Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

--- Bài mới hơn ---

  • Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42
  • 11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Những Điểm Nhấn Của Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Chính Sách Mới Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Nghị Quyết 42 Ngày 9/4/2020
  • Theo số liệu thống kê của NHNN chi nhánh chúng tôi kể từ khi Nghị quyết 42 chính thức có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến hết ngày 31/5/2020, tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã được xử lý là 123.274 tỷ đồng. Trong số này, thu từ nguồn khách hàng trả nợ là 32.583 tỷ đồng; các TCTD nhận tài sản đảm bảo thay cho nghĩa vụ trả nợ 525 tỷ đồng; bán, phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ 1.503 tỷ đồng; bán cho Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) 429 tỷ đồng; bán cho các tổ chức khác 5.536 tỷ đồng và xử lý theo hình thức khác trên 6.000 tỷ đồng.

    Cũng theo báo cáo, việc xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 tại các TCTD ở chúng tôi hiện nay là gần 18.500 tỷ đồng. Các TCTD cũng đã xử lý được khoảng 58.165 tỷ đồng nợ xấu đã bán cho VAMC thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt.

    Theo nhận xét của Sở Tư pháp chúng tôi hoạt động xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 mặc dù đạt được khá nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên quá trình xử lý vẫn diễn ra chậm và gặp nhiều vướng mắc. Việc xử lý nợ chủ yếu được các bên tiến hành theo hình thức thông thường, tức là đôn đốc khách hàng trả nợ và mua lại các khoản nợ đã bán cho VAMC. Việc xử lý nợ thông qua thủ tục rút gọn là không đáng kể. Vì vậy có thể cho rằng việc áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết 42 vào xử lý nợ xấu là chưa cao và chưa mang lại nhiều hiệu quả.

    Đại diện Sở Tư pháp chúng tôi cho rằng, hiện nay những vướng mắc lớn nhất trong việc triển khai Nghị quyết 42 vẫn nằm ở khâu xử lý, thu giữ tài sản đảm bảo. Ông Nguyễn Hữu Hùng – Phó Giám đốc Trung tâm đấu giá chúng tôi cho rằng, thực tế kết quả những cuộc bán đấu giá thành công tài sản đảm bảo nợ chỉ chiếm khoảng 50%. Nhiều gói tài sản đảm bảo nợ xấu phải định giá, giảm giá nhiều lần, nhưng do tâm lý e ngại của nhà đầu tư nên việc bán thành công là rất khó khăn. Chưa kể thành phần tài sản đảm bảo nợ đối với nhiều khoản nợ xấu là rất phức tạp, bao gồm nhiều loại hình tài sản như xe cộ, nhà cửa, máy móc, hàng hóa nên việc định giá và hoàn thiện các hồ sơ thủ tục luôn mất nhiều thời gian, chi phí.

    Quy trình rút gọn tại tòa tiếp tục phát sinh khó khăn

    Ông Trần Đình Cường – Phó Giám đốc NHNN chi nhánh chúng tôi cho rằng, hiện nay việc thu giữ tài sản đảm bảo vẫn là vướng mắc chính, khiến các TCTD trên địa bàn khó tiến hành xử lý nhanh các khoản nợ xấu. Vì vậy, trong thời gian tới, nếu Nghị quyết 42 được Quốc hội xem xét “luật hóa” thì cần tính đến việc mở rộng phạm vi, quyền hạn và quy định cụ thể hơn, tạo sự chủ động nhiều hơn cho các TCTD trong khâu thu giữ tài sản đảm bảo nợ.

    Kết luận tại buổi làm việc, ông Dương Quốc Anh – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, chúng tôi là địa phương đầu tiên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tiến hành làm việc, ghi nhận về kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 sau 3 năm triển khai. Sắp tới đây các buổi làm việc tương tự sẽ được tổ chức tại Hà Nội và một số tỉnh thành khác.

    Ông Dương Quốc Anh đánh giá cao những kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 mà hệ thống ngân hàng cũng như các cơ quan, ban, ngành tại chúng tôi đã phối hợp thực hiện được trong suốt 3 năm vừa qua. Đồng thời ghi nhận từ khi có Nghị quyết 42 nhiều TCTD trên địa bàn chúng tôi đã xử lý giảm mạnh tỷ lệ nợ xấu, đảm bảo được các chỉ tiêu an toàn vốn và lành mạnh về tài chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp
  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ
  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế
  • Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị
  • Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42
  • Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hoá Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045
  • Triển Khai, Thực Hiện Nghị Quyết Số 58
  • Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị: Thời Cơ, Vận Hội Mới Đến Với Thanh Hoá
  • Đưa ‘nghị Quyết Thanh Hóa’ Của Bộ Chính Trị Vào Cuộc Sống
  • 6 Lý Do Để Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Số 58 “về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hóa Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045”
  • Ngoài ra, không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Nghị quyết sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm, áp dụng đối với toàn bộ nợ xấu tính đến thời điểm trước khi Nghị quyết có hiệu lực (trước ngày 15/08). Bên cạnh những ưu điểm, một số quy định của Nghị quyết vẫn gây nhiều quan ngại về khả năng thực thi và cần có Thông tư hướng dẫn thực hiện chi tiết. Do vậy, mặc dù đánh giá cao sự cần thiết của Nghị quyết đối với mục tiêu giảm lãi suất của Thủ tướng Chính phủ nói chung và tháo gỡ phần nào khó khăn trong việc xử lý nợ cho các ngân hàng nói riêng, nhiều chuyên gia cho rằng vẫn cần bổ sung thêm các văn bản nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc xử lý nợ.

    Theo Chuyên gia tài chính, TS. Cấn Văn Lực, có rất nhiều vấn đề sẽ được giải quyết nhờ Nghị quyết về xử lý nợ xấu. Ví dụ như các khoản nợ xấu phải được mua bán theo cơ chế thị trường, đặc biệt cho phép các công ty định giá độc lập định giá nợ và tài sản thế chấp, cho phép phần chênh lệch so với sổ sách được phân bổ trong 10 năm, đặc biệt là phần tài sản đảm bảo được xử lý khá tích cực.

