Sơ Đồ Tư Duy Ánh Trăng

--- Bài mới hơn ---

  • Ánh Trăng Anh Trang Nhung Ltv Ppt
  • Văn 9 Bài Giảng Ánh Trăng Anh Trang Ppt
  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 7)
  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 60)
  • Phân Tích Bài Thơ “ánh Trăng” Của Nguyễn Duy
  • Để nắm được các kiến thức cơ bản về bài thơ Ánh trăng, mời các em tham khảo hệ thống kiến thức và sơ đồ tư duy Ánh trăng của Nguyễn Duy do Đọc Tài Liệu biên soạn. Hy vọng rằng tài liệu này giúp các em nắm nội dung bài học một cách khoa học và đầy đủ nhất.

    **********

    Sơ đồ tư duy Ánh trăng của Nguyễn Duy

    Sơ đồ tư duy phân tích bài thơ Ánh trăng

    Luận điểm 1: Vầng trăng trong quá khứ

    Luận điểm 2: Vầng trăng của hiện tại

    Luận điểm 3: Cảm xúc của tác giả về trăng với con người

    Nếu như ở tuổi thơ của mình tác giả sống gần gũi với thiên nhiên, với sông, với bể, với rừng thì giờ đây môi trường sống của nhà thơ đã thay đổi rồi. Ông sống ở thành phố, nơi có những ánh đèn chiếu sáng được mọi ngõ ngách, mọi không gian. Chính vì ánh sáng của đèn điện, của cửa gương mà người ta không còn nhớ đến ánh sáng của vầng trăng nữa. Dần dần, vầng trăng tình nghĩa ngày nào bị đẩy lùi vào quên lãng. Vầng trăng tượng trưng cho kỉ niệm, cho kí ức về những năm tháng đấu tranh gian khổ, cho những người bạn của tuổi thơ, cho những người đồng đội đã từng cùng nhau vào sinh ra tử. Vậy mà giờ đây, trăng trở thành người dưng qua đường. Khi cuộc sống thay đổi, nó kéo theo sự thay đổi trong suy nghĩ của con người. Vầng trăng có lẽ sẽ cứ trôi vào trong dĩ vãng như vậy nếu như không có chuyện thành phố bị mất điện:

    Phòng buyn đinh tối om

    Vội bật tung cửa sổ

    Đột ngột vầng trăng tròn

    Trong khoảnh khắc đèn điện vụt tắt ấy, ánh sáng của vầng trăng hiện lên thật bất ngờ. Dường như cùng với ánh trăng, mọi kí ức năm xưa ùa về trong lòng tác giả. Đó là sông, là bể, là rừng, là những năm tháng nghèo đói, thiếu thốn nhưng vẫn luôn đong đầy hạnh phúc.

    Xem dàn ý chi tiết và các bài văn mẫu : Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

    Sơ đồ tư duy cảm nhận bài thơ Ánh trăng

    Luận điểm 1: Suy nghĩ và cảm nhận về vầng trăng trong quá khứ.

    Luận điểm 2: Cảm nghĩ về vầng trăng của hiện tại.

    Luận điểm 3: Cảm xúc của tác giả trước vầng trăng.

    Tìm hiểu về Nguyễn Duy và bài thơ Ánh trăng

    I. Tác giả Nguyễn Duy

    – Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

    – Quê quán: Xã Đông Vệ huyện Đông Sơn(nay là phường Đông Vệ-Thanh Hóa)

    – Sự nghiệp sáng tác:

    + Nguyễn Duy làm thơ từ rất sớm, từ khi học cấp ba

    + Năm 1973, ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo văn nghệ với chùm thơ vô cùng xuất sắc.

    + Ngoài việc sáng tác thơ ông còn viết tiểu thuyết và bút kí

    + Năm 2007, Nguyễn Duy đã được Giải thưởng Nhà nước danh giá về Văn học Nghệ thuật

    + Những tác phẩm tiểu biểu: “Đãi cát tìm vàng”, ” Bụi”, “Mẹ và em”…

    – Phong cách sáng tác: Thơ Nuyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt và suy tư.

    II. Bài thơ Ánh trăng

    A. Tìm hiểu chung

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    “Ánh trăng” là một bài thơ hay viết vào năm 1978, 3 năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được nhà thơ viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. In trong tập “Ánh trăng”.

    2. Bố cục (3 phần)

    – Đoạn 1 (3 khổ thơ đầu): Kí ức về vầng trăng trong quá khứ của tác giả và vầng trăng trong hiện tại

    – Đoạn 2 (Khổ 4): Tình huống bất ngờ khiến kí ức ùa về

    – Đoạn 3 (2 khổ cuối): Sự hối hận của tác giả vì đã lãng quên vầng trăng

    3. Giá trị nội dung

    Bài thơ Ánh trăng là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống ” Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

    4. Giá trị nghệ thuật

    Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ bố cục rõ ràng, mạch lạc. “Ánh trăng” có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự, hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa khát, giàu tính biểu cảm, giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình.

    B. Tìm hiểu chi tiết

    1. Vầng trăng trong quá khứ (khổ 1+2) của tác giả và vầng trăng trong hiện tại (khổ 3)

    – Khổ 1: Dòng hoài niệm mở ra

    + “Hồi nhỏ…hồi chiến tranh” : đánh dấu mốc thời gian

    + Phép liệt kê tăng cấp ” đồng, sông , bể”: Tuổi thơ gắn bó với sông nước, trăng sao đầy ắp kỉ niệm. ⇒ Chỉ thứ tự từ hẹp đến rộng, từ quê hương đến đất nước, mở rộng hơn là sự gắn bó giữa những con người ở quê hương đến đồng đội nhân dân

    ⇒ Như vậy khi còn nhỏ nhân vật trữ tình sống chan hòa với thiên nhiên

    + “vầng trăng thành tri kỉ”: đất nước có chiến tranh, con người lên đường tham gia chiến đấu, ở rừng là những năm tháng khó khăn gian khổ, trăng được nhân hóa trở thành người bạn tri kỉ không thể nào quên.

    – Khổ 2:

    + Phép so sánh sánh “trần trụi, hồn nhiên” kết hợp với phép liệt kê ” thiên nhiên, cây cỏ”: lối sống đơn giản, mộc mạc mọi buồn vui sướng khổ đều gắn bó với trăng.

    + Ngỡ: nghĩ là, tưởng là, vậy mà kết quả lại ngược lại

    + Nhân hóa “cái vầng trăng tình nghĩa”: khẳng định mối quan hệ giữa người và trăng là bền vững mãi mãi

    ⇒ Mạch thơ biến đổi đánh dấu một sự thay đổi lẽ ra phải trân trọng.

    – Khổ 3: Vầng trăng trong hiện tại

    + Khi chiến tranh kết thúc, người lính từ giã núi rừng trở về với thành phố nơi đô thị hiện đại.

    + Nhân hóa liệt kê “ánh điện cửa gương”- cuộc sống đầy đủ tiện nghi. Mặc dù vậy trăng vẫn tròn đầy lặng lẽ đi qua thành phố nhưng người bạn năm xưa chỉ coi trăng như một vật chiếu sáng

    + Hình ảnh so sánh “vầng trăng đi qua ngõ- như người dưng qua đường”: thể hiện một sự bội bạc vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày: có mới nới cũ

    ⇒ Hoàn cảnh sông thay đổi kéo con người đổi thay, quên đi ân tình trong quá khứ

    2. Tình huống bất ngờ xuất hiện (khổ 4)

    – Phép đảo ngữ từ láy “thình lình”, ” đột ngột ” được đưa lên đầu câu: nhấn mạnh sự việc bất ngờ là mất điện

    – Ba động từ “vội, bật, tung” đặt liền nhau: diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương của nhân vật trữ tình đi tìm nguồn sáng

    – Ngay lúc đó trăng hiện ra “đột ngột” khiến con người bàng hoàng xúc động.

    ⇒ Vầng trăng đến bất ngờ làm sáng lên những góc tối trong tâm hồn, thức tỉnh sự ngủ quên trong diều kiện sống đã hoàn toàn đổi khác.

    3. Vầng trăng thức tỉnh con người và sự hối hận của tác giả (khổ 5+6)

    – Khổ 5: Tâm trạng, cử chỉ của con người khi đối diện với vầng trăng

    + Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt”: là tư thế trực tiếp đối mặt

    + Phép nhân hóa, từ mặt thứ hai chỉ vầng trăng tròn, đó là thiên nhiên hồn nhiên tươi mát, đó còn là quá khứ bạn bè tươi đẹp.

