông giáo đứng tên mảnh vườn để sau này giao lại cho con trai lão, đồng thời gửi ba mươi đồng bạc để lo ma chay khi lão mất. Nghe Binh Tư nói lão Hạc xin bả chó, ông giáo rất buồn và thất vọng. Nhưng khi chứng kiến cái chết đầy đau đớn của lão, ông giáo mới hiểu ra tất cả.

    Tóm tắt văn bản Chiếc lá cuối cùng:

    Xiu và Giôn- xi là hai nữ họa sĩ nghèo, còn trẻ. Cụ Bơ- men là người họa sĩ già ôm ấp giấc mơ về một kiệt tác mà mãi chưa thành. Mùa đông năm ấy, Giôn- xi mắc bệnh sưng phổi. Bệnh tật và nghèo túng khiến cô tuyệt vọng không muốn sống nữa. Cô cho rằng khi nào chiếc lá thường xuân cuối cùng trên bức tường đối diện rụng xuống thì mình cũng lìa đời. Sau một buổi tối mưa gió, chiếc lá thường xuân cuối cùng vẫn còn đấy. Giôn- xi có thêm niềm tin vào cuộc sống và dần trở nên khỏe hơn. Nhưng hóa ra chiếc lá ấy lại là kiệt tác của cụ Bơ- men, cụ đã vẽ chiếc lá vào đêm mà chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống và chết vì bệnh sưng phổi.

    Nguồn Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Tập 2
  • Soạn Bài Kiểm Tra Thơ Và Truyện Hiện Đại
  • Ý Nghĩa Nhân Đề Các Văn Bản 9
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Lớp 9
  • Soạn Bài: So Sánh (Tiếp Theo)
  • Soạn Văn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Giả Mạo Văn Bản Của Văn Phòng Chính Phủ Để Lừa Đảo
  • Tổ Công Tác Của Thủ Tướng Làm Việc Với Các Bộ Về Nợ Đọng Văn Bản
  • 23 Tỉnh, Thành Đã Kết Nối Với Hệ Thống Quản Lý Văn Bản Của Vpcp
  • Vài Phân Tích Về Văn Bản Của Văn Phòng Thủ Tướng
  • Quy Định Về Viết Hoa Trong Văn Bản Chính Phủ.doc
  • Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 1

    I. TÌM HIỂU CHUNG

    1. Tác giả

    a) Cuộc đời:

    Lê hữu trác là người làn Liên Xá, huyện Đường Hòa, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương.

    Tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông ( nghĩa là ông già lười ở đất thượng Hồng ) Lười làm quan và biếng danh lợi

    Gia đình ông có truyền thống học hành và thi cử đỗ đạt làm quan.

    b) Sự nghiệp:

    Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học…

    Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

    2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

    Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu về sự phát triển của văn học Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

    Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn.

    3. Vị trí đoạn trích:

    Đoạn trích ghi lại thời điểm: sau khi ông vào kinh, đang tá túc ở tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì được mời vào phủ chía Trịnh xem bệnh cho thế tử Cán. Đây là lần đầu ông bước chân vào chốn này.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

    1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    a) Quang cảnh trong phủ chúa

    + Quang cảnh trong đây được miêu tả cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu có thể sánh bằng.

    + Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm.

    + Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

    + Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm, mà là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

    ( màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

    * Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành nhưng giờ đây vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

    b) Cung cách sinh hoạt

    -Cách nói năng:

    + Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

    +Trịnh Cán thì:Thánh thể(1lần)

    + Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tin đông đảo nhộn nhịp.

    + Phủ chúa ra vào phải có thẻ

    + Lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

    + Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

    c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

    + Tác giả dửng dưng trước những quyến rũ về vật chất, cảnh sống xa hoa bởi vì nó được xây bằng xương bằng máu của nhân dân.

    + Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và cả không khí tự do.

    Tóm lại:

    Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, chúng ta thấy được sự lộng quyền của nhà chúa đối với quyền tối thượng và cả nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng với gia đình, sự thật bù nhìn của tên vua Lê khi đó.

    2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

    a) Thế tử Cán:

    nơi thế tử ngự là chốn thâm nghiêm tối tắm, bao quanh đó là các vật dụng gấm góc, lụa là vàng ngọc…

    + Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

    + Không khí lạnh lẽo tù túng

    + Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chân tay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

    Những điều trên cho thấy cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực lại trống rỗng. Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – trịnh vào những năm cuối TK XVIII.

    b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

    + Đó là một người thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

    + Bên cạnh tài năng thì ông còn là thầy thuốc rất có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.

    3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

    + Cách quan sát rất tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tảnh cảnh người sinh động, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

    + Cách kể diễn biến câu chuyện và cả sự khéo léo, lôi cuốn người đọc.

    + Mang giá trị hiện thực sâu sắc

    III. Kết luận:

    Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích vào phủ chúa Trịnh đã giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua le Chúa Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích hầu như đã biến mất.

    Qua cách miêu tả người, tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngầm phê phán kín đáo về cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh, đồng thời thể hiện được tâm hồn cao thượng, khát khao một cuộc sống tự do không cần màng tới danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 12

    I. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU VĂN BẢN

    Câu 1: Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Thái độ của tác già?

    Trả lời:

    a) Bậc danh y tuổi cao, tài lớn dã nhìn thấy và ghi lại quang cảnh ở phủ chúa Trịnh Sâm. Đó là cành cực kỳ xa hoa, tráng lệ và nổi lên quyển uy tột bậc cùa nhà chúa.

    – Vào phủ chúa phải qua nhiều lần cửa và “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”… “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

    – Trong khuôn viên phủ chúa “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Bài thơ ghi lại suy nghĩ và cảm nhận của tác giả để minh chứng cho cảnh sống xa hoa, uy quyền của phủ chúa:

    Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt

    Cả trời Nam sang nhất là đây!

    + Nội cung được miêu tả gồm những chiếu gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt, cung nhân xúm xít, mặt phấn áo đỏ…

    + Ăn uống thì: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”.

    + Về nghi thức: Lê Hữu Trác phải qua nhiều thù tục mới dược vào thăm bệnh cho thế tử. Nào là phải qua nhiều cừa, phải chờ đợi khi có lệnh mới được vào. “Muốn vào phải có thẻ”, vào đến nơi, người thầy thuốc Lê Hữu Trác phải “lạy bốn lạy”. Tất cả những chi tiết trên cho người đọc nhận thấy phủ chúa Trịnh thật lộng lẫy, sang trọng, uy nghiêm. Lời lẽ nhắn tới chúa Trịnh và thế từ đểu phải hết sức cung kính (thánh thượng, ngự, yết kiến, hầu mạch…). Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không thấy mặt chúa mà chi làm theo mệnh lệnh cùa chúa do quan Chánh dường truyền dạt lại. Xem bệnh xong chi được viết tờ khải dể dâng lên chúa. Nghiêm đến nỗi tác giả phải “Nín thở đứng chờ ở xa”.