    “Có 2 việc cần hết sức khẩn trương. Thứ nhất là rất nhiều văn bản sẽ phải được ban hành, thứ hai là phải xác định được quy mô chính xác hơn về nợ xấu,” TS. Cấn Văn Lực nói.

    “Bởi vì trong Nghị quyết của Quốc hội cũng có một số tiêu chuẩn về nợ xấu rõ ràng, cụ thể hơn. Như vậy, rõ ràng đó là tín hiệu tích cực đối với hệ thống ngân hàng. Tôi tin tưởng rằng khi các bộ ngành vào cuộc xử lý rất quyết liệt thì sẽ có những kết quả tích cực, bản thân các ngân hàng cũng đang tiến hành rà soát phân loại nợ xấu.

    “Điều thứ hai là đã tái lập những công ty mua bán nợ của ngân hàng. Những công ty này trước đây đã có nhưng hiện nay đã tái hoạt động. Các công ty này sẽ tham gia vào quá trình mua bán nợ. Lượng nợ xấu chiếm 10% dư nợ tín dụng sẽ tốn khoảng vài năm nữa để giải quyết xong và đưa nợ xấu xuống còn 3%”.

    Nghị quyết có thể không chỉ giúp các ngân hàng giải quyết các tài sản tồn đọng không sinh lãi mà còn có thể mang lại các khoản lợi nhuận bất thường thông qua hoàn nhập dự phòng một khi khoản nợ xấu được xử lý. Do đó, theo Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong, Nghị quyết xử lý nợ xấu chỉ có tác dụng đối với các khoản nợ xấu đến ngày 15/8, nên các nhà đầu tư chứng khoán phải chọn những ngân hàng nào có nhiều bất động sản có giải chấp trước 15/8.

    Cũng theo ông Phong, để đảm bảo an toàn cho thị trường từ nay đến cuối năm, Nhà nước phải quản lý chặt nợ vay dưới chuẩn. Bên cạnh đó, cần nâng trách nhiệm của các ngân hàng có vấn đề.

    Theo Ngân Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 42/2017/qh14 Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Nghị Quyết Số 326/2016/ubtvqh14 Ngày 30
  • Nghị Quyết 326: 7 Lưu Ý Quan Trọng Về Án Phí, Lệ Phí Toà Án
  • Nghị Quyết 326/2016/ubtvqh14 Quản Lý Và Sử Dụng Án Phí Và Lệ Phí Tòa Án
  • Nghị Quyết 326 Về Án Phí Là Gì ?
  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Còn Vướng Ở Đâu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14: Tắc Thu Hồi Tài Sản Đảm Bảo, Tái Xuất Tâm Lý Chây Ỳ
  • Tập Huấn Triển Khai Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/nq
  • Nghị Quyết Số 42 Về Quy Hoạch Cán Bộ
  • Nghị Quyết Của Đảng Ủy Trường Về Công Tác Quy Hoạch Cán Bộ
  • Tổng Kết Nghị Quyết 42 Và Nghị Quyết 11 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)
  • Riêng về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được 236,8 nghìn tỷ đồng (không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản nợ bán cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt).

    Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng đạt 137,7 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 47,97 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 51,12 nghìn tỷ đồng.

    Như vậy, tính trung bình, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 9,6 nghìn tỷ đồng, cao hơn 4,7 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

    Bên cạnh đó, đến thời điểm cuối tháng 8/2019, các tổ chức tín dụng đã sử dụng 123,89 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng.

    Khó khăn trong triển khai

    Còn tại một hội nghị gần đây về Nghị quyết 42 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Phạm Toàn Vượng, Phó Tổng giám đốc Agribank chia sẻ: “Sau 2 năm Nghị quyết 42 ra đời, Agribank đã xử lý được gần 110 nghìn tỷ đồng. Đến nay, ngân hàng đã mua lại 100% nợ xấu đã bán cho VAMC. Đây là kết quả rất lớn và vượt xa so với trước khi Nghị quyết 42 ra đời”.

    Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý được một bước quan trọng nhưng vẫn gặp phải không ít khó khăn trong việc triển khai.

    Cụ thể, về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm, ngày 15/5/2018, Hội đồng Thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu…

    Tuy nhiên, hiện nay, số lượng các vụ việc xử lý nợ xấu thông qua thủ tục rút gọn tại Tòa án còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi nợ.

    Về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự, hiện chưa có văn bản quy phạm pháp luật giải thích cụ thể về việc “ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án” theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 42.

    Do đó, việc có hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng.

    Đồng thời, chưa có hướng dẫn về cơ chế xác định sớm hữu hiệu trong quá trình thẩm định, để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng các biện pháp xử lý tài sản theo Nghị quyết số 42.

    Tòa án nhân dân tối cao xem xét, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (Tổng cục Thi hành án dân sự) sớm có văn bản chỉ đạo về việc hoàn trả các tài sản bảo đảm là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ quy định tại Nghị quyết 42.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai Nghị Quyết 42: Ngân Hàng ‘mạnh Dạn’ Xử Lý Nợ Xấu
  • Nghị Quyết 42 Góp Phần Không Nhỏ Vào Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu
  • Sơ Kết 2 Năm Triển Khai Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Và Quyết Định 1058 Về Cơ Cấu Lại Các Tctd
  • Những Vướng Mắc Trong Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Và Đề Xuất Tháo Gỡ
  • Mở Rộng Thêm Đối Tượng Không Phải Nộp Và Được Miễn, Giảm Tiền Tạm Ứng Án Phí, Án Phí, Lệ Phí Tòa Án Theo Nghị Quyết 326 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.
  • 11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điểm Nhấn Của Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Chính Sách Mới Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Nghị Quyết 42 Ngày 9/4/2020
  • Hôm Nay, Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực
  • Vamc: Thu Hồi Nợ Tăng 1,5 Lần Từ Khi Có Nghị Quyết 42
  • Trong báo cáo gửi tới Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV về “Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng”, Chính phủ cho biết, từ ngày 15/8/2017 đến ngày 31/5/2020, sau 3 năm đi vào thực tiễn, các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 42 đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu và góp phần không nhỏ vào kết quả công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020, thể hiện định hướng, chính sách đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tạo niềm tin đối với hệ thống các TCTD nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung đối với công tác xử lý nợ xấu trong nền kinh tế.