    + So sánh, liệt kê, điệp ngữ, lặp cấu tứ ” như là đồng là bể- như là sông là rừng”: diễn tả dòng hoài niệm ùa về và con người thấy trăng là thấy người bạn tri kỉ ngày nào.

    ⇒ Cảm xúc chừng như nén lại nhưng cứ trào ra thổn thức

    – Khổ 6: Bài thơ khép lại ở hình ảnh sâu lắng

    + Trăng tròn đầy vành vạnh có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực về sự tròn đầy lung linh của trăng, thiên nhiên vũ trụ vĩnh hằng, gợi quá khứ bạn bè tươi đẹp chẳng thể phai mờ

    + Trăng còn được nhân hóa “kể chi người vô tình- ánh trăng im phăng phắc” gợi thái độ bao dung, nhân hậu

    + Trăng tròn vành vạnh-con người vô tình, trăng im phăng phắc- con người vô tình.

    ⇒ Câu thơ cuối mang ý nghĩa nhân văn, cái giật mình thức tỉnh của con người từng bội bạc trở nên đáng trân trọng bởi nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

    ***********

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Ánh Trăng Ngắn Gọn Nhất
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Các Tác Phẩm Thơ Hiện Đại
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Cảm Nhận Bài Thơ Ánh Trăng Khổ Cuối
  • Bai Giang Dien Tu Bai 12. Anh Trang
  • Sơ Đồ Tư Duy Vợ Nhặt

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Tình Yêu Làng Của Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Để giúp các bạn học sinh 12 học tốt hơn môn Ngữ văn, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn tài liệu Sơ đồ tư duy Vợ Nhặt, qua bộ sơ đồ tư duy Ngữ văn 12 bài Vợ Nhặt các bạn học sinh sẽ có kết quả cao hơn trong học tập. Mời các bạn học sinh cùng thầy cô tham khảo.

    Học tốt Ngữ văn 12: Sơ đồ tư duy Vợ Nhặt

    Truyện lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Tràng – một thanh niên nghèo, lại là dân ngụ cư, trong một lần đẩy hàng đã tình cờ có được vợ. Cô vợ nhặt đã tình nguyện theo Tràng chỉ sau một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Tràng đưa “thị” về giữa cảnh đói khát đang tràn đến xóm ngụ cư. Bà cụ Tứ thấy con có vợ thì vừa mừng vừa tủi cho thân phận nghèo khó của mình và thương con, thương nàng dâu đói khổ. Họ sống với nhau trong cảnh đói nghèo nhưng hạnh phúc và tin rằng: Việt Minh về làng, họ sẽ đi phá kho thóc Nhật, lấy lại thóc gạo để cứu sống mình.

    1. Sơ đồ tư duy Vợ Nhặt

    2. Sơ đồ tư duy nhân vật Tràng

    *Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:

    – Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu.

    – Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại.

    – Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ.

    – Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt” được vợ.Cuộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:

    + Lần gặp thứ nhất: Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt “Muốn….”. Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa. Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế.

    + Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ. Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Khi nhận ra rồi, trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc. Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở. Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng về thật. Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng “chậc kệ”.

    3. Sơ đồ tư duy nhân vật vợ Tràng

    – Cũng giống như Tràng, khung cảnh Kim Lân để cho nhân vật này xuất hiện là một không gian tối sầm vì đói khát. Cũng giống như bao người khác, thị ngồi vêu cùng với mấy chị em gái nơi cửa nhà kho. Chị không có tên, không tuổi tác, không cha mẹ, không gia đình… môt con số không tròn trĩnh đang bao trùm lên lá số tử vi của chị. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả.

    – Khi chưa theo Tràng về làm vợ cái đói đã để lại “dấu tích” ghê gớm trên dáng hình và tính cách của chị:

    + Lần gặp thứ nhất: có vẻ táo tợn, ăn nói mạnh mẽ “Có khối cơm trắng mấy giò mà ăn đấy! “Này nhà tôi ơi! Nói thật hay nói khoác đấy”.

    + Lần gặp thứ 2: chân dung của thị khiến Tràng không nhận ra, gầy (dẫn chứng)…Thị cong cớn trong lời nói, vô duyên trong hành động “sà xuống đánh… cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc… ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà ngon! Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố”. Tuy nhiên, ẩn đằng những lời nói và hành động ấy là khát vọng về hạnh phúc và sự sống.

    – Kim Lân không có ý chê bai người vợ nhặt kia, dù thực tế cũng có những người phụ nữ không đẹp. Điều mà nhà văn muốn nhấn mạnh ở đây là: sức hủy hoại khủng khiếp của cái đói đối với hình hài và tính cách của con người. Vì đói mà thị cố tạo ra cái vẻ cong cớn, chao chát, chỏng lỏn như là để thách thức với số phận. Vì đói mà thị quên đi cả sĩ diện của mình, quên đi cả lòng tự trọng theo không một người đàn ông về làm vợ trong khi chẳng biết tí gì về anh ta. Vì đói mà thị đánh liều nhắm mắt đưa chân, đánh liều với hạnh phúc cả đời mình. Thị thật đáng thương. Nhưng đằng sau sự liều lĩnh ấy của thị, người đọc hiểu rằng, thị là người có ý thức bám lấy sự sống mãnh liệt.

    – Miêu tả nhân vật thị, Kim Lân không chú trọng nhiều đến diễn biến tâm trạng bên trong mà Kim Lân chú ý nhiều đến hành động:

    + Thị bước sau Tràng chừng 3-4 bước, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che đi nửa mặt, mặt cúi xuống, chân nọ bước díu cả vào chân kia. Thị đã ý thức được về bản thân, cái dáng cúi mặt kia phải chăng đó là sự tủi phận.

    + Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng.

    + Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương.

    -Tuy nhiên, ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự. Thị đã trở thành một con người hoàn toàn khác khi là một người vợ trong gia đình. Hạnh phúc đã làm cho thị thay đổi từ một người phụ nữ cong cớn, đanh đá bỗng trở thành một người đàn bà hiền hậu đúng mực, mái ấm gia đình đã đủ sức mạnh làm thay đổi một con người.

    – Hình tượng chị vợ nhặt thể hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo của Kim Lân.

    + Một mặt nhà văn đã lên án tội ác dã man của phát xít Nhật và TDP. Nạn đói do chúng gây ra đã cướp đi mọi giá trị của con người, và biến người con gái như một thứ đồ rẻ rúng có thể nhặt được.

    + Mặt khác vợ Tràng đã nói lên một sự thật ở đời đó là trong đói khổ, hoạn nạn, kề bên cái chết nhưng con người vẫn khát khao được sống, vẫn sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa. Những con người nghèo khổ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt.

    4. Sơ đồ tư duy nhân vật bà cụ Tứ

    – Nhà văn Kim Lân tâm sự: ” Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại truyện ngắn Vợ nhặt đó là đoạn bà cụ Tứ – mẹ Tràng trở về”. Thông điệp nghệ thuật về bản chất nhân đạo trong tâm hồn người Việt ở hình tượng nhân vật bà cụ Tứ đã được Kim Lân thể hiện thành công qua diễn biến tâm trạng của người mẹ nghèo ấy khi nhìn thấy chị vợ nhặt xuất hiện trong nhà mình cho đến buổi sáng ngày hôm sau.

    – Bao giờ Tràng mong ngóng mẹ về đến thế đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường. Chân bước theo con nhưng lòng bà đang phấp phỏng. Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy một người phụ nữ đứng ở đầu giường con trai bà , mà lại chào bà bằng u. Ngạc nhiên đã làm cho bà lão không còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn đi thì phải. Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn, và tai bà cũng không đến mức điếc lác như chị vợ nhặt nghĩ ban đầu. Bà chưa thể tin, không thể tin rằng con mình lại có người theo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tình cảnh trớ trêu, tội nghiệp đến thế.

    – Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến. Bây giờ thì bà không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” như lời Tràng thưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình. Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta với mình “người ta dựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà ăn lên làm nổi, còn mình thì…”. Bà lão chua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lại càng tủi phận bấy nhiêu. Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của người già dưới ngòi bút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết bao thương xót, tủi buồn.

    – Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là phụ nữ. Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết bao gánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết cho giá trị của cô vợ nhặt. Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thị không còn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà là duyên phận. Cách nói giản dị mà chan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tội nghiệp. Thị và Tràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của một người mẹ từng trải nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót.

    – Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con. Điều mà bà lo không phải là “sự hợp nhau hay không hợp nhau” giữa hai người mà điều mà người mẹ ấy lo lắng đó là, cái đói đang đe dọa hạnh phúc của con bà. Trong bóng tối, bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của đời mình, cuộc đời của những người thân để mà thấu hiểu, thương xót rồi “nghẹn lời” chỉ có dòng nước mắt chảy xuống ròng ròng.

    – Hạnh phúc mới của con làm bà cụ Tứ được vui lây, bà động viên an ủi các con, nghĩ về một tương lai tươi sáng phía trước:

    + Khuôn mặt của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, bà xăm xắn quét dọn, giẫy những búi cỏ dại nham nhở trong vườn, thu dọn nhà cửa cho quang quẻ với hy vọng đời sẽ có cơ khấm khá.

    + Trong bữa ăn đầu tiên, mâm cơm ngày đói sao thảm hại: chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đãi muối, một niêu cháo lõng bõng toàn nước và món chính là chè khoán – cháo cám nhưng không khí gia đình thật ấm áp, tình chồng vợ, tình mẹ con- những nguồn động lực lớn lao ấy giúp họ tăng thêm sức mạnh để vượt qua thực tại.

    + Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có đàn gà cho mà xem. Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền Trung- mười cái trứng. Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieo vào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi vọng. Từ đàn gà mà có tất cả. Khát vọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng nhất “chớ than phận khó ai ơi- Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.

    – Song niềm vui của bà cụ Tứ cũng thật tội nghiệp. Miếng cháo cám đắng chát và tiếng trống thúc thuế dồn dập vội vã đưa bà cụ Tứ trở về với thực tại với tiếng nói xen lẫn cả hơi thở dài trong lo lắng: “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống được qua được đâu các con ạ”! Và bà lại khóc, tình thương con lại hiện hình qua những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn rơi.

      Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ Tứ- người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung. Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫn dang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót xa, tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của xã hội lúc bấy giờ.

    5. Sơ đồ tư duy Vợ nhặt mẫu 2

    Nhà văn Kim Lân đã lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945 để phản ánh tình cảnh xã hội, cuộc sống con người trong hoàn cảnh lúc bấy giờ qua truyện ngắn Vợ nhặt, tham khảo sơ đồ tóm tắt nạn đói năm 1945 để thấy được tình cảnh khốn cùng của con người và hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

    Bà cụ Tứ là một nhân vật tiêu biểu, đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất vô cùng đáng quý, đó là tình thương yêu con người trong hoàn cảnh đầy éo le, khốn khó của nạn đói khủng khiếp năm 1945; là một người mẹ hiền hậu, vô cùng yêu thương con cái và là người gieo niềm tin cho những đứa con lúc khốn cùng nhất.

    Kim Lân đã khắc họa thành công nhân vật Tràng – một anh nông dân nghèo, ngoại hình xấu xí, lại là dân ngụ cư nên không lấy nổi vợ, chỉ đến khi nạn đói năm 1945 xảy ra, anh ta mới “nhặt được vợ”. Vậy nhưng, khi càng tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm, ta càng thấy ngời lên trong nhân vật này là những phẩm chất tốt đẹp: Một người giàu tình yêu thương, sống có trách nhiệm và cũng có những ước mơ bình dị hướng về một tương lai tốt đẹp.

    Có lẽ chỉ khi đọc tác phẩm của Kim Lân, ta mới cảm nhận được hết nỗi khốn khổ, số phận bất hạnh đến cùng cực của con người trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Cảnh đói rách đã khiến con người trở nên vô cùng thảm hại nhưng cũng từ hoàn cảnh này, ta mới khám phá ở họ những giá trị sống đích thực. Cùng tìm hiểu những điều này qua sơ đồ phân tích nhân vật thị (người vợ nhặt).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Chiếc Thuyền Ngoài Xa
  • Những Phần Mềm Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Tốt Nhất Hiện Nay
  • Nghị Luận Trong Văn Tự Sự
  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Ông Hai Trong “làng” Của Kim Lân
  • Suy Nghĩ Về Ông Hai Trong Tác Phẩm “làng “của Kim Lân
  • Sơ Đồ Tư Duy Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “bếp Lửa” (Bằng Việt)
  • Bài Thơ Bếp Lửa Bằng Việt
  • Để nắm được các kiến thức cơ bản về tác phẩm Bếp lửa, mời các em tham khảo hệ thống kiến thức và sơ đồ tư duy Bếp lửa của Bằng Việt do Đọc Tài Liệu biên soạn. Hy vọng rằng tài liệu này giúp các em nắm nội dung bài học một cách khoa học và đầy đủ nhất.

    *******

    Sơ đồ tư duy Bếp lửa của Bằng Việt

    Sơ đồ tư duy phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    Luận điểm 1: Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu

    Luận điểm 2: Những suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời của bà và hình tượng bếp lửa

    Luận điểm 3: Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà

    Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì. “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”, “Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răn dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ. “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đầy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người.

    Xem dàn ý phân tích bài thơ Bếp lửa và các bài văn mẫu phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    Sơ đồ tư duy phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa

    Luận điểm 1: Bà là người chịu thương chịu khó, tần tảo hi sinh

    Luận điểm 2: Bà là người phụ nữ nông thôn thuần hậu nhưng có bản lĩnh vững vàng, là chỗ dựa tinh thần cho con cháu

    Luận điểm 3: Bà là người yêu thương, chăm sóc và dạy cháu lên người, nhóm lên trong cháu tình yêu thương, mơ ước và khát vọng về tương lai

    Bếp lửa là lời tâm sự của người cháu ở nơi xa nhớ về bà của mình với những kỉ niệm về tình bà cháu, thể hiện sự kính yêu, ngưỡng vọng và suy ngẫm sâu sắc về bà. Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm nâng lên thành suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh người bà với bao nỗi vất vả và tình yêu thương, trìu mến dành cho cháu; từ kỉ niệm, người cháu đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu cuộc đời bà, lẽ sống giản dị mà cao quý của bà và mong muốn gửi niềm nhớ thương sâu sắc về với bà.

    Sơ đồ tư duy cảm nhận về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa

    Luận điểm 1: Nỗi niềm nhớ thương về người bà tần tảo, chịu thương, chịu khó

    Luận điểm 2: Những suy ngẫm về cuộc đời bà và hình tượng bếp lửa

    Tình bà cháu trong Bếp lửa của Bằng Việt là tình cảm thiêng liêng cảm động. Bà dành cho cháu những hi sinh thầm lặng của phần đời mong manh còn lại. Bà là mái ấm chở che, bao bọc tuổi thơ dại khờ, yếu đuối của cháu trước những mất mát, đau thương của cuộc sống. Và người cháu, những năm tháng cháu đi trong đời là những năm tháng cháu nhớ đến bà với lòng tin yêu và biết ơn sâu sắc. Ngọn lửa bà trao cho cháu được cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trường tồn, bất diệt.

    Nhà thơ Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa

    I. Nhà thơ Bằng Việt

    1. Tiểu sử

    – Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

    – Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lý, Đại học Tổng hợp Kiev. Liên Xô (nay là Đại học Quốc gia Kiev, thuộc Ukraina) vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

    2. Sự nghiệp sáng tác

    – Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi nhưng bài thơ đầu tiên được công bố là bài Qua Trường Sa viết năm 1961.

    – Ông đã thể hiện nhiều loại thơ không vần, xuống thang rồi bắc thang, tất cả những hình thức đã có trong thơ Việt Nam và thơ thế giới.

    II. Bài thơ Bếp lửa

    A. Tìm hiểu chung

    1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài.

    – Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

    2. Bố cục (4 phần)

    – Phần 1 (ba dòng đầu): Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

    – Phần 2 (bốn khổ thơ tiếp theo): Hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

    – Phần 3 (hai khổ thơ tiếp theo): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

    – Phần 4 (khổ cuối) : Nỗi nhớ về bà.

    3. Giá trị nội dung

    – Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ Bếp lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu.

    B. Tìm hiểu chi tiết

    a. Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu

    – Dòng hồi tưởng về bà bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa

    + Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” – bếp lửa thực.

    + Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” diễn tả sự dịu dàng, ấm áo, kiên nhẫn của người nhóm lửa.

    + Biện pháp điệp từ (điệp từ “bếp lửa”) gợi lên hình ảnh sống động lung linh nhưng hết sức thân thuộc gần gũi với người cháu.

    → Hình ảnh bếp lửa làm trỗi dậy dòng kí ức về bà và tuổi thơ.