    – Đó là tài quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động giữa con người với cảnh vật. Thuật lại sự việc theo trình tự diễn ra một cách tự nhiên khiến ta có cảm giác, tác giả không hề thêm thắt, hư cấu mà cảnh vật, sự việc cứ hiện ra rõ mồn một. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Đằng sau bức tranh và con người ấy chứa đựng, dồn nén bao tâm sự của tác giả.

    b) Với tư cách cùa một người “… vốn con quan, sinh trường ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng dã từng biết. Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi”. Bước chân tới đây, tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ. Song qua ngòi bút sắc sảo ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe của tác giả, người đọc nhận ra thái độ của người cầm bút. Ôông sững sờ trước quang cảnh của phủ chúa “Khác gì ngư phủ dào nguyên thuở nào!” (một ngư phủ chèo thuyền theo dòng suối lạc vào động tiên). Việc được hưởng thụ giàu sang đang nàm trong tay nhưng rốt cuộc tác giả chẳng có thiết tha gì. Đây là đường vào nội cung thế tử “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Phải chăng thái độ gián tiếp của tác giả là tỏ ra không dồng tình với cuộc sống xa hoa, hưởng lạc thú quá mức của những người giữ trọng trách quốc gia? Cách tìm cuộc sống an nhàn nơi ấn dật rõ ràng là sự đối trọng gay gắt với cảnh sống của gia dinh chúa Trịnh Sâm và bọn quan lại dưới trướng. Thì ra tất cả những thứ sơn son thếp vàng, võng điều áo đỏ, sập vàng, gác tía, nhà cao cửa rộng, hương hoa thơm nức, đèn đuốc lấp lánh,… chỉ là phù phiếm, hình thức, che đậy những gì nhơ bẩn ỏ bên trong. Những thứ đó qua cái nhìn của một ông già áo vải, quê mùa, tự nó phơi bày tất cả. Điều đó giúp ta khẳng định Lê Hữu Trác không thiết tha gì với danh lợi, với quyền uy cao sang.

    c) Đó là sự thành công khi miêu tả con người. Từ quan truyền chí đến quan Chánh đường, từ người lính khiêng võng, cầm lọng đến các quan ngự y, từ những cô hầu gái đến những phi tần, mĩ nữ đểu hiện lên rất rõ. Nhưng rõ nhất là thế tử Cán.

    Câu 2: Chi tiết làm nổi bật giá trị hiện thực cùa tác phẩm?

    Trả lời

    – Lối vào chỗ ở của vị chúa nhỏ

    “Đi trong tối om, qua năm, sáu lần trướng gấm”

    – Nơi thế tử ngự; đạt sập vàng, cắm nến to trên giá đồng, bày ghế đồng sơn son thếp vàng, nệm gấm. Ngót nghét chục người đứng chầu chực sau tấm màn che ngang sân, cung nữ xúm xít. Đèn chiếu sáng làm nổi bật màu phấn và màu áo đỏ, hương hoa ngào ngạt.

    – Chỉ có một ấu chúa, thực chất chỉ là cậu bé lên 5 tuổi mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc. Tất cả, bao chặt lấy con người. Người thì đông nhưng tất cả đều im lặng khiến cho không khí trờ nên lạnh lẽo, băng giá. Bao trùm lên các mùi phấn son tuy ngào ngạt nhưng thiếu sinh khí. Một cậu bé bị quây tròn, bọc kín trong cái tổ kén vàng son.

    + Mặc áo đỏ, ngồi trên sập vàng

    + Biết khen người giữ phép tắc: “Ông này lạy khéo”

    + Cời áo thì: “Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò… nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức… mạch lại tế,… âm dương đều bị tổn hại…”

    – Thế tử Cán được miêu tả bằng con mắt nhìn của một vị lang y tài giỏi bắt mạch, chẩn đoán bệnh. Tác giả vừa tả, vừa nhận xét khách quan. Thế tử Cán được tái hiện lại thật đáng sợ: Tinh khí khô, mặt khô, toàn những đường nét của cơ thể đang chết. Hình ảnh thế từ Cán, chỉ qua vài nét miêu tả đã hiện rõ một cơ thể ốm yếu. Bấy nhiêu đã đủ rồi, nhưng chúng ta hãy đọc trong đơn thuốc của thế tử: “… sáu mạch tế, sác và vô lực, hữu quan yếu, hữu xích lại càng yếu hơn. Ấy là tì âm hư, vị hoả quá thịnh, không giữ được khí dương nên âm hoả đi càn. Vì vậy, bên ngoài thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phù bên trong thì trống”. Phải chăng cuộc sống vật chất quá đầy đủ, quá mức giàu sang, phú quý nhưng tất cả nội lực bên trong là tinh thần, ý chí, nghị lực, phẩm chất thì trống rỗng. Ngôn ngữ của y học, hình hài tính khí vẫn là của con người nhưng từng câu, từng chữ có lúc tạo nên nhịp điệu đối xứng: “Màn che – trướng phủ”, với điệp ngữ “quá no… quá ấm”. Nhà khoa học kiêm nghệ sĩ đã chỉ đúng cội nguồn căn bệnh của Trịnh Cán là cả tập đoàn phong kiến của xã hội Đàng ngoài ốm yếu không gì cứu vãn nổi.

    Cảu 3: Người thầy thuốc Lê Hữu Trác hiện lên như thế nào?

    Trả lời:

    – Khi khám bệnh cho thế tử Cán, thái dộ Lê Hữu Trác diễn biến rất phức tạp.

    + Một mặt tác giả chí ra căn bệnh cụ thể, nguyên nhân của nó, một mặt ngám phê phán: “Vì thế tử ờ trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ám nên tạng phù yếu đi”.

    + Ông rất hiểu căn bệnh cùa Trịnh Cán, đưa ra những cách chữa hợp lý, thuyết phục nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay, chúa sẽ tin dùng, bị công danh trói buộc: “Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa”. Để tránh được, cứ cầm chừng, dùng thuốc vỏ thưởng vô phạt. Song làm thế lại trái với y đức, trái với lương tâm, phụ lòng ông cha. Tâm trạng ấy giằng co, xung đột. Đây là ý nghĩ đáng quý: “Cha ông mình đời đời chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được”. Cuối cùng phẩm chất, lương tâm trung thực cùa người thầy thuốc đã thắng. Lê Hữu Trác đã gạt sang một bên sở thích của riêng mình đê’ làm tròn trách nhiệm. Khi dã quyết, tác giả chẳng đưa ra lí lẽ để giải thích. Điều đó chứng tỏ tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng, già dặn kinh nghiệm. Ống lấy việc trị bệnh cứu người làm mục đích chính, y dức ấy ai hơn.

