Sơ Đồ Tư Duy Chuyện Người Con Gái Nam Xương

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Hồng Ở Đoạn Trích “trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu)
  • Phân Tích Và Nêu Cảm Nghĩ Của Bản Thân Về Phần Đầu Trong Văn Bản Thuế Máu Của Nguyễn Ái Quốc.
  • Hãy Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Người Phụ Nữ Phong Kiến Xưa Kia Qua Nhân Vật Vũ Nương Trong Văn Bản ”người Con Gái Nam Xương”
  • Suy Nghĩ Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ
  • Giải Thích Nhan Đề Tác Phẩm Ngữ Văn 8 Ý Nghĩa
  • Để nắm được các kiến thức cơ bản về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, mời các em tham khảo hệ thống kiến thức và sơ đồ tư duy Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ do Đọc Tài Liệu biên soạn. Hy vọng rằng tài liệu này giúp các em nắm nội dung bài học một cách khoa học và đầy đủ nhất.

    *******

    Sơ đồ tư duy Chuyện người con gái Nam Xương

    Sơ đồ tư duy phân tích Chuyện người con gái Nam Xương

    Luận điểm 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương

    + Những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Vũ Nương

    + Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương

    Luận điểm 2: Phân tích nhân vật Trương Sinh

    Luận điểm 3: Ý nghĩa chi tiết cái bóng.

    “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khắc họa thành công vẻ đẹp truyền thống và số phận oan nghiệt của người phụ nữ đương thời. Điều này được thể hiện qua nghệ thuật dựng truyện và xây dựng hình tượng nhân vật Vũ Nương. Vũ Nương là một người con gái đẹp người, đẹp nết, đại diện cho vẻ đẹp của người phụ nữ thời kì phong kiến: “tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Trương Sinh vì cảm mến cái dung hạnh ấy nên đã xin mẹ trăm lạng vàng để cưới về làm vợ. Sau đó, nhà văn tập trung làm nổi bật vẻ đẹp đức hạnh của nàng, bằng việc đặt Vũ Nương vào rất nhiều hoàn cảnh, tình huống và các mối quan hệ xung quanh như với chồng, với mẹ chồng và với đứa con trai tên là Đản, từ đó góp phần bộc lộ trọn vẹn tính cách, phẩm hạnh của nàng.

    Sơ đồ tư duy tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương

    Tóm tắt dựa trên mạch chính:

    – Cuộc sống của Vũ Nương khi được gả về nhà Trương Sinh cho đến trước khi Trương Sinh trở về (từ đầu… như đối với cha mẹ đẻ mình)

    – Số phận oan khuất của Vũ Nương (tiếp… nhưng việc trót đã qua rồi)

    – Vũ Nương được giải oan (còn lại)

    Vũ Nương nết na xinh đẹp. Trương Sinh cưới nàng về. Sau đó, Trương Sinh phải đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Nghe nó kể lại Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết, đánh đuổi vợ ra khỏi nhà. Vũ Nương thanh minh không được đành phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Cùng làng có người tên là Phan Lang vì cứu Linh Phi lúc hóa rùa đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian, Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Biết vợ bị oan Trương Sinh đã lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đạ tạ chàng rồi biến mất.

    Sơ đồ tư duy đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương

    Tình tiết truyện theo tình huống:

    – Trước khi đi lính:

    + Vừa xây dựng gia đình, cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc.

    + Đất nước có chiến tranh, triều đình bắt đi lính đánh giặc. Tuy là con nhà hào phú, nhưng không có học nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu.

    + Xa gia đình trong cảnh mẹ già, xa vợ đang bụng mang dạ chửa.

    + Mẹ đã mất, con trai đang tuổi học nói.

    + Tin vào câu nói của con nên đã hiểu lầm.

    + Ghen tuông mù quáng, không tin tưởng vợ mình nên đã đẩy người vợ đến cái chết oan ức.

    + Sau đó, biết là mình đã nghi oan cho vợ nhưng việc đã qua rồi.

    Bày tỏ niềm ân hận:

    – Ân hận vì mình đã mù quáng nghi oan cho vợ khiến gia đình tan nát

    – Mong mọi người nhìn vào tấm bi kịch gia đình để rút ra bài học.

    Tôi cứ bần thần nghĩ ngợi, Vũ Nương là một người vợ ngoan hiền, đức hạnh, chẳng lẽ hơn một năm xa cách, nàng lại trở nên hư hỏng như vậy sao? Tôi bỗng thấy căm giận Vũ Nương. Ghen tuông mù quáng khiến tôi bùng lên, không có cách gì dập tắt được. Về đến nhà, tôi la mắng om sòm cho hả giận. Vũ Nương bàng hoàng sửng sốt. Nàng vừa khóc vừa thanh minh : “Thiếp vốn con nhà nghèo khó, được nương tựa nhà giàu, vẫn lấy sự nết na thuỳ mị, công dung ngôn hạnh làm đầu. Vợ chồng sum họp chưa được bao lâu, chia xa chỉ vì lửa binh chứ không vì lí do gì khác. Trong ba năm cách biệt, thiếp một mực giữ gìn tiết hạnh, không tô son điểm phấn, không bén gót chốn chơi bời hoa liễu, một mực nhớ thương và chung thuỷ với chàng. Xin chàng hãy tin thiếp, đừng nghi oan cho thiếp mà tội nghiệp…”.

    Sơ đồ tư duy giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Chuyện người con gái Nam Xương mang đậm giá trị hiện thực sâu sắc. Một tác phẩm văn học có giá trị hiện thực khi nó phản ánh một cách chân thực những nét bản chất nhất của đời sống xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Vì thế, từ “Chuyện nguời con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã phản ánh chân thực một xã hội phong kiến bất công, gây nhiều khổ đau cho người phụ nữ. Điều này được thể hiện qua hình tượng nhân vật Trương Sinh. Có thể nói, Trương Sinh là con đẻ của xã hội Nam quyền phong kiến. Trong truyện, Trương Sinh được giới thiệu là con nhà hào phú “xin trăm lạng vàng cưới vợ” nhưng lại ít học, luôn có tính đa nghi, ghen tuông, bảo thủ, độc đoán thiếu bao dung với cả người vợ của mình…

    Và đây chính là những bản chất của xã hội phong kiến nam quyền “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, đề cao người đàn ông trong gia đình và xã hội, đã dồn đẩy thân phận người đàn bà vào số phận oan nghiệt. Đồng thời, trong xã hội ấy, chiến tranh loạn lạc phi nghĩa, liên miên xảy ra đã phá tan đi biết bao nhiêu là hạnh phúc gia đình, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiên, đẩy họ hoàn cảnh “cùng đường tuyệt lộ”. Trương Sinh phải đi lính, xa cách mẹ già và người vợ mới cưới.

    Sơ đồ tư duy nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Luận điểm 1: Vũ Nương – người con gái với những phẩm chất tốt đẹp

    + Thủy chung, son sắt với chồng

    + Hiếu thảo với mẹ chồng

    + Yêu thương con hết mực

    Luận điểm 2: Số phận oan nghiệt và bất hạnh của Vũ Nương.

    Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương mang một số phận bất hạnh. Ngay khi mở đầu, nàng đã mang số phận cô đơn, buồn tủi khi chồng đi lính. Vừa mới lấy nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh đi lính. Người phụ nữ ấy phải xa chồng một quãng thời gian dài ba năm. Trong khoảng thời gian ấy, Vũ Nương đã chu toàn hết mọi việc trong gia đình. Nhưng trong nàng vẫn mang sự cô đơn, thiếu bóng hình chồng. Chi tiết cái bóng trong truyện không chỉ để nói về sự quan tâm của Vũ Nương với bé Đản để mong con có một người cha. Mà chi tiết này nói đến nỗi nhớ chồng của nàng. Vũ Nương còn mang số phận bất hạnh khi nàng bị chồng nghi oan có người khác. Khi Trương Sinh trở về, nghe lời con thơ, chàng ta đã nghi ngờ vợ thất tiết. Vũ Nương mặc dù đã giải thích bằng tình nghĩa vợ chồng nhưng Trương Sinh không nghe. Nàng đã chọn cái chết đã chứng minh sự trong sạch của bản thân. Nhưng chính sự trong sạch của nàng, mà nàng đã không chết mà ở dưới thủy cung. Và chi tiết cuối, nàng đã được trở về gặp lại chồng con lần cuối và được minh oan cho chính bản thân mình.

    Sơ đồ tư duy cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Luận điểm 1: Những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương

    Luận điểm 2: Nỗi đau, oan khuất của Vũ Nương

    Luận điểm 3: Liên hệ Vũ Nương với hình ảnh người phụ nữ trong xã hội hiện nay

    Người con gái tên Vũ Nương đó đã phải chết trong oan khuất, tủi hờn như vậy. Nhưng do phẩm giá cao quý và đức hạnh của nàng đã làm trời đất cảm động. Cuối cùng thì nàng cũng được giải oan, khi mà Trương Sinh trong một đêm không ngủ ngồi soi bóng mình trên tường thì con trai anh nhìn thấy nó vui mừng nói lớn “Cha con đó”. Trương Sinh biết mình đã nghi oan cho vợ nhưng hối hận thì đã muộn màng. Còn Vũ Nương sau khi chết được cứu giúp rồi được lập đàn siêu thoát bay về trời làm tiên nữa, thoát kiếp con người khổ đau bất hạnh.

    Sơ đồ tư duy nguyên nhân cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

    – Nguyên nhân trực tiếp:

    + Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh.

    + Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra.

    – Nguyên nhân gián tiếp:

    + Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do.

    + Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

    Cái chết của nhân vật Vũ Nương là lời tố cáo xã hội phong kiến đã dung túng cho cái ác xấu xa, tàn bạo. Đồng thời, qua hình tượng nhân vật, nhà văn bày tỏ niềm thông cảm sâu sắc đối với số phận người phụ nữ. Những con người nhỏ bé, yếu đuối trong xã hội phong kiến đương thời. Số phận của Vũ Nương đâu của chỉ riêng Vũ Nương. Nỗi đau số phận của Vũ Nương cũng chính là hình ảnh cuộc sống của người phụ nữ xưa.

    Kiến thức về tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương

    A. Tác giả Nguyễn Dữ

    – Nguyễn Dữ – có sách phiên âm là Nguyễn Tự (chưa rõ năm sinh năm mất)

    – Quê quán: Ông là người huyện Trường Tân, nay là Thanh Miện – Hải Dương

    – Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là thời kì Triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài

    – Sự nghiệp sáng tác: Ông học rộng tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hóa. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời

    B. Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

    I. Tìm hiểu chung

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    Chuyện người con gái Nam Xương” thuộc tác phẩm Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền), được viết ở thế kỉ XVI. Chuyện người con gái Nam Xương có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương”, là thiên thứ 16 trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục

    2. Tóm tắt

    Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết, là cô gái thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp, lấy Trương Sinh con nhà khá giả nhưng vô học, vũ phu. Cuộc sống vợ chồng chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính. Mẹ chồng nàng vì nhớ thương con mà bệnh nặng qua đời, một mình Vũ Nương gánh vác mọi thứ, tự sinh con một mình đặt tên là Đản. Để bù đắp cho con sự thiếu thốn tình cha, đêm đến Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản. Khi Trương Sinh trở về nhất quyết bé Đản không chịu nhận cha và nói cha đản thường đến vào buổi tối. Lúc này Trương Sinh nghi ngờ vợ bèn mắng nhiết đánh đuổi nàng, Vũ Nương hết lời giải thích minh oan nhưng chành đều không tin, rồi nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Ít lâu sau bé Đản chỉ bóng Trương Sinh trên tường và bảo đó là cha Đản thì Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ. Cùng làng Trương Sinh có Phan Lang vì đã cứu thần rùa Linh Phi nên được trả ơn. Trong một bữa tiệc dưới thủy cung, Phan Lang nhận ra Vũ Nương. Nghe Phan Lang kể chuyện nhà, Vũ Nương nhớ chồng con da diết và xin nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng, nàng sẽ trở về. Khi Trương Sinh lập đàn giải oan thì Vũ Nương có hiện lên nhưng chỉ nói vài câu rồi biến mất.

    3. Giá trị nội dung

    – Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

    – Niềm cảm thương cho số phận bi kịch của họ đòng thời lên án tố cáo các lễ giáo phong kiến vô nhân đạo, các hủ tục hà khắc trong chế độ phong kiến đương thời.

    4. Giá trị nghệ thuật

    – Truyện viết bằng chữ Hán

    – Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện , xây dựng nhân vật thành công

    II. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm

    1. Nhân vật Vũ Nương a. Vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương

    – Vẻ đẹp trước khi lấy chồng: là một người con gái “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” ⇒ một vẻ đẹp chuẩn mực

    – Trong cuộc sống vợ chồng:

    + Giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng thất hòa ⇒ Tạo dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình

    – Khi tiển chồng đi lính:

    + Dặn dò cẩn thận, đầy tình nghĩa, thủy chung

    + Nàng không mong chồng khi trở về mang “ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ” mà chỉ mong chồng bình yên → ko màng danh lợi

    – Khi xa chồng:

    + Đảm đang: Là người mẹ hiền, dâu thảo.

    + Là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha thiết: hằng đêm vẫn chỉ vào bóng mình và bảo với con đó là cha nó để vơi đi nỗi nhớ chồng

    + Tận tình, chu đáo rất mực yêu thương con

    + Khi mẹ chồng mất, nàng lo ma chay chu tất

    ⇒ Là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu người phụ nữ

    – Khi bị chồng vu oan:

    + Phân trần để chồng hiểu tấm lòng thủy chung của mình.

    + Nói lên nỗi đau đớn, thất vọng vì không hiểu.

    + Thất vọng tột cùng, nàng chọn cái chết để bày tỏ tấm lòng mình.

    ⇒ Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiếu thảo, chung thủy, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình

    b. Số phận bi kịch của Vũ Nương

    – Nguyên nhân của nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

    + Cuộc hôn nhân không bình đẳng, chiến tranh phi nghĩa

    + Tính Đa nghi của Trương Sinh

    + Lời nói ngây ngô của đứa trẻ con

    – Ý nghĩa:

    + Tố cáo chiến tranh, xã hội phong kiến trọng quyền uy người đàn ông và kẻ giàu

    + Bày tỏ niềm cảm thương của tác giả với người phụ nữ

    2. Nhân vật Trương Sinh

    – Là người không có học thức

    – Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng

    – Có tính đa nghi, trở về rất buồn vì mẹ mất.

    – Cách xử sự của Trương Sinh khi nghe lời bé Đản nói thể hiện sự hồ đồ, độc đoán ⇒ chính sự ghen tuông mù quáng của Trương Sinh là một nguyên nhân dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.

    ⇒ Tác giả phê phán sự ghen tuông mù quáng, bày tỏ sự cảm thông và ngợi ca người phụ nữ đức hạnh mà phải chịu nhiều đau khổ, bất hạnh.

    3. Những yếu tố kì ảo

    – Những yếu tố kì ảo trong tác phẩm:

    + Chuyện Phan Lang nằm mộng thả rùa

    + Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương dưới thủy cung

    + Vũ Nương hiện về giữa uy nghi

    ⇒ Là những yếu tố hoang đường nhưng vẫn rất thực và gần gũi

    – Ý nghĩa:

    + Hoàn chỉnh nét đẹp của Vũ Nương

    + Kết thúc có hậu

    + Không giảm tính bi kịch của tác phẩm, mà tăng giá trị tố cáo và niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ.

    *******

    Huyền Chu (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Chuyện Người Con Gái Nam Xương Ngắn Gọn
  • Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Bài 2 Tiết 5, 6 Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Bài 2 Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Soạn Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Sơ Đồ Tư Duy Chuyện Người Con Gái Nam Xương Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Hồng Ở Đoạn Trích “trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu)
  • Phân Tích Và Nêu Cảm Nghĩ Của Bản Thân Về Phần Đầu Trong Văn Bản Thuế Máu Của Nguyễn Ái Quốc.
  • Hãy Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Người Phụ Nữ Phong Kiến Xưa Kia Qua Nhân Vật Vũ Nương Trong Văn Bản ”người Con Gái Nam Xương”
  • Suy Nghĩ Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ
  • Sơ đồ tư duy Chuyện người con gái nam xương ngắn gọn

    Trước khi bắt đầu với tác phẩm chuyện người con gái nam xương thì điều rất quan trọng để có thể học tốt tác phẩm này đó là hiểu rõ được kiến thức cơ bản và để làm tốt điều đó chúng ta hãy đến với Sơ đồ tư duy Chuyện người con gái nam xương.

    Sơ đồ tư duy nhân vật Vũ Nương

    Kiến thức cơ bản chuyện người con gái nam xương

    1. Đọc – tìm hiểu chú thích

    I. Đọc và tìm hiểu chung về tác phẩm

    – Là con của Nguyễn Tướng Phiên (Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27, đời vua Lê Thánh Tông 1496). Theo các tài liệu để lại, ông còn là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    – Quê: Huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện – tỉnh Hải Dương.

    * Truyền kỳ mạn lục: Tập sách gồm 20 truyện, ghi lại những truyện lạ lùng kỳ quái.

    Truyền kỳ: là những truyện thần kỳ với các yếu tố tiên phật, ma quỷ vốn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

    Mạn lục: Ghi chép tản mạn.

    Truyền kỳ còn là một thể loại viết bằng chữ Hán (văn xuôi tự sự) hình thành sớm ở Trung Quốc, được các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những chuyện có thực về những con người thật, mang đậm giá trị nhân bản, thể hiện ước mơ khát vọng của nhân dân về một xã hội tốt đẹp.

    Chuyện người con gái Nam Xương kể về cuộc đời và nỗi oan khuất của người phụ nữ Vũ Nương, là một trong số 11 truyện viết về phụ nữ.

    – Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương” tại huyện Nam Xương (Lý Nhân – Hà Nam ngày nay).

    c) Chú thích

    – Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, tính hay đa nghi).

    – Trương Sinh phải đi lính chống giặc Chiêm. Vũ Nương sinh con, chăm sóc mẹ chồng chu đáo. Mẹ chồng ốm rồi mất.

    – Trương Sinh trở về, nghe câu nói của con và nghi ngờ vợ. Vũ Nương bị oan nhưng không thể minh oan, đã tự tử ở bến Hoàng Giang, được Linh Phi cứu giúp.

    – Ở dưới thuỷ cung, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng). Phan Lang được Linh Phi giúp trở về trần gian – gặp Trương Sinh, Vũ Nương được giải oan – nhưng nàng không thể trở về trần gian.

    1. Nhân vật Vũ Nương.

    3. Đại ý.Đây là câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh dưới chế độ phụ quyền phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị đẩy đến bước đường cùng phải tự kết liễu cuộc đời của mình để chứng tỏ tấm lòng trong sạch. Tác phẩm thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân: người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí.

    II. Đọc – hiểu văn bản

    * Tình huống 1: Vũ Nương lấy chồng.

    Trước bản tính hay ghen của chồng, Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hoà”.

    * Tình huống 2: Xa chồng

    Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ chung thuỷ, yêu chồng tha thiết, một người mẹ hiền, dâu thảo.

    Hai tình huống đầu cho thấy Vụ Nương là người phụ nữ đảm đang, thương yêu chồng hết mực.

    * Tình huống 3: Bị chồng nghi oan.