    – Kỉ niệm về tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn

    + “Đói mòn đói mỏi” người cháu thấy ám ảnh bởi nạn đối và quá khứ đau thương của dân tộc.

    + Ấn tượng về khói bếp hun nhèm mắt cháu để khi nghĩ lại “sống mũi còn cay”.

    + Dòng hồi tưởng, kỉ niệm gắn với âm thanh tiếng tu hú của chốn đồng nội: tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần trong bài khi thẳng thốt, lúc khắc khoải, mơ hồ tất cả để gợi lên không gian mênh mông, bao la, buồn vắng đến lạnh lùng.

    + Tâm trạng của cháu vì thế cũng tha thiết, mãnh liệt hơn bởi sự đùm bọc, che chở của bà.

    – Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương,che chở

    + “Bà dạy”, bà chăm” thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu.

    + Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng – phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh).

    → Qua dòng hồi tưởng về bà, những dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của người cháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà.

    b. Những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa

    Suy ngẫm về cuộc đời bà

    – Từ những kỉ niệm, hình ảnh bếp lửa luôn gắn với hình ảnh người bà

    + Hình ảnh bếp lửa kết tinh trong hình ảnh ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương, sự hi sinh luôn ủ sẵn trong lòng bà để làm sáng lên hy vọng, ý chí.

    + Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu, người bà nhen nhóm những điều thiện lương tốt đẹp đối với cháu.

    → Hình ảnh người bà trong lòng cháu là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, truyền niềm tin, sức sống tới thế hệ tương lai.

    – Sự tần tảo, hi sinh của bà thể hiện: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” – sự chiêm nghiệm của cháu về cuộc đời bà

    + Cuộc đời bà đầy những gian truân, vất vả, lận đận trải qua nắng mưa tưởng như không bao giờ dứt.

    + Điệp từ “nhóm” lặp lại bốn lần: người bà đã nhóm lên, khơi dậy những yêu thương, kí ức và giá trị sống tốt đẹp trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh bếp lửa kết tinh thành hình ảnh ngọn lửa chất chứa niềm tin, hy vọng của bà: Người cháu như phát hiện ra điều kì diệu giữa cuộc sống đời thường “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa” – người cháu thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà.

    c. Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà

    – Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: người cháu vẫn cảm thấy ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà.

    – Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”: niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu.

    *******

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài Bếp Lửa, Ngữ Văn 9, Tập 1
  • Soạn Bài: Bếp Lửa (Siêu Ngắn Gọn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Bếp Lửa
  • Soạn Bài Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc
  • 15 Sơ Đồ Tư Duy Môn Văn 12 Giúp Các Teen Học Tốt Ngữ Văn
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Việt Bắc (Tiếp Theo)
  • Giáo Án Ngữ Văn 12: Việt Bắc (Trích) Tố Hữu
  • Cảm Nhận Khổ Thơ 6 Trong Bài Thơ Việt Bắc
  • VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Sơ đồ tư duy Việt Bắc, nội dung sơ đồ tư duy rất ngắn gọn và đầy đủ để giúp các bạn học sinh học tốt hơn môn Ngữ văn 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

    Việt Bắc

    Mình về mình có nhớ ta?

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

    Mình về mình có nhớ không?

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

    – Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

    Áo chàm đưa buổi phân ly

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    – Mình đi, có nhớ những ngày

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

    Mình về, có nhớ chiến khu

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

    Mình về, rừng núi nhớ ai

    Trám bùi để rụng, măng mai để già

    Mình đi, có nhớ những nhà

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

    Mình về, còn nhớ núi non

    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

    Mình đi, mình có nhớ mình

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

    – Ta với mình, mình với ta

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

    Mình đi, mình lại nhớ mình

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

    Nhớ gì như nhớ người yêu

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

    Nhớ từng bản khói cùng sương

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

    Nhớ từng rừng nứa bờ tre

    Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

    Ta đi, ta nhớ những ngày

    Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

    Thương nhau, chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

    Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

    Nhớ sao lớp học i tờ

    Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

    Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    Nhớ khi giặc đến giặc lùng

    Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

    Núi giăng thành luỹ sắt dày

    Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

    Mênh mông bốn mặt sương mù

    Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

    Ai về ai có nhớ không?

    Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

    Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

    Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…

    Những đường Việt Bắc của ta

    Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

    Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

    Tin vui chiến thắng trăm miềm

    Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

    Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

    – Mình về thành thị xa xôi

    Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?

    Phố đông, còn nhớ bản làng

    Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

    Mình đi, ta hỏi thăm chừng

    Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?

    – Ðường về, đây đó gần thôi!

    Hôm nay rời bản về nơi thị thành

    Nhà cao chẳng khuất non xanh

    Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường.

    Ngày mai về lại thôn hương

    Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về

    Ngày mai rộn rã sơn khê

    Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng.

    Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng

    Phố phường như nấm như măng giữa trời

    Mái trường ngói mới đỏ tươi.

    Chợ vui trăm nẻo về khơi luồng hàng

    Muối Thái Bình ngược Hà Giang

    Cày bừa Ðông Xuất, mía đường tỉnh Thanh

    Ai về mua vại Hương Canh

    Ai lên mình gửi cho anh với nàng

    Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

    Vải tơ Nam Ðịnh, lụa hàng Hà Ðông

    Áo em thêu chỉ biếc hồng

    Mùa xuân ngày hội lùng tùng thêm tươi

    Còn non, còn nước, còn trời

    Bác Hồ thêm khoẻ, cuộc đời càng vui!

    – Lòng ta ơn Ðảng đời đời

    Ngược xuôi đôi mặt một lời song song.

    Ngàn năm xưa nước non Hồng

    Còn đây ơn Ðảng nối dòng dài lâu

    Ngàn năm non nước mai sau

    Ðời đời ơn Ðảng càng sâu càng nồng.

    10-1954

    Hoàn cảnh sáng tác

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7-1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ cân cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

    Trích đoạn bài thơ này từ đầu tới câu “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

    Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

    Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở Huế, vùng đất cổ kính, thơ mộng, giàu truyền thống văn hóa thấm đẫm vào hồn thơ ông. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Tố Hữu luôn song hành với các chặng đường lịch sử của dân tộc. Ông được coi là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỷ XX”. Lý tưởng sống của ông được gửi trong lời từ biệt cuộc đời trước lúc đi xa:

    Xin tạm biệt cuộc đời yêu quý nhất

    Còn mấy vần thơ và một nắm tro

    Thơ tặng bạn đời, tro bón đất

    Sống là cho và chết cũng là cho.

    Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu luôn có những nét riêng biệt, độc đáo của người nghệ sĩ thể hiện giá trị thẩm mĩ của thế giới quan Tố Hữu trong từng nội dung và hình thức nghệ thuật. Là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, qua các chặng đường lịch sử, thơ Tố Hữu luôn kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật, dân tộc và cách mạng, tiêu biểu cho khuynh hướng trữ tình – chính trị. Với đề tài cách mạng tưởng chừng như khô khan nhưng với giọng điệu ngọt ngào, chân tình, thương mến được thừa hưởng từ tâm hồn con người xứ Huế kết hợp với tài năng bậc thầy trong việc sử dụng ngôn từ và thể loại thơ lục bát thơ, ông luôn mang những vẻ đẹp riêng, mang vần điệu và tràn đầy tính nhạc. Trong đó tập thơ “Việt Bắc” là một trong những tập thơ tiêu biểu nhất, thể hiện phong cách nghệ thuật nổi bật thơ Tố Hữu.

    Tháng 7 năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, hòa bình được lập lại tại miền Bắc Việt Nam. Sau ba tháng, cơ quan trung ương rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Nguồn:

    1. Việt Bắc, NXB Văn học, 1962

    2. Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Chưa Bao Giờ Đơn Giản Như Vậy.
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần Tác Phẩm Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ “việt Bắc” (Tố Hữu)
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần 2 Ngắn Gọn Nhất
  • Bố Cục Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Sơ Đồ Tư Duy Truyện Ngắn Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “làng” (Kim Lân)
  • Tích Hợp Liên Môn Chuyên Đề Ôn Tập Văn Bản Làng Kim Lân
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Làng Của Kim Lân
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Làng
  • Thay Lời Ông Hai Kể Lại Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Nhằm giúp các em hệ thống kiến thức và dễ dàng tiếp thu, vận dụng vào làm bài, Đọc tài liệu gửi đến tài liệu sơ đồ tư duy truyện ngắn Làng của Kim Lân với hệ thống luận điểm, sơ đồ tư duy chi tiết. Hy vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em học tập hiệu quả và đạt kết quả cao.