    – Quan sát tỉ mỉ.

    + Quang cảnh phù chúa.

    + Nơi thế tử Cán ở, cảnh vật dưới ngòi bút ký sự của tác già tự phơi bày.

    – Ghi chép trung thực, giúp người đọc thấy được cánh ấy có sự bài trí của giàu sang, quyền chức.

    + Từ việc ngồi chờ ờ phòng trà đến bữa cơm sáng.

    + Từ việc xem bệnh cho thế tử Cán đến ghi đơn thuốc.

    Tất cả không có một chút hư cấu, chi thấy hiện thực dời sống được bóc tách dần từng mảng. Người đọc không thể dừng lại ờ bất cứ chỗ nào. Cách ghi chép cũng như tài năng quan sát đã tạo được sự tinh tế, sắc sảo ở một vài chi tiết, gây ấn tượng khó quên.

    + Cách thế tử ngồi trên sập vàng chễm chệ, ban một lời khen khi một cụ già quỳ dưới đất lạy bốn lạy: “Ông này lạy khéo”.

    + Khi đi vào nơi thế tử để xem mạch, tác giả chú ý cả chi tiết bên trong cái màn là nơi “Thánh thượng đang ngự”(Chi chúa Trịnh Sâm). “Có mấy người cung nhãn đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo dỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Chi tiết này khắng dịnh việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra mổn một.

    Câu 4: Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự?

    Trả lời:

    – Đoạn văn trích Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác vừa mang đậm giá trị hiện thực, vừa thể hiện phẩm chất của một thầy thuốc giàu tài năng mang bản lĩnh vô vi, thích sống gần gũi chan hoà với thiên nhiên, ghẻ lạnh với danh vọng, suốt đời chăm lo giữ gìn y đức của mình.

    – Với tài năng quan sát sự vật, sự việc cùng với cách kể hấp dẫn. Lê Hữu Trác đã góp phần khẳng định vai trò, tác dụng của thể ký đối với hiện thực đời sống.

    II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    Bài tập: So sánh đoạn trích: Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác (Thượng kinh kí sự) với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ (Vũ trung tuỳ bút)?

    Trả lời:

    Nhân việc được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, ghi lại quang cảnh và cuộc sống cực kì xa hoa của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ

    Kể lại những thú vui ham chơi của Trịnh Sâm: đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ờ các li cung, xây dựng núi non. chậu hoa cảnh, vơ vét, chiếm đoạt của cải tiền bạc của nhân dân với nhũng tệ nạn nhũng nhiễu của bọn hoạn quan một cách thô bạo và trắng trợn.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 3

    I.TÌM HIỂU CHUNG

    1.Tác giả

    a) Cuộc đời:

    + Người làng Liên Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương

    Gia đình có truyền thống hoc hành và thư cử đỗ đạt làm quan.

    b) Sự nghiệp:

    Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học…

    Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

    2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

    Là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu sự phát triển của văn học ( Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

    Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho Thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn..

    3.Vị trí đoạn trích:

    Đoạn trích ghi lại thời điểm: Sau khi ông vào kinh, đang tá túc tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì ông được mời vào phủ chúa Trịnh để xem bệnh cho Thế tử Cán. Đây là lần đầu tiên ông bước chân vào chốn thâm nghiêm này.

    II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

    1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    a) Quang cảnh trong phủ chúa

    Cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu sánh bằng:

    – Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm

    – Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

    – Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm với những trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

    (màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

    * Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành mà vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

    b) Cung cách sinh hoạt

    – Cách nói năng:

    + Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

    +Trịnh Cán thì:Thánh thể (1lần)

    + Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tinđông đảo nhộn nhịp.

    + Phủ chúa ra vào phải có thẻ; lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

    + Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

    c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

    Tác giả dửng dưng trước những những quyến rũ vật chất,cảnh sống xa hoa bởi nó được xây bằng xương máu của nhân dân…

    + Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khíi tự do…

    Tóm lại:

    Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, ta thấy: Sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình; sự thật bù nhìn của vua Lê khi ấy…

    2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

    a) Thế tử Cán:

    Nơi thế tử ngự là nơi thâm nghiêm tối tăm ; bao quanh là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc…

    + Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

    + Không khí lạnh lẽo tù túng

    + Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chântay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

    Cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực trống rỗng.Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu muc6 ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh Những năm cuối TK XVIII.

    b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

    +Tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

    + Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ…

    3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

    + Cách quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh tả người sinh động, không bỏ sót chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

    + Cách kể diễn biến câu chuyện và sự việc khéo léo,lôi cuốn người đọc.

    Giá trị hiện thực sâu sắc

    III. Kết luận:

    * Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích Vào phủ chúa trịnh giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua Lê chúa,Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích này hầu như đã biến mất.

    * Qua cách miêu tả người tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngẩm phê phán kín đáo cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh đồng thời thể hiện tâm hồn cao thượng, khát khao cuộc sống tự do không màng danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

    Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 4

    1. Vài nét về tác giả Lê Hữu Trác

    – Lê Hữu Trác tên hiệu là hải thượng lãn ông, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học hành thi đậu cao, ông cũng là một thầy thuốc giỏi.

    2. Tác phẩm.

    – Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

    3. Quang cảnh, cách thức sinh hoạt trong phủ chúa.

    – Quang cảnh:

    + Khung cảnh trong phủ chúa nhộn nhịp xa hoa, với những tiếng chim hót những cánh hoa, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau, cảnh vật xung quanh phủ chúa thật xa hoa lộng lẫy, nó mang một vẻ đẹp tran hoàng những cảnh vật ngoài xã hội lại đối lập với cảnh vật trong phủ chúa, bên trong đồ vật trong phủ chúa thì được to son thiếc vàng làm tôn lên vẻ đẹp lộng lẫy,hét sức xa hoa, không khí ở phủ chúa thật ngột ngạt, nó khiến cho tác giả bị xiết chặt vào cái sung túc nhưng lại dựa trên sự đau khổ của nhân dân lao động, những khung cảnh đó làm cho tác giả ngột ngạt ông như đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác, ông cảm thấy khó thở và căm phẫn trước sự sa hoa của bọn bạo chúa.

