Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát

--- Bài mới hơn ---

  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Người làm thơ Đường Luật phải biết và chấp nhận bó mình trong niêm luật vần đối của nó. Thơ lục bát chỉ có luật, vần nên thi sĩ không bị niêm, đối “kềm kẹp”. Trong bài viết ngắn này tôi chỉ bàn về luật.

    Đọc xong chắc có người thắc mắc ” Sao tui đọc sách và những bài viết trên mạng thấy luật bằng trắc trong thơ lục bát cũng rườm rà, rắc rối lắm mà sao ông viết lại đơn giản quá vậy? Có ‘ăn bớt’ không đó cha nội?”

    Sau một thời gian dài làm thơ lục bát nhiều thi sĩ đã “vượt rào”, phớt lờ luật tắc. Độc giả mới đầu còn thấy lạ lạ, kỳ kỳ. Đọc riết rồi thấy cũng “ổn” nên bảo nhau ” Không có gì mà ầm ĩ“. Dần dà một vài luật tắc rườm rà đó ” tuân theo cũng được mà phớt lờ cũng không sao “. Đó là quy luật tiến hóa của thi ca.

    Vì thế ở đây tôi chỉ nói đến những điểm luật cốt yếu – ở thời điểm này mà không tuân thủ thì bài thơ sẽ bị chê là “mất tính lục bát”.

    Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát phải là thanh bằng.

    Chữ thứ 4 câu bát phải là thanh trắc.

    Mười chữ còn lại thì tự do – bằng cũng được mà trắc cũng không sao.

    Nếu chữ thứ 6 của câu bát thanh huyền (dấu huyền) (thí dụ 1) thì chữ thứ 8 phải thanh ngang (không dấu) và ngược lại (thí dụ 2).

    Kêu con lên giúp đem về Hà Nam

    Trong thí dụ này tôi “chơi nổi”, chọn 10 chữ còn lại toàn là thanh bằng. Nếu bạn không thích thì tự do thay đổi.

    Để lại một mẫu chú Hương cất nhà

    Ở đây tôi chọn 10 chữ còn lại là thanh trắc. Dĩ nhiên, bạn cũng có toàn quyền thay đổi.

    Luật bằng trắc của lục bát chỉ có thế. Bạn chỉ cần để ý 4 chữ (in đậm) – 3 bằng một trắc – thì thơ lục bát của bạn luật sẽ vững như bàn thạch.

    1/ Trong trang Lục Bát Việt Nam trên Facebook có bài thơ Nước Mắt Ngày Gặp Lại của Thanh Tu có 2 câu:

    Hôm nay mình gặp lại nhau

    Ôm chặt bạn mà nỗi đau nhói lòng

    Với luật thơ lục bát hiện hành thì nó phạm luật (chữ “mà” phải chuyển thành chữ khác có thanh trắc mới đúng). Với con mắt người bình thơ như tôi thì bài thơ thất bại một cách oan uổng; ý tứ có hay tôi cũng ngoảnh mặt làm ngơ. Nhưng biết đâu mấy chục năm nữa cách nhìn nhận luật thơ phóng khoáng hơn, bài Nước Mắt Ngày Gặp Lại (hay những bài phạm lỗi tương tự) sẽ được bình phẩm một cách cởi mở hơn.

    – Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi qua email ngày 14.08.2020.

    – Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

    – Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thể Thơ Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Các Thể Thơ Lục Bát
  • Bài 13. Làm Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát Ngắn Nhất
  • Nhân có anh Bạn nêu ý kiến: Thơ Lục Bát không hề có gieo vần Trắc. Đó chỉ là Lục Bát biến thể mà thôi.

    Để trả lời ý kiến trên, cũng như tìm hiểu rõ hơn về thơ Lục Bát, tôi xin bổ sung thêm cho bài viết về Luật thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát của mình trước đây :

    Thơ Lục Bát Vần Trắc không phải là Lục Bát Biến Thể, mà là Thơ Lục Bát Chính Thể.

    Các nhà Nghiên Cứu đã xác nhận thơ Lục Bát có gieo Vần Trắc. Điển hình là Giáo Sư Dương Quảng Hàm, khi dẫn chứng Thơ Lục Bát Chính Thể, Ông đã lấy một bài Ca Dao gieo Vần Trắc để thí dụ (trang 12 quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu).