    Xử lý nợ xấu còn nhiều trở ngại

    Tính từ cuối năm 2022 đến ngày 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42, đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2022 (giai đoạn trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực). Kết quả đạt được là rất tích cực nhưng những khó khăn, vướng mắc đang ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ xử lý nợ xấu của các TCTD.

    Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

    Qua tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy còn 11 khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị quyết số 42, cụ thể:

    Thứ hai, về bán nợ xấu và TSBĐ theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ (Điều 5 Nghị quyết số 42) vẫn còn gặp một số khó khăn như: Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 2 đơn vị mua nợ chính là VAMC và DATC; thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ; việc thẩm định giá khoản nợ đang được các tổ chức thẩm định giá áp dụng theo Hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (được áp dụng chung cho thẩm định giá các loại tài sản) nên khi định giá các khoản nợ đôi khi việc vận dụng của các tổ chức thẩm định giá là khác nhau, gây khó khăn cho các bên trong việc lựa chọn mức giá tham khảo làm cơ sở xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.

    Thứ tư, về quyền thu giữ TSBĐ (Điều 7 Nghị quyết số 42). Trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác, cố ý chây ỳ trong việc bàn giao TSBĐ). Đồng thời, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ TSBĐ)… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu…

    Thứ bảy, về điều kiện chuyển nhượng TSBĐ là dự án bất động sản (Điều 10 Nghị quyết số 42). Báo cáo cho biết, việc chuyển nhượng các dự án chưa có Giấy chứng nhận vẫn gặp phải khó khăn khi tiến hành các thủ tục chuyển nhượng dự án tại các cơ quan có thẩm quyền.

    Thứ tám, về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ (Điều 12, Nghị quyết số 42). Trong quá trình triển khai thực hiện, NHNN tiếp tục nhận được kiến nghị của các TCTD phản ánh về việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm là TCTD đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chủ nợ có bảo đảm của TCTD…

    Thứ mười, về công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự. Dù đã có Quy chế phối hợp giữa NHNN và Bộ Tư pháp về hoạt động thi hành án dân sự, tuy nhiên, tại một số địa phương do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, hoạt động thi hành án ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, nhiều vụ việc kéo dài… phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.

    Mười một, về việc giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Báo cáo cho biết, việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao. Thậm chí có khả năng xảy ra tình trạng thiếu minh bạch, câu kết giữa chấp hành viên – thẩm định giá viên – đấu giá viên…

    Gỡ vướng bằng nhiều giải pháp đồng bộ

    Với những khó khăn, vướng mắc như trên, để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 được triển khai có hiệu quả trên thực tế, các TCTD phấn đấu đạt mục tiêu về tỷ lệ nợ xấu theo Quyết định số 1058 đến cuối năm 2022, Chính phủ cho biết, sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các giải pháp sau:

    Thứ nhất, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ các TCTD triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 42 và chỉ đạo các cấp hỗ trợ tối đa cho các TCTD trong quá trình xử lý TSBĐ, thu hồi nợ;

    Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân loại, sắp xếp các doanh nghiệp, trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tái cơ cấu, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện để hệ thống các TCTD xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính. Các bộ chủ quản chỉ đạo các Tập đoàn, Tổng công ty, đơn vị thành viên thực hiện nghĩa vụ trả nợ/nghĩa vụ bảo lãnh đối với các khoản vay tại các TCTD mà các đơn vị đứng ra bảo lãnh cho các công ty con, công ty thành viên;

    Thứ năm, trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết số 42 và kết quả tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058 đến cuối năm 2022, NHNN nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2022-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.

    Cuối cùng, rà soát các chính sách về tín dụng, có các giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng (theo Thông báo số 3616/TB-TTKQH về kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 45 tháng 5/2020 đợt 2).

    Cùng với các giải pháp trên, Chính phủ kiến nghị và đề xuất với Quốc hội 3 giải pháp, gồm:

    Thứ hai, về thực hiện nhiệm vụ giám sát. Chính phủ kiến nghị Quốc hội tiếp tục: Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết số 42 của Chính phủ, các địa phương, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội; (ii) Chỉ đạo các Đoàn Đại biểu Quốc hội tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 42 tại địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42
  • Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp
  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ
  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế
  • Kết Quả Tích Cực Từ Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

    --- Bài mới hơn ---

  • Vamc: Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Gấp 4 Lần Giai Đoạn Trước
  • Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Quy Trình, Thủ Tục Kết Nạp Đoàn Viên
  • Quyết Định Chuẩn Y Kết Nạp Đoàn Viên
  • Quyết Định Chuẩn Y Kết Nạp Đoàn Viên Mới
  • Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có Báo cáo kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD).

    ĐÃ XỬ LÝ GẦN 294 NGHÌN TỶ ĐỒNG NỢ XẤU XÁC ĐỊNH THEO NGHỊ QUYẾT 42

    Cụ thể, về kết quả xử lý nợ xấu nội bảng, NHNN cho biết, đã chỉ đạo các TCTD sát sao, quyết liệt và đồng bộ cùng với sự chủ động, nỗ lực của các TCTD, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD trong giai đoạn 2022-2020 đã được xử lý, kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%.

    Cụ thể, cuối năm 2022 là 2,46%; cuối tháng 8/2017: 2,45%; cuối năm 2022: 1,99%; cuối năm 2022: 1,91%; cuối năm 2022: 1,63% và thời điểm 31/5/2020 là 1,86%. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD giảm liên tục qua các năm.