    – Trương Sinh thăm mộ mẹ cùng đứa con nhỏ (Đản).

    – Lời nói của đứa con: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cho tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít… Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến…”.

    Trương Sinh nghi ngờ lòng chung thuỷ của vợ chàng.

    – Câu nói phản ánh đúng ý nghĩ ngây thơ của trẻ em: nín thin thít, đi cũng đi, ngồi cũng ngồi (đúng như sự thực, giống như một câu đố giấu đi lời giải. Người cha nghi ngờ, người đọc cũng không đoán được).

    – Tài kể chuyện (khéo thắt nút mở nút) khiến câu chuyện đột ngột, căng thẳng, mâu thuẫn xuất hiện.

    – La um lên, giấu không kể lời con nói. Mắng nhiếc, đuổi đánh vợ đi. Hậu quả là Vũ Nương tự vẫn.

    – Trương Sinh giấu không kể lời con nói: khéo léo kể chuyện, cách thắt nút câu chuyện làm phát triển mâu thuẫn.

    – Ngay trong lời nói của Đản đã có ý mở ra để giải quyết mâu thuẫn: “Người gì mà lạ vậy, chỉ nín thin thít”.

    – Phân trần để chồng hiểu rõ nỗi oan của mình. Những lời nói thể hiện sự đau đớn thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử bất công. Vũ Nương không có quyền tự bảo vệ.

    Hạnh phúc gia đình tan vỡ. Thất vọng tột cùng, Vũ Nương tự vẫn. Đó là hành động quyết liệt cuối cùng.

    – Lời than thống thiết, thể hiện sự bất công đối với người phụ nữ đức hạnh.

    *Tình huống 4: Khi ở dưới thuỷ cung.

    Đó là một thế giới đẹp từ y phục, con người đến quang cảnh lâu đài. Nhưng đẹp nhất là mối quan hệ nhân nghĩa.

    – Cuộc sống dưới thuỷ cung đẹp, có tình người.

    Tác giả miêu tả cuộc sống dưới thuỷ cung đối lập với cuộc sống bạc bẽo nơi trần thế nhằm mục đích tố cáo hiện thực.

    – Vũ Nương gặp Phan Lang, yếu tố ly kỳ hoang đường.

    – Nhớ quê hương, không muốn mang tiếng xấu.

    Thể hiện ước mơ khát vọng một xã hội công bằng tốt đẹp hơn, phù hợp với tâm lý người đọc, tăng giá trị tố cáo.

    2. Nhân vật Trương Sinh

    – Thể hiện thái độ dứt khoát từ bỏ cuộc sống đầy oan ức. Điều đó cho thấy cái nhìn nhân đạo của tác giả.

    – Vũ Nương được chồng lập đàn giải oan – còn tình nghĩa với chồng, nàng cảm kích, đa tạ tình chàng nhưng không thể trở về nhân gian được nữa. Vũ Nương muốn trả ơn nghĩa cho Linh Phi, muốn trở về với chồng con mà không được.

    – Con nhà giàu, ít học, có tính hay đa nghi.

    – Cuộc hôn nhân với Vũ Nương là cuộc hôn nhân không bình đẳng.

    – Tâm trạng Trương Sinh nặng nề, buồn đau vì mẹ mất.

    Lời nói của Đản

    – Lời nói của Đản kích động tính ghen tuông, đa nghi của chàng.

    – Xử sự hồ đồ, độc đoán, vũ phu thô bạo, đẩy vợ đến cái chêt oan nghiệt.

    – Mắng nhiếc vợ thậm tệ, không nghe lời phân trần.

    1. Về nghệ thuật

    – Không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng.

    III. Tổng kết

    – Kết cấu độc đáo, sáng tạo.

    – Nhân vật: diễn biến tâm lý nhân vật được khắc hoạ rõ nét.

    – Xây dựng tình huống truyện đặc sắc kết hợp tự sự + trữ tình + kịch.

    – Yếu tố truyền kỳ: Kỳ ảo, hoang đường.

    2. Về nội dungQua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt cua người của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Bài 2 Tiết 5, 6 Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Bài 2 Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Soạn Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn ( Từ 7 Đến 10 Câu) Kể Lại Một Việc Tốt Em Đã Làm Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Văn Bản: Chuyện Người Con Gái Nam Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Bài Văn Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ, Ngắn G
  • Đọc Hiểu Văn Bản “chuyện Người Con Gái Nam Xương”
  • Pháp Luật Luật Sư – Luật Việt An
  • Bảng Phí Ly Hôn
  • Gọi Ngay Để Được Luật Sư Tư Vấn
  • – Quê ở huyện Trường Tân , nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

    – Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc nhất của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    Ông sống ở thế kỉ XVI, khi triều đình nhà Lê bắt đầu rơi vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền binh và gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

    + Là một ” kẻ sĩ” có nhân cách cao thượng, nên trước những mục nát của chế độ đương triều, bất mãn với thời cuộc, ông chỉ làm quan có một năm rồi xin lui về sống ẩn dật, viết sách và phụng dưỡng mẹ già.

    + Dù vậy, qua các sáng tác, ông vẫn tỏ ra là một người luôn đau đáu đến vận mệnh của xã tắc, sơn hà.

    + Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử. Sau đó được tác giả sắp xếp lại tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống các nhân vật, đặc biệt là xen kẽ các yếu tố kì ảo,

    + Truyện ra đời vào khoảng đầu thế kỉ XVI, thời kì xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong: những mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ.

    + ” Truyền kì mạn lục ” gồm 20 truyện, ghi chép lại những câu chuyện được lưu truyền tản mạn trong dân gian và thường có yếu tố kì ảo; đề tài phong phú.

    + Truyện mang đậm giá trị nhân văn và được đánh giá là áng ” thiên cổ tùy bút ” (tức áng văn hay ngàn đời).

    b. Phương thức biểu đạt: Tự sự có kết hợp yếu tố biểu cảm.

    Nàng Vũ Nương, người phụ nữ đẹp người, đẹp nết được Trương Sinh – một người ít học lại có tính đa nghi, cưới về làm vợ. Gia đình đang yên ấm, hạnh phúc thì chàng Trương phải rời nhà đi lính. Ở nhà, Vũ Nương sinh con trai, đặt tên là Đản. Nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình lên vách và nói là cha Đản. Mẹ Trương Sinh vì thương nhớ con mà sinh bệnh, nàng hết lòng chăm sóc, phụng dưỡng, song ít lâu sau bà qua đời.

    Khi Trương Sinh trở về, nghe theo lời con trẻ nghi ngờ vợ thất tiết. Vũ Nương một mực kêu oan, song Trương Sinh không nghe mà đánh mắng, đuổi vợ đi. Vũ Nương không tự minh oan được bèn trẫm mình xuống sông tự vẫn. Một đêm thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi cha. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã muộn.

    Vũ Nương không chết, nàng được Linh Phi cứu giúp. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thủy cung – người cùng làng bị chết đuối, cũng được Linh Phi cứu. Khi Phan Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc thoa và nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, lập đàn giải oan cho nàng ở bên sông ấy. Vũ Nương trở về ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ vài lời tạ từ rồi biến mất.

    – Ngay từ đầu thiên truyện, Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, ” tính tình thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp “.

    – Trong xã hội phong kiến, một người phụ nữ đẹp phải hội tụ đủ các yếu tố: ” tam tòng, tứ đức”; “công, dung, ngôn, hạnh“. Trong đó, dung chính là vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ. Và vì cảm kích trước ” tư dung” – vẻ đẹp bên ngoài của nàng mà Trương Sinh đã xin mẹ ” đem 100 lạng vàng cưới về “. Chi tiết này đã tô đậm vẻ đẹp nhan sắc và phẩm chất của nàng.

    * Trong cuộc sống vợ chồng bình thường

    * Khi tiễn chồng đi lính

    – Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha, tình nghĩa:

    + Nàng đặt hạnh phúc gia đình lên trên tất cả mà xem thường những thứ vinh hoa phù phiếm: ” Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên “.

    * Khi xa chồng

    – Vũ Nương chứng minh được, nàng là thủy chung, yêu thương chồng hết mực. Nỗi nhớ chồng cứ đi cùng năm tháng: ” mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi“, nàng lại ” thổn thức tâm tình, buồn thương da diết “.

    – Nàng mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng: Dỗ con, nàng chỉ cái bóng của mình trên vách mà rằng đó là cha Đản.

    – Tiết hạnh ấy được khẳng định trong câu nói thanh minh, phân trần sau này của nàng với chồng: ” Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.

    * Khi bị chồng nghi oan

    + Hạnh phúc gia đình, ” thú vui nghi gia, nghi thất” là niềm khao khát và tôn thờ cả đời giờ đã tan vỡ.

    + Đến nỗi đau chờ chồng đến hóa đá của ” cổ nhân” nàng cũng không có được: ” đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa “.

    * Những năm tháng sống dưới thủy cung

    Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự: Gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình.

    – Vũ Nương đã thay Trương Sinh làm tròn bổn phận người con, người trụ cột đối với gia đình nhà chồng:

    + Lời trăng trối của bà mẹ chồng trước khi mất đã khẳng định tấm lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành và công lao to lớn của Vũ Nương: ” Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ “.

    – Do cuộc hôn nhân không bình đẳng và do tính hay ghen, gia trưởng của Trương Sinh: Vũ Nương là ” con kẻ khó” được Trương Sinh đem trăm lạng vàng để cưới về. Sự đối lập giàu nghèo cộng với tính cách ” đa nghi ” của Trương Sinh đã sản sinh ra sự hồ đồ, độc đoán, gia trưởng để thô bạo với Vũ Nương. Rõ ràng, đối với vợ Trương Sinh đã thiếu cả lòng tin và tình thương.

    a. Giá trị hiện thực Chuyện người con gái Nam Xương

    Chuyện người con gái Nam Xương xây dựng tình huống truyện độc đáo, xoay quanh sự ngộ nhận, hiểu lầm lời nói của bé Đản. Chi tiết cái bóng trở thành điểm mấu chốt của tình huống khiến cốt truyện được thắt nút, mở nút, thay đổi sau khi nó xuất hiện.

    – Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: Dẫn dắt tình huống hợp lí; xây dựng lời thoại của nhân vật đan xen với lời kể của tác giả. Đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và kì ảo.

    – Có sự kết hợp hài hòa các phương thức biểu đạt: Tự sự, biểu cảm.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Nguyên nhân nào dẫn tới cái chết của nhân vật Vũ Nương.

    Câu 2. Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

    Câu 3. Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ.

    Câu 4. Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

    Theo anh (chị), ý kiến trên thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Ninh Bình
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Giáo Án Tin Học 6 Tiết 41: Bài Thực Hành 5. Văn Bản Đầu Tiên Của Em (Tt)
  • Giáo Án Tin Lớp 6 Tiết 40+ 41: Thực Hành 5 Văn Bản Đầu Tiên Của Em
  • Tin Học 6 Bài Thực Hành 5: Văn Bản Đầu Tiên Của Em
  • Đọc Hiểu Văn Bản “chuyện Người Con Gái Nam Xương”

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Luật Sư – Luật Việt An
  • Bảng Phí Ly Hôn
  • Gọi Ngay Để Được Luật Sư Tư Vấn
  • Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Hệ Thống Tin Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Và Quyền, Lợi Ích Hợp Pháp Của Tổ Chức, Cá Nhân.
  • Luật An Toàn Thực Phẩm Được Ban Hành Bởi Quốc Hội
  • Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao, nhưng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ.

    Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là Truyền kì mạn lục, gồm 20 truyện viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả.

    Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

    … Về mặt nội dung, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức tạp trong tư tưởng nhà văn.

    Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên tác giả thường lấy xưa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực. Đọc Truyền kì mạn lục nếu biết bóc tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sương khói thời gian xưa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội đương thời. Đời sống xã hội dưới ngòi bút truyền kì của nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sống người dân từ bộ máy nhà nước với quan tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong bại tục.

    Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, ông lại xuất phát tự lập trường nhân văn. Chính vì vậy, Truyền kì mạn lục chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc. Về phương diện này, Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam. Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận của người phụ nữ, đồng thời hướng tới những giải pháp xã hội, nhưng vẫn bế tắc trên đường đi tìm hạnh phúc cho con người”. (Từ điển văn học – NXB Thế giới, 2005).

    Truyện truyền kì là những truyện kì lạ được lưu truyền. Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là sự ghi chép tản mạn về những truyện ấy. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian, các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam. Nhân vật chính trong Truyền kì mạn lục phần lớn là những người phụ nữ đức hạnh nhưng lại bị các thế lực phong kiến, lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất. Bên cạnh đó còn có kiểu nhân vật là những người trí thức có tâm huyết nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình vào vòng danh lợi chật hẹp.

    4. Tóm tắt:

    Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết – người con gái quê ở Nam Xương, tính tình nết na thuỳ mị. Lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và bảo đó là cha nó. Khi Trương Sinh về thì con đã biết nói. Đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người đêm đêm vẫn đến nhà. Trương Sinh sẵn có tính ghen, mắng nhiếc và đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn. Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng.

    Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử:

    – Đoạn 1 (từ đầu đến “và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”): bị chồng nghi oan. Vũ Nương tự vẫn.

    – Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống nhưng vẫn không trở về đoàn tụ cùng gia đình.

    II- GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Có lẽ người Việt Nam chúng ta ai cũng hiểu và biết cách sử dụng cụm từ “oan Thị Kính”  một nỗi oan khuất mà người bị oan không có cách gì để thanh minh. Thị Kính chỉ được giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao dung độ lượng, luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con người bé nhỏ, thua thiệt, oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian.

    Người phụ nữ trong Chuyện người con gái Nam Xương không có được cái may mắn như Thị Kính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục còn bi thảm hơn. Thị Kính được lên toà sen trong khi người phụ nữ này phải tìm đến cái chết để chứng tỏ sự trong sạch của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn không được nhiều người biết đến, có lẽ bởi phương thức kể. Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu chuyện về nàng được thể hiện qua một vở chèo  một loại hình nghệ thuật dân gian quen thuộc, được nhân dân ưa thích từ xa xưa, trong khi Người con gái Nam Xương là một tác phẩm văn học viết thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân dân lao động hầu hết đều không biết chữ). Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu thêm rất nhiều điều về thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật dựng truyện, dẫn dắt mạch truyện cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức kết hợp các phương thức tự sự, trữ tình và kịch của tác giả.

    Trong phần đầu của truyện, trước khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành khá nhiều lời để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh. Hầu như không có sự kiện nào thật đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chồng đi lính, đối xử với mẹ chồng…) chứng tỏ nàng là một người con gái đẹp người đẹp nết, một người vợ hiền, một người con dâu hiếu thảo. Chỉ có một chi tiết ở đoạn mở đầu: “Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Bạn đọc có thể dễ bỏ qua chi tiết này vì với phẩm hạnh của nàng, dẫu Trương Sinh có đa nghi đến đâu cũng khó có thể xảy ra chuyện gì được.

    Nhưng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả. Chi tiết nhỏ được cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trước và phần sau, xâu chuỗi các yếu tố trong truyện, đồng thời giúp bạn đọc hiểu được nội dung tư tưởng của tác phẩm.

    Mạch truyện được dẫn rất tự nhiên. Sau khi giặc tan, Trương Sinh trở về nhà, bế đứa con nhỏ ra thăm mộ mẹ. Thằng bé quấy khóc, khi Sinh dỗ dành thì nó nói:

     “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít”.

    Thật chẳng khác gì một tiếng sét bất chợt. Lời con trẻ vô tình đã thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng người đàn ông đa nghi (tác giả đã nói đến từ đầu). Nếu coi đây là một vở kịch thì lời nói của đứa con chính là nút thắt, mở ra mâu thuẫn đồng thời ngay lập tức đẩy mâu thuẫn lên cao. Sau khi gạn hỏi con, nghe thằng bé nói có một người đàn ông “đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi…”, mối nghi ngờ của Sinh đối với vợ đã đến mức không thể nào gỡ ra được.

    Một lần nữa, chi tiết về tính hay ghen của Sinh phát huy tác dụng triệt để. Nó lí giải diễn biến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một cách hợp lí. Tại sao Sinh không chịu nghe lời người vợ thanh minh? Tại sao Sinh không nói cho vợ biết lí do mình tức giận như thế? (Nếu Sinh nói ra thì ngay lập tức câu chuyện sẽ sáng tỏ). Đó chính là hệ quả của tính đa nghi. Vì đa nghi nên Sinh không thể tỉnh táo suy xét mọi việc. Cũng vì đa nghi nên lời nói (dù rất mơ hồ) của một đứa bé cũng trở thành một bằng chứng “không thể chối cãi” rằng vợ chàng đã ngoại tình khi chồng đi vắng. Sự vô lí đã trở nên hợp lí bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật.

    Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên người vợ không thể thanh minh. Để chứng tỏ sự trong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhất là tự vẫn. Vợ Sinh chết mà mâu thuẫn kịch vẫn không được tháo gỡ, mối nghi ngờ trong lòng Sinh vẫn còn nguyên đó.

    Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút nghi ngờ phẩm hạnh của người phụ nữ nhưng cũng không lí giải nổi chuyện gì đã xảy ra và vì sao đứa bé lại nói như vậy. Đây cũng là một yếu tố chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Thủ pháp “đầu cuối tương ứng” được vận dụng. Đứa trẻ ngây thơ là nguyên nhân dẫn đến bi kịch thì cũng chính nó trở thành nhân tố tháo gỡ mâu thuẫn một cách tình cờ. Sau khi vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:

     Cha Đản lại đến kia kìa!

    Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:

     Đây này!

    Mâu thuẫn được tháo gỡ cũng bất ngờ như khi nó phát sinh. Đứa trẻ có biết đâu rằng, nó đã gây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi người chồng hiểu ra, hối hận thì đã quá muộn. Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn đến thế mà cũng đủ đẩy một con người vào cảnh tuyệt vọng.

    Ai là người có lỗi? Đứa trẻ đương nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết thắc mắc vì những lời nói đùa của mẹ. Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết đâu rằng những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến thế! Có trách chăng là trách Trương Sinh vì sự ghen tuông đến mất cả lí trí. Chi tiết này gợi lên nhiều suy nghĩ: giá như không phải ở trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, giá như người vợ có thể tự bảo vệ cho lẽ phải của mình thì nàng đã không phải chọn cái chết thảm thương như vậy. Tính đa nghi của Sinh đã không gây nên hậu quả xấu nếu như nó không được nuôi dưỡng trong một môi trường mà người phụ nữ luôn luôn phải nhận phần thua thiệt về mình. ý nghĩa này của tác phẩm hầu như không được tác giả trình bày trực tiếp nhưng qua hệ thống các biến cố, sự kiện được sắp xếp hợp lí, đưa bạn đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, tác giả đã thể hiện một cách tinh tế sự cảm thông sâu sắc của mình đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    Nếu câu chuyện dừng lại ở đây thì có thể cho rằng nó đã được sáng tạo theo một lỗi viết khá mới mẻ và hiện đại. Nhưng Nguyễn Dữ lại là người nổi tiếng với những câu chuyện truyền kỳ. Hoang đường, kì ảo là những yếu tố không thể thiếu trong những sáng tác thuộc loại này. Mặt khác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại nhưng hẳn Nguyễn Dữ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng “ở hiền gặp lành” của nhân dân lao động. Bản thân ông cũng luôn đứng về phía nhân dân, đặc biệt là những người phụ nữ có hoàn cảnh éo le, số phận oan nghiệt trong xã hội cũ. Bởi vậy, tác giả đã tạo cho câu chuyện một lối kết thúc có hậu. Tuy không được hoá Phật để rồi sống ở miền cực lạc như Thị Kính nhưng người phụ nữ trong truyện cũng được thần rùa cứu thoát, tránh khỏi một cái chết thảm thương.