    *********

    Sơ đồ tư duy bài Làng – Kim Lân

    Sơ đồ tư duy phân tích truyện ngắn Làng

    Luận điểm 1: Phân tích tình huống truyện

    Luận điểm 2: Tình yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai

    + Ở nơi tản cư, ông Hai luôn nhớ về cái làng của mình;

    + Ông Hai thường xuyên theo dõi tin tức kháng chiến;

    + Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo Tây;

    + Tâm trạng ông Hai khi tin đồn được cải chính.

    Và rồi tin làng ông Việt gian theo Tây đã được cải chính, ông lại rơi vào sư hả hê sung sướng, hạnh phúc vô bờ. Ông lại được khoe về làng, được tự hào về làng thậm chí ông khoe cả cái nhà ông bị Tây đốt cháy, ông kể tỉ mỉ, chi tiết cho bác Thứ nghe về trận đánh hôm Tây nó vào khủng bố, chúng nó cả bao nhiêu thằng chúng ta đánh được bao nhiêu, làng ông chống đỡ, phòng ngự ra sao, như chính ông lão vừa dự trận đánh vậy. Đến đây, ta thấy được nội tâm, tâm trạng ông Hai đã có sự thay đổi rõ rệt, từ tình huống thay đổi mà con người cũng đổi thay, sự đau đớn tột cùng giờ đã chuyển sang hả hê sung sướng. Qua đây ta thấy được tầm quan trọng của nghệ thuật xây dựng tình, huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật đối với một tác phẩm văn học.

    Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

    Luận điểm 1: Tình yêu, niềm tự hào về làng của ông Hai.

    Luận điểm 2: Nỗi đau đớn của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    Luận điểm 3: Niềm vui của ông Hai khi tin làng theo giặc được cải chính.

    Nhân vật ông Hai được khắc họa chủ yếu qua ngôn ngữ và diễn biến tâm trạng. Ngôn ngữ nhân vật giản dị, chân thật, giàu cảm xúc. Diễn biến tâm trạng được bộc lộ trực tiếp qua những cảm xúc, suy nghĩ và thông qua cả cử chỉ, điệu bộ, dáng vẻ. Đồng thời quá trình vận động tâm lí cũng hết sức hợp lí từ nhớ nhung, mong mỏi đến bất ngờ, bàng hoàng, chìm trong tủi nhục, đau khổ và cuối cùng là niềm vui mừng vỡ òa, hạnh phúc tột cùng.

    Sơ đồ tư duy cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Luận điểm 1: Ông Hai với tình yêu làng gắn liền với yêu nước, yêu cách mạng

    Luận điểm 2

    : Tâm lý giằng xé của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc

    Luận điểm 3: Niềm vui của ông Hai khi tin làng theo giặc được cải chính

    Nhân vật ông Hai là điển hình cho người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Đối với ông, tình yêu làng quê gắn với cuộc kháng chiến của cả dân tộc. Tất cả buồn vui của ông đều bắt nguồn tù chuyện làng, tin cách mạng. Thói hay khoe làng cho thấy tình yêu và niềm tự hào của lão nông ấy đối với ngôi làng chợ Dầu: ông khoe làng có chòi phát thnah cao bằng ngọn tre, nhà ngói san sát, khoe đường làng lát toàn đá chúng tôi cách mạng tháng Tám, ông lại khoe về tinh thần kháng chiến ở làng với niêm kiêu hãnh vô bờ. Yêu làng như thế nên khi phải xa làng, đến nơi tản cư, ông lão nhớ làng lắm, nhớ những ngày đào hầm, đắp ụ, nhớ những khóa bình dân học vụ…Phải có tình cảm gắn bó máu thịt với mảnh đất chôn rau cắt rốn, ông Hai mới mang trong mình nỗi nhớ da diêt đến vậy.

    Xem các bài văn mẫu hay nêu cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Sơ đồ tư duy phân tích tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

    Luận điểm 1: Khái quát về nhân vật và tình huống nảy sinh sự chuyển biến tâm trạng của ông Hai

    Luận điểm 2: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai

    Luận điểm 3: Thành công nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật

    Nhưng phải đợi cho đến lúc ông Hai bộc lộ các cảm xúc buồn vui, yêu ghét một cách mạnh mẽ và quyết liệt của mình trước những tình huống bất ngờ xảy ra ta mới thấy hết được mức độ chuyển biến sâu sắc của người nông dân Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Bắt đầu bằng việc cái tin làng Chợ Dầu theo giặc làm Việt gian qua các người dân đi tản cư mang đến. Tiếp nhận tin dữ đó, ông nghe như tiếng sấm đột ngột nổ bên tai, “cổ họng ông nghẹn ắng hẳn lại” rồi tiếng nói của ông không thoát ra nổi để trở thành “rặn è è trong cổ”. Bên ngoài ông cố tỏ ra bình thường nhưng tâm hồn ông bấn loạn khiến da mặt “tê rân rân” của sự xấu hổ xen lẫn hoài nghi và đau khổ. Cuộc sống của ông thay đổi hoàn toàn, từ lời ăn tiếng nói đến cách cư xử hằng ngày. Hình như ông không muốn ai nhìn thấy sự xuất hiện của mình ở trên đời này, ông đầm ra hay suy luận, bán tín bán nghi… khó có ai thấy lại được con người lao động cởi mở, hồn hậu, ăn to nói lớn của ống trước kia nữa. Ông đau đớn, tủi hổ vì cái làng mà ông tự hào trước đây đã có hành động xấu hổ, nhục nhã như vậy. Những ý nghĩ đen tối, những nỗi đau khổ vật vã túc trực trong ông. Mới trước đấy còn thiết tha hướng về làng quê, chỉ lo không được trở lại làng nữa, vậy mà trong phút chốc ông đau đớn đi đếri quyết định trái ngược lại: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Cuộc trò chuyện tâm tình với đứa con út và những giọt nước mắt của ông đã cho chúng ta thấy tình cảm gắn bó, yêu thương làng quê của người nông dân xưa kia không thể tách rời tình yêu Tổ quốc, lòng căm thù không đội trời chung với giặc Pháp xâm lược. Lúc này, yêu làng là phải sát vai, chung sức đánh đuổi quân thù để đất nước được giải phóng, quê hương được yên bình. Nếu làm ngược lại là hành động phản bội không thể tha thứ được !

    : Cảm nhận về tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Tìm hiểu về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Làng

    I. Tác giả Kim Lân

    – Kim Lân (1920- 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài

    – Quê quán: Huyện Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh

    – Sự nghiệp sáng tác

    + Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và bắt đầu viết từ năm 1941

    + Tác phẩm của ông được đăng trên các báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật.

    + Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

    + Những tác phẩm tiêu biểu: “Vợ nhặt”, “Làng”, “Nên vợ nên chồng”…

    – Phong cách sáng tác: Ông chuyên viết truyện ngắn nên ngòi bút của ông luôn vững vàng, ông hay viêt về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.

    II. Truyện ngắn Làng

    A. Tìm hiểu chung

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    Truyện ngắn “Làng” viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    2. Tóm tắt truyện ngắn Làng

    Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông phải đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó khoe với mọi người. Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi. Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng. Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán. Rồi cái tin cải chính khiến ông sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình.

    3. Bố cục

    – Phần 1 (Từ đầu đến “không nhúc nhích”: Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư

    – Phần 2 (Từ tiếp đến ” đôi phần”) : Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc

    – Phần 3 (còn lại): Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính

    4. Giá trị nội dung

    Truyện ngắn Làng đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

    5. Giá trị nghệ thuật

    Tác giả đã rất thành công trong việc tạo dựng tình huống thắt nút và cởi nút câu chuyện rất tự nhiên và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua hành động suy nghĩ và lời nói, từ đó tạo ra được một tác phẩm hoàn hảo.

    B. Tìm hiểu chi tiết

    1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai

    + Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng

    + Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư

    2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư a. Tình cảm của ông Hai với làng

    – Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng

    – Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre

    – Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình

    b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến

    – Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến

    + Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

    + Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta

    + Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên

    ⇒ ngôn ngữ quần chúng, độc thoại ⇒ Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc

    2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc. a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    – Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

    + “Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”

    + Lặng đi không thở được, giọng lạc đi

    + Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.

    b. Về đến nhà trọ.

    – Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra.

    – Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

    – Ông nắm chặt tay, rít lên: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc

    c. Những ngày sau đó.

    – Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít.