    Trước hết, chúng ta phải xác định Thơ Lục Bát là thể thơ gì? Nói cách khác là Định Nghĩa Thơ Lục Bát.

    Thể thơ Lục Bát là một dạng Thơ trong Ca dao. Số câu trong bài thơ chỉ có câu 6 chữ và câu 8 chữ nối tiếp nhau. Được gieo vần Bằng hoặc Trắc. Cách gieo Vần của thơ Lục Bát cũng khác hẳn các loại thơ khác, sử dụng cách gieo vần Cuối Câu và Giữa Câu. Các Vần được gieo vào vị trí các chữ thứ 4; thứ 6 và thứ 8 trong câu.( điều này thể hiện rất rõ trong Quyển “Việt Nam Văn Học Sử Yếu” của Dương Quảng Hàm nơi trang: 12-14).

    – Gieo vần ở chữ thứ 4 trong câu:

    …Thùng thùng trống đánh ngũ liên,

    Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…

    …Ước gì anh lấy được nàng

    Thì anh mua gạch bát tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Là thơ Lục Bát không còn thuần tuý là các câu 6 ; 8, mà có thêm nhiều từ vào thành những câu có số chữ là 7; 9 hoặc nhiều hơn nữa.

    …Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu

    Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia.

    Bắc thang lên thử hỏi trăng già

    Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời…

    …Thành Hà-nội năm cửa chàng ơi

    Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.

    Nước sông Thương bên đục bên trong

    Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh…

    3- Thể Thơ Song Thất Lục Bát:

    Đây là dạng biến thể từ thơ Lục Bát Vần Trắc.

    Dạng này cũng thường nên không nêu thí dụ.

    – Song Thất Lục Bát Biến Thể

    Không còn giữ nguyên 2 câu 7, một câu 6 và một câu 8

    …Sao trời trên sao Hôm sao Mai hai cái

    Nhái ngoài ruộng nhái đực nhái cái hai con…

    Thơ Lục Bát do giới Bình Dân sáng tạo, chính vì thế nên thể thơ này rất đa dạng và phong phú.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lục Bát Biến Thể Và Hiệu Quả Nghệ Thuật
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc
  • Sức Sống Của Thể Thơ Lục Bát Trong Thơ Ca Việt Nam Hiện Đại
  • Trong chúng ta, đôi lúc có máu thơ thẩn, thích làm thơ để trải lòng, nhưng lại không dám thực hiện. Vì sao?

    Chúng tôi xin phép được suy bụng ta ra bụng người, để trả lời. Chúng ta ngần ngại vì bởi không biết rõ luật thơ, luôn e sợ lỡ sai luật.

    Chính vì lý do đó, ngoài sự hiểu biết, đến việc cố công sưu tầm và tổng hợp một số bài viết từ Internet

    Với chủ ý cùng nhau trao đổi, chúng tôi đã chọn lọc một số bài của Thân Hữu. Những Cây Viết Nghiệp Dư này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thi phẩm để mang ra thí dụ, hầu dẫn chứng về Luật của các Thể Thơ.

    Với khả năng hạn chế, kính mong quý độc giả góp ý và bổ sung để chúng ta có được một bài viết đầy đủ hơn.

    Thơ Lục Bát là một thể thơ thuần túy của Việt Nam, rất êm dịu, nhẹ nhàng, giống như bản chất hiền hòa của dân tộc ta. Xuất xứ từ Ca Dao.

    Phạm Quỳnh cho rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn .”

    Câu này mang hàm ý: “Thơ Lục Bát còn dân tộc Việt còn, thơ Lục Bát mất dân tộc Việt mất”. Bởi vì, Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được viết bằng Chữ Nôm theo thể thơ Lục Bát (nguyên tác là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân).

    Chính vì thế, là con cháu, chúng ta cần nên gìn giữ tinh hoa văn hóa của ông cha lưu truyền, nhất là hạn chế việc làm biến dạng hình thức của thể Thơ Lục Bát. Đó một thể thơ đại diện cho tinh hoa dân Việt chúng ta.

    1 – Luật Bằng Trắc

    – câu 6 chữ : b B t T b B

    – câu 8 chữ : b B t T b B t B

    Những chữ có dấu huyền hay không dấu là vần Bằng.

    Thí dụ: đi, về

    Những chữ có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng là vần Trắc

    Thí dụ: bát, trả, chữ, nợ .

