Những Quy Tắc Westgard Nâng Cao Dùng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm

--- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Các Vi Phạm Quy Tắc Westgard Trong Nội Kiểm
  • Phần Mềm Nội Kiểm Chất Lượng Xét Nghiệm Quanglab
  • Đấu Vật Mỹ (Wwe) Là Thật Hay Biểu Diễn?
  • Bị Lên Gối Đau, Nhà Vô Địch Wwe Cay Cú Đấm Gục Bạn Diễn
  • Thể Thức Vòng Loại World Cup 2022 Khu Vực Châu Á
  • Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 3 mức nồng độ khác nhau trong 2 lần liên tiếp nằm cùng một phía so với giá trị trung bình. Quy tắc này tương tự như quy tắc 10 x nhưng có ưu điểm là phát hiện sai số sớm hơn quy tắc 10 x. Quy tắc này áp dụng khi phòng xét nghiệm thực hiện QC ở 3 mức nồng độ khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm quy tắc này là do sai số hệ thống tương tự như quy tắc 10 x.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 4 mức nồng độ khác nhau trong trong 2 lần liên tiếp cùng nằm về một phía so với giá trị trung bình. Quy tắc này cũng được phát triển từ quy tắc 10 x và cao hơn quy tắc 6 x. Quy tắc này áp dụng khi phòng xét nghiệm thực hiện QC ở 4 mức nồng độ khác nhau. Nguyên nhân vi phạm cũng là do các sai số hệ thống. Trên thực tế quy tắc này ít được áp dụng do ít khi chúng ta thực hiện QC ở 4 nồng độ mà thường chỉ làm 2 hoặc 3 nồng độ.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 3 mức nồng độ khác nhau trong 3 lần liên tiếp nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình. Quy tắc này cao hơn quy tắc 6x. Thực tế quy tắc này ít được áp dụng do qua 2 lần liên tiếp ta đã thấy nó vi phạm quy tắc 6x. Nguyên nhân vi phạm quy tắc cũng do sai số hệ thống.

    Quy tắc 12x.

    Quy tắc này có 2 tình huống xảy ra:

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 3 mức nồng độ khác nhau trong 4 lần liên tiếp nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình. Quy tắc này áp dụng khi phòng xét nghiệm thực hiện QC 3 mức nồng độ khác nhau.

    Bị coi là vi phạm quy tắc khi kết quả QC của 4 mức nồng độ khác nhau trong 3 lần liên tiếp nằm cùng một phía so với giá trị trung bình. Quy tắc này áp dụng khi phòng xét nghiệm thực hiện QC ở 4 nồng độ khác nhau.

    Tương tự như quy tắc 6 x, 8 x, 9 x quy tắc 12 x này cũng được phát triển từ quy tắc 10 x. Tuy nhiên nó giúp các phòng xét nghiệm phát hiện nhanh các sai số hệ thống khi thực hiện 3 hoặc 4 mức nồng độ QC.

    Quy tắc này có 2 tình huống xảy ra:

    Bị coi là vi phạm quy tắc này khi kết quả QC của cùng một mức nồng độ trong 3 lần liên tiếp nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình và vượt quá giới hạn +1SD hoặc -1SD.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 3 mức nồng độ khác nhau trong cùng một thời điểm nằm cùng về một phía và vượt quá giới hạn +1SD hoặc -1SD.

    Nguyên nhân dẫn đến vi phạm cũng do sai số hệ thống.

    Có 2 tình huống với quy tắc này:

    Bị coi là vi phạm khi 2 trong 3 kết quả QC của cùng một mức nồng độ trong 3 lần liên tiếp nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình và vượt quá giới hạn +2SD hoặc -2SD.

    Bị coi là vi phạm khi 2 trên 3 kết quả QC của 3 mức nồng độ trong cùng một thời điểm nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình đồng thời vượt quá giới hạn +2SD hoặc -2SD.

    – Kiểm tra lại hóa chất/ thuốc thử.

    – Sai sót trong bảo quản các mẫu QC.

    – Kiểm tra, đánh giá lại tình trạng thiết bị: Cuvet, bóng đèn, lịch trình bảo dưỡng, bảo trì…

    – Điều kiện môi trường: Nhiệt độ, độ ẩm…

    Sau khi đã kiểm tra và khắc phục các lỗi trên bạn tiến hành QC lại ngay hoặc Calibration sau đó QC lại một lần nữa. Nếu vẫn không được nên tham khảo ý kiến của các kỹ sư cung cấp thiết bị.

    Mình nhắc lại là bạn không nhất thiết phải áp dụng các quy tắc này nghĩa là đây không phải là các quy tắc bắt buộc. Tuy nhiên nếu bạn muốn áp dụng để đánh giá nhanh kết quả QC hoặc kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng xét nghiệm của đơn vị mình thì nên áp dụng thêm một hoặc nhiều quy tắc trên.

    Thông tin thêm: Trong bài viết chúng tôi có tham khảo và sử dụng một số nội dung trong sách của:

    Trần Hữu Tâm (2012), Nội kiểm tra chất lượng xét nghiệm, NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Xin trân trọng cảm ơn tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Quy Tắc Westgard Cơ Bản Áp Dụng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm
  • Apple Chốt Ngày Tổ Chức Wwdc 2022 Vào 22/6
  • Wwdc 2022 Sẽ Diễn Ra Dưới Hình Thức… Online
  • Thi Tranh Biện Dành Cho Học Sinh Việt Nam
  • Lưu Trữ Chuyên Đề Wto, Tpp…
  • Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Các Vi Phạm Quy Tắc Westgard Trong Nội Kiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Mềm Nội Kiểm Chất Lượng Xét Nghiệm Quanglab
  • Đấu Vật Mỹ (Wwe) Là Thật Hay Biểu Diễn?
  • Bị Lên Gối Đau, Nhà Vô Địch Wwe Cay Cú Đấm Gục Bạn Diễn
  • Thể Thức Vòng Loại World Cup 2022 Khu Vực Châu Á
  • Tuyển Việt Nam Cần Điều Kiện Gì Để Đi Tiếp Ở Vòng Loại World Cup?
  • Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày về nguyên nhân cũng như cách khắc phục lỗi vi phạm của 6 quy tắc Westgard cơ bản.

    Đây là loại sai số ngẫu nhiên. Khi vi phạm quy tắc này phòng xét nghiệm có thể không cần xem xét nguyên nhân nhưng cần lưu ý theo dõi kết quả nội kiểm của nồng độ khác cùng thời điểm và kết quả nội kiểm của các ngày tiếp theo. Theo kinh nghiệm thì chúng tôi thấy vi phạm này hay gặp do mẫu QC lỗi (không lắc đều, mẫu hỏng), do hóa chất biến tính (đặc biệt với hệ thống hóa chất mở)… Nếu các bạn gặp vi phạm này mà muốn khắc phục thì có thể thực hiện các biện pháp sau: chạy lại mẫu QC, lắc đều hóa chất trở lại, bổ sung thêm hóa chất nếu còn quá ít, nếu vẫn không được thì có thể Cal lại sau đó QC lại.