    ⇒ Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

    – Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

    – Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”

    – Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”

    3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

    – Thái độ ông Hai thay đổi hẳn:

    + “cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”

    + mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy

    + Chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình

    ⇒ Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai

    *********

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Siêu Ngắn
  • Bài 21. Phương Pháp Tả Cảnh
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Của Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm Ngữ Văn 9
  • Sơ Đồ Tư Duy Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Văn Bản (Tt) Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Lập Luận Trong Văn Nghị Luận
  • Đề Thi Thử Trung Học Phổ Thông Quốc Gia Môn Ngữ Văn
  • Phân Tích Nhân Vật Ngô Tử Văn Trong Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên
  • VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, nội dung sơ đồ rất chi tiết và ngắn gọn sẽ giúp các bạn học sinh lớp 11 học tập tốt hơn môn Ngữ văn. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

    Học tốt Ngữ văn 11: Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu 1

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc. Năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc. Năm 1861, vào đêm 14 -12, nghĩa quân tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc trên đất Gia Định, gây tổn thất cho giặc, nhưng cuối cùng lại thất bại. Bài văn tế tuy được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, song chính là những tình cảm chân thực của Đồ Chiểu dành cho những người đã xả thân vì nghĩa lớn.

    Văn tế (ngày nay gọi là điếu văn) là thể văn thường dùng để đọc khi tế, cúng người chết, nó có hình thức tế – tưởng. Bài văn tế thường có các phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát về người chết); Thích thực (hồi tưởng công đức của người chết); Ai vãn (than tiếc người chết); Kết (nêu lên ý nghĩa và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết). Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có kết cấu đủ bốn phần như vậy.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ – người nông dân nghĩa sĩ chống giặc, cứu nước. Đó là những con người vốn hiền lành chất phác chỉ quen với chuyện “ruộng trâu ở trong làng bộ” nhưng khi đất nước đứng trước nạn ngoại xâm họ đã dám đứng lên chống lại kẻ thù mạn.

    Hoàn cảnh sáng tác

    – Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

    + Là một nhà Nho có tài, một người thầy thuốc, thầy đồ tận tâm và một nhà thơ, nhà văn yêu nước

    + Quan điểm sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: Coi ngòi bút là vũ khí sắc bén để chiến đấu chống kẻ thù xâm lược “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.

    – Tác phẩm: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    + Hoàn cảnh lịch sử đất nước: Vào những năm 1861 – 1862, cả đất nước và đặc biệt là nhân dân miền Nam đang sục sôi ý chí quyết tâm đứng lên chống giặc ngoại xâm – thực dân Pháp.

    + Hoàn cảnh sáng tác bài văn tế: Tác phẩm được Nguyễn Đình Chiểu viết nhân sự kiện ngày 16 – tháng 2 – năm 1861, tại đồn Cần Giuộc, do căm phẫn với sự ngang ngược, bạo tàn của thực dân Pháp nên các nghĩa sĩ nông dân đã cùng nhau nổi dậy tập kích phá đồn. Tuy nhiên, do sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, vũ khí nên có đến gần 20 nghĩa sĩ hi sinh trong trận chiến này. Nguyễn Đình Chiểu đã nhận lệnh của tuần phủ Gia Định viết bài văn tế để đọc trong buổi truy điệu các nghĩa sĩ.

    + Nội dung chính bài văn tế: Bài văn tế là khúc ca đầy bi tráng của thời kì đau thương mà hào hùng của dân tộc; ca ngợi tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất, lòng yêu nước của các nghĩa sĩ nông dân đã xả thân vì nghĩa lớn đồng thời khích lệ ý chí quyết tâm đánh giặc, tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

    Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu 2

    Luận điểm 1: Bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ

    Luận điểm 2: Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc với lòng yêu nước nồng nàn

    Luận điểm 3: Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ

    Luận điểm 4: Ca ngợi linh hồn bất diệt của người nghĩa sĩ

    Truyền thống và tinh thần của dân tộc cùng với tội ác của giặc Pháp đã thôi thúc họ đứng lên đấu tranh với tất cả tấm lòng của người con Việt. Nhà thơ cảm phục trước tinh thần và việc làm của họ điều đó đối lập hoàn toàn với thực lực của người nông dân. Họ không đợi ai đòi ai bắt mà tự nguyện chiến đấu “phen này ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” hàng loạt các động từ vị ngữ chỉ hành động thể hiện quyết tâm hăm hở, khí thế hào hùng tiếp nối hào khí Đông A của thời đại nhà Trần. Họ “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” chiến đấu khi trong tay là những vật dụng thô sơ, là những công cụ lao động thường ngày của nhà nông là manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay… Họ không phải dòng dõi nhà binh, không được tập luyện, không có tổ chức, không có hiệu lệnh, đội ngũ, kỷ luật, vũ khí lại thô sơ. Chính những “cái không” ấy làm nổi bật lên “cái có” vô giá tiềm ẩn trong con người Cần Giuộc. Bởi họ có ý thức quyết tâm đánh giặc, có một tinh thần yêu nước không đổi, có một lòng căm thù giặc đến vô cùng. Điều đó đã làm nên sức mạnh vô song để họ đạp rào lưới tới, coi giặc cũng như không, không sợ đạn to đạn nhỏ mà liều mình xông vào như chẳng có, rồi kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho quân giặc khiếp sợ. Giọng điệu hào hùng, sục sôi qua cách ngắt nhịp, nhịp điệu gấp, dồn dập cùng với những động từ mạnh “đạp rào lưới tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược” và một giọng văn đanh thép, hùng tráng để thể hiện cái hiên ngang, quật cường với thái độ căm thù giặc như muốn ăn gan, uống máu quân thù.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tuần 6: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo Án Điện Tử Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Soạn Bài Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet
  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Lão Hạc Hay Nhất
  • 3 Bài Văn Mẫu Nêu Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc
  • Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Cảm Nghĩ Về Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • 12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    1

    SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY

    TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

    Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    2

    A.Mục tiêu

    Giúp học viên:

    – Nhận thức được lợi thế của công cụ “BĐTD” vào việc lập kế hoạch dạy học, hướng dẫn HS học tập bằng BĐTD ở 3 phân môn: Đọc hiểu VB (Văn bản), Tiếng Việt và Làm văn;

    – Nắm được các kĩ năng cần thiết để lập một BĐTD cho một công việc cụ thể;

    – Các cấp QL giám sát được kế hoạch, tiến trình, đặc điểm dạy học bộ môn

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    3

    I.Tư duy, bản đồ tư duy (BĐTD) và tư duy bằng bản đồ

     TD là giai đoạn cao của quá trình NT, nhằm phát hiện ra bản chất có tính QL của sự vật, hiện tượng; Con người thường tư duy bằng biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy luận.

     BĐTD là bản vẽ phản ánh được bản chất của hiện tượng, sự vật theo sự nhận thức của con người;

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    4

    Bảng so sánh

    Sự khác nhau giữa tư duy truyền thống

    và tư duy bằng “bản đồ” ?

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    5

    I.Tư duy, bản đồ tư duy (BĐTD) và tư duy bằng bản đồ

     TD bằng BĐ phản ánh nhận thức của mỗi cá nhân với sự vật, sự việc, hiện tượng qua đường nét, hình ảnh;

     BĐTD là công cụ ghi chú ưu việt; nhưng chỉ thể hiện dễ dàng với các quan hệ logic thứ bậc, nên phải biết chọn lọc từ ngữ, hình ảnh ấn tượng có tính độc đáo;

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    6

    Sự khác nhau giữa tư duy truyền thống

    và tư duy bằng “bản đồ” ?

    Môn Ngữ văn gồm các phân môn sau:

    1.Đọc hiểu văn bản

    – Văn bản tự sự

    – Văn bản trữ tình

    – Văn bản kịch

    2. Tiếng Việt

    – Từ

    – Câu

    – Đoạn

    3. Môn Làm văn

    – Văn Nghệ thuât

    – Văn Nghị luận

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    7

    II.BĐTD với việc DH môn Ngữ văn

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    8

    II.BĐTD với việc DH môn Ngữ văn

    2.1. Đặc điểm môn Ngữ văn và PPDH Ngữ văn

    Với phân môn Tiếng Việt:

    – Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản nghe, nói, đọc, viết, – rèn luyện tư duy.

    – Giúp cho HS có những hiểu biết về tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ – có ý thức sử dụng tiếng Việt đúng đắn và trong sáng.