    Tính từ cuối năm 2022 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó, nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 307,96 nghìn tỷ đồng (chiếm 85,26%); nợ xấu bán cho Công ty Quản lý tài sản các TCTD Việt Nam ( VAMC ) là 48,52 nghìn tỷ đồng (chiếm 13,43%); và nợ xấu bán cho tổ chức, cá nhân khác là 4,72 nghìn tỷ đồng (chiếm 1,3%).

    Bên cạnh kết quả trong xử lý nợ xấu nói chung, xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến 31/5/2020 cũng đạt được kết quả bước đầu quan trọng; các hình thức xử lý nợ xấu được các TCTD vận dụng, áp dụng đa dạng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu.

    Cụ thể, lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42; trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 160,92 nghìn tỷ đồng (chiếm 54,76% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý); Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết số 42 là 67,28 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,89% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý); xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 65,68 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,35% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý).

    Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 được xử lý từ 15/8/2017 đến 31/5/2020 đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2022 của hệ thống các TCTD trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).

    TỶ TRỌNG KHÁCH HÀNG CHỦ ĐỘNG TRẢ NỢ XẤU TĂNG MẠNH

    NHNN cho biết, trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý TSBĐ và khách hàng trả nợ còn chưa cao.

    Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 121,4 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 40,1% tổng nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết số 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý trung bình năm từ 2012-2017 là khoảng 22,8%.

    Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý.

    Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

    Với VAMC, báo cáo cho biết, từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của đầu mối này đạt 91.469 tỷ đồng, bằng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến 31/5/2020.

    Cũng từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 31/5/2020, VAMC đã tổ chức đấu giá thành công 15 khoản nợ với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 1.322 tỷ đồng; đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao TSBĐ của 7 khách hàng/nhóm khách hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Chính Thức Thông Qua Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu
  • Hôm Nay, Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực
  • Tích Cực Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Chỉ Có Vài Vụ Tranh Chấp Được Xử Lý Theo Thủ Tục Rút Gọn Tại Tòa
  • Agribank Đi Đầu Trong Việc Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Chỉ Có Vài Vụ Tranh Chấp Được Xử Lý Theo Thủ Tục Rút Gọn Tại Tòa
  • Tích Cực Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Hôm Nay, Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực
  • Chính Thức Thông Qua Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Xử lý nợ xấu gắn với hỗ trợ khách hàng

    Chưa đầy 1 tháng ngay sau ngày Quốc hội công bố Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD), ngày 20-7-2017, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-NHNN và Kế hoạch hành động của toàn ngành về xử lý nợ xấu để triển khai Nghị quyết này.

    Ngay sau khi có văn bản chỉ đạo của NHNN, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng đầu tiên đưa ra chương trình hành động với những giải pháp rất cụ thể để “giải cứu” nợ xấu ngay sau khi Nghị quyết 42 được ban hành.

    Với chính sách và cơ chế này, số lãi mà Agribank có thể miễn, giảm lên tới vài chục nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, Agribank thực hiện cho vay hỗ trợ khó khăn đối với tất cả khách hàng có nợ đã xử lý rủi ro, đã bán… nay có nguyện vọng, khả năng và điều kiện khôi phục sản xuất, từng bước tạo nguồn trả nợ ngân hàng.

    Kết quả, sau gần 1 năm (từ ngày 15-8-2017 đến 31-7-2018), xử lý và thu hồi nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Agribank đã đạt 57.922 tỷ đồng; Điều chỉnh giảm lãi suất cho 254.308 khách hàng có nợ đã xử lý rủi ro, nợ bán cho VAMC tại 153 chi nhánh; Phối hợp với VAMC đấu giá, bán nợ theo giá trị thị trường các khoản nợ; Tập trung mọi nguồn lực về tài chính, quyết liệt áp dụng các biện pháp thu hồi nợ sau xử lý rủi ro để tái tạo nguồn tài chính cho xử lý nợ…

    Tính chung toàn ngành, chỉ trong 1 năm thực hiện Nghị quyết 42, đã có 138,29 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết này được xử lý, không bao gồm hơn 61 tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng. Chỉ tính trong nửa đầu năm 2022 vừa qua, đã có trên 58 nghìn tỷ đồng nợ xấu được xử lý, trong đó chủ yếu là nợ do các tổ chức tín dụng (TCTD) tự xử lý; còn lại là bán cho Công ty Quản lý tài sản VAMC và các tổ chức, cá nhân khác một phần nhỏ.

    Vướng mắc, khó khăn cần sớm được tháo gỡ

    Có thể thấy, so với pháp luật hiện hành, Nghị quyết 42 đã cho phép áp dụng nhiều chính sách mới về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán nợ xấu, góp phần xử lý nhanh nợ xấu của hệ thống các TCTD.

    Tuy nhiên, sau 1 năm triển khai Nghị quyết này, đã xuất hiện một số vướng mắc cần tiếp tục được nghiên cứu, điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Cụ thể như: Công tác quản trị rủi ro tín dụng đã được nghiên cứu triển khai nhưng vẫn còn thiếu một số công cụ hỗ trợ quản lý rủi ro. Thông tư 13/2018/TT-NHNN của NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mới được ban hành, cần có thời gian để triển khai thực hiện.

    Các khách hàng sau xử lý hầu hết gặp khó khăn về tài chính, nguồn trả nợ chủ yếu từ việc phát mại tài sản bảo đảm (TSBĐ), tuy nhiên quá trình xử lý TSBĐ lại gặp khó khăn, vướng mắc.

    “Nhiều trường hợp, gia đình chỉ có duy nhất một căn nhà đem thế chấp ngân hàng để lấy vốn làm ăn nhưng không may việc kinh doanh bị thua lỗ. Khi khách hàng thua lỗ, theo pháp luật, căn nhà bị ngân hàng xiết nợ. Lúc này, nếu quyết liệt thu giữ tài sản, ngân hàng sẽ bị lên án vì đẩy người dân vào cảnh không có nơi ở. Do vậy, rất khó để giải quyết những trường hợp này một cách hợp tình hợp lý” – ông Trịnh Ngọc Khánh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cho biết.