    • Sao chép sai kết quả
    • Hết hạn sử dụng hóa chất/ thuốc thử
    • Mẫu QC bị hỏng do bảo quản không đúng
    • Thao tác của kỹ thuật viên
    • Thiết bị lỗi: tắc kim hút mẫu, cuvet đo bị bẩn hoặc lỗi, bóng đèn già.
    • Điều kiện phòng xét nghiệm có sự xáo trộn.
    • Xem xét lại số liệu QC đã phân tích trên máy với sổ lưu kết quả QC và dữ liệu nhập vào phần mềm quản lý nội kiểm.
    • Kiểm tra lại hạn dùng của hóa chất, thay thế nếu cần thiết.
    • Đánh giá lại chất lượng mẫu QC.
    • Yêu cầu nhân viên thao tác lại hoặc thay thế bằng nhân viên khác.
    • Kiểm tra lại thiết bị: kiem hút, bóng đèn, cuvet…
    • Xem xét lại các điều kiện phòng xét nghiệm như nhiệt độ, ngồn nước…

    Đây có thể là sai số ngẫu nhiễn. Nguyên nhân gây ra các lỗi này có thể do:

    • Thao tác của kỹ thuật viên: đặt nhầm vị trí mẫu QC, đặt nhầm vị trí thuốc thử…
    • Lỗi thiết bị
    • Sao chép kết quả sai
    • Chất lượng hóa chất/ thuốc thử kém.
    • Chất lượng mẫu QC.
    • Điều kiện phòng xét nghiệm không đảm bảo (vd điều hòa hỏng gây nhiệt độ phòng tăng cao).

    Để khắc phục vi phạm này, PXN xem xét lại từng nguyên nhân và thực hiện các biện pháp khắc phục như phần vi phạm quy tắc 13s ở trên.

    Thông tin thêm: Trong bài viết chúng tôi có tham khảo và sử dụng một số nội dung trong sách của:

    Trần Hữu Tâm (2012), Nội kiểm tra chất lượng xét nghiệm, NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Xin trân trọng cảm ơn tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Quy Tắc Westgard Nâng Cao Dùng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm
  • 6 Quy Tắc Westgard Cơ Bản Áp Dụng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm
  • Apple Chốt Ngày Tổ Chức Wwdc 2022 Vào 22/6
  • Wwdc 2022 Sẽ Diễn Ra Dưới Hình Thức… Online
  • Thi Tranh Biện Dành Cho Học Sinh Việt Nam
  • 6 Quy Tắc Westgard Cơ Bản Áp Dụng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Quy Tắc Westgard Nâng Cao Dùng Trong Kiểm Tra Chất Lượng Xét Nghiệm
  • Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Các Vi Phạm Quy Tắc Westgard Trong Nội Kiểm
  • Phần Mềm Nội Kiểm Chất Lượng Xét Nghiệm Quanglab
  • Đấu Vật Mỹ (Wwe) Là Thật Hay Biểu Diễn?
  • Bị Lên Gối Đau, Nhà Vô Địch Wwe Cay Cú Đấm Gục Bạn Diễn
  • nội kiểm tra, QC, quy tắc westgard, 6 quy tắc Westgard cơ bản áp dụng trong kiểm tra chất lượng xét nghiệm, chúng tôi CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM,

    Trong bài viết trước mình đã trình bày về các bước thực hiện kiểm tra chất lượng xét nghiệm. Tuy nhiên sau khi các bạn chạy các mẫu QC xong, kết quả QC đó có được chấp nhận hay không cần phải dựa trên các quy tắc hay còn gọi là luật Westgard. Quy tắc Westgard được giáo sư Jame Westgard xây dựng và đưa ra dựa trên phương pháp thống kê. Quy tắc Westgard giúp các phòng xét nghiệm phát hiện các trường hợp sai số ngẫu nhiên hoặc sai số hệ thống từ đó đưa ra biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo chất lượng kết quả xét nghiệm. Trong bài viết này mình sẽ đi sâu vào 6 quy tắc Westgard cơ bản cũng như các nguyên nhân gây sai số khi kết quả QC vi phạm các quy tắc này.

    Khi có một kết quả QC nằm ngoài khoảng ± 2SD và rơi vào khoảng +2SD → +3SD hoặc -2SD → -3SD. Nguyên nhân gây ra có thể do sai số ngẫu nhiên đôi khi là do sai số hệ thống. Phòng xét nghiệm có thể không cần xem xét nguyên nhân nhưng cần xem xét các kết quả QC nồng độ khác đồng thời theo dõi chặt chẽ các QC ở những lần kế.

    Khi vi phạm quy tắc này phòng xét nghiệm không cần phải loại bỏ kết quả QC cũng như kết quả của bệnh nhân.

    Khi có một kết quả QC nằm ngoài dải ± 3SD. Nguyên nhân là do sai số ngẫu nhiên. Một số nguyên nhân gây sai số có thể gặp như: Ghi chép sai kết quả QC; Thuốc thử/ hóa chất hết hạn dùng; Mẫu QC bảo quản hoặc pha sai; Kỹ thuật viên làm sai thao tác; Thiết bị kém chất lượng (kim hút tắc, cuvette hỏng, bóng đèn già), các điều kiện xung quanh khác như nhiệt độ, độ ẩm…

    Khi vi phạm quy tắc này kết quả QC và kết quả xét nghiệm của bệnh nhân cùng thời điểm sẽ không được chấp nhận. Phòng xét nghiệm phải tìm hiểu nguyên nhân, khắc phục và thực hiện QC lại cho tới khi đạt.

    Quy tắc này có 2 tình huống vi phạm sảy ra.

    Khi trong cùng một thời điểm kết quả QC của 2 mức nồng độ khác nhau cùng nằm về một phía ngoài khoảng ± 2SD

    Khi ở 2 thời điểm liên tiếp kết quả QC của cùng một mức nồng độ nằm cùng về một phía ngoài khoảng ± 2SD.

    Nguyên nhân là do sai số hệ thống: Có thể do thiết bị kém (tắc kim hút mẫu, bóng đèn già, máy không được bảo dưỡng…); do bảo quản thuốc thử không tốt; phương pháp phân tích không phù hợp…

    Khi vi phạm quy tăc này kết quả QC cũng không được chấp nhận đồng thời kết quả xét nghiệm của bệnh nhân cũng không được chấp nhận. Phòng xét nghiệm phải tìm hiểu nguyên nhân, khắc phục và thực hiện QC lại cho tới khi đạt.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 2 mức nồng độ khác nhau trong cùng một thời điểm cách nhau 4 SD. Tức là một nồng độ vượt quá +2SD và một nồng độ vượt quá -2SD.

    Nguyên nhân là do sai số ngẫu nhiên: Chất lượng hóa chất/ thuốc thử kém; Mẫu QC bị hỏng; đặt nhầm vị trí mẫu QC, vị trí thuốc thử; thiết bị hỏng hoặc kém chất lượng; điều kiện môi trường tại thời điểm phân tích thay đổi đột ngột…

    Khi vi phạm quy tắc này kết quả không được chấp nhận. Phòng xét nghiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, khắc phục và chạy lại mẫu QC.

    Đây là quy tắc mà các phòng xét nghiệm hay mắc phải và ít để ý vì kết quả QC vẫn nằm trong dải ± 2SD. Có 2 tình huống xảy ra với quy tắc này.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC cùng 1 nồng độ ở 4 lần liên tiếp nằm cùng một phía trong khoảng từ -1SD đến -2SD hoặc từ +1SD đến +2SD.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của 2 mức nồng độ khác nhau trong 2 lần liên tiếp nằm cùng một phía trong khoảng +1SD đến + 2SD hoặc -1SD đến -2SD.

    Nguyên nhân là do sai số hệ thống: Phương pháp phân tích không chuẩn, lỗi thời; Thiết bị không được hiệu chuẩn; chất lượng hóa chất/ thuốc thử không đảm bảo.

    Khi vi phạm quy tắc này kết quả QC cũng như kết quả của bệnh nhân không được chấp nhận, phòng xét nghiệm cần tìm hiểu nguyên nhân như xem lại phương pháp, chuẩn lại máy (Calibration lại), xem lại hạn thuốc thử, thay hóa chất mới…Sau khi kiểm tra và calibration lại máy sẽ chạy lại QC để đánh giá.