    – Cung cách sinh hoạt:

    + Trong phủ chúa Trịnh chỉ có những kinh thánh và những lời cầu khẩn dạ thưa của vua quan và đầy tớ, chúa trịnh là một người sống rất xa hóa trong cách sinh hoạt của hắn luôn có những phi tần luôn trầu trực, và thúc trực quanh hắn, thế tử thì luôn có đến bẩy tám người thầy thuốc tục trực…. một cuộc sống xa hoa ở phủ chúa đã bộc lộ ra một chế độ ăn chơi xa đọa không lo cho cuộc sống của nhân dân.

    Người đọc khi đọc xong dường như đều có cảm xúc khi thấy một khung cảnh xa hoa nơi phủ chúa và cả những phong thái sinh hoạt xa hoa, sự xa hoa ở phủ chúa là sự cực khổ của nhân dân, mỗi sự cực khổ của nhân dân là một phần xa hoa sung túc ở phủ chúa, bóc lột sức lao động của nhân dân vào việc ăn chơi trác táng.. một chế độ thật đáng lên án sâu sắc.

    + Cảnh xa hoa tráng lệ ở phủ chúa trịnh khác hẳn và đối lập với cuộc sống đời thường bên ngoài mỗi chúng ta, nhân dân lúc ấy giờ đang lâm vào nạn đói, sưu thuế tăng cao nộp vào cho triều đình để ăn chơi, mỗi cuộc chơi của phủ chúa là những giọt mồ hôi công sức và cả máu của người dân. Nơi đây bọn chúng biến thành nơi để xa hoa chơi, những con người ở đây đều biến chất lúc nào cũng chỉ thích ăn chơi rồi bỏ mặc cuộc sống đói khổ của nhân dân ngoài xã hội, người dân đói lăn lóc ra nhưng bên trong này thì ăn chơi chát tang thật đáng lên án cái bọn hại dân bán nước này.

    Nghi lễ ở phủ chúa thể hiện một khuôn phép một lối sống của một bậc quyền sang có chúc có quyền và nó đã phản ánh một chế độ độc tài thối nát. Nhưng nghi thức rườm rà, thủ tục làm cho khác ngoài đời nơi đây trở thành nơi ăn chơi nhảy múa của bọn hôn quân bạo chúa. Nó tạo nên một không khí bị ép chặt ngột ngạt, chúng muốn biến nơi đây thành thiên dường để trác tang.

    Cái nhìn của tác giả và ngôn ngữ được tác giả thể hiện: những ngôn ngữ mỉa mai, giọng điệu đầy chất châm biếm khi đối diện với khung cảnh đó tác giả dường như choáng ngợp trước quang cảnh nguy nga lộng lẫy ở phủ chúa, đối diện với cuộc sống của nhân dân, không có cơm ăn áo mặc, nhân dân rơi vào lầm than nghèo đói… Lê Hữu Trác là một nhà nho coi thường danh lợi, ông đã lấy cái cá nhân cái cao cả để phản anh một chế độ thối nát xa hoa ăn chơi hưởng lạc.

    Người thầy thuốc nhìn thầy cảnh vật ở phủ chúa không phải vì tiền bạc của cải mà chữa bệnh cho thế tử ông đã gạt bỏ đi những định kiến cá nhân để làm tròn trách nhiệm của một vị thầy thuốc, lấy chữa trị cứu người làm nền tảng…qua đó chúng ta cũng đánh giá được phẩm chất cao quý của người thầy thuốc, đã cứu chữa để giúp tính mạng của con người…

    Thái độ kê đơn thuốc của tác giả: căn bệnh của thái tử là căn bệnh của người giàu nhưng vì lương y của một vị thày thuốc mà ông đã cứu giúp, ông đã bỏ đi cái hiềm khích cá nhân để cứu sống mạng người, ông không chỉ là một người thầy thuốc giỏi mà ông còn là một người có tấm lòng bao dung nhân hậu.

    6. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng trong bài.

    Nghệ thuật: tác giả đã dùng vốn hiểu biết và tài năng của mình để ghi chép lại toàn bộ cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, ghi lại những hình ảnh, sự vật đặc biệt quan trọng để qua đó tố cáo chế độ độc tài thối nát, lối kể chuyện sâu sắc của tác giả đã làm cho người đọc hứng thú với diễn biến câu chuyện. Cả bài là một cuộc sống xa hoa tác giả dã rất thành công trong việc ghi dấu ân đặc biệt bởi những chi tiết rất đặc sắc để lột tả được một cuộc sống xa hoa của phủ chúa, những quan cách và những thủ tục rườm già, mang nặng quyền thế.

    Những chi tiết được tác giả miêu tả rất hiện thực qua đó phản ánh một lớp người một tầng lớp thoái chất, phê phán một chế độ tàn ác.

    Vũ Hường tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Văn Bản: Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực : Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới
  • Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Dàn Ý Phân Tích Văn Bản Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Cách Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 8 Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Câu Hỏi 37852

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Cô Bé Bán Diêm
  • Em Hãy Lập Dàn Ý Cho Văn Bản “cô Bé Bán Diêm”
  • Lập Dàn Ý Cho Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn, Hay Nhất
  • Soạn bài Cô bé bán diêm (trích) siêu ngắn

    Câu 1

    Trả lời câu 1 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    Truyện này có thể chia làm ba phần:

    – Phần 1 (từ đầu… “cứng đờ ra”): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm.

    – Phần 2 (tiếp… “chầu Thượng đế”): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra.

    – Phần 3 (còn lại) Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

    Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ:

    – Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

    – Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu.

    – Lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

    Câu 2

    Trả lời câu 2 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Hoàn cảnh của em bé bán diêm:

    + Gia đình mới sa sút (bà chết, gia sản tiêu tan, dời chỗ ở đẹp đẽ, ấm cúng ngày trước…)

    + Ở với cha trên gác sát mái nhà, gió lùa rét buốt.

    – Hình ảnh cô bé bán diêm thật tội nghiệp:

    + Đầu trần, chân đất (đỏ ửng lên rồi tím bầm lại vì lạnh), bụng đói.

    + Lo âu vì không bán được diêm, không xin được tiền, không dám về vì sợ bố đánh.

    – Bối cảnh:

    + Ngồi trước góc tường tối tăm giữa phố.

    + Co ro trong đêm giao thừa gió rét căm căm.

    – Nhiều sự tương phản đã diễn ra xung quanh em bé và trong lòng em bé:

    + Quá khứ – hiện tại (yên vui, sum họp – sa sút, chia lìa).

    + Phố xá tưng bừng, tấp nập – em bé lang thang cô đơn nghèo khó.