    Nghị quyết 42 tái lập quyền thu giữ TSBĐ của bên nhận TSBĐ. Mặc dù vậy, khi khách hàng không hợp tác thì các TCTD vẫn phải khởi kiện khách hàng ra TAND có thẩm quyền để được quyền xử lý TSBĐ thông qua thi hành án.

    Dù Nghị quyết 42 cũng có nội dung rút gọn quá trình tố tụng và xử lý tranh chấp tài sản đảm bảo, nhưng trên thực tế, mới chỉ có 2 trong tổng số hơn 3.000 vụ tranh chấp dân sự của Agribank tại tòa án được áp dụng trình tự rút gọn. “Có những vụ như Công ty Diệp Bạch Dương chúng tôi dư nợ gần 3.000 tỷ đồng, Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình đã nhiều lần chỉ đạo nhưng khách hàng không những không bàn giao tài sản bảo đảm mà có dấu hiệu tẩu tán tài sản thế chấp, làm tăng nguy cơ thất thoát nhưng chưa được các cơ quan phụ trách giải quyết” – ông Trịnh Ngọc Khánh nói.

    Bên cạnh đó, việc chưa có hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc nộp thuế khi xử lý TSBĐ cũng là một vướng mắc cần sớm được giải quyết. Mặt khác, tại Việt Nam, việc triển khai mua bán nợ xấu của các TCTD chưa tạo lập được một thị trường mua bán nợ thật sự chuyên nghiệp. Các nhà đầu tư có nhu cầu mua bán khoản nợ vẫn còn tâm lý e ngại nên hoạt động này chưa thật sự sôi động, chưa có nhiều thương vụ lớn, chủ yếu mới dừng lại ở việc bán nợ theo phương thức chuyển khoản nợ đã bán thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt sang bán nợ theo giá thị trường cho VAMC…

    Với mục tiêu quyết liệt cùng ngành Ngân hàng xử lý nợ xấu và ngăn ngừa nợ xấu quay lại thời gian tới, đặc biệt tập trung tối đa mọi nguồn lực để xử lý thu hồi nợ sau xử lý nhằm tăng năng lực tài chính trước khi cổ phần hóa theo lộ trình vào năm 2022, Agribank đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động này. Đó là tiếp tục tập trung mọi nguồn lực, quyết liệt sử dụng đồng bộ các giải pháp để xử lý thu hồi nợ đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 03 Về Xử Lý Nợ Xấu, Tài Sản Bảo Đảm Theo Thủ Tục Rút Gọn
  • Nghị Quyết Xử Lý Nợ Xấu Áp Dụng Với Các Khoản Trước 15/8/2017, Vậy Nợ Xấu Sau Thời Điểm Đó Xử Thế Nào?
  • Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu: Cần Nhưng Chưa Đủ Mạnh
  • Sơ Kết 1 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 42 Về Xử Lý Nợ Xấu
  • Công Bố Nghị Quyết Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu
  • 6 Ngân Hàng Được Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

    --- Bài mới hơn ---

  • Hồ Sơ, Thủ Tục Để Nlđ Nhận Tiền Hỗ Trợ Theo Nghị Quyết 42
  • Ubmttq Tỉnh Giám Sát Nghị Quyết Số 42 Của Thủ Tướng Chính Phủ Tại Hương Sơn.
  • Hà Trung Hoàn Thành Việc Chi Trả Tiền Hỗ Trợ Cho Các Đối Tượng Theo Nghị Quyết Số 42 Của Thủ Tướng Chính Phủ
  • Nhiều Địa Phương Đã Chi Trả Hỗ Trợ Người Dân Theo Nghị Quyết 42/nq
  • Nghị Quyết 41/2017/qh14 Thi Hành Bộ Luật Hình Sự 100/2015/qh13 Được Sửa Đổi Tại 12/2017/qh14
  • Có 6 ngân hàng gồm ACB, BIDV, Vietinbank, Sacombank, Agribank và Techcombank sẽ được phép thí điểm xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42. Trong số đó, Vietinbank và Sacombank có lượng nợ xấu bán cho VAMC cao nhất.

    Theo Nghị quyết 42 của Quốc hội về xử lý nợ xấu có hiệu lực từ 15/08/2017, quá trình thu giữ tài sản đảm bảo của các ngân hàng có thêm nhiều sự hỗ trợ khi phải giải quyết các trường hợp khách hàng vay tiền bất hợp tác. Theo đó, chính quyền và công an có thể sẽ tham gia khi có sự đề nghị từ phía ngân hàng, từ đó giảm thời gian và chi phí thu hồi tài sản đảm bảo.

    Có 6 ngân hàng gồm ACB, BIDV, Vietinbank, Sacombank, Agribank và Techcombank sẽ được phép thí điểm xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42. Trong số đó, Vietinbank và Sacombank có lượng nợ xấu bán cho VAMC cao nhất.

    Ngay khi có kết quả thí điểm, NHNN sẽ áp dụng Nghị quyết 42 cho tất cả các tổ chức tín dụng. Theo Công ty Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSC), đây là bước quan trọng để xử lý dứt điểm 153 nghìn tỷ đồng nợ xấu ước tính đang nằm trong hệ thống ngân hàng, cùng 250 nghìn tỷ đồng nợ xấu VAMC đang nắm giữ.

    Tại thời điểm cuối tháng 6/2017, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng là 2,55%. Nếu tính cả 250 nghìn tỷ đồng nợ xấu VAMC đang giữ, tỷ lệ nợ xấu là khoảng 6,1%.

    Việc VAMC gần đây áp dụng Nghị quyết 42 trong việc thu giữ Saigon One Tower, tòa nhà cao thứ 3 tại chúng tôi là tài sản đảm bảo cho khoản vay ngân hàng trị giá trên 7 nghìn tỷ đồng (khoảng 331 triệu USD), đã cho thấy tính khả thi của Nghị quyết.