    – Dạy tiếng Việt thông qua:

    + Từ: : các loại từ, từ loại, cấu tạo, chức năng, phép chuyển nghĩa

    + Câu: Các loại câu, chức năng, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên kết các câu,…

    + Đoạn: nhận thức, cách viết một đoạn văn, liên kết câu và đoạn… – đó xây dựng thành một văn bản (nói và viết) ở những mức độ khác nhau;

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    9

    II.BĐTD với việc DH môn Ngữ văn

    2.1. Đặc điểm môn Ngữ văn và PPDH Ngữ văn

    Môn Làm văn

    – HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo lập văn bản theo từng loại thể.

    – Phân môn Làm văn Ở THCS:

    + Văn nghệ thuật (Miêu tả, Kể chuyện, Cảm tưởng)

    + Văn nghị luận (Chính trị – xã hội, Văn học).

    – Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản dưới hình thức nói hoặc viết.

    Học làm văn, HS không chỉ là người thiết kế mà còn phải là người thi công.

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    10

    Những kiến thức NV cơ bản ở THCS

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    11

    Có thể sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy học văn được không ?

    Những câu hỏi cần đặt ra là:

    – BĐTD có phải là công cụ ghi chép vạn năng với mọi bài học?

    – BĐTD có thể vận dụng trong mọi trường hợp, mọi công đoạn của quá trình nhận thức ?

    – Giáo viên có thể soạn bài dưới hình thức BĐTD ?

    – Học sinh có thể ghi bài theo BĐTD ?

    – Trong dạy học Ngữ văn, BĐTD dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả ?

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    12

    2.2. Định hướng sử dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

    2.2.1.Hệ thống hoá kiến thức

    – Kiến thức về từ

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    13

    2.2.1.Hệ thống hoá kiến thức

    Kiến thức về câu

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    14

    2.2.1.Hệ thống hoá kiến thức

    Kiến thức chung về môn Ngữ văn

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    15

    2.2.1.Hệ thống hoá kiến thức

    Có thể ở nhiều cấp độ khác nhau

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    16

    2.2. Định hướng sử dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

    2.2.2.Sơ đồ hoá kiến thức (cả bài học)

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    17

    2.2.2.Sơ đồ hoá kiến thức (cả bài học)

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    18

    2.2. Định hướng sử dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

    2.2.2.Sơ đồ hoá kiến thức (một phần của bài học)- Nhân vật lão Hạc

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    19

    2.2. Định hướng sử dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

    2.2.2.Sơ đồ hoá kiến thức (một phần của bài học)- Điều kiện để một văn bản có tính mạch lạc

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    20

    2.3. Một vài lưu ý khi sử dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

    – Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD có thể giúp người học tất cả. Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ băng việc đọc, nói và viết.

    – Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn bản sẽ là thuận lợi. Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt ý).

    – BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan đẫn đến xã hội hoá dung tục tác phẩm.

    12/8/2015

    TS. Phạm Văn Nam

    21

    Chân thành cám ơn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Sơ Đồ Tư Duy Chiếc Thuyền Ngoài Xa

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Vợ Nhặt
  • Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Tình Yêu Làng Của Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Để phục vụ công việc học tập của các bạn học sinh được tốt hơn, VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Sơ đồ tư duy Chiếc thuyền ngoài xa, nội dung sơ đồ tư duy rất ngắn gọn và chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh nắm chắc nội dung bài học. Mời thầy cô và các bạn tham khảo.

    Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc hết mức khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp… Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng), người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ ấy bước ra từ bức tranh.

    Đề thi THPT Quốc Gia được tải nhiều

    1. Bộ đề thi thử THPT Quốc gia 2022 môn Toán
    2. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Văn
    3. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Anh
    4. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Lý
    5. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Hóa
    6. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Sinh
    7. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Sử
    8. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn Địa
    9. Bộ đề thi thử THPT Quốc Gia 2022 môn GDCD

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phần Mềm Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Tốt Nhất Hiện Nay
  • Nghị Luận Trong Văn Tự Sự
  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Ông Hai Trong “làng” Của Kim Lân
  • Suy Nghĩ Về Ông Hai Trong Tác Phẩm “làng “của Kim Lân
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Sơ Đồ Tư Duy Chị Em Thúy Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Hai Chị Em Thuý, Kiều Trong Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” Câu Hỏi 29255
  • Nghị Luận Văn Học Về Đoạn Trích “chị Em Thúy Kiều” Của Nguyễn Du
  • Cảm Nhận Của Em Về Nhân Vật Thúy Kiều
  • Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Soạn Bài: Chị Em Thúy Kiều
  • Tham khảo ngay sơ đồ tư duy Chị em Thúy Kiều – trích Truyện Kiều (Nguyễn Du), hệ thống kiến thức về bài Chị em Thúy Kiều ngắn gọn, dễ hiểu giúp học sinh lớp 9 học và ôn tập tốt môn Ngữ Văn.

    Nhằm giúp các em hệ thống kiến thức và dễ dàng tiếp thu, vận dụng vào làm bài, Đọc tài liệu gửi đến tài liệu sơ đồ tư duy Chị em Thúy Kiều – trích Truyện Kiều (Nguyễn Du) với hệ thống luận điểm, sơ đồ tư duy chi tiết. Hy vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em học tập hiệu quả và đạt kết quả cao

    ***********

    Sơ đồ tư duy Văn 9 Chị em Thúy Kiều

    Sơ đồ tư duy về bài Chị em Thúy Kiều

    Luận điểm 1: Giới thiệu về hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân

    Luận điểm 2: Miêu tả vẻ đẹp trang trọng khác vời của Vân

    Luận điểm 3: Miêu tả vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Kiều

    Để khắc họa vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng hàng loạt ẩn dụ: mây, trăng, hoa, tuyết – những hình ảnh nổi bật của thiên nhiên để làm nổi bật nhan sắc của hai nàng. Đồng thời để làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều, Nguyễn Du còn sử dụng thủ pháp đòn bẩy, miêu tả Vân trước, Kiều sau để làm bật chân dung Thúy Kiều. Ngoài ra, ông còn sử dụng nghệ thuật nhân hóa để ngầm dự báo số phận hai người. Vẻ đẹp của Thúy Vân khiến thiên nhiên “thua, nhường” dự báo sau này cuộc đời nàng sẽ yên bình, phẳng lặng. Vẻ đẹp của Thúy Kiều bị thiên nhiên “ghen, hờn”, dự báo cuộc đời nhiều gian nan, sóng gió.

    Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Thúy Kiều trong trích đoạn Chị em Thúy Kiều

    Luận điểm 1

    : Vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều

    Luận điểm 2: Trí tuệ và tài hoa của Thúy Kiều

    Luận điểm 3: Tài sắc của Kiều dự cảm về số phận đầy sóng gió.

    Trên những chuyến lưu lạc trên trần đời, Thúy Kiều đã gặp hai người đàn ông mà Kiều cảm thấy có ơn nhất. Đó chính là Thúc Sinh và Từ Hải. Hai người quân tử ấy đều cứu Kiều ra khỏi chốn lầu xanh. Kiều đã sống với họ như những người vợ chồng. Không phải vì Kiều lẳng lơ mà là do Kiều đang trả ơn họ. Đồng thời chính sự cảm kích đã khiến cho Kiều thấy yêu mến họ.

    Tuy nhiên chính vì tài sắc như vậy mà Kiều có một cuộc đời gian truân vất vả. So với Thúy Vân, cả hai chị em đều xinh đẹp nhưng vẻ đẹp của cô em lại được người khác thấy mến thấy yêu chứ không đố kị như vẻ đẹp của chị. Và Kiều bước vào những chuyến gian nan, vào cuộc sống thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. Chịu cảnh là người kĩ nữ lầu xanh có thể ở với bất cứ người đàn ông nào. Cuộc đời bạc mệnh ấy nhưng Kiều đã không đánh mất mình, Kiều hai lần tự tử đã cho thấy được tâm hồn của Kiều vẫn biết thẹn.

    Sơ đồ tư duy vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều

    Luận điểm 1: Vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều

    Luận điểm 2: Tài năng của Thúy Kiều.