    Phần cuối truyện còn được cài thêm nhiều yếu tố kì ảo khác nữa. Ví dụ như chi tiết chàng Phan Lang trở thành ân nhân của rùa, sau lại được rùa đền ơn. Trên đường chạy giặc, bị đắm thuyền, dạt lên đảo và được chính con rùa năm xưa cứu thoát. Đó có thể coi là sự “đền ơn trả nghĩa”  những hành động rất phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Việc người phụ nữ trở về gặp chồng nhưng không đồng ý trở lại chốn nhân gian có lẽ cũng nhằm khẳng định tư tưởng nhân nghĩa ấy. Mặc dù đã được cứu thoát, được giải oan nhưng vì lời thề với vợ vua biển Nam Hải, nàng quyết không vì hạnh phúc riêng mà bỏ qua tất cả. Những chi tiết đó càng chứng tỏ vẻ đẹp trong tính cách của người phụ nữ, đồng thời cũng cho thấy thái độ ngưỡng mộ, ngợi ca của tác giả đối với người phụ nữ trong câu chuyện này nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung.

    (ST)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Văn Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ, Ngắn G
  • Văn Bản: Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Văn Bản Pháp Luật Ninh Bình
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Giáo Án Tin Học 6 Tiết 41: Bài Thực Hành 5. Văn Bản Đầu Tiên Của Em (Tt)
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiếu Dời Đô (Lý Thái Tổ)
  • Giới Thiệu Tác Giả Lý Công Uẩn Và Tác Phẩm Chiếu Dời Đô
  • Bài 15. Chiếc Lược Ngà
  • Ý Nghĩa Văn Bản Chiếc Lược Ngà
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Chiếc Lược Ngà Của Nguyễn Quang Sáng
  • Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là thời kỳ Triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

    – Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hoá. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời.

    II. Tác phẩm:

    : “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ ” Truyền kỳ mạn lục “. Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàng Trương”.

    : Truyện truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ vẫn được lưu truyền). Viết bằng chữ Hán.

    : Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

    4. Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh. Chồng nàng là Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít lâu. Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất. Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi. Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu. Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang, người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu. Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất.

    5. Bố cục: 3 đoạn

    Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách.

    Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuấtcái chết bi thảm của Vũ Nương.

    Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong đội Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.

    III. Giá trị nội dung của tác phẩm: (Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc)

    1. Giá trị hiện thực:

    – Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp số phận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trương Sinh).

    – Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu nhiều oan khuất và bế tắc.

    – Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống của người dân càng rơi vào bế tắc.

    2. Giá trị nhân đạo: a. Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương

    Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ đời sống và tính cách nhân vật.

    Ngay từ đầu, nàng đã được giới thiệu là ” tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp “. Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về.

    Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng luôn giữ gìn khuôn phép nên dù chồng nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhưng gia đình chưa từng phải bất hoà.

    Cảnh 2: Khi tiễn chồng đi, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa đằm thắm. Nàng ” chẳng dám mong ” vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng ” khi về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi “. Vũ Nương cũng thông cảm cho những nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng. Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗi nhớ nhung, trông chờ khắc khoải của mình khi xa chồng. Nhữnglời văn từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu như nhịp đập trái tim nàng trái tim của người vợ trẻ khát khao yêu thương đang thổn thức lo âu cho chồng. Những lời đso thấm vào lòng người, khiến ai ai cũng xúc động ứa hai hàng lệ.

    Cảnh 3: Rồi đến khi xa chồng, nàng càng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm chất đáng quý. Trước hết, nàng là người vợ hết mực chung thuỷ với chồng. Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo dài qua năm tháng. Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy vườn” cảnh vui mùa xuân hay “mây che kín núi” cảnh buồn mùa đông, nàng lại chặn “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ người đi xa. Đồng thời, nàng là người mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, bù đắp cho đứa con trai nhỏ sự thiếu vắng tình cha. Bằng chứng chính là chiếc bóng ở phần sau câu chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha Đản. Cuối cùng, Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu, tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau. Nàng lo chạy chữa thuốc thangcho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu tố tâm linh đối với người xưa là rất quan trọng. Nàng lúc nào cũng dịu dàng, ” lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn“. Lời trăng trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao của Vũ Nương đối với gia đình: ” Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ“. Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp. Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảo như Vũ Nương thì bà mẹ Trương Sinh không thể không yêu mến. Khi bà mất, Vũ Nương đã ” hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình “. Có thể nói, cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của người phụ nữ: một người vợ thuỷ chung, một người mẹ thương con, một người dâu hiếu thảo. Ở bất kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo.

    Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực trong lòng Trương Sinh.

    + Ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng chung thuỷ trong trắng của mình. Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã cố gắng hàn gắn, cứu vãn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.

    + Ở lời nói thứ hai trong tâm trạng ” bất đắc dĩ“, Vũ Nương bày tỏ nỗi thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo vệ mình, thậm chí không có quyền được bảo vệ bởi những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm láng giềng. Người phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh phúc gia đình, ” thú vui nghi gia nghi thất“. Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thương tiếc. Giờ đây ” bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa “, cả nỗi nhớ chờ chồng mà hoá đá trước đây cũng không còn. Vậy thì cuộc đời còn gì ý nghĩa nữa đối với người vợ trẻ khao khát yêu thương ấy?

    + Chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân đã không còn cách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuất tày trời. Bị dồn đến bước đường cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ còn biết mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục. Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòng nước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn để không hành động bồng bột. Nhưng nàng vẫn không thay đổi quyết định ban đầu, bởi chẳng còn con đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này. Lời than của nàng trước trời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như đức hạnh của nàng. Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứa nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí.

    + Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa. Nàng hết sức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước. Nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế cuộc sống nghiệt ngã đã đẩy nàng đến cái chết. Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhung nhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trả lại danh dự. Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan. Thế nhưng “cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương không quay trở về trần gian nữa.

    : Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lý tưởng của mọi gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của mọi người phụ nữ. Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn.

    b. Vì sao Vũ Nương phải chết oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

    Những duyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương không thể sống mà phải chết một cách oan uổng:

    – Nguyên nhân trực tiếp : do lời nói ngây thơ của bé Đản. Đêm đêm, ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, Vũ Nương thường “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Vậy nên Đản mới ngộ nhận đó là cha mình, khi người cha thật chở về thì không chịu nhận và còn vô tình đưa ra những thông tin khiến mẹ bị oan.

    – Nguyên nhân gián tiếp:

    + Do người chồng đa nghi, hay ghen . Ngay từ đầu, Trương Sinh đã được giới thiệu là người “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức “, lại thêm ” không có học “. Đó chính là mầm mống của bi kịch sau này khi có biến cố xảy ra. Biến cố đó là việc Trương Sinh phải đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất. Mang tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc không chịu nhận cha. Lời nói ngây thơ của đứa trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” Trương Sinh gạn hỏi đứa bé lại đưa thêm những thông tin gay cấn, đáng nghi: ” Có một người đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che mắt thiên hạ), ” mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi ” (hai người rất quấn quýt nhau), “chẳng bao giờ bế Đản cả” (người này không muốn sự có mặt của đứa bé). Những lời nói thật thà của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh.

    + Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trương Sinh. Là kẻ không có học, lại bị ghen tuông làm cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lý trong lời nói con trẻ. Con người độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ hư”. Chàng bỏ ngoài tai tất cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ. Khi Vũ Nương hỏi ai nói thì lại giấu không kể lời con. Ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cũng không thể cời bỏ oan khuất cho Vũ Nương. Trương Sinh đã bỏ qua tất cả những cơ hội để cứu vãn tấn thảm kịch, chỉ biết la lên cho hả giận. Trương Sinh lúc ấy không còn nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, cũng chẳng quan tâm đến công lao to lớn của Vũ Nương đối với gia đình, nhất là gia đình nhà chồng. Từ đây có thể thấy Trương Sinh là con đẻ của chế độ nam quyền bất công, thiếu lòng tin và thiếu tình thương, ngay cả với người thân yêu nhất.

    + Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nương chỉ là ” con nhà kẻ khó“, còn Trương Sinh là ” con nhà hào phú “. Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh đối với Vũ Nương đã phần nào thể hiện quyền thế của người giàu đối với người nghèo trong một xã hội mà đồng tiền đã bắt đầu làm đen bạc thói đời.

    + Do lễ giáo hà khắc, phụ nữ không có quyền được nói, không có quyền được tự bảo vệ mình. Trong lễ giáo ấy, chữ trinh là chữ quan trọng hàng đầu; người phụ nữ khi đã bị mang tiếng thất tiết với chồng thì sẽ bị cả xã hội hắt hủi, chỉ còn một con đường chết để tự giải thoát.

    + Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly và cũng góp phần dẫn đến cảnh tử biệt. Nếu không có chiến tranh, Trương Sinh không phải đi lính thì Vũ Nương đã không phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cái chết thương tâm như vậy.

    Tóm lại: Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu có và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh ở đây không những không được bênh vực, trở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng hay ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

    IV. Giá trị nghệ thuật: 1. Một số nét nghệ thuật đặc sắc của Chuyện người con gái Nam Xương

    – Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng. Đây là sự khái quát hoá tấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật. Hình ảnh này hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận bi kịch của Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung.