    Những chữ in lớn (B, T) là bắt buộc phải theo luật được qui định

    Trong thơ Luc Bát thông thường chỉ sử dụng vần Bằng.

    – Bắt đầu từ chữ cuối của câu 6 chữ, gieo vần với chữ thứ 6 của câu 8 chữ. Cách gieo vần này gọi là Vần Lưng (yêu vận), nghĩa là gieo vần ở giữa câu.

    – Tiếp đến, chữ cuối của câu 8 chữ, gieo vần với chữ cuối câu 6 chữ tiếp theo. Gọi là Vần Chân(Cước vận).

    Cứ thế tiếp tục mãi và số câu trong bài thơ không giới hạn.

    Muôn cành lá rụng đê nỗi buồn

    Đọng sương lóng lánh như mơ chuyện tình

    Gọi nhau hẹn ước cưới xin

    Hồng thơm hương tỏa lung linh nguyệt cầm…

    b – Cách gieo vần 2:

    Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ

    Thí dụ:

    Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo

    3 – Trường hợp ngoại lệ

    Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên.

    a – Thí dụ:

    Nghìn dậm nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)

    Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang

    Giờ thấm thoát xuân đã tàn

    Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi

    Nên ta còn đứng đợi người về đây

    b – Hoặc là sử dụng vần TRẮC

    Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đằng nào

    Thương nhớ chàng không mộtgiấc nào nguôi

    Sét đánh bên mình duyên nợ không buông

    B – Thơ Song Thất Lục Bát

    Thơ Song Thất Lục Bát cũng là thể thơ của Việt Nam, gồm hai câu Bẩy chữ, kế đến một câu Sáu và một câu Tám chữ. Cứ như thế tiếp tục, không giới hạn số câu.

    Luật Bằng Trắc và cách gieo vần:

    ” b , t “: không bắt buộc

    Trong thơ Song thất Lục Bát, chữ cuối của câu Thất trên gieo vần với chữ thứ 5 của câu Thất thứ hai.Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát. Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.

    Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

    Câu Thất 1 : b bT t B b T

    Câu Thất 2 : t t B b T t B

    Câu Bát : b B t T b B t B

    Đoạn hai : b b T t B b T (giống 4 câu trên )

    Ai tình nhân biền biệt phương nao

    Trên sông vắng trăng theo sóng nước

    Thuyền có về chở được hay không

    Chớ gieo hy vọng chờ mong

    Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ:

    Khúc Hát Sai Mùa

    Thả tâm hồn vô thinh lá đổ (Chữ thứ ba vần Bằng)

    Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi…

    Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi…

    Cửa thiền mở rộng luân hồi… nhân sinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát
  • Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật
  • Cách Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Hướng Dẫn Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát Hay Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Thừa Kế Johnny Hallyday: Luật Mỹ Hay Luật Pháp Sẽ Thắng Thế ?
  • “thuế Tử Thần” Và Cái Chết Đắt Đỏ Của Các Tỷ Phú Mỹ
  • Người Nước Ngoài Có Được Nhận Thừa Kế Đất Đai Tại Việt Nam?
  • Luật Thương Mại 2005 Số 36/2005/qh11 Năm 2022
  • Luật Thương Mại 2022, Luật Thương Mại
  • Trong chúng ta, đôi lúc có máu thơ thẩn, thích làm thơ để trải lòng, nhưng lại không dám thực hiện. Vì sao?Internet của Thân Hữu. Những Cây Viết Nghiệp Dư này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thi phẩm để mang ra thí dụ, hầu dẫn chứng về Luật của các Thể Thơ.

    Chúng tôi xin phép được suy bụng ta ra bụng người, để trả lời. Chúng ta ngần ngại vì bởi không biết rõ luật thơ, luôn e sợ lỡ sai luật.

    Với chủ ý cùng nhau trao đổi, chúng tôi đã chọn lọc một số bài

    Với khả năng hạn chế, kính mong quý độc giả góp ý và bổ sung để chúng ta có được một bài viết đầy đủ hơn.