    Nếu như khi tả Vân, nhà thơ chỉ chú trọng vào khắc họa vẻ đẹp nhan sắc mà không chú trọng tới miêu tả tài năng và tâm hồn thì khi tả Kiều, nhà thơ chỉ tả sắc một phần, còn lại dành phần nhiều vào tài năng:

    Sắc đành đòi một tài đành họa hai

    Chỉ một câu thơ mà nhà thơ đã nêu được tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều. Nếu như về sắc thì Kiều là số một thì về tài không ai dám đứng hàng thứ hai trước nàng. Tài năng của Kiều có thể nói là có một chứ không có hai trên đời. Vì được trời phú cho tính thông minh nên ở lĩnh vực nghệ thuật nào Kiều cũng toàn tài: cầm – kì – thi – họa. Tất cả đều đạt đến mức lí tưởng hóa theo quan niệm thẩm mĩ của lễ giáo phong kiến: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”. Đặc biệt tài năng của Kiều được nhấn mạnh ở tài đàn: “Cung thương lầu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”: nàng thuộc lòng các cung bậc và đánh đàn Hồ cầm (đàn cổ) thành thạo. Hơn thế, nàng còn giỏi sáng tác nhạc nữa: “Khúc nhà tay lựa nên chương/ Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Mỗi nàng lần đánh đàn, nàng lại cất lên bài hát “Bạc mệnh” làm cho người nghe phải đau khổ, sầu não. Bài hát chính là tâm hồn, là bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều, biểu hiện một trái tim đa sầu đa cảm và cuộc đời éo le, bất hạnh.

    Tìm hiểu về đoạn trích Chị em Thúy Kiều

    A. Tác giả Nguyễn Du

    Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều

    B. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều

    I. Tìm hiểu chung

    1. Vị trí đoạn trích

    Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần 1: Gặp gỡ và đính ước

    2. Bố cục

    – Đoạn 1 (4 câu đầu): giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều

    – Đoạn 2 (4 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân

    – Đoạn 3 (12 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều

    – Đoạn 4 (4 câu cuối): Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

    3. Giá trị nội dung

    Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du

    4. Giá trị nghệ thuật

    Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật khắc họa nhân vật lí tưởng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng – lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, không miêu tả chi tiết cụ thể mà tả để gợi, sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều

    II. Tìm hiểu chi tiết

    1. Vị trí đoạn trích Chị em Thúy Kiều

    Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần 1: Gặp gỡ và đính ước

    2. Bố cục

    – Đoạn 1 (4 câu đầu): giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều

    – Đoạn 2 (4 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân

    – Đoạn 3 (12 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều

    – Đoạn 4 (4 câu cuối): Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

    3. Giá trị nội dung

    Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du

    4. Giá trị nghệ thuật

    Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật khắc họa nhân vật lí tưởng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng – lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, không miêu tả chi tiết cụ thể mà tả để gợi, sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều

    ***********

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đóng Vai Nhân Vật Thúy Kiều Kể Lại Cảnh 3 Chị Em Thúy Kiều Du Xuân Trong Tiết Thanh Minh Dựa Vào Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân Trong Văn Bản Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu
  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều
  • Phân Tích Ý Nghĩa Và Giá Trị Đoạn Trích “chị Em Thúy Kiều” (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Bình Giảng Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Sơ Đồ Tư Duy Gdcd 12 Bài 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Hóa Kiến Thức Cơ Bản Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 12
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 1).
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 12 Bài 1: Pháp Luật Và Đời Sống (Tiết 2)
  • Giáo Án Gdcd 12 Bài 1: Pháp Luật Và Đời Sống (Tiết 1)
  • Báo Đời Sống Và Pháp Luật Kỷ Niệm 10 Năm Thành Lập Văn Phòng Miền Trung
  • Sơ đồ hóa kiến thức cơ bản môn Giáo dục công dân lớp 12 – Bài 1

    Sơ đồ tư duy GDCD 12 bài Pháp luật và đời sống

    1. Khái niệm pháp luật.

    a. Pháp luật là gì?

    Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.

    b. Các đặc trưng của pháp luật.

    -Pháp luật có tính quy phạm phổ biến:

    Vì pháp luật là những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu chung, được áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi, đối với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

    -Pháp luật mang tính quyền lực, bắt buộc chung, vì :

    + Pháp luật do nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước.

    +Pháp luật là quy định bắt buộc đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức, ai cũng phải xử sự theo pháp luật.

    -Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, vì hình thức thể hiện của pháp luật là các văn bản có chứa các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

    + Phải được diễn đạt chính xác, một nghĩa để ai đọc cũng hiểu được đúng và thực hiện chính xác.

    +Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ban hành những hình thức văn bản nào đều được quy định chặc chẽ trong Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    2. Bản chất của pháp luật.

    a. Bản chất giai cấp của pháp luật.

    -Các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành phù hợp với ý chí của giai cấp cầm quyền mà nhà nước là đại diện.

    Nhằm giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước .

    -Nhà nước Việt Nam đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.

    HCM: ” Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động…”

    b.Bản chất xã hội của pháp luật:

    *Pháp luật mang bản chất xã hội vì pháp luật bắt nguồn từ xã hội, do các thành viên của xã hội thực hiện, vì sự phát triển của xã hội .

    -Các quy phạm pháp luật bắt nguồn từ thực tiễn đời sống xã hội, phản ảnh những nhu cầu lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp trong xã hội.

    -Các quy phạm pháp luật được thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội vì sự phát triển của xã hội .

    3. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức.

    a. Quan hệ giữa pháp luật với kinh tế.

    -Sự phụ thuộc: các quan hệ kinh tế quy định nội dung của pháp luật. Sự thay đổi các quan hệ kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi của pháp luật.

    -Sự tác động:

    +Nếu pháp luật phù hợp, phản ảnh khách quan các quy luật phát triển của kinh tế thì nó sẽ tác động tích cực, kích thích kinh tế phát triển.

    +Nếu pháp luật có nội dung lạc hậu, không phản ánh đúng các quan hệ kinh tế hiện hành thì nó sẽ tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội.

    b. Quan hệ giữa pháp luật với chính trị.

    -Pháp luật vừa là phương tiện để thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, vừa là hình thức biểu hiện của chính trị, ghi nhận yêu cầu, quan điểm chính trị của giai cấp cầm quyền.

    – Thể hiện tập trung trong mối quan hệ giữa đường lối chính sách của đảng cầm quyền với pháp luật của nhà nước

    – Ở Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước

    c. Quan hệ giữa pháp luật với đạo đức

    -Nhà nước luôn cố gắng đưa những quy phạm đạo đức có tính phổ biến, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội vào trong các quy phạm pháp luật, trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân, gia đình và văn hóa.

    -Khi trở thành các nội dung của quy phạm pháp luật thì các giá trị đạo đức không chỉ được tuân thủ bằng niềm tin, lương tâm của các cá nhân hay sức ép của dư luận xã hội mà còn đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước.

    Vậy pháp luật là phương tiện đặc thù để thể hiện và bảo vệ các giá trị đạo đức.

    4. Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội.

    a. Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lí xã hội.

    -Nhà nước phải quản lí xã hội bằng pháp luật vì nhà nước sẽ phát huy được quyền lực của mình và kiểm tra, kiểm soát được các hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan trong phạm vi lãnh thổ của mình.

    -Quản lí bằng pháp luật là phương pháp quản lí dân chủ và hiệu quả nhất vì:

    +Pháp luật là các khuôn mẫu có tính phổ biến và bắt buộc chung nên quản lí bằng pháp luật sẽ đảm bảo dân chủ, công bằng và phù hợp với lợi ích chung, tạo sự đồng thuận trong xã hội

    +Pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách thống nhất trong toàn quốc và được đảm bảo bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước nên hiệu lực thi hành cao.

    -Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật là Nhà nước phải ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trên quy mô toàn xã hội, đưa pháp luật vào đời sống của từng người dân và của toàn xã hội.

    b. Pháp luật là phương tiện để công dân thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    -Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, thuế… cụ thể hóa nội dung, cách thực hiện các quyền công dân trong từng lĩnh vực cụ thể.

    -Pháp luật là phương tiện để công dân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua các luật về hành chính, hình sự, tố tụng, trong đó quy định thẩm quyền, nội dung, hình thức, thủ tục giải quyết các tranh chấp, khiếu nại và xử lí các vi phạm pháp luật xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Pháp Luật Và Đời Sống
  • Pháp Luật Và Đời Sống, Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 12
  • Bước Ngoặt Và Thách Thức Với Báo Đời Sống & Pháp Luật, Báo Điện Tử Người Đưa Tin Năm 2022
  • Báo Đời Sống Và Pháp Luật Đưa Tin Về Sản Phẩm Apharin
  • Đại Hội Chi Hội Nhà Báo Tạp Chí Đời Sống Và Pháp Luật Lần Thứ 5, Nhiệm Kỳ 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100