    Nghệ thuật dựng truyện. Dẫn dắt tình huống truyện hợp lý. Chi tiết chiếc bóng là đầu mối câu chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bất ngờ, bàng hoàng cho người đọc và tăng tính bi kịch cho câu chuyện.

    – Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” bằng cách sắp xếp thêm bớt chi tiết một cách độc đáo.

    Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hành động. Các lời trần thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ nhưng vẫn khắc hoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật.

    Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm . Yếu tố kỳ ảo, hoang đường làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu vừa không có hậu, làm hoàn chỉnh vẻ đẹp của Vũ Nương.

    Kết hợp các phương thức biểu đạt : Tự sự + biểu cảm (trữ tình) làm nên một áng văn xuôi tự sự còn sống mãi với thời gian.

    2. Ý nghĩa của chi tiết kỳ ảo * Các chi tiết kỳ ảo trong câu chuyện:

    – Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

    – Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp; gặp lại Vũ Nương, được sứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế.

    – Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến đi mất.

    * Cách đưa các chi tiết kỳ ảo:

    – Các yếu tố này được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh, về thời điểm lịch sử, những chi tiết thực về trang phục của các mỹ nhân, về tình cảnh nhà Vũ Nương không người chăm sóc sau khi nàng mất… Cách thức này làm cho thế giới kỳ ảo lung linh, mơ hồ trở nên gần với cuộc đời thực, làmtăng độ tin cậy, khiến người đọc không cảm thấy ngỡ ngàng.

    * Ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo:

    – Cách kết thúc này làm nên đặc trưng của thể loại truyện truyền kỳ.

    – Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

    – Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện.

    – Thể hiện về ước mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta.

    – Chi tiết kỳ ảo đồng thời cũng không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện. Vũ Nương trở về mà vẫn xa cách ở giữa dòng bởi nàng và chồng con vẫn âm dương chia lìa đôi ngả, hạnh phúc đã vĩnh viễn rời xa. Tác giả đưa người đọc vào giấc chiêm bao rồi lại kéo chúng ta sực tỉnh giấc mơ – giấc mơ về những người phụ nữ đức hạnh vẹn toàn. Sương khói giải oan tan đi, chỉ còn một sự thực cay đắng: nỗi oan của người phụ nữ không một đàn tràng nào giải nổi. Sự ân hận muộn màng của người chồng, đàn cầu siêu của tôn giáo đều không cứu vãn được người phụ nữ. Đây là giấc mơ mà cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả. Nó để lại dư vị ngậm ngùi trong lòng người đọc và là bài học thấm thía về giữ gìn hạnh phúc gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Dữ Và Văn Bản Chuyện Người
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Dữ Và Văn Bản Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Giới Thiệu Về Chữ Ký Số
  • Cách Ký Tên, Đóng Dấu Văn Bản Chuẩn Theo Nghị Định 30
  • Mẫu Văn Bản Giấy Giới Thiệu
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Trang 51 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kì mạn lục)

    Tóm tắt

    Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) đẹp người đẹp nết, được Trương Sinh thất học, hay ghen cưới về làm vợ. Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng chu đáo và nuôi con thơ. Khi mẹ chồng mất cũng lo ma chay chu tất. Khi Trương Sinh trở về, hay tin mẹ mất mà đau buồn. Con trẻ không biết không nhận cha, Trương Sinh đâm ghen tuông ngờ vực sự thủy chung của Vũ Nương. Vũ Nương chứng tỏ sự trong sạch của mình nên nhảy sông tự vẫn.

    Phan Lang do cứu được Linh Phi nên được báo đáp. Sau đó gặp được Vũ Nương, Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ nhưng Vũ Nương không còn trở lại dương gian vì xã hội phong kiến quá hà khắc.

    Câu 1 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Bố cục:

    – Phần 1 (từ đầu … chịu khắp mọi người phỉ nhổ) : nỗi oan và cái chết của Vũ Nương.

    – Phần 2 (còn lại) : Vũ Nương ở thủy cung và nỗi oan được giải.

    Câu 2 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Nhân vật Vũ Nương trong từng hoàn cảnh :

    – Trước khi lấy Trương Sinh : tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.

    – Khi về nhà chồng : người vợ thảo hiền, nết na.

    – Khi chồng đi lính : con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền, người vợ thủy chung.

    – Khi bị nghi oan : nàng phân tỏ lòng mình mà không có kết quả, đã tự trẫm mình xuống sông để bảo toàn danh dự.

    → Vũ Nương là người phụ nữ hiền thục, người vợ thủy chung, yêu thương chồng con, là người con dâu hiếu thảo, là người phụ nữ coi trọng phẩm hạnh, danh dự.

    Câu 3 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất vì :

    – Nguyên nhân trực tiếp : Do Trương Sinh nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, sinh nghi ngờ, ghen tuông.

    – Nguyên nhân sâu xa :

    + Chế độ nam quyền, lễ giáo phong kiến.

    + Cuộc chiến tranh phi nghĩa gây chia ly.

    → Thân phận người phụ nữ bị xem nhẹ, khuất sau bóng người đàn ông.

    Câu 4 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Truyện dẫn dắt theo trình tự thời gian, các tình tiết được đan cài khéo léo, hé mở đầu truyện lại là nút thắt đẩy lên cao trào truyện (vì Trương Sinh thất học, tính hay ghen nên mới dễ dàng tin lời con trẻ và nghi oan vợ). Giọng văn trần thuật mang tính khách quan, cộng với lời văn đối thoại đầy tính bất ngờ đã khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật thật sâu sắc, đưa truyện đến kịch tính.

    Câu 5 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    – Yếu tố kì ảo trong truyện :

    + Chuyện nằm mộng của Phan Lang, Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa.

    + Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.

    – Yếu tố kì ảo tạo ra thế giới huyền ảo hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng. Thể hiện tấm lòng nhân đạo, đó là ước mơ về một thế giới công bằng của nhân dân.

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài: Những Câu Hát Than Thân
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió (Trích Đôn Ki
  • Tóm Tắt Văn Bản Đánh Nhau Với Cối Xay Gió Ngắn Hay Lớp 8
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nhớ Rừng Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)
  • (Trích Truyền kì mạn lục)

    Nguyễn Dữ

    I/ TÁC GIẢ – TÁC PHẨM 1.Tác giả :

    – Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của VHVN nửa đầu thế kỉ XVI. Đây là thời kì xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều biến động và khủng hoảng. Những giá trị chính thống của Nho giáo bị nghi ngờ, đảo lộn. Đặc biệt chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Mạc gây ra những loạn lạc, rối ren liên miên trong đời sống xã hội. Giống như nhiều tri thức khác của thời đại mình. Nguyễn Dữ chán nản và bi phẫn trước thời cuộc. Chính vì thế, sau khi đỗ Hương Cống, ông chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về ở ẩn.

    Thể loại truyền kì

    + Truyền kì: là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc, thịnh hành từ thời Đường. Truyền kì thường dựa vào những cốt truyện dân gian hoặc dã sử. Trên cơ sở đó, nhà văn hư cấu, sắp xếp lại các tình tiết, tô đâm thêm các nhân vật… ở truyền kì, có sự đan xen giữa thực và ảo. Đặc biệt, các yếu tố kì ảo trở thành phương thức không thể thiếu để phản ánh hiện thực và kí thác những tâm sự, những trải nghiệm của nhà văn. “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn dữ là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kì ở Việt Nam.

    2. Tác phẩm

    Tác phẩm ” Chuyện người con gái Nam Xương” – Là một trong 20 tác phẩm của ” Truyền kì mạn lục “. Qua cuộc đời của Vũ Nương, Nguyễn Dữ tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm vỡ tan hạnh phúc lứa đôi, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc với khát vọng hạnh phúc cũng như bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa. Tác phẩm cũng là sự suy ngẫm, day dứt trước sự mong manh của hạnh phúc trong kiếp người đầy bất trắc.

    – Tác phẩm cho thấy nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật già dặn. Sự đan xen thực ảo một cách nghệ thuật, mang tính thẩm mĩ cao.

    II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

    1. Có thể hình dung bố cục của truyện Chuyện người con gái Nam Xương thành ba phần.

    – Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”) : kể về cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh, biến cố chia li và phẩm hạnh của Vũ Nương khi chồng đi chiến trận.

    – Phần thứ hai (từ “Qua năm sau, giặc ngoan cố” cho đến “nhưng việc trót đã qua rồi!”) : kể về nỗi oan khuất và cái chết thương tâm của Vũ Nương.

    – Phần cuối (từ “Cùng làng với nàng” cho đến hết) : kể về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi vợ vua biển Nam Hải và việc Vũ Nương được giải oan.

    2. Vũ Nương là nhân vật trung tâm của truyện. Để khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, tác giả đã đặt nhân vật này vào những hoàn cảnh khác nhau để miêu tả.

    Trước hết, tác giả đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày: “Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.”; trong hoàn cảnh này, Vũ Nương đã ” giữ gìn khuôn phép, không từng lần nào vợ chồng phải đến thất hoà.”.

    Tiếp đến, tác giả đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li để nhân vật này bộc lộ tình nghĩa thắm thiết của mình với chồng: ” Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổn g.”.

    Hoàn cảnh thứ ba: xa chồng, nuôi con nhỏ, chăm sóc mẹ già; trong hoàn cảnh này, Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết: “N gày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.”, một người mẹ hiền, dâu thảo, ân cần, hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau: ” Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.“, thương yêu, lo lắng chu toàn: khi mẹ chồng mất ” Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình. “.