    Có 2 tình huống xảy ra với quy tắc này.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của cùng 1 nồng độ trong 10 ngày liên tiếp nằm cùng về một phía so với giá trị trung bình. Mặc dù nhìn sơ qua thấy kết quả QC khá tốt vì chúng gần với giá trị trung bình nhưng thực ra đang có 1 sai số hệ thống xảy ra vì tất cả các kết quả QC hoặc cùng cao, hoặc cùng thấp.

    Bị coi là vi phạm khi kết quả QC của hai mức nồng độ khác nhau trong 5 ngày liên tiếp nằm một phía so với giá trị trung bình. Hoặc cùng cao hoặc cùng thấp.

    Nguyên nhân dẫn đến vi phạm này là do sai số hệ thống: Thiết bị không được bảo dưỡng, hiệu chuẩn; Vật iệu QC, hóa chất/ thuốc thử hỏng hoặc kém chất lượng.

    Khi vi phạm quy tắc này kết quả QC cũng như bệnh nhân không được chấp nhận. Phòng xét nghiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, khăc phục và QC lại.

    Kết quả QC không vi phạm quy tắc 1 2s thì được chấp nhận. Nếu vi phạm cần xem xét sang quy tắc thứ 2 là 1 3s. Nếu vi phạm quy tắc này thì không chấp nhận, nếu không vi phạm cần xem xét tiếp quy tắc thứ 3 là 2 2s. Nếu vi phạm thì không chấp nhận, nếu không vi phạm cần xem xét tiếp quy tắc thứ 4 là R 4s. Nếu vi phạm thì không chấp nhận, nếu không vi phạm cần xem xét tiếp quy tắc thứ 5 là 4 1s. Nếu vi phạm thì không chấp nhận, nếu không vi phạm thì cần xe, xét sang quy tắc thứ 6 là 10 x. Nếu vi phạm thì không chấp nhận, nếu vẫn không vi phạm thì kết quả sẽ được chấp nhận. Như vậy nếu kết quả QC không vi phạm quy tắc 1 2s thì được chấp nhận ngay. Nếu vi phạm quy tắc này cần kiểm tra lần lượt thêm các quy tắc khác. Nếu không vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào thì được chấp nhận, còn vi phạm một trong các quy tắc này thì đều phải loại bỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Apple Chốt Ngày Tổ Chức Wwdc 2022 Vào 22/6
  • Wwdc 2022 Sẽ Diễn Ra Dưới Hình Thức… Online
  • Thi Tranh Biện Dành Cho Học Sinh Việt Nam
  • Lưu Trữ Chuyên Đề Wto, Tpp…
  • Vai Trò Đảm Bảo Pháp Luật Của Wto
  • Quy Luật Vũ Trụ 11: Quy Luật Tương Ứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 4: Luật Hấp Dẫn
  • Luật Di Trú Hoa Kỳ
  • Luật Đất Đai Năm 2013: 6 Nội Dung Đáng Chú Ý Nhất
  • Luật Giám Định Tư Pháp 2012, Luật Số 13/2012/qh13 2022
  • Luật Giám Định Tư Pháp Sửa Đổi Số 56/2020/qh14
  • Quy Luật Tương Ứng

    Là một luật rất thú vị, thể hiện sự hoàn hảo trong sự vận hành chặt chẽ của Vũ trụ theo các nguyên tắc nhất định, Luật Tương Ứng quy ước “trên sao, dưới vậy” hay nói cụ thể hơn là “những gì ở trên tương ứng với những gì ở dưới, những gì ở dưới tương ứng với những gì ở trên để hoàn thành và đạt tới sự nhiệm màu của Sự Nhất Thể Thần Thánh.”

    Luật này mang sự tương ứng vào trong tất cả vạn vật trong vũ trụ, từ ánh sáng cho đến năng lượng, từ rung động cho đến sự chuyển động đều có các nguyên tắc tương ứng của nó. Tất cả Sự Sống trong vũ trụ đều có sự đối xứng, từ cấp độ vi mô cho đến vĩ mô, cũng như từ cấp độ hạt nguyên tử cho đến cấp độ Vũ trụ vậy.

    Mọi thứ đều có khả năng biến đổi vô hạn, nhưng lại tuân thủ theo những quy tắc hữu hạn. Những quy tắc trong vương quốc vật lý phần nào cũng tương ứng với những quy tắc của các vương quốc phi vật lý hay siêu hình học.

    * Tương tự, ở trên Trái Đất, chúng ta cũng phần nào nhìn thấy được nhiều sự tương ứng ngỡ như là ngẫu nhiên, nhưng thật ra không phải thế. Hay cũng tựa như 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông tương ứng với 4 chu kỳ Golden Age – Silver Age – Iron Age – Bronze Age chẳng hạn.

    * 12 chuỗi DNA thì tương ứng 12 Cái Tôi của linh hồn, cũng như 12 cấp độ nhận thức của linh hồn (vì DNA nói theo tâm linh chính là viết tắt của Divine Natural Awareness – Sự Nhận Thức Tự Nhiên Thần Thánh)…

    * 3 kim tự tháp chính tại Giza tương ứng với 3 ngôi sao trong chòm sao Orion và tượng Nhân Sư thì tương ứng và thẳng hàng với chòm sao Sư Tử (Leo)…

    Theo Luật Tương Ứng, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy được tính chất các chòm sao đã phản ánh từng giai đoạn và chu kỳ tự nhiên của Mẹ Trái Đất, cũng như tính chất của các chòm sao chiếu mệnh của một người phần nào phản ánh nghiệp quả, số mệnh và tính cách của người ấy vậy.

    Tỷ Lệ Thần Thánh

    Ngoài ra Luật Tương Ứng chưa dừng lại ở đó, mà nó còn mang tính chất “trong sao, ngoài vậy” hay nói cách khác là “những gì bên ngoài tương ứng và phản ánh những gì bên trong bạn.”

    Cũng tương tự với tính chất của Luật Tư Tưởng và Sáng Tạo vậy “chất lượng tư tưởng bên trong quyết định thực tại bên ngoài của bạn, bạn sáng ra thực tại thông qua tư tưởng của mình.”

    Thế giới bên ngoài, từ các mối quan hệ, thu nhập, sức khỏe cho đến cuộc sống gia đình và cả các khía cạnh khác trong cuộc sống của bạn đều phản ánh bên trong nhân cách, tinh thần, và tư tưởng bên trong con người bạn. Bạn có thể nhìn thấy bản chất tương phản của mình khắp mọi nơi, bởi cuộc sống chính là tấm gương phản ánh những gì chúng ta cho phép nó hiện ra.

    Cũng như Luật Nhất Thể, chúng ta là một với tất cả vạn vật, chúng ta được tách ra từ Thượng đế và mang đầy đủ tính chất của Người, từ tiêu cực đến tích cực, từ ánh sáng đến bóng tối, từ bản ngã đến đại ngã… Vì vậy, cái bạn cho là “xấu” ở người khác cũng là cái “xấu” ở trong bạn.

    Thực tại trên hành tinh của chúng ta đang phản ánh lại bên trong của đại đa số. Chất lượng tư tưởng của số đông đã ảnh hưởng và quyết định nên thực tại chung bên ngoài của toàn thế.

    Để làm chủ được mọi khía cạnh trong cuộc sống của mình, trước hết chúng ta cần làm chủ suy nghĩ, tư tưởng và tinh thần của mình trong mọi tình huống. Trước khi thay đổi người khác, chúng ta cần học cách thay đổi bản thân mình trước đã. Có một sự thật khó chấp nhận là chúng ta là nguyên nhân chính và là người tác động trực tiếp nên thực tại của mình. Nhưng thường thì đa số lại không nghĩ thế.