    Chính vì lý do đó, ngoài sự hiểu biết, đến việc cố công sưu tầm và tổng hợp một số bài viết từ

    Hoa hồng gợi chút ý thơ

    Đọng sương lóng lánh như mơ chuyện tình

    Gọi nhau hẹn ước cưới xin

    Hồng thơm hương tỏa lung linh nguyệt cầm…

    Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ

    Thí dụ :

    Anh đi ghe rổi chín chèo

    Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo

    Nợ treo kệ mặc nợ treo

    Em bán bánh trả nợ nuôi anh

    Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên. (

    a – Thí dụ :Quên Đi)

    Trách

    Nghìn dậm nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)

    Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang

    Giờ thấm thoát xuân đã tàn

    Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi

    Đâu tăm cá đâu chim trời

    Nên ta còn đứng đợi người về đây

    Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát. Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.t B Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ :

    Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

    b B t T b B

    b B t T b B

    Khúc Hát Sai Mùa

    Thả tâm hồn vô thinh lá đổ ( Chữ thứ ba vần Bằng)

    Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi…

    Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi…

    Cửa thiền mở rộng luân hồi… nhân sinh

    Câu Thất 1 : b bT t B b T

    Câu Thất 2 : t t B b T t B

    Câu Lục : b B t T b B

    Câu Bát : b B t T b B t B

    Đoạn hai : b b T t B b T (giống 4 câu trên )

    t t B b T

    ( Kim Oanh )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát.
  • Luật Trời Tập 35 (Tập Cuối), Thvl1 Việt Nam (2020)
  • Giới Thiệu Về Công Ty Usis
  • Chính Quyền Tổng Thống Donald Trump Và Những Ảnh Hưởng Lên Chương Trình Eb
  • Luật Sư José E. Latour
  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát.

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát
  • Quyền Thừa Kế Johnny Hallyday: Luật Mỹ Hay Luật Pháp Sẽ Thắng Thế ?
  • “thuế Tử Thần” Và Cái Chết Đắt Đỏ Của Các Tỷ Phú Mỹ
  • Người Nước Ngoài Có Được Nhận Thừa Kế Đất Đai Tại Việt Nam?
  • Luật Thương Mại 2005 Số 36/2005/qh11 Năm 2022
  • LUẬT THƠ LỤC BÁT

    Thơ Lục Bát ( thể thơ dân tộc truyền thống )

    a/- Lượng thơ :

    Dòng trên : sáu tiếng ( lục )

    Dòng dưới : tám tiếng ( bát )

    b/- Nhịp thơ :

    Nhịp chẵn là cơ sở theo kiểu :

    2/2/2

    2/2/2/2

    Ví dụ : Trăm năm / trong cõi / người ta

    Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau

    Từ đó xuất hiện : Nhịp 2/4

    4/4

    Ví dụ : Con thuyền / rời bến sang Hiên

    Xuôi dòng sông cái / ngược triền sông Bung

    Rồi nhịp : 4/2

    2/6

    Ví dụ : Nắng chia nữa bãi / chiều rồi

    Vườn hoang / trinh nữ xếp đôi lá rầu

    Cũng có thể xuất hiện những nhịp lẻ : 3/3

    4/4

    Ví dụ : Người quốc sắc / kẻ thiên tài

    Tình trong như đã / mặt ngoài còn e

    Thậm chí đôi khi còn bắt gặp : 2/2/2

    3/3/2

    Ví dụ : Một mình / âm ỉ / đêm chày

    Đĩa dầu vơi / nước mắt đầy / năm canh

    Hoặc nhịp : 3/3

    3/3/2

    Ví dụ : Bắt phong trần / phải phong trần

    Cho thanh cao / mới được phần / thanh cao

    Hoặc nhịp : 1/3/2

    2/6

    Ví dụ : Thác / bao nhiêu thác / cũng qua

    Thênh thênh / là chiếc thuyền ta trên đời

    c/- Âm điệu : ( luật bằng trắc và cao thấp )

    Tiếng thứ hai, tư, sáu, tám của hai dòng lục và bát phải theo luật : Tiếng thứ hai bằng, tiếng thứ tư trắc, tiếng thứ sáu bằng, tiếng thứ tám bằng. Còn các tiếng ở vị trí số lẻ thì tự do

    Lưu ý : trong trường trường hợp dòng lục được chia thành hai đoạn cân xứng thì tiếng thứ hai có thể linh hoạt về mặt bằng – trắc

    Ví dụ : Mai cốt cách / tuyết tinh thần

    Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười

    Bên cạnh luật phối hợp bằng – trắc ( tức là về mặt đường nét của thanh điệu ) còn có luật phối hợp cao – thấp ( tức là về