    Tuy nhiên, mặc dù các ngân hàng có thể giảm nợ xấu công bố bằng việc thu hồi nhanh hơn tài sản đảm bảo nhờ Nghị quyết 42, HSC cho rằng chất lượng tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng sẽ chỉ được cải thiện nếu các ngân hàng này hoặc VAMC bán được tài sản đảm bảo sau khi thu giữ với giá bán bằng hoặc cao hơn giá trị khoản nợ sau khi đã xóa bớt nợ.

    Trên thực tế, VAMC cũng có quyền định giá và bán tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu đã mua nếu cần thiết. Điều này có vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình xử lý dứt điểm nợ xấu. Đồng thời NHNN sẽ yêu cầu các ngân hàng chưa tích cực xử lý/xóa nợ phải tích cực hơn. Để tránh việc khi thanh lý tài sản thế chấp, giá bán trên thị trường thấp hơn giá trị sổ sách còn lại (chưa dự phòng) của khoản nợ. Từ đó, tránh khỏi khoản lỗ lớn từ giá bán thấp hơn nhiều giá trị còn lại.

    Theo khảo sát của HSC, các nhà băng như ACB, MBBank và Vietcombank có thể hạch toán lợi nhuận “không thường xuyên” từ bán tài sản đảm bảo với giá thị trường cao hơn giá trị sổ sách còn lại của khoản nợ sau khi đã trích lập dự phòng hết hoặc dự phòng phần lớn. Những ngân hàng tích cực trong xử lý nợ xấu như ACB, MBBank và Vietcombank chắc chắn sẽ thu hồi tài sản đảm bảo nhanh hơn, sau đó sẽ bán tài sản đảm bảo và ghi nhận lợi nhuận “không thường xuyên”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thống Đốc Lê Minh Hưng Báo Cáo Gì Với Quốc Hội Về Nợ Xấu?
  • Hội Nghị Trực Tuyến Triển Khai Nghị Quyết Số 42/nq
  • Nghị Quyết Số 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu
  • Hướng Dẫn Một Số Nội Dung Liên Quan Đến Triển Khai Nghị Quyết Số 42/2017/qh14
  • Họp Liên Ngành Tháo Gỡ Khó Khăn Trong Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/2017/qh14
  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Kết Quả Có Thể Tốt Hơn Nếu…

    --- Bài mới hơn ---

  • Nợ Xấu Được Xử Lý Nhanh Hơn, Thực Chất Hơn
  • Dự Án Khu Dân Cư Hòa Lân
  • Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng Do Quốc Hội Ban Hành
  • Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất Liên Quan Đến Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/2017/qh14 Của Quốc Hội
  • Điều Kiện, Thủ Tục Để Người Dân Được Nhận Tiền Hỗ Trợ Theo Nghị Quyết 42 (Dự Kiến)
  • Chia sẻ với Báo Ðầu tư Chứng khoán, giám đốc công ty quản lý tài sản (AMC) một ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở tại chúng tôi cho biết, Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc hội (Nghị quyết 42) cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) được quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBÐ) để xử lý nợ xấu.

    Tuy nhiên, trên thực tế, phương thức thu giữ TSBÐ để xử lý nợ xấu chỉ thành công khi khách hàng hợp tác, hoặc trong một số trường hợp nhất định như khách hàng đã bỏ trốn khỏi địa phương mà TSBÐ không có tranh chấp, TSBÐ là đất trống…, còn khi khách hàng không hợp tác bàn giao TSBÐ, chống đối khi tiến hành thu giữ, TCTD vẫn phải khởi kiện khách hàng ra tòa án để được quyền xử lý TSBÐ thông qua thi hành án, do Nghị quyết 42 không quy định cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế, yêu cầu/buộc người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản phải bàn giao tài sản như cơ quan thi hành án.

    Thực tế, theo Nghị quyết 42, các TCTD thực hiện quyền thu giữ TSBÐ đi kèm với điều kiện trong hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ TSBÐ. Tuy nhiên, các hợp đồng bảo đảm được ký kết trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực đều không quy định trực tiếp nội dung này (vì tại thời điểm hợp đồng được ký kết thì Nghị định 163/2006/NÐ-CP không quy định nội dung này). Do vậy, để đủ điều kiện áp dụng quyền thu giữ TSBÐ theo quy định trên, các TCTD phải đàm phán với bên vay điều chỉnh lại hợp đồng, nhưng khách hàng thường không hợp tác (không ký). Vì vậy, các TCTD rất khó để thực hiện việc thu giữ TSBÐ theo Ðiều 7 – Nghị quyết 42.

    “Ngoài ra, khi thu giữ đối với tài sản là nhà đất, trong nhà đất đó có các tài sản khác của người có nhà đất thế chấp hoặc của bên thứ ba (các đồ gia dụng, điện tử, quần áo, giường tủ…) mà họ không tự nguyện dời đi thì cơ chế, phương thức để xử lý đối với các tài sản này thế nào (gửi giữ ở đâu, nếu người có tài sản không hợp tác để nhận và di dời tài sản thì sẽ xử lý phát mại và xử lý tiền thu được như thế nào…)?

    Hoặc khi thu giữ đối với tài sản là nhà đất, trong nhà đất đó có những người không phải là người thế chấp (như bố mẹ, các con cái của người thế chấp) đang sinh sống thì cơ chế, phương thức để xử lý đối với những người này ra sao?”, vị giám đốc AMC băn khoăn.

    Một điểm đáng chú ý khác là thứ tự ưu tiên thu nợ, thanh toán nghĩa vụ nộp thuế sau khi xử lý TSBÐ. Theo Nghị quyết 42, số tiền thu được từ xử lý TSBÐ của khoản nợ xấu được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ của các TCTD trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm.

    Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, các ngân hàng cho biết, ngành thuế nhiều địa phương vẫn yêu cầu bên nhận bảo đảm/bên nhận chuyển nhượng phải đóng thay tiền thuế thu nhập cho bên bảo đảm mới thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận, sang tên trước bạ (mặc dù TSBÐ sau khi xử lý không đủ trả nợ cho TCTD).