    Hãy sáng tạo và thay đổi thực tại của bạn theo cách mà bạn mong muốn bằng những suy nghĩ và tinh thần tích cực, lạc quan, yêu đời và phóng khoáng. Hãy luôn nhớ rằng bạn luôn được trao quyền là đấng sáng tạo của cuộc đời mình. Tương lai nằm trong tay bạn.

    Bài tiếp theo: QUY LUẬT VŨ TRỤ 12: QUY LUẬT TƯƠNG ĐỐI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bù Trừ Nghĩa Vụ Theo Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Tư Vấn Bù Trừ Nghĩa Vụ Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự
  • Luật Bù Trừ: Được Cái Này, Mất Cái Kia
  • Vụ Án Trung Tâm Asia Kiện Ca Sĩ Như Quỳnh Năm 1997
  • Chó Cắn Người, Người Cắn….chó (Ngọc Lan)
  • Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Ký Điện Tử Theo Quy Định Pháp Luật Là Gì?
  • Đại Diện Theo Pháp Luật Là Gì? Quy Định Theo Luật Hiện Nay!
  • Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?
  • Phân Biệt Quyết Định Hành Chính Với Các Loại Quyết Định Pháp Luật Khác
  • Quyết Định Là Gì? Nội Dung Của Quyết Định?
  • Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội, được cơ cấu chặt chẽ để mọi người có thể đối chiếu với hành vi của mình mà có sự xử sự phù hợp trong đời sống.

    Về nguyên tắc, mỗi quy phạm pháp luật có ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài. Trong đó:

    1) Giả định là phần xác định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật và những hoàn cảnh, điều kiện mà chủ thể gặp phải trong thực tiễn;

    2) Quy định là phần xác định chủ thể phải làm gì khi gặp phải hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong phần giả định (được một quyền, phải làm một nghĩa vụ, phải tránh các xử sự bị cấm);

    3) Chế tài là phần nêu rõ biện pháp, hình thức xử lí của nhà nước đối với người đã xử sự không đúng với quy định, hậu quả mà người đó phải gánh chịu. Tuy nhiên, trong thực tiễn xây dựng pháp luật, phần lớn các quy phạm pháp luật được xây dựng từ hai bộ phận là giả định – quy định hoặc giả định – chế tài. Trừ một số quy phạm pháp luật đặc biệt như quy phạm định nghĩa, quy phạm xác định nguyên tắc, còn hầu hết các quy phạm pháp luật # đều phải có phần giả định. Bởi nếu không có phần giả định thì không thể xác định được quy phạm pháp luật này áp dụng cho ai, trong trường hợp nào hoặc với điều kiện nào. Các quy phạm pháp luật hiến pháp thông thường chỉ có phần giả định và quy định, còn các quy phạm pháp luật phần riêng của Bộ luật hình sự thường chỉ có phần giả định và chế tài.

    Quy phạm pháp luật là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của hệ thống pháp luật.

    Quy phạm xung đột thống nhất là quy phạm pháp luật có trong các điều ước quốc tế do các bên kết ước xây dựng nên.

    Quy phạm xung đột thông thường là quy phạm pháp luật có trong các đạo luật trong nước (do mỗi quốc gia tự ban hành).

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì? Hệ Thống Cơ Quan Hành Pháp Của Việt Nam
  • Đặc Điểm Của Hình Phạt Trong Hệ Thống Pháp Luật Phong Kiến Việt Nam
  • Giáo Viên Khổ Sở Với Phổ Cập Giáo Dục
  • Cùng Nhau Tìm Hiểu Xem Ý Nghĩa Của Phổ Cập Giáo Dục Là Gì Nhé.
  • Luật Phổ Cập Giáo Dục Tiểu Học Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Phổ Cập Giáo Dục Tiểu Học
  • “luật Quy Hoạch” Hay “luật Sửa Đổi Các Luật Quy Hoạch”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bước Đầu Sẽ Sửa Đổi, Bổ Sung 13 Luật Liên Quan Đến Luật Quy Hoạch
  • Hiện Có 9.519 Quy Hoạch Được Phê Duyệt Và Đang Còn Hiệu Lực
  • Luật Đất Đai Năm 2013 Hiện Đang Áp Dụng Năm 2022
  • Nghị Định 91/2019: Sửa Đổi Một Số Luật Đất Đai
  • Luật Quy Hoạch Năm 2022
  • Một nguyên lý chung nhất của mọi loại quy hoạch đều có những nội dung yêu cầu cụ thể cho một đồ án quy hoạch dù đó là cấp Trung ương hay cấp xã…

    Ví dụ như quy hoạch một đô thị đặc biệt hay một đô thị loại 5 thì đều phải phân khu các loại đất, khu đất hành chính, đất công nghiệp, đất trường học, y tế, đất công viên cây xanh, đất giao thông… dù cấp nào cũng phải thể hiện như vậy.

    Hay nói về quy hoạch đất đai thì ở Trung ương hay ở cấp xã cũng phải thể hiện được kế hoạch đất khai thác, sử dụng hàng năm, đất trồng cây gì, nuôi con gì, đất dành xây dựng thủy lợi, giao thông… Các ngành quy hoạch khác cũng vậy.

    Nếu hiểu cấp ở đây theo mức độ cao thấp về địa giới hành chính, thì Luật phải quy định ở mỗi cấp phải thể hiện được những tiêu chí gì trong nội dung quy hoạch, nhưng trong dự thảo không nêu được tiêu chí gì phải làm cho mỗi cấp quy hoạch.

    Về phương án 2 dự thảo quy định:

    1.Cấp quốc gia: a/ Tổng thể quốc gia; b/ Quy hoạch không gian biển quốc gia; c/ Quy hoạch ngành quốc gia.

    Ở đây có một sự nhầm lẫn về khái niệm quốc gia và tổng thể quốc gia, bởi quốc gia hay tổng thể quốc gia phải được hiểu bao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.

    Đúng thế thì phụ lục 1 phải là phụ lục những luật quy hoạch cần phải sửa đổi, và luật này phải gọi là Luật sửa đổi một số Luật Quy hoạch.

    Theo Điều 13, Mục 2 dự thảo viết: ” các Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức lập quy hoạch ngành quốc gia theo quy định tại Phụ lục 1 của Luật này“.

    Qua xem xét Phụ lục 1, thì Luật này điều chỉnh cho 33 loại quy hoạch ngành và một số quy hoạch khác do Thủ tướng sẽ quy định tại Nghị định khác.

    Nếu ý định vậy, tại sao tại Điều 1 – Phạm vi điều chỉnh không quy định luôn là Luật này quy định về hoạt động quy hoạch, gồm: lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và thực hiện các loại quy hoạch, gồm 33 loại quy hoạch được quy định trong Phụ lục 1; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động quy hoạch.

    Đồng thời trong dự thảo Luật Quy hoạch phải có một Điều luật quy định về tổ chức thực hiện; trong đó phải tuyên hủy một loạt các pháp luật đã quy định về quy hoạch như:

    Mục 2 chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước, Luật Tài nguyên nước; chương II chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

    Chương II chiến lược, quy hoạch khoáng sản, Luật Khoáng sản; Mục 1 Chương II quy hoạch, đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt, Luật Đường sắt;

    Mục 2 quy hoạch, đầu tư xây dựng cảng hàng không, sân bay, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam;

    Điều 6 quy hoạch giao thông vận tải đường bộ, Luật Giao thông đường bộ; Điều 9 quy hoạch và quản lý khu bảo tồn vùng nước nội địa, bảo tồn biển, Luật Thủy sản;

    Mục 1 Chương II quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Chương IV quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Luật Đất đai;

    Chương II quy hoạch, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều, Luật Đê điều…. và hàng trăm các văn bản luật, dưới luật quy định về công tác quy hoạch chuyên ngành khác.