    + Mộng ảo huy hoàng – thực tế tối tăm, khắt nghiệt: bị bỏ rơi trong bần cùng, bất hạnh nhưng tâm hồn luôn luôn hướng về điều thiện và cái đẹp.

    Câu 3

    Trả lời câu 3 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Qua các lần quẹt diêm, các mộng tưởng đã lần lượt hiện ra, rất hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và tâm lí của em bé:

    + Khát khao được sưởi ấm đến được ăn no và ngon.

    + Vui vầy xung quanh cây thông Nô-en.

    + Hồi tưởng về những lần đón giao thừa ngày trước khi bà nội còn sống.

    + Cảnh hai bà cháu cầm tay nhau cùng bay lên trời.

    – Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông.

    – Mộng tưởng thuần túy là mộng tưởng: gặp lại người bà.

    Câu 4

    Trả lời câu 4 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    Cảm nghĩ về cô bé bán diêm:

    – Cô bé có hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp:

    + Sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần.

    + Phải bươn chải kiếm sống ngay từ khi còn rất nhỏ.

    – Ước mơ của em thực tế, giản dị và hồn nhiên:

    + Mơ no ấm, sum vầy bên gia đình.

    + Muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em.

    – Em bé tội nghiệp chết đói và chết rét ngoài đường.

    Đoạn kết truyện:

    – Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười- đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương.

    – Cái chết lúc này là sự cứu rỗi- hai bà cháu bay về chầu Thượng đế.

    – Cái kết vừa có sự bi thương, vừa mang màu sắc cổ tích (phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người và cũng là tư tưởng nhân đạo của tác giả).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Truyện “cô Bé Bán Diêm”của An
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Cô Bé Bán Diêm
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của Tác Giả An
  • Tóm Tắt Cô Bé Bán Diêm Ngắn Nhất (6 Bài).
  • Tóm Tắt Cô Bé Bán Diêm Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Bánh Chưng Bánh Giầy Hay Và Đầy Đủ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bánh Chưng Bánh Giầy Lớp 6 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Bài Mẫu Kể Tóm Tắt Truyện Bánh Chưng, Bánh Giầy Ngắn Gọn, Dễ Hiểu
  • Tả Lại Không Khí Một Tiết Học Văn Của Lớp Em
  • Bài 1. Bánh Chưng, Bánh Giầy Tiet 1 Banh Chung Banh Giay Doc
  • Kể Tóm Tắt Truyện Bánh Chưng, Bánh Giầy
  • Soạn văn lớp 6 bài Bánh Chưng Bánh Giầy hay và đầy đủ nhất

    Bố cục

    Vua Hùng thứ 6 muốn tìm người xứng đáng để truyền ngôi bèn ra một câu đố để thử thách các lang trong lễ Tiên Vương. Các lang tranh tài nhưng không biết ý vua như thế nào để làm vừa lòng. Lang Liêu nhờ có thần mách bảo nên đã làm bánh chưng bánh giầy trong Lễ Tiên Vương và được vua truyền ngôi cho. Kể từ đó, bánh chưng bánh giầy trở thành thứ bánh không thể thiếu trong dịp tết Nguyên Đán.

    • – Đoạn 1 (Từ đầu … đến “chứng giám“): Vua chọn người nối ngôi.
    • – Đoạn 2 (Tiếp theo … đến “nặn hình tròn“): Cuộc đua tài.
    • – Đoạn 3 (Còn lại): Kết quả thi tài.

    Câu 1 Bánh Chưng Bánh Giầy ( trang 12 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    – Vua Hùng chọn người nối ngôi khi đất nước thanh bình và nhà vua đã già

    – Ý định của vua: Người nối ngôi phải nối được chí vua, không nhất thiết phải là con trưởng

    – Hình thức: thử tài (nhân lễ Tiên Vương, ai làm vừa ý vua sẽ được nối ngôi

    Câu 2 Bánh Chưng Bánh Giầy (trang 12 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Trong các con vua, chỉ Lang Liêu được giúp đỡ vì:

    – Mẹ chàng trước kia bị vua ghẻ lạnh, Lang Liêu chịu nhiều thiệt thòi nhất

    – Tuy là hoàng tử nhưng chàng ra khỏi cung vua, sống cuộc đời lương thiện bằng lao động.

    – Lang Liêu hiểu được ý của thần, và tự sáng tạo thành hình của bánh.

    Câu 3 Bánh Chưng Bánh Giầy (trang 12 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Hai thứ bánh của Lang Liêu được chọn tế Trời, Đất, Tiên vương vì:

    – Bánh thể hiện sự quý trọng nghề nông, quý trọng sản phẩm lao động

    – Bánh mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hiện hữu của trời, đất, bao hàm cả cây cỏ, muôn loài

    → Vua hùng chọn Lang Liêu để truyền ngôi chứng tỏ vua trọng người có tài vừa có đạo đức và lòng hiếu thảo, thể hiện sự công bằng của người dân.

    Câu 4 Bánh Chưng Bánh Giầy (trang 12 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy:

    – Giải thích nguồn gốc của bánh chứng, bánh giầy, vừa phản ánh thành tựu

    – Phản ánh thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầu dựng nước

    – Đề cao lao động, đề cao nghề nông

    – Thể hiện sự thành tâm thờ kính Trời Đất, tổ tiên của nhân dân ta.

    Soạn Văn 6 bài Bánh Chưng Bánh Giầy phần luyện tập

    Trả lời câu 1 Bánh Chưng Bánh Giầy (trang 12 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    • Ý nghĩa của phong tục ngày Tết nhân dân ta làm bánh chưng, bánh giầy?
    • – Đề cao nghề làm nông có từ thời xa xưa.
    • – Một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt và cũng là phong tục cổ truyền của nước ta.
    • – Giúp cho con cháu nhớ về tổ tiên và thể hiện lòng kính trọng với người sinh thành và nuôi dưỡng mình.

    Trả lời câu 2 Bánh Chưng Bánh Giầy (trang 12 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    • Đọc truyện này, em thích nhất chi tiết nào? Vì sao?
    • Em thích nhất chi tiết Lang Liêu gặp được thần bởi vì:
    • – Chi tiết rất truyền thuyết và cổ tích làm cho câu chuyện có phần lý thú.
    • – Thần sẽ giúp những người có hoàn cảnh éo le hơn những người khác, người đó phải có tài, tâm và đức.
    • – Người được thần giúp phải hiểu được ý thần bởi thần ở đây chính là đại diện cho nhân dân.