    “Ðiều này không phù hợp với quy định tại Nghị quyết 42, hạn chế các TCTD trong công tác xử lý nợ xấu”, phó tổng giám đốc phụ trách khối pháp chế một ngân hàng thương mại cổ phần nói.

    “Ngoài ra, Nghị quyết 42 chỉ quy định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBÐ, tranh chấp về quyền xử lý TSBÐ của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, mà chưa quy định được áp dụng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng của các TCTD với khách hàng vay”, vị giám đốc AMC thông tin.

    Vướng mắc vẫn chồng… vướng mắc

    Ðiều 14 – Nghị quyết 42 mới chỉ quy định về việc hoàn trả TSBÐ là vật chứng trong vụ án hình sự cho các TCTD, mà chưa quy định về việc hoàn trả TSBÐ là tang vật của các vụ việc hành chính cho các TCTD. Trên thực tế xảy ra nhiều vụ việc TSBÐ là phương tiện vận tải bị cơ quan công an tịch thu, tạm giữ do là tang vật trong vụ việc vi phạm bị xử lý hành chính, hoặc do vi phạm luật giao thông đường bộ.

    Các cơ quan nhà nước không hoàn trả các TSBÐ này cho TCTD do chưa có văn bản pháp luật quy định. Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính như xử lý bán đấu giá TSBÐ là tang vật của vụ án hành chính theo quyết định xử lý vi phạm hành chính, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản này sẽ được sử dụng theo quy định của pháp luật mà không chuyển cho TCTD.

    “Như vậy, việc xử lý TSBÐ là tang vật trong vụ việc vi phạm hành chính đã gây thiệt hại cho TCTD (TCTD bị mất TSBÐ). Trường hợp cơ quan nhà nước trả lại TSBÐ cho chủ tài sản – bên bảo đảm, sẽ làm kéo dài thời gian xử lý nợ của TCTD”, một nhân viên xử lý nợ của Vietcombank than thở.

    Vị phó tổng giám đốc phụ trách pháp chế cho biết, TCTD thực hiện quyền thu giữ tài sản theo quy định tại Khoản 2, Ðiều 7 – Nghị quyết 42 khi bên bảo đảm không tự nguyện bàn giao TSBÐ theo yêu cầu của TCTD. Khi tiến hành thu giữ tài sản, chủ tài sản bất hợp tác, chống đối hoặc không có mặt theo thông báo và TCTD phải lập biên bản thu giữ TSBÐ có sự chứng kiến và ký biên bản của đại diện ủy ban nhân cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBÐ theo đúng quy định tại Khoản 5, Ðiều 7 – Nghị quyết 42. Như vậy, về pháp lý, biên bản thu giữ TSBÐ có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã có giá trị tương đương và có thể thay thế cho văn bản bàn giao tài sản thế chấp.

    “Tuy nhiên, do Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa quy định thành phần hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong trường hợp TCTD thực hiện quyền thu giữ TSBÐ theo quy định tại Ðiều 7 – Nghị quyết 42 để xử lý tài sản thế chấp, nên nhiều văn phòng đăng ký đất đai không chấp nhận biên bản thu giữ TSBÐ và từ chối việc đăng ký biến động cho người mua tài sản thế chấp.

    Việc khó khăn trong sang tên tài sản khiến các cá nhân, tổ chức có nhu cầu không muốn mua tài sản do các TCTD thu giữ, phát mại theo Nghị quyết 42, dẫn đến làm chậm trễ quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD”, vị phó tổng giám đốc phụ trách pháp chế nhấn mạnh.

    Ðặc biệt, tranh chấp tài sản đang là vấn đề phức tạp nhất, gây khó khăn nhất đối với các TCTD trong quá trình xử lý TSBÐ nếu không có quy định rõ ràng. Ðối với vấn đề này, tại Ðiểm d, Khoản 2, Ðiều 7 – Nghị quyết 42 quy định: “TSBÐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý, nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền; không đang bị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật”.

    Dù vậy, hiện chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn cho các TCTD trong việc xác định TSBÐ nào đang tranh chấp khi xử lý TSBÐ theo Nghị quyết 42.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Sản Bảo Đảm Đầu Tiên Bị Thu Giữ Theo Nghị Quyết 42
  • Ủy Ban Mttq Việt Nam Các Cấp:tăng Cường Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ
  • Ủy Ban Mttq Hà Tĩnh Thành Lập 2 Đoàn Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ
  • Kiểm Tra, Giám Sát Chi Trả Hỗ Trợ Theo Nghị Quyết 42/nq
  • Mttq Tỉnh Giám Sát Việc Thực Hiện Nghị Quyết 42/nq
  • Trình Quốc Hội Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sau Nghị Quyết Quốc Hội Về Xử Lý Nợ Xấu, Ngân Hàng Ráo Riết Bán Tài Sản Thu Hồi Nợ
  • Đại Biểu Quốc Hội Vẫn Băn Khoăn Về Nghị Quyết Xử Lý Nợ Xấu
  • Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 11
  • Góp Ý Xây Dựng Văn Kiện Đại Hội Đoàn Toàn Quốc Lần Thứ 11
  • (Trích) Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Huyện Đông Triều Lần Thứ Xxiii (Nhiệm Kỳ 2014
  • Ông Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, theo dự kiến kỳ họp thứ 3 sẽ khai mạc ngày 22/5 và kéo dài đến 20/6. Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 13 dự án luật, 3 dự thảo nghị quyết, cho ý kiến 4 dự án luật. Riêng phần chất vấn và trả lời chất vấn sẽ được bố trí 3 ngày, tăng 0,5 ngày so với trước đây. Tuy nhiên, Quốc hội sẽ không mở rộng đối tượng chất vấn mà chỉ tăng thời lượng cho đại biểu phát huy tranh luận.

    Ngoài ra, Chính phủ cũng đề nghị bổ sung 3 nội dung trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 là dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng; dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu; dự thảo Nghị quyết về điều chỉnh mức đóng bảo hiểm thất nghiệp.