    Vậy thì trong nội dung dự thảo Luật phải chứa đựng các quy định về nội dung lập các quy hoạch đã bị tuyên hủy thì mới có cơ sở để các quy hoạch chuyên ngành lập quy hoạch.

    Quy định như dự thảo Luật Quy hoạch hiện nay là song song hai hệ thống luật gồm các pháp luật đã quy định về quy hoạch chuyên ngành như đã nêu ở trên, đồng thời lại tuân thủ theo quy định của Luật này.

    Vậy cơ sở nào để lập quy hoạch? Như vậy sẽ tạo ra một sự phức tạp chồng chéo mới về pháp luật quy hoạch.

    Cũng theo nguồn tin của Nguyễn Lê đưa tin tại kỳ họp thứ 2 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về góp ý dự thảo Luật Quy hoạch, vị Bộ trưởng của cơ quan soạn thảo cho rằng:

    …khi có một sự thay đổi, chắc có động chạm đến quyền hạn của cơ quan nào đó, nhóm người nào đó họ có thể chưa hiểu hết nên chưa đồng tình cao, chưa dám thay đổi…

    Nếu đúng thế chúng tôi e rằng việc đó chỉ đúng với một số ít người, số đông còn lại nói như vậy là chưa khách quan, quy chụp.

    Chúng tôi không có quyền lợi gì ở đây, là những người tham gia nhiều đoàn quy hoạch chuyên ngành, thậm chí chủ trì các đồ án quy hoạch chuyên ngành từ những năm 80 của thập kỷ trước, lúc đó Ủy ban kế hoạch nhà nước có Ban phân vùng kinh tế Trung ương trực thuộc Ủy ban chuyên hướng dẫn cho Ban phân vùng kinh tế địa phương thuộc Sở kế hoạch để xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của Tỉnh và bản đồ đó hiện nay ở nhiều tỉnh vẫn đang treo (như Bài 1 đã nêu).

    Quy hoạch tổng thể, hay quy hoạch các ngành muốn có một quy hoạch tốt, tính khả thi cao thì trước hết phải phân tích đánh giá về tình hình hiện trạng, về điều kiện địa lý tự nhiên, về kinh tế xã hội; và đặc biệt là vấn đề dự báo cho những năm sau.

    Đặc biệt là phải có những nội dung cụ thể quy định những vấn đề mang tính chất định tính hoặc định lượng.

    Trong tình hình hội nhập của thế giới hiện nay, thì khoa học dự báo càng trở lên quan trọng, tuy nhiên có những việc mà khoa học dự báo không thể lường được.

    Điều đó đã được chứng minh qua tình hình biến đổi giá dầu mỏ trong thời gian vừa qua, làm cho nền kinh tế thế giới chao đảo.

    Việc xác định “cây mũi nhọn” của Việt Nam như cây cao su, cà phê, cây điều trên cao nguyên đã bao lần do giá cả biến động người dân phải phá cây này đi trồng cây khác.

    Nói như vậy để thấy rằng công tác quy hoạch và dự báo là cực kỳ quan trọng, quyết định sự phát triển, suy vong kinh tế của một ngành, thậm chí một đất nước.

    Trong khi dự thảo Luật Quy hoạch không những không quy định được những nội dung cho các quy hoạch chuyên ngành phải làm, mà quy định nội dung quy hoạch rất sơ sài, cơ bản mang tư tưởng của quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội trước đây. Sao đã gọi là vấn đề mới trong công tác quy hoạch?

    Trên thực tế, tính đến thời điểm hiện nay không phải chỉ có 33 loại quy hoạch như phụ lục của dự thảo nêu, mà số lượng các loại quy hoạch chuyên ngành còn lớn hơn rất nhiều và nhiều pháp luật về quy hoạch còn chồng lấn lên nhau, như quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, ngay nội tại những quy định hướng dẫn Luật Xây dựng cũng có nhưng vấn đề chưa phù hợp với Luật Quy hoạch đô thị và các pháp luật khác cũng tương tự như vậy.

    Việc ra đời một Luật Quy hoạch để điều chỉnh các Luật Quy hoạch khác để khắc phục tình trạng chồng lấn là cần thiết, chứ chưa nên tham vọng có một Luật Quy hoạch điều chỉnh chung cho tất cả các loại quy hoạch.

    Điều này có thể xảy ra, nhưng chưa phải là thời gian này. Trong việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật quy hoạch vẫn phải do các Bộ ngành tự rà soát, xong cũng cần một “nhạc trưởng” mang tính chất trọng tài thẩm định cuối cùng trước khi trình Quốc hội ban hành.

    Nếu giải quyết được như vậy, chúng tôi cho rằng đây là phương án tối ưu trong tình hình hiện nay và Luật này sẽ là bộ luật lớn, quan trọng và lấy tên là Luật sửa đổi các pháp luật về quy hoạch và Phụ lục 1 sẽ tăng lên số lượng rất nhiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Động Của Luật Quy Hoạch Đến Quy Hoạch Tại Đơn Vị Hành Chính Cấp Huyện Và Những Đề Xuất Chuyển Biến Với Quy Hoạch Xây Dựng, Quy Hoạch Đô Thị
  • Luật Quy Hoạch 2022 Có Hiệu Lực Thi Hành Kể Từ Ngày Nào?
  • Luật Liên Quan Đến Quy Hoạch Sửa Đổi 2022
  • Luật Sửa Đổi Các Luật Có Liên Quan Đến Quy Hoạch 2022
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung 11 Luật Có Liên Quan Đến Quy Hoạch 2022 2022
  • Quy Luật Cung Cầu Là Gì? Tìm Hiểu Về Quy Luật Quy Cung Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Chơi Baccarat Dành Cho Người Nhập Môn
  • Luật Chơi Cờ Vây Từ A
  • Bốc Bát Họ Là Gì? Khái Niệm Cũng Như Luật Chơi Ra Sao?
  • Luật Chơi Bida Chi Tiết, Đầy Đủ Mà Game Thủ Bida Cần Biết
  • Lao Động Đặc Thù Là Gì Theo Quy Định?
  • Quy luật cung cầu, còn được biết đến với cái tên khác là nguyên lý cung cầu, hay Law of Supply and Demand.

    Quy luật cung cầu được hiểu là một quy luật của nền kinh tế thị trường, trong đó cho rằng thông qua sự điều chỉnh của thị trường, mà một mức giá cân bằng và một lượng giao dịch hàng hóa cân bằng (hay còn gọi là mức giá thị trường và lượng cung cấp bằng lượng cầu) sẽ được xác định. Tức là nhờ vào quy luật cung cầu này mà chúng ta sẽ xác định mức giá và sản lượng cân bằng của thị trường, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng và mức cung cần thiết để đáp ứng.

    Tiền đề để xây dựng nên quy luật cung cầu

    Quy luật cung cầu được xây dựng một cách logic và cụ thể là được dựa trên những tiền đề sau đây: Cầu hàng hóa

    Cầu chính là nhu cầu đi kèm với khả năng có thể thanh toán của xã hội đối với một loại sản phẩm hay bất kỳ dịch vụ nào đó trên thị trường, tương ứng ở các mức giá khác nhau và trong một khoảng thời gian nhất định. Bên cạnh đó, cầu cá nhân được hiểu là cầu của một cá thể nào đó hay của 1 hộ gia đình.

    Khi gộp lại toàn bộ cầu của toàn thể các cá thể hay hộ gia đình đối với một mặt hàng hay dịch vụ nào đó trong một nền kinh tế sẽ hình thành nên cầu thị trường. Còn về số lượng cầu đối với một hàng hóa hay dịch vụ nào đó chính là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng mua đi kèm với sự sẵn sàng mua hàng ở tại một mức giá trong một thời gian nào đó.