    Tags: soạn văn lớp 6, soạn văn lớp 6 tập 1, soạn văn bài Bánh Chưng Bánh Giầy, soạn văn lớp 6 tập 1 bài Bánh Chưng Bánh Giầy, giải ngữ văn lớp 6 tập 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện “bánh Chưng, Bánh Giầy”
  • Bánh Chưng, Bánh Giầy (Tự Học Có Hướng Dẫn)
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Bánh Chưng Bánh Giầy
  • Soạn Bài Bánh Chưng Bánh Giầy (Siêu Ngắn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Bánh Chưng Bánh Giầy Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Tóm Tắt Soạn Bài Văn Bản Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn Lớp 8?

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Dịch Thuốc Lá
  • Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá (Chi Tiết)
  • Bài Văn Phân Tích Bài Ôn Dịch Thuốc Lá Của Nguyễn Khắc Viện, Đầy Đủ, H
  • 3 Bài Văn Trình Bày Ý Nghĩa Tư Tưỏng Của Văn Bản Ôn Dịch, Thuốc Lá Của
  • Ban Hành Bộ Tiêu Chí Ocop
    • Về tác giả: Bác sĩ Nguyễn Khắc Việt là người am hiểu về rất nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học zã hội, đặc biệt là y học, O6ng có rất nhiều bài viết nói đến việc phòng bệnh và chữa bên cho con người.
    • Về cơ bản: Giống như ôn dịch nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người.Song nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch: nó gặm nhấm sức khỏe con người nên không dễ kịp thời nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với cuộc sống gia đình và xã hội.Bởi vậy, muốn chống lại nó, cần phải có quyết tâm cao hơn và biện pháp triệt để hơn là phòng chống ôn dịch.

    Bố cục bài ôn dịch thuốc lá

    – Bộ cục của bài ôn dịch thuốc lá gồm có 3 phần như sau

    a. Từ đầu – “…còn nặng hơn cả AIDS”

    Nội dung: Thông báo về nạn dịch thuốc lá.

    b. Tiếp theo -“…con đường phạm pháp”

    Ngội dung: Tác hại của thuốc lá.

    c. Phần còn lại

    Nội dung: Kiến nghị chống hút thuốc lá. Dịch hạch thổ tả, hàng vạn, hàng triệu người chết. Cuối thế kỉ này lại xuất hiện những ôn dịch khác.Cả thế giới đang lo âu về nạn AIDS.

    Ôn dịch thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS, Bệnh dịch hạch, Bệnh thổ tả. Ôn dịch thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS.

    Tóm tắt văn bản ôn dịch thuốc lá ngữ văn lớp 8?

    “Hút thuốc lá là có hại cho sức khoẻ”. Thông điệp ấy được ghi trên hầu hết các vỏ bao thuốc lá, những người hút thuốc lá đều biết nhưng không phải ai cũng ý thức được tác hại nhiều mặt của thuốc lá đối với cộng đồng.

    Ngay từ nhan đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá đã cho thấy tính chất nghiêm trọng và bức xúc của vấn đề. Thuốc lá ở đây là nói đến tệ nghiện thuốc lá. Nó được ví một cách rất thoả đáng với ôn dịch, xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ ôn dịch còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa.

    Có thể hình dung bố cục của bài viết này theo bốn phần. Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “nặng hơn cả AIDS”), tác giả nêu vấn đề đồng thời với nhận định về tầm quan trọng và tính nghiêm trọng của vấn đề: “Ôn dịch thuốc lá đe doạ sức khoẻ và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”.

    Tác giả bắt đầu phần thứ hai bằng cách dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về cách đánh giặc (từ “Ngày trước”… cho đến “tổn hao sức khoẻ”). So sánh việc chống hút thuốc lá với đánh giặc ngoại xâm, tác giả đã tạo ra một ấn tượng mạnh trước khi tiến hành phân tích y học về tác hại của thuốc lá. Những kết quả nghiên cứu của y học trở thành hệ thống luận cứ rõ ràng, thuyết phục tuyệt đối.

    Thuốc lá gặm nhấm sức khoẻ của con người tựa như tằm ăn dâu. Nguy hiểm, đáng sợ hơn, sự gặm nhấm của thuốc lá lại vô hình, không nhìn thấy ngay được. Chỉ có hậu quả của nó, những căn bệnh hiểm nghèo là sờ sờ trước mắt chúng ta. Và, không chỉ có thế, tác giả tiến hành phân tích cả những ảnh hưởng thiệt hại của thuốc lá đến đời sống kinh tế của con người, dù chỉ là bệnh viêm phế quản…

    Từ những tác hại trực tiếp đến sức khoẻ của con người, của người hút thuốc lá, đến phần ba (Từ “Có người bảo” đến “con đường phạm pháp”). Tác giả đặt ra vấn đề mang tính xã hội. Bằng giả định: “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”, tác giả tiến tới lập luận về tác hại của thuốc lá đối với cả những người không hề hút thuốc lá. Phủ nhận nhận định trong giả định, chứng cứ khoa học cho thấy hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động đều dẫn đến nguy hại cho sức khoẻ. Chống hút thuốc lá không còn là vấn đề chỉ của riêng cá nhân mà, vì nó trực tiếp làm hại cả cộng đồng, cho nên, chống thuốc lá là việc của toàn xã hội.

    Ôn dịch, thuốc lá là một văn bản nghị luận khoa học sắc sảo, nghệ thuật lập luận và thuyết minh đạt đến một trình độ điêu luyện. Vì thế nó mang tính thuyết phục cao, truyền tải được ở mức tối ưu thông điệp chống nạn bệnh hút thuốc lá.

    Cảm nghĩ về ôn dịch thuốc lá

    Nguyễn Khắc Viện là một trí thức Tây học, đỗ bác sĩ tại Pháp trong thập niên bốn mươi của thế kỉ XX. Ông là nhà hoạt động văn hóa, nhà hoạt động xã hội rất nổi tiếng, ở nước ta. Bài “Ôn dịch, thuốc lá” thể hiện cái tâm và cách viết, cách nói sắc sảo, độc đáo của Nguyền Khắc Viện.

    Nhan đề rất độc đáo: “Ôn dịch, thuốc lá”. Độc đáo ở hai chữ “ôn dịch”, độc đáo về cách dùng dấu pháy ở đây, dấu phẩy tạo nên ngữ điệu, gợi lên một tình huống nguy cấp, phải báo động, gây ấn tượng mạnh cho người đọc, người nghe. Cách dùng dấu phẩy ở nhan đề đã thể hiện một lối nói, lối viết theo văn phong châu Âu hiện đại.