    Đồng tình với đề nghị bổ sung trên, tuy nhiên Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo về chất lượng và thời gian trình ra Quốc hội. Theo ông Hiển, Nghị quyết về nợ xấu rất quan trọng, đòi hỏi yêu cầu cao không kém dự án luật nên quy trình phải hết sức chặt chẽ. Quy trình có thể rút gọn, nhưng phải qua 2 vòng tiếp thu, chỉnh lý và xin ý kiến. Với Luật Các tổ chức tín dụng, dứt khoát cũng phải được cho ý kiến trong 2 kỳ. Nếu trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng 4 này, Chính phủ không chuẩn bị kịp thì dừng lại, không đưa vào chương trình vì quá cập rập.

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng nhấn mạnh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần xem xét nghị quyết về xử lý nợ xấu, như vậy Chính phủ phải trình ngay tại phiên họp tháng 4 này, nếu đợi đến phiên họp thứ 5 thì không kịp. Riêng nghị quyết này nếu rút gọn cũng phải cho ý kiến 2 vòng trong một kỳ họp.

    Không có kế hoạch sẽ không có đầu tư

    Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển băn khoăn khi thiếu nội dung quan trọng là cho ý kiến và thông qua các công trình trọng điểm quốc gia, như đường cao tốc Bắc- Nam, dự án chống ngập ở TPHCM và dự án nâng cấp đường sắt Bắc- Nam. “Đã yêu cầu bố trí 80 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ cho các dự án này rồi nhưng nay nội dung không thấy nói đến. Nếu dừng lại thì sẽ mất thêm 6 tháng, trong khi đó vốn không giải ngân được sẽ lãng phí”, ông Hiển đề nghị làm rõ vấn đề này.

    Về chuẩn bị công trình đầu tư công trung hạn, ông Phùng Quốc Hiển cho biết, tháng 4 này cho ý kiến chốt lần nữa. Đến 30/4, bộ ngành, địa phương nào chưa hoàn thành kế hoạch đầu tư công trung hạn thì nguồn vốn đó đưa hết vào dự phòng, 5 năm tới sẽ không có đầu tư nữa. Riêng công trình trọng điểm quốc gia, Chủ tịch Quốc hội cũng băn khoăn, đã bố trí 80 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, nhưng đến nay chưa thấy có gì để báo cáo ra Quốc hội.

    Đối với các công trình trọng điểm quốc gia, sáng 17/4, Thủ tướng đã đồng ý với Bộ GTVT, thừa ủy quyền Thủ tướng, thay mặt Chính phủ ký gửi Quốc hội dự án đường cao tốc Bắc- Nam và việc giải phóng mặt bằng dự án sân bay Long Thành.

    Thành Nam

    Luân Dũng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 82/2019/qh14 Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Về Quản Lý Đất Đai Tại Đô Thị
  • 13 Nghị Quyết Quan Trọng Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 9, Quốc Hội Xiv
  • Ban Hành Nghị Quyết Về Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Kế Hoạch Phát Triển Kt
  • Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 10, Quốc Hội Khóa Xiv
  • Tích Cực Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

    --- Bài mới hơn ---

  • Hôm Nay, Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực
  • Chính Thức Thông Qua Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng
  • Kết Quả Tích Cực Từ Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Vamc: Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Gấp 4 Lần Giai Đoạn Trước
  • Theo báo cáo, đối với xử lý nợ xấu nội bảng (theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN), NHNN đã chỉ đạo các TCTD tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế phát sinh nợ xấu mới; tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp đôn đốc khách hàng trả nợ; bán, phát mãi tài sản bảo đảm (TSBĐ) của khoản nợ; bán nợ theo cơ chế thị trường; sử dụng dự phòng rủi ro; tích cực áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42.

    Nhờ đó, nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD tiếp tục được xử lý, kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%. Tính từ năm 2012 đến cuối tháng 3/2019, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 907,3 nghìn tỷ đồng nợ xấu (Nợ xấu được xử lý năm 2012: 74,68 nghìn tỷ đồng; năm 2013: 87,98 nghìn tỷ đồng; năm 2014: 143,55 nghìn tỷ đồng; năm 2022: 186,96 nghìn tỷ đồng; năm 2022: 118,49 nghìn tỷ đồng; năm 2022: 115,54 nghìn tỷ đồng), trong đó riêng trong năm 2022, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 163,14 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 3/2019 là 2,02%.

    Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống TCTD đến 3/2019 ở mức 5,88%, giảm mạnh so với mức 10,08% cuối năm 2022 và mức 7,36% cuối năm 2022.

    Về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, NHNN cho biết lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 3/2019, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được 227,86 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng đạt 117,8 nghìn tỷ đồng.

    Xử lý nợ xấu của VAMC: Đối với việc mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt, lũy kế từ 2013 đến 3/2019, VAMC mua nợ xấu đạt 338.849 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng tương ứng với giá mua nợ là 307.567 tỷ đồng; Mua nợ theo giá trị thị trường, lũy kế đến 3/2019, VAMC đã mua được 46 khoản nợ với dư nợ gốc đạt 5.882 tỷ đồng và giá mua bán nợ đạt 5.960 tỷ đồng.

    Báo cáo cho biết, lũy kế từ 2013 đến 3/2019, VAMC đã phối hợp với các TCTD thu hồi nợ ước đạt 120.511,6 tỷ đồng. Đặc biệt từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của VAMC trong năm 2022, 2022 ước đạt 67.891 tỷ đồng, gần bằng 57% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến năm 2022.

    Chí Kiên

    Nguồn:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Chỉ Có Vài Vụ Tranh Chấp Được Xử Lý Theo Thủ Tục Rút Gọn Tại Tòa
  • Agribank Đi Đầu Trong Việc Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Nghị Quyết 03 Về Xử Lý Nợ Xấu, Tài Sản Bảo Đảm Theo Thủ Tục Rút Gọn
  • Nghị Quyết Xử Lý Nợ Xấu Áp Dụng Với Các Khoản Trước 15/8/2017, Vậy Nợ Xấu Sau Thời Điểm Đó Xử Thế Nào?
  • Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu: Cần Nhưng Chưa Đủ Mạnh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100