    Cung hàng hóa

    Cung của một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó là tổng số lượng sản phẩm hay dịch vụ đó mà các nhà cung cấp hay chủ thể kinh tế đưa ra để bán trên thị trường và ở các mức giá khác nhau tại một khoảng thời gian nhất định.

    Tổng lại tất cả các lượng cung đối với một mặt hàng nào đó bởi toàn bộ những nhà cung cấp trong một nền kinh tế thì được gọi là cung thị trường.

    Đối với quy mô của cung thì sẽ phụ thuộc vào một vài yếu tố như sau: giá, công nghệ, giá cả của các yếu tố đầu vào, số lượng các nhà sản xuất, chính sách thuế, cũng như các kỳ vọng của nhà sản xuất đối với thị trường.

    Những quy định và vận dụng quy luật cung cầu này vào thực tế

    Những quy định của quy luật cung cầu

    Quy luật cung cầu có quy định rằng: Khi số lượng một loại hàng hóa nào đó được bán trên thị trường lại nhỏ hơn so với lượng cầu của người tiêu dùng đối với loại hàng hóa trên. Thì giá cả của hàng hóa này sẽ có xu hướng tăng lên. Điều này dẫn đến khả năng mà nhóm người tiêu dùng có thể sẽ phải chi trả một mức giá cao hơn để sở hữu hàng hóa này.

    Ngược lại, giá cả sẽ có xu hướng giảm đi, nếu như lượng cung mà các nhà cung cấp đổ ra thị trường lại vượt quá lượng cầu mà người tiêu dùng cần. Chính nhờ vào cơ chế điều chỉnh giá và lượng này mà, thị trường sẽ dần dần được chuyển đến trạng thái cân bằng. Trạng thái cân bằng là nơi mà sẽ không còn có những áp lực để gây ra sự thay đổi về giá và cả lượng nữa. Và tại điểm cân bằng này thì người cung cấp sẽ sản xuất ra lượng hàng hóa gần như là bằng với lượng cầu mà người tiêu dùng muốn mua.

    Khi nhà cung cấp ra lượng cung đạt mức nhỏ hơn lượng cầu mà người tiêu dùng trên thị trường cần đến, thì có nhiều khách hàng sẽ sẵn sàng trả giá để có được hàng hóa hóa. Và khi cơ hội bán hàng vẫn còn, các nhà quản trị sẽ thường có xu hướng mở rộng quy mô hoặc là tiếp tục duy trì việc sản xuất. Nếu rơi vào tình thế ngược lại, khi lượng cung lại lớn hơn lượng cầu, tức là có nhiều hàng hóa được sản xuất hàng loạt nhưng lại chưa có người mua, trường hợp này thì các nhà quản trị sẽ thường có xu hướng thu hẹp lại quy mô sản xuất.

    Chính vì vậy mà các nhà quản trị sẽ thường có xu hướng nghiên cứu các nhu cầu thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng, cũng như dự đoán sự thay đổi của cầu, hay phát hiện nhu cầu mới… đều là vận dụng quy luật cung cầu. Nhờ đó mà họ có thể đưa ra các hướng giải quyết như cải tiến chất lượng, mẫu mã, hình thức, cho phù hợp.

    *** Các bạn có thể tham gia giao dịch tại Fiahub, đây được biết đến là một sàn uy tín kèm theo chất lượng dịch vụ tốt như: mua Bitcoin, mua BTC, bán Bitcoin, bán BTC; mua Ethereum, mua ETH, bán Ethereum, bán ETH; mua USDT, bán USDT; mua Ripple, mua XRP, bán Ripple, bán XRP.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qui Luật Cung (The Law Of Supply) Là Gì?
  • Qui Luật Cung Cầu (Law Of Supply And Demand) Là Gì? Xây Dựng Qui Luật Cung Cầu
  • Khái Niệm Quy Luật Cung Cầu Là Gì?
  • Thị Trường Là Gì? Lý Thuyết Cung Cầu Và Giá Cả (Kinh Tế Vi Mô)
  • Cầu Lông Là Gì? Luật & Cách Chơi Cá Cược Cầu Lông Tại 12Bet
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Quy Định Pháp Luật Về Sử Dụng Mạng Xã Hội Cần Phải Biết!
  • Một Số Quy Định Về Pháp Luật Về Dân Số
  • Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Luật Thường Xuyên Tại Quảng Ninh
  • Cấp Thẻ Tư Vấn Viên Pháp Luật
  • Đăng Ký Hoạt Động Của Chi Nhánh Của Trung Tâm Tư Vấn Pháp Luật
  • Như vậy, khi đánh giá một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không cũng như xem xét một văn bản có chứa ”quy phạm pháp luật” hay không cần đặc biệt chú ý đến các dấu hiệu đặc trưng của quy phạm pháp luật, gồm: tính áp dụng chung (quy tắc ràng buộc chung và được tôn trọng chung), tính phi cá nhân (không nhằm vào một đối tượng, một con người nào cụ thể hay một nhóm đối tượng cụ thể), tính bắt buộc – tính cưỡng chế nhà nước (đối tượng bắt buộc phải thực hiện, không thể thoái thác) và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

    Pháp luật là biểu hiện hoạt động của các chính sách Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách [1] . Pháp luật được ban hành có thể đưa ra các biện pháp gián tiếp, thông qua việc tạo ra hành lang pháp lý mà trong phạm vi đó, từng cá nhân đóng vai trò là động lực. Luật pháp có thể đem lại công bằng xã hội, giảm đói nghèo, tạo ra động lực cho xã hội phát triển.Tuy nhiên, cần lưu ý làphát triển thôi chưa đủ mà còn cần phải phát triển bền vững. Yêu cầu phát triển bền vững đặt ra cho các cơ quan ban hành văn bản của địa phương phải có các biện pháp quản lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Điều đó có nghĩa là sẽ không chỉ khai thác cạn kiệt các nguồn lực mà không tính các hệ quả tiếp theo và môi trường sau này. Phát triển bền vững đòi hỏi khi đưa ra các biện pháp quản lý, nhà quản lý phải tính đến việc bảo vệ môi trường. Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, địa phương đưa ra các biện pháp để quản lý tốt các trường học, bệnh viện, xây dựng và quản lý tốt hệ thống nước sạch, đường giao thông… Bằng các văn bản quy phạm pháp luật, chính quyền địa phương đưa ra các biện pháp thu hút đầu tư, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp, các cơ chế thực thi hiệu quả.

    Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật có thể tạo ra/phân bổ/phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế Pháp luật có thể tạo điều kiện để tăng việc làm và tăng thu nhập.Pháp luật tạo điều kiện cho các chủ sở hữu tiếp cận với các công nghệ thông tin và thị trường, với các kỹ năng về tín dụng và quản lý, qua đó giúp họ tăng năng suất lao động và tăng thu nhập. Trong trường hợp pháp luật thiếu hiệu quả dẫn đến việc đất nước hay từng vùng địa phương nghèo đói và kém phát triển, người ta gọi đó là “thể chế có vấn đề” . Đặc điểm ở các vùng nông thôn là người dân có mức vốn thấp, hoạt động dựa vào các công nghệ có chi phí thấp và có sẵn ở địa phương (sản xuất có thể gọi là manh mún, tiểu thủ công, phần nhiều là lao động tay chân), sử dụng các công cụ làm bằng tay nhiều hơn là sử dụng máy móc hay thiết bị hiện đại (do thiếu vốn hoặc điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế); hơn nữa, nông thôn còn có nhiều người thất nghiệp. Các nhà soạn thảo cần phải chú ý đưa ra các biện pháp pháp lý để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường lao động… đồng thời phát huy được các nguồn lực.

    Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển Cần phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác. Trong khi các quy phạm mang tính xã hội, dù được xã hội thừa nhận, nhưng vẫn không được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, thì trái lại, quy phạm pháp luật luôn luôn được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.

    . Nếu như những người đại diện cho dân chúng không bảo đảm cho những người mà họ đại diện có cuộc sống ấm no, an bình nghĩa là họ thực hiện trách nhiệm chưa đầy đủ. Để tránh việc văn bản pháp luật trao cho các cán bộ thực thi pháp luật quyền tự định đoạt quá lớn, bên cạnh các cơ quan dân cử, vẫn cần phải có sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước. Để tránh sự lộng quyền của cán bộ thực thi pháp luật, chỉ có sự quy định chặt chẽ của văn bản pháp luật mới bảo đảm trách nhiệm của những cơ quan thực thi pháp luật, cán bộ thực thi pháp luật, từ đó bảo đảm lợi ích của người dân. Thứ năm, văn bản quy phạm pháp luật làm thay đổi các hành vi xử sự không mong muốn và thiết lập các hành vi xử sự phù hợp Muốn tạo điều kiện cho phát triển, chúng ta cần phải sử dụng pháp luật để làm thay đổi hành vi xử sự của phần lớn nhân dân, đặc biệt là của các cán bộ nhà nước. Các cán bộ nhà nước là những người đầu tiên có trách nhiệm bảo đảm một xã hội công bằng, văn minh, dân chủ và thay mặt cho những người mà họ đại diện, đó là nhân dân. Các cán bộ địa phương một mặt thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định nhưng mặt khác, đây cũng là sự phó thác của nhân dân đối với đại diện trực tiếp (Hội đồng nhân dân) hay gián tiếp (Uỷ ban nhân dân) của mình trong bộ máy chính quyền ”Thiếu sự quản lý bằng pháp luật, cơ chế trách nhiệm, tính minh bạch và sự tham gia của người dân, các quyết định sẽ trở nên tùy tiện, cán bộ chính quyền sẽ sử dụng quyền lực nhà nước không phải vì lợi ích của đa số nhân dân mà là cho riêng họ” .

    – . Văn bản hành chính thông thường có các hình thức cũng như nội dung phong phú, đa dạng, có thể liệt kê một số loại chủ yếu như: Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc… của các cơ quan hành chính nhà nước công văn hành chính (là công cụ giao dịch chính thức giữa các cơ quan: mời họp, đề xuất hoặc trả lời các yêu cầu, câu hỏi, chất vấn, hoặc kiến nghị … hoặc dùng để đôn đốc, nhắc nhở cấp dưới triển khai thi hành công việc theo kế hoạch hay theo thẩm quyền pháp luật quy định…); thông cáo, thông báo, điện báo, biên bản, giấy đi đường, giấy giới thiệu...

    Phần thứ ba

    I. Các nguyên tắc bảo đảm khi xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    + Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm,

    Công khai, minh bạch trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng cần được các cơ quan soạn thảo, ban hành đặc biệt quan tâm trong quá trình soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Theo đó, Luật năm 2008 đặt ra yêu cầu t rong quá trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết,cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

    + Báo cáo thẩm định đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình; ý kiến của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình; bản tổng hợp ý kiến góp ý về dự án, dự thảo;

    2. Soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

    2.1. Soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    Trường hợp đề nghị đưa ra khỏi Chương trình : Trong trường hợp không bảo đảm tiến độ và chất lượng soạn thảo hoặc không cần thiết phải ban hành văn bản vì lý do khách quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị xây dựng nghị quyết có thể đề nghị đưa ra khỏi chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân văn bản đã dự kiến. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có Tờ trình gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, đồng thời gửi Uỷ ban nhân dân, trong đó phải giải trình rõ lý do đề nghị đưa ra khỏi Chương trình.

    Theo quy định tại Điều 27 của Luật năm 2004 thì dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được các ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân. Do vậy, việc phân công cho từng ban của hội đồng nhân dân thẩm tra các dự thảo nghị quyết cụ thể đã được Thường trực Hội đồng nhân dân xác định rõ trong Chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

    Điều 29 của Luật năm 2004 quy định trình tự Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết. Điều 16 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân còn quy định cụ thể thêm một bước nữa, theo đó,Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây:

    Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Văn phòng Hội đồng nhân dân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân để đăng Công báo cấp tỉnh trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua. Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Nghị quyết gửi đăng Công báo phải là bản chính.

    – Xây dựng chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị: c ơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gửi đề nghị xây dựng quyết định, chỉ thị đến Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệthống pháp luật.

    – Trường hợp đề nghị bổ sung chương trình do phát sinh nhu cầu ban hành văn bản, cơ quan đã đề nghị xây dựng quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và các cơ quan khác thuộc Ủy ban nhân dân có thể đề nghị bổ sung vào chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

    – Quy trình bổ sung chương trình: quy trình bổ sung chương trình được thực hiện tương tự như quy trình xây dựng chương trình.

    – Thẩm quyền điều chỉnh chương trình: căn cứ vào đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị và yêu cầu quản lý của địa phương, Uỷ ban nhân dân quyết định điều chỉnh chương trình.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chỉ đạo cơ quan trình dự thảo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo ý kiến của thành viên Uỷ ban nhân dân. Cơ quan trình dự thảo báo cáo về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trước các thành viên Uỷ ban nhân dân.

    Biểu quyết thông qua dự thảo quyết định, chỉ thị. Uỷ ban nhân dân biểu quyết thông qua dự thảo bằng cách biểu quyết từng vấn đề, sau đó biểu quyết toàn bộ hoặc nghe đọc toàn văn rồi biểu quyết toàn bộ một lần hoặc biểu quyết những vấn đề còn có ý kiến khác nhau rồi biểu quyết toàn bộ dự thảo. Dự thảo quyết định, chỉ thị được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành.

    Nội dung của báo cáo thẩm tra phải nêu được ý kiến đánh giá của Ban về dự thảo nghị quyết, những vấn đề được Ban nhất trí, không nhất trí và còn có ý kiến khác nhau, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung.

    Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ đạo cơ quan, tổ chức soạn thảo, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân chỉnh lý về mặt kỹ thuật dự thảo nghị quyết trước khi trình Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực. Cần lưu ý là việc chỉnh lý chỉ về mặt câu chữ, kỹ thuật mà không làm thay đổi nội dungdự thảo đã được Hội đồng nhân dân thông qua.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chỉ đạo cơ quan soạn thảo chỉnh lý về mặt kỹ thuật dự thảo văn bản trước khi trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (Chủ tịch thay mặt Uỷ ban nhân dân ký ban hành văn bản). Khi chỉnh lý, không được làm thay đổi nội dungdự thảo đã được thành viên Uỷ ban nhân dân thông qua.

    Theo quy định của Luật tại Điều 45 thì “Dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phân công và chỉ đạo việc soạn thảo “.

    Tuy nhiên, hoạt động quản lý nhà nước của địa phương rất đa dạng, phong phú. Nhiều vấn đề đột xuất, khẩn cấp phát sinh trong quản lý đòi hỏi Uỷ ban nhân dân các cấp cần có những quyết sách kịp thời nhằm giải quyết các vấn đó. Khi đó, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề này là đòi hỏi tất yếu của hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu cấp bách của việc giải quyết vấn đề đột xuất, khẩn cấp, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật không thể tuân thủ một cách chặt chẽ thủ tục, trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp thông thường mà Luật năm 2004 quy định. Do đó, để bảo đảm sự linh hoạt, kịp thời trong quản lý nhà nước ở địa phương, Luật còn quy định việc ban hành quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp. Điều 47 Luật năm 2004 quy định:trong trường hợp phải giải quyết các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã ban hành quyết định, chỉ thị không theo trình tự, thủ tục thông thường mà theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 48 Luật năm 2004 (trình tự, thủ tục rút gọn). Cần lưu ý rằng Luật chỉ quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành rút gọn đối với văn bản của Uỷ ban nhân dân mà không quy định đối với soạn thảo, ban hành văn bản của Hội đồng nhân dân.

    Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của v ăn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương

    Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của v ăn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp

    Nếu như các cơ quan nhà nước trung ương được thiết lập ở tầm quốc gia thì các cơ quan chính quyền địa phương lại được tổ chức ở các đơn vị hành chính – lãnh thổ. Thẩm quyền và phạm vi quản lý của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ giới hạn trong khuôn khổ một địa bàn lãnh thổ nhất định. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan này với tính chất là sản phẩm của hoạt động quản lý có hiệu lực trong lãnh thổ địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan tương ứng. Tiêu chí để xác định hiệu lực về không gian của văn bản là phạm vi lãnh thổ mà Hội đồng nhân dân hoặc Uỷ ban nhân dân được giao quản lý. Do đó, “văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi địa phương” (khoản 2 Điều 79 của Luật năm 2004) thì “phạm vi địa phương” ở đây phải được hiểu là đơn vị hành chính lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản.

    Một nguyên tắc cần lưu ý là việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật là điều kiện bắt buộc để văn bản phát sinh hiệu lực. Theo đó, Điều 78 của Luật năm 2008 quy định ” văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành”. Nguyên tắc này bắt buộc đối với ngay cả trường hợp văn bản quy phạm pháp luật phát sinh hiệu lực ngay từ ngày công bố hoặc ký ban hành được ban hành trong trường hợp khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau mười ngày và phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn.

    Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có hiệu lực sau bảy ngày và phải được niêm yết chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn.

    Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã có hiệu lực sau năm ngày và phải được niêm yết chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn.

    Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân quy định các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp quy định tại Điều 47 của Luật này thì có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn”

    – Văn bản hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản. Ví dụ: Quyết định số 2816/QĐ-UB ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc duyệt giá hỏa thiêu bằng lò gas tạm thời thực hiện tại Công ty phục vụ mai táng Hải Phòng quy định: “Thời gian thực hiện tạm thời mức giá duyệt tại Điều 1 được thực hiện 365 ngày kể từ ngày ký Quyết định”.Hoặc một số văn bản quy định: “Văn bản này hết (chấm dứt) hiệu lực sau 3 năm kể từ ngày văn bản có hiệu lực”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Luật Quốc Tế Hiện Nay Là Gì ? Những Nguyên Tắc Cơ Bản Luật Quốc Tế ?
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Phú Yên
  • Phú Yên: Tin Tức Nóng, Hình Ảnh Video Về Tỉnh Phú Yên
  • Hình Thức Của Pháp Luật Phong Kiến Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Một Số Vấn Đề Về Quyền Của Người Phụ Nữ Trong Pháp Luật Phong Kiến Việt Nam
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Những Điều Cần Biết Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì?
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước cố thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, làm khuôn mẫu cho xử sự của các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần cho nhiều chủ thể pháp luật trong một khoảng thời gian và không gian nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước muốn xác lập.

    Văn bản quy phạm pháp luật được chia làm hai loại là văn bản luật và văn bản dưới luật.

    Văn bản luật là văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất. Văn bản luật bao gồm Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước, các luật, các bộ luật và các nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật của Quốc hội. Trong các loại văn bản này thì Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí tối cao. Hiến pháp được ban hành với một thủ tục đặc biệt: phải có từ 2/3 số phiếu thuận trở lên của các đại biểu Quốc hội thì Hiến pháp mới có thể được ban hành. Bất kì văn bản pháp luật nào khác trái với Hiến pháp đều là văn bản vô hiệu và phải được bãi bỏ.

    Các văn bản dưới luật bao gồm:

    1) Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

    2) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

    3) Nghị quyết, nghị định của Chính phủ;

    4) Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

    5) Quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, š Chánh án toà án nhân dân tối cao, viện trưởng : Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    6) Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyển, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị – xã hội;

    7) Nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp;

    8) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Mấy Loại?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì?
  • Các Hình Thức Kỷ Luật Công Chức Theo Quy Định
  • Cán Bộ Là Gì? Giúp Bạn Cập Nhật Nhanh Chóng Về Cán Bộ
  • Cán Bộ Công Chức Là Gì? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Quy Luật Số Lớn Là Gì? Thế Nào Là Quy Luật Số Nhỏ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Trường Hợp Miễn Trách Nhiệm Trong Hợp Đồng
  • Quan Hệ Vật Chất Trong Luật Mô
  • Thứ 4 Tuần 3 Mc Luật Môsê Và Các Ngôn Sứ Còn Nguyên Giá Trị
  • Giáo Lý Thánh Kinh: Bài 25
  • Khám Sức Khỏe Và Tape Measure Thử Nghiệm Tại Nhật Bản
  • Học thuật

    Quy luật số lớn là quy luật kinh tế cho rằng các nhóm lớn thường có hành vi thống nhất hơn là từng cá nhân đơn lẻ.

    Quy luật số lớn là gì?

    Quy luật số lớn (law of large numbers)quy luật kinh tế cho rằng các nhóm lớn thường có hành vi thống nhất hơn là từng cá nhân đơn lẻ. Chẳng hạn, một người tiêu dùng nào đó có thể mua nhiều hàng hơn khi giá tăng nhưng số đông sẽ mua ít hơn.

    Trong xác suất thống kê, Quy luật số lớn chứng minh sự ổn định lâu dài của một biến ngẫu nhiên. Cho ví dụ về các biến ngẫu nhiên độc lập phân bố đều nhau với giá trị kì vọng giới hạn và phương sai, thì giá trị trung bình của các quan sát sẽ dần dần tiến gần đến giá trị kì vọng khi số lần quan sát tăng lên.

    Luật số lớn có thể được minh hoạ dễ dàng qua việc tung một con súc sắc. Trong đó, kết quả của xác suất xuất hiện các mặt có 1, 2, 3, 4, 5 và 6 chấm là như nhau. Giá trị kì vọng của các kết quả là:

    (1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6) / 6 = 3.5

    Các nhà toán học phân biệt 2 phát biểu khác nhau của luật số lớn, là luật số lớn yếu và luật số lớn mạnh.

    Thế nào là quy luật số nhỏ?

    Định nghĩa về quy luật số nhỏnhận định các đặc tính của một quần thể chỉ dựa trên quan sát hoặc ước lượng từ một lượng mẫu nhỏ dữ liệu. Nói cách khác, chúng ta mong muốn một ngẫu nhiên chọn từ quần thể có thể đại diện và có đầy đủ mọi đặc tính cơ bản của quần thể đó.

    Một số hạn chế khi ta sử dụng mẫu nhỏ để ước lượng cả quần thể là:

    – Mẫu nhỏ có kết quả sai lệch so với đặc tính của cả quần thể.

    – Mẫu nhỏ không thể tượng trưng cho đặc tính của cả quần thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì? Học Gì? Cơ Hội Nghề Nghiệp Như Thế Nào?
  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì ? Tìm Hiểu Về Ngành Luật Quốc Tế
  • Giới Thiệu Về Công Ty Luật Tnhh Việt An
  • Đầu Tư Nước Ngoài, Tranh Chấp Kinh Tế, Tư Vấn Hợp Đồng
  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì? Ngành Quản Trị
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100