    Một hoàn cảnh quan trọng khác, đó là tình huống Vũ Nương bị chồng nghi oan. Trong tình huống này, khí tiết, phẩm hạnh của Vũ Nương được bộc lộ một cách rõ nét. Chú ý phân tích các lời thoại của Vũ Nương với chồng và lời nói trước khi tự vẫn để thấy được tính cách tốt đẹp của nhân vật này. Qua những lời tự minh oan cho mình, thuyết phục chồng, lời than thở đau đớn vì oan nghiệt, Vũ Nương đã bộc lộ khao khát về tình yêu, hạnh phúc gia đình như thế nào? Tại sao Vũ Nương lại phải trẫm mình tự vẫn? Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ này ra sao?

    Tóm lại, bằng cách đặt nhân vật vào những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, tác giả đã khắc hoạ đậm nét một nhân vật Vũ Nương hiền thục, một người vợ thuỷ chung, yêu thương chồng con hết mực, một người con dâu hiếu thảo, hết lòng vì cha mẹ, gia đình, đồng thời cũng là người phụ nữ coi trọng danh dự, phẩm hạnh, quyết bảo vệ sự trong sạch của mình.

    3. Tác giả đã xây dựng nhân vật Trương Sinh với tính cách rõ nét: ” đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.“, nghe lời con trẻ mà không suy xét đúng sai: ” Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.“, hồ đồ, độc đoán không đếm xỉa đến những lời thanh minh của vợ, đối xử tệ bạc, vũ phu với Vũ Nương: ” chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi “. Chính Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương đến tình cảnh bi kịch, không lối thoát và phải chọn cái chết để giải thoát. Qua đây cũng thấy được thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, họ không được làm chủ cuộc sống của mình, luôn luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan khiên, cay đắng.

    4. Trên cơ sở cốt truyện có sẵn trong kho tàng truyện cổ tích (Vợ chàng Trương), tác giả đã sáng tạo lại, sắp xếp, đưa thêm những yếu tố mới để câu chuyện trở nên hấp dẫn, đầy tính bất ngờ, mang ý nghĩa mới sâu sắc. Tác giả đã dẫn dắt câu chuyện có mở đầu, diễn biến, cao trào, thắt nút, cởi nút, kết thúc, kết hợp với nghệ thuật xây dựng lời thoại nhân vật sinh động, giàu kịch tính và lời dẫn chuyện giàu tính biểu cảm. Trong đó, các đoạn đối thoại, độc thoại của nhân vật có một vai trò hết sức quan trọng, chứng tỏ nghệ thuật dựng truyện đặc sắc của tác giả. Chú ý các lời thoại:

    – Lời của Vũ Nương nói với Trương Sinh khi từ biệt;

    – Lời của mẹ Trương Sinh nói với Vũ Nương;

    – Đoạn đối thoại giữa hai cha con Trương Sinh;

    – Ba lời thoại của Vũ Nương khi bị nghi oan.

    Phân tích các lời thoại để thấy được tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, diễn biến tâm lí nhân vật, tạo kịch tính cho câu chuyện.

    5. Truyền kì được hiểu là những điều kì lạ vẫn được lưu truyền. Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì có một vai trò rất quan trọng. Nó khiến câu chuyện được kể trở nên lung linh, hư ảo. Chẳng hạn: chuyện nằm mộng của Phan Lang, Chuyện Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi,… chuyện lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi ” bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”. Đó là đặc điểm chung của thể loại truyền kì trung đại. Hơn nữa, Nguyễn Dữ đã sử dụng cách đưa yếu tố truyền kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực để tạo hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện (các yếu tố tả thực: địa danh, thời điểm lịch sử, sự kiện lịch sử, miêu tả chân dung nhân vật, khung cảnh…). Ngoài ra, sự có mặt của các yếu tố kì ảo đã tạo ra một thế giới ước mơ, khát vọng của nhân dân về sự công bằng, bác ái.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Trang 51 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Trang 51 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

    Bố cục:

    – Phần 1 (từ đầu… như đối với cha mẹ đẻ mình): Cuộc sống của Vũ Nương khi được gả về nhà Trương Sinh cho đến trước khi Trương Sinh trở về

    – Phần 2 (tiếp… nhưng việc trót đã qua rồi): Số phận oan khuất của Vũ Nương

    – Phần 3 (còn lại): Vũ Nương được giải oan

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 51 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    – Phần 1 (từ đầu… cha mẹ đẻ mình): Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh, phẩm hạnh của Vũ Nương trong thời gian xa cách

    – Phần 2 (tiếp… trót đã qua rồi) : Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

    – Đoạn 3 (còn lại) Trương Sinh lập đàn giải oan cho Vũ Nương

    Câu 2 (Trang 51 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Tác giả khắc họa vẻ đẹp tâm hồn Vũ Nương, đặt nhân vật vào những hoàn cảnh khác nhau để miêu tả

    – Trong mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày, nàng không để xảy ra mối bất hòa

    – Tiếp đến, tác giả đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li: khi tiễn chồng đi lính, nàng bày tỏ sự thương nhớ, mong chồng bình yên

    – Khi vắng chồng, Vũ Nương là một người vợ thủy chung, người mẹ hiền, dâu thảo, hết lòng vì gia đình

    + Chăm sóc bé Đản

    + Lo thuốc thang cho mẹ chồng khi đau ốm, lo ma chay chu đáo khi mẹ chồng mất

    – Khi bị nghi oan, Vũ Nương cố thanh minh để chồng hiểu nhưng không được

    + Nàng chọn cái chết để minh oan cho tấm lòng trinh bạch của mình

    → Nhân vật Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu thương chồng con hết mực

    – Nhân vật Vũ Nương hiện lên là người phụ nữ hiền thục, một người vợ thủy chung, yêu thương chồng con, phụ nữ coi trọng danh dự, nhân phẩm trong sạch của mình

    Câu 3 (trang 51 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Nỗi oan khuất của Vũ Nương do nhiều nguyên nhân đưa đến:

    – Nguyên nhân trực tiếp do Trương Sinh quá đa nghi, hay ghen, gia trưởng, độc đoán, Trương Sinh không cho Vũ Nương cơ hội trình bày thanh minh

    – Nguyên nhân gián tiếp là do xã hội phong kiến

    + Xã hội bất công, thân phận phụ nữ bấp bênh, mong manh, bi thảm

    + Không được bênh vực, chở che còn bị đối xử bất công

    Câu 4 (trang 51 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện kịch tính, lôi cuốn.

    + Những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút đến khi nút thắt được tạo ra cho truyện trở nên hấp dẫn, sinh động

    + Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại của nhân vật khiến câu chuyện trở nên sinh động

    – Cách khắc họa tâm lí, tính cách nhân vật (lời Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng…)

    Câu 5 (trang 51 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Những yếu tố truyền kì:

    – Chuyện nằm mộng của Phan Lang

    – Chuyện Phan Lang và Vũ Nương dưới động của Linh Phi… lập đàn giải oan

    + Vũ Nương hiện lên ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ lúc ẩn, lúc hiện “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”

    – Tác giả đã sử dụng cách đưa yếu tố kì ảo vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực

    Tạo hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyền kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực

    Tạo ra một thế giới ước mơ, khát vọng của nhân dân về sự công bằng, bác ái

    Luyện tập

    Vũ Nương là người con gái thùy mị nết na, Trương Sinh đem lòng yêu mến nên cưới nàng về. Chưa được bao lâu, Trương Sinh đi lính, để lại mẹ già và đứa con chưa kịp chào đời cho Vũ Nương chăm sóc. Ở nhà, Vũ Nương chăm lo thuốc thang cho mẹ chồng, khi mẹ mất nàng lo ma chay chu đáo cho mẹ, còn chăm sóc cả đứa con thơ. Tới khi Trương Sinh trở về, đứa con không chịu nhận bố và nói rằng đã có bố khác thì lúc này chàng sinh nghi và trách mắng, đuổi Vũ Nương đi. Dù Vũ Nương đã hết lời minh oan nhưng Trương Sinh không tin theo, cuối cùng, nàng tắm gội sạch sẽ và ra bến Hoàng Giang tự tử. Cảm động trước tấm lòng của nàng, thần Linh Phi đã mang nàng về thủy cung, ở đây nàng được gặp Phan Lang- người hàng xóm. Nàng nhờ Phan Lang chuyển lời về cho Trương Sinh rằng hãy lập đàn giải oan cho nàng bên bến Hoàng Giang. Về phần mình, Trương Sinh về sau hiểu ra chuyện khi đứa con chỉ vào chiếc bóng và nhận đó là cha. Chàng lập đàn giải oan cho Vũ Nương, nàng trở về giữa dòng, nói vài điều rồi biến mất.

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Những Câu Hát Than Thân
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió (Trích Đôn Ki
  • Tóm Tắt Văn Bản Đánh Nhau Với Cối Xay Gió Ngắn Hay Lớp 8
  • Soạn Bài: Đánh Nhau Với Cối Xay Gió
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Trang 51 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Siêu Ngắn)
  • 1. Tóm tắt nội dung bài học

    • Chuyện phản ánh thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp số phận người phụ nữ.
    • Phản ánh số phận con người qua hình ảnh, số phận người phụ nữ.
    • Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống của người dân rơi vào bế tắc.
    • Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương.

    1.2. Nghệ thuật

    • Tác phẩm là một áng văn hay.
    • Thành công về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình.

    2. Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương

    2.1. Soạn bài tóm tắt

    Câu 1: Bố cục của tác phẩm?

    • Đoạn 1: (Từ đầu đến “cha mẹ đẻ mình”): Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh, phẩm hạnh của Vũ Nương trong thời gian xa cách.
    • Đoạn 2: (“Qua năm sau…trót đã qua rồi”): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương
    • Đoạn 3: (Còn lại): Vũ Nương được giải oan.

    Câu 2: Để khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, tác giả đã đặt nhân vật này vào những hoàn cảnh khác nhau như thế nào?

    • Đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hàng ngày: nàng không để xảy ra bất kì mối bất hòa nào.
    • Đặt nhân vật vào tình huống chia li (tiễn chồng đi lính): nàng bày tỏ sự thương nhớ và chỉ mong chồng trở về bình yên.
    • Khi chồng vắng nhà: nàng là một người thủy chung, một người mẹ hiền, dâu thảo, ân cần chăm sóc và lo lễ ma chay khi mẹ chồng mất.
    • Khi bị chồng nghi oan: nàng cố giải thích nhưng không được, đến bước đường cùng nàng đã chọn tự vẫn để bảo toàn sự trong trắng và danh dự của mình.

    ⇒ Luôn hiện lên là một phụ nữ hiền thục, thủy chung với chồng, có hiếu với cha mẹ, thương con cái, đặc biệt nàng là người phụ nữ coi trọng danh dự, phẩm hạnh.

    Câu 3: Nguyên nhân khiến cho Vũ Nương vướng nỗi oan khuất?

    • Nguyên nhân trực tiếp: do Trương Sinh quá đa nghi, hay ghen, gia trưởng và độc đoán nên chịu nghe lời giải thích của Vũ Nương.
    • Nguyên nhân gián tiếp: do chế độ phong kiến luôn gây ra bao bất công cho thân phận người phụ nữ.

    Câu 4: Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện tạo sự kịch tính và lôi cuốn?

    • Từ những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút cho đến khi mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm đã tạo nên sự hấp dẫn, sinh động cho câu chuyện.
    • Những đoạn độc thoại và đối thoại được sắp xếp rất đúng chỗ làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa tâm lí nhân vật, tính cách nhân vật.

    Câu 5: Những yếu tố truyền kì trong truyện?

    • Chuyện nằm mộng của Phan Lang
    • Chuyện Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi
    • Chuyện lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi biến mất.

    ⇒ Tác giả đã sử dụng cách đưa yếu tố thần kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực để tạo hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện.Đồng thời, tác giả muốn tạo cơ sở để minh oan cho Vũ Nương, khẳng định lòng trong trắng của nàng. Qua đó, tạo ra một thế giưới với khát vọng của nhân dân về sự công bằng, “ở hiền gặp lành”.

    2.2. Soạn bài chi tiết

    Câu 1: Tìm bố cục truyện

    • Văn bản được bố cục thành ba phần.
    • Phần 1: Từ đầu đến cha mẹ đẻ mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh, phẩm hạnh của Vũ Nương trong thời gian xa cách.
    • Phần 2: Qua năm sau… trót đã qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
    • Phần 3: Còn lại: Vũ Nương được giải oan.

    Câu 2. Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong những hoàn cảnh nào? Ở từng hoàn cảnh, Vũ Nương đã bộc lộ những đức tính gì?

    • Tác giả đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày, nàng không để xảy ra mối bất hòa.
    • Tiếp đến, tác giả đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li: khi tiễn chồng đi lính, nàng bày tỏ sự thương nhớ, và chỉ mong chồng bình yên trở về.
    • Khi vắng chồng, Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, một người mẹ hiền, dâu thảo, ân cần, hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau. Khi mẹ chồng mất “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”
    • Khi bị chồng nghi oan, Vũ Nương đã cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, nhưng không có kết quả. Lúc bị dồn đẩy đến bước đường cùng, nàng đành mượn dòng nước sông quê để giãi tỏ tấm lòng trong trắng. Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự.
    • Qua các hoàn cảnh, nhân vật Vũ Nương hiện lên là một người phụ nữ hiền thục, một người vợ chung thủy, yêu thương chồng con hết mực, một người con dâu hiếu thảo, hết lòng vì cha mẹ, gia đình, đồng thời cũng là người phụ nữ coi trọng danh dự, phẩm hạnh, quyết bảo vệ sự trong sạch của mình.

    Câu 3. Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất? Từ đó em cảm nhận được gì về thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

    • Do Trương Sinh quá đa nghi, hay ghen, gia trưởng, độc đoán. Trương Sinh đã không cho Vũ Nương cơ hội trình bày, thanh mình.
    • Do xã hội phong kiến – Một xã hội gây ra bao bất công ấy, thân phận người phụ nữ thật bấp bênh, mong manh, bi thảm. Họ không được bênh vực chở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lí.

    Câu 4. Hãy nêu nhận xét về cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện, những lời trần thuật và những lời đối thoại trong truyện.

    • Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện tạo kịch tính, lôi cuốn.
    • Từ những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút đến khi nút thắt ngày một chặt hơn đã tạo cho truyện trở nên hấp dẫn, sinh động.
    • Những đoạn đối thoại, độc thoại của nhân vật được sắp xếp rất đúng chỗ, làm cho câu chuyện kể trở nên sinh động, góp phần khắc họa tâm lý nhân vật, tính cách nhân vật.

    Câu 5. Tìm những yếu tố kì ảo trong truyện.Đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều gì?

    • Những yếu tố truyền kỳ chuyện nằm mộng của Phan Lang, Chuyện Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi, chuyện lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.“.
    • Nguyễn Dữ đã sử dụng cách đưa yếu tố truyền kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực để tạo hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện. Tác giả muốn tạo cơ sở để minh oan cho Vũ Nương, khẳng định lòng trong trắng của nàng. Đồng thời tạo ra một thế giới ước mơ, khát vọng của nhân dân về sự công bằng, bác ái.

    3. Một số bài văn mẫu về văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

    4. Hỏi đáp về văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    • Ý nghĩa của hình ảnh cái bóng

      Ý nghĩ của hình ảnh cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương

    • Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương

      Tóm tắt “Chuyện người con gái Nam Xương”.

    • Giá trị nội dung và nghệ thuật của Chuyện người con gái Nam Xương

      phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong ” chuyện người con gái Nam Xương”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài: Những Câu Hát Than Thân
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió (Trích Đôn Ki
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Siêu Ngắn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Trang 51 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kì mạn lục)

    Bố cục

    – Phần 1: Từ đầu … cha mẹ đẻ mình: Cuộc sống của Vũ Nương khi lấy Trương Sinh

    – Phần 2: Qua năm sau … trót đã qua rồi: Câu chuyện oan khuất của Vũ Nương

    – Phần 3: Còn lại: Vũ Nương được giải oan

    Tóm tắt

    Vũ Thị Thiết là người con gái xinh đẹp nết na, tư dung tốt đẹp. Nàng lấy Trương Sinh làm chồng. Hạnh phúc không bao lâu thì chàng bị bắt đi lính. Chồng vừa đi đầy tuần thì nàng sinh con. Bà mẹ vì nhớ con mà dần sinh ốm rồi chết. Vũ Nương chăm sóc và lo việc ma chay như đối với cha mẹ đẻ. Năm sau Trương Sinh trở về, nghi ngờ đức hạnh của vợ vì câu nói ngây thơ của đứa con. Vũ Nương gieo mình xuống sông để tỏ lòng. Vũ Nương được Linh Phi cứu giúp cho ở lại cung điện dưới nước. Một hôm, chàng ngồi bên đèn dầu, đứa con chỉ vào cái bóng trên tường nhận làm cha. Trương Sinh mới nhận ra mình đã nghi oan cho vợ.

    Phan Lang là người cùng làng do một lần cứu giúp Linh Phi được Linh Phi báo ân. Phan Lang gặp Vũ Nương dưới cung điện. Vũ Nương nói rõ sự tình cho Phan Lang nghe. Phan Lang về kể lại sự tình cho Trương Sinh biết. Trương Sinh lập đàn giải oan cho Vũ Nương. Vũ Nương được giải oan nhưng không trở về nhân gian.

    Soạn bài

    Câu 1 (trang 51 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    Bố cục như trên.

    Câu 2 (trang 51 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1): Nhân vật Vũ Nương được miêu tả qua những hoàn cảnh

    – Khi lấy Trương Sinh: nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến bất hòa → Người phụ nữ tư dung tốt đẹp

    – Khi chồng đi lính: Hết lòng chăm lo cho mẹ chống lúc ốm đau, nuôi dạy con thơ nên người. Lo việc ma chay chu đáo như đối với cha mẹ mình → Người phụ nữ đảm đang, chịu khó, đức hạnh

    – Khi bị chồng vu oan: Quyết gieo mình xuống sông để tỏ tấm lòng đức hạnh của mình → Người phụ nữ gan dạ, chung thủy, coi trọng danh dự, phẩm hạnh

    Câu 3 (trang 51 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    – Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất vì đứa con không nhận cha đẻ của mình mà nhận người khác làm cha mình. Chồng không tin tưởng lại thêm tính đa nghi, hay ghen tuông.

    – Số phận của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến thật nhỏ nhoi, bấp bênh, bất hạnh. Họ không được coi trọng, bảo vệ mà luôn phải chịu sự bất công

    Câu 4 (trang 51 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    Cách dẫn dắt tình huống truyện rất logic, tự nhiên, lôi cuốn hấp dẫn người đọc. Những đoạn đối thoại của nhân vật được đặt rất đúng chỗ. Đặc biệt trong những lời đối thoại có sử dụng những điển tích, điển cố làm tăng tính chất li kì của câu chuyện. Những nút thắt trong truyện để đẩy câu chuyện lên cao trào cũng hợp lí. Kết thúc truyện để lại nhiều dư âm cho người đọc

    Câu 5 (trang 51 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    Tác giả đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc nhằm làm tăng tính hấp dẫn, li kì của truyện. Qua việc Vũ Nương được Linh Phi cứu giúp mới có ngày được giải oan, Nguyễn Dữ muốn thể hiện ước mơ về sự công bằng cho những người phụ nữ đức hạnh. Qua đó thể hiện tinh thần nhân văn của tác giả

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài: Những Câu Hát Than Thân
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân (Siêu Ngắn)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100