    Nếu viết: “ôn dịch thuốc lá” hoặc “Thuốc lá là một loại ôn dịch” đều được, nhưng viết như thế thì “bằng phẳng quá”, ” hiền lành quá” không hấp dẫn, không phù hợp với nội dung văn bản (Chú ý, ở cuối bài tác giả có viết: “… Lại còn thêm ôn dịch thuốc lá này”).

    Mở đầu, tác giả dùng phép so sánh – đối chiếu để lôi kéo, thu hút người đọc: Dịch hạch, thổ tả, những dịch bệnh khủng khiếp từng gây ra và làm chết hàng vạn. hàng triệu người. Nhờ tiến bộ y học mà những dịch khủng khiếp ấy “đã diệt trừ được”.

    Cuối thế kỉ XX, loài người lại “lo âu về nạn AIDS” mà “chưa tìm ra giải pháp” thì “ôn dịch thuốc lá đang (đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”. Sự thật khủng khiếp được nhiều nhà bác học, sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu lớn tiếng báo động. Đúng là con số biết nói!

    Phần thứ hai bài văn, Nguyễn Khắc Viện phân tích và chứng minh rằng, ôn dịch thuốc lá gây ra bao tệ nạn kinh khủng. Trước hết, ộng nhắc lại một câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo căn dặn nhà vua: “Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đúng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu” để chỉ rõ ôn dịch thuốc lá giết dần giết mòn con nghiện, gây ra bao tai hại ghê gớm trong cộng đồng là nguyêo nhân, nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội khác.

    Dẫn câu nói của Trần Hưng Đạc không chỉ làm tiền đề cho lập luận, làm cho luận cứ và luận chứng thêm phần sắc bén, chặt chẽ mà còn tạo cho người đọc bao liên tường đầy thuyết phục về “ôn dịch, thuốc lá”. Thuốc lá là ôn dịch, là một thứ giặc rất đáng sợ vì nó “gặm nhấm” con nghiện và xã hội.

    Khói thuốc lá rất độc, chất hắc ín sẽ “làm tê liệt” những lông rung, lông mao của những tế bào niêm mạc ở nơi vòm họng, ở phế quản, ở nang phổi; chất hắc ín ấy “tích tụ lại” gây ho hen, đờm dãi, và sau nhiều năm gây viêm phế quản. Người nghiện thuốc lá sẽ bị chất ô-xít các-bon trong khói thuốc lá thấm vào máu… làm cho sức khỏe “ngày càng sút kém”.

    Tác giả nêu lên những số liệu để chứng minh ” ôn dịch, thuốc lá” rất đáng sợ. 80% bệnh nhân ung thư vòm họng và ung thư phổi ở bệnh viện K là do thuốc lá. Các bệnh huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim đều do chất ni-cô-tin của thuốc lá gây ra. Những cái chết đột tử do nhồi máu cơ tim, những khối ung thư ghê tởm của con bệnh 40-50 tuổi đều cho thấy “tác hại ghê gớm của thuốc lá”.

    Hàng triệu người bị viêm phế quản làm mất bao nhiêu ngày lao động và tổn hao sức khỏe đều do thuốc lá gây ra. Những số liệu ấy đầy sức thuyết phục vì đó là những căn cứ khoa học, là ý kiến của bác sĩ viện trưởng bệnh viện K, của bác sĩ viện trưởng viện nghiên cứu các bệnh tim mạch nêu lên.

    Nguy hại hơn nữa là kẻ nghiện thuốc lá “đã đầu độc” những người xung quanh do khói thuốc lá. Vợ con… bị nhiễm độc, nhất là những thai nhi. Hiện tượng đẻ non, đẻ ra đã suy yếu… đều do bị nhiềm độc bởi khói thuốc lá. Câu văn: “Hút thuốc lá cạnh một người đàn bà cỏ thai quả là một tội ác” vang lên như một lời kết tội nghiêm khắc.

    Về mặt đạo đức, người lớn (bố, anh, chú, bác…) nghiên thuốc lá “không những đầu độc con em mà còn nêu gương xấu”. Cho nên câu nói: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” chỉ là lời lẽ gàn bướng của con nghiện!

    Phần cuối, tác giả cho biết nghiện thuốc lá là nguyên nhân của các tệ nạn khác như ma túy, trộm cắp. ở Việt Nam ta, một nước thuộc diện “nghèo” mà tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở các thành phố lớn “ngang với tỉ lệ các thành phố Âu – Mỹ”.

    Trái lại, ở Việt Nam, một nơi có nhiều bệnh như sốt rét, bệnh phong, lao, ỉa chảy chưa thanh toán được, ‘lại ôm thêm ôn dịch thuốc lá này”. Tệ nạn ấy “nghĩ đến mà kinh!”. Bằng tấm lòng của người thầy thuốc, Nguyền Khắc Viện thiết tha kêu gọi mọi người Việt Nam “phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch” – thuốc lá.

    “Ôn dịch, thuốc lá” là một văn bản thuyết minh được viết bằng một văn phong hiện đại, độc đáo. Các lí lẽ và dẫn chứng được tác giả nêu lên qua sự phân tích sắc bén, qua sự so sánh liên tưởng đầy sức thuyết phục. Bài văn đã thể hiện sư quan tâm và lo lắng của Nguyễn Khắc Viện trước tệ nạn ” ôn dịch, thuốc lá”.

    Bài văn đã nâng cao nhận thức cho mỗi chúng ta nhất là các bạn trẻ biết về những tác hại ghê gớm về thuốc lá. Và hãy coi chừng ôn dịch, thuốc lá.

    Một cảm nhận khác về bài ôn dịch thuốc lá

    Nhan đề bài viết của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là ‘Ôn dịch thuốc lá’. Đọc nhan đề bài viết ta đã cảm nhận được tác hại của việc hút thuốc lá.

    Có một lần bạn tôi tranh luận. ‘Đã gọi là thuốcthì nhất định nó có tác dụng nào đó trong việc chữa bệnh’. Bạn tôi còn viện dẫn trường hợp của cha và anh nó nghiện thuốc lá đã bao lâu rồi mà có thấy làm sao đâu! Thậm chí anh nó nói rằng không hút thuốc lá người sẽ béo phì ra nữa!

    Nhưng vừa rồi, bố bạn tôi phải vào viện chữa bệnh tắc nghẽn động mạch phổi vì hút thuốc lá. Anh nó thì ho sù sụ suốt ngày đêm vì viêm họng mãn tính do hút thuốc lá.

    Bây giờ thì bạn tôi không cãi hộ cho cha và anh nữa mà chính bạn ấy thỉnh thoảng cũng ‘phì phèo’ một vài hơi thuốc lá.

    Trong khói thuốc lá có chất oxít cacbon, chất này thấm vào máu, bám chặt lấy hồng cầu không cho chúng tiếp cận với oxi nữa. Vì vậy sức khỏe của người nghiện ngày một sút kém. Nguy hại hơn nữa, chất hắc ín thường gây ra bệnh ung thư. Bác sĩ Viện trưởng bệnh viện K cho biết 80% ung thư vòm họng và ung thưphổi là do thuốc lá gây nên.

    Bác sĩ viện trưởng tim mạch cũng cho biết: chất nicôtintrong thuốc lá làm cho động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như ‘huyết áp cao’, ‘tắc nghẽn động mạch’, gây ‘nhồi máu cơ tim’… Có bệnh nhân phải cắt dần từng ngón chân, ngón tay thậm chí cả bàn chân vì tắc động mạch. Và không biết bao nhiêu người đã đột tử vì nhồi máu cơ tim khi mới 40-50 tuổi.

    Kẻ nghiện thuốc lá còn đầu độc những người xung quanh bằng khói thuốc lá. Hiện tượng sinh non, trẻ mới sinh ra đã suy yếu đều có thể do bị nhiễm độc từ khói thuốc lá.

    Sau khi đọc xong bài ‘Ôn dịch thuốc lá’ bạn tôi thẫn thờ khi nghĩ đến hậu quả của việc hút thuốc lá. Nếu không sớm được học bài này thì bạn tôi cũng có thể đi theo vết xe của cha, anh.

    Từ đó, tôi thấy bài viết có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn, đưa ra lời cảnh báo kịp thời để chúng tôi, những người trẻ tuổi, những người học sinh thấy được tác hại của ‘ôn dịch thuốc lá ‘

    Soạn bài ôn dịch, thuốc lá của ngữ văn lớp 8

    Câu 1. Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản Ôn dịch, thuốc lá.

    • Tên gọi của văn bản này không chí có nghĩa là một thứ bệnh dễ lan truyền rộng. Ở đây tác giả dùng từ “ôn dịch”, một từ có ý nghĩa chửi rủa và bắt đầu dấy phẩy ngăn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”, là sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm (vừa căm tức vừa ghê tởm).
    • Ta có thể diễn ý tên gọi văn ản một cách khác là Thuốc là một loại ôn dịch.

    Câu 2. Vì sao tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo Bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá? Điều đó có tác dụng gì trong lập luận?

    • Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá nhằm mục đích lấy lối so sánh rất hay của nhà quân sự thiên tài để thuyết minh một vấn đề ý học.
    • Nói một cách đơn giản, khói thuốc không làm cho người “lăn đùng ra chết ngay” mà nó gặm nhấm dần sức khỏe của người như tằm ăn lá dâu, nghĩa là người hút không thấy ngay tác hại cua nó… Điều này có tác dụng rất sắc sảo trong lập luận.

    Câu 3. Tác giả đã nêu lên tác hại của thuốc lá như thế nào đối với con người?

      Bằng những cứ liệu khoa học, bằng sự giải thích, phân tích tường tận của một nhà khoa học, tác giả chứng minh cho mọi người thấy được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của con người nó gây ra những căn bệnh nan y: Viêm phế quản, ung thư phổi và ung thư vòm họng làm tắc động mạch, làm nhồi máu cơ tim… khiến cho người đọc phải rùng mình kinh sợ.

    Câu 4. Vì sao tác giả đặt giả định “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá?

    • Bằng cách này, tác giả bác bỏ lối chống chế thường gặp ở những người hút thuốc. Người hút thuốc trực tiếp bị chất độc nicôtin, oxit cacbon gây tác hại, nhưng còn gây tác hại cho những người xung quanh phải ngửi mùi thuốc (nhất là trẻ con và phụ nữ mang thai).
    • Để chỉ rõ sự ôn dịch của thuốc là nó không chỉ ảnh hưởng tới một người hút mà nó còn ảnh hưởng, còn đầu độc tới mọi người xung quanh (những người làm việc cùng phòng, vợ, con, đặc biệt là thai nhi bé bỏng dẫn tới việc sinh non rất nguy hiểm).
    • Thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc với những người hút thuốc là và đề nghị những người hút thuốc lá phải có ý thức ra hành lang hoặc ngoài sân để không ảnh hưởng đến người khác.
    • Tác giả so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị là để cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá ở nước ta còn nghiêm trọng hơn ở các nước đó. Ta nghèo hơn nhưng lại “xài” thuốc lá tương đương với các nước đó.
    • Đây là điều không thể chấp nhận. Điều thứ hai là cho thấy các nước đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế thuốc lá quyết liệt hơn ta.

    Câu 6. Nghệ thuật.

    • Với phong cách ngôn ngữ báo chí, bằng phương pháp liệt kê, phân tích chứng minh… văn bản đã làm sáng tỏ, đầy sức thuyết phục về tác hại của thuốc lá, kêu gọi mọi người hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá.
    • Các lí lẽ và dẫn chứng được tác giả nêu lên qua sự phân tích sâu sắc và so sánh liên tưởng rất thực tế, đầy tính thuyết phục.

    Câu 7. Ý nghĩa

    • Giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây ra những tổn hại to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người. Song, nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch: nó gặm nhấm sức khỏe con người nên không dễ kịp thời nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Cần quyết tâm phòng chống ôn dịch thuốc lá.
    • Hãy đáp lại tấm lòng của người thầy thuốc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thiết tha kêu gọi mọi người, nhất là thanh niên, hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá.

    II. Luyện tập.

    Câu 1. Tìm hiểu tinh trạng hút thuốc lá ở một số người thân và dựa vào cách lập bảng thống kê để phân loại nguyên nhân.

    • Lứa tuổi 20 – 25 tuổi.
    • Vui bạn, nể bạn 30%.
    • Bắt chước 60%.
    • Vì lịch sự, xã giao 10%.

    Câu 2. Ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc bản tin của báo Sài Gòn tiếp thị.

      Hãy ghi lại cảm nghĩ chân thực của mình về cái chết thảm không phải là của người nghèo khổ mà là một tỷ phú ở Mỹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn 8
  • Bài 12. Ôn Dịch, Thuốc Lá
  • Cách Soạn Thảo Văn Bản Online Không Cần Microsoft Office
  • 6 Công Cụ Soạn Thảo Văn Bản Trực Tuyến Tốt Nhất
  • Cách Sử Dụng Word Online Soạn Thảo Văn Bản Trực Tuyến
  • Tin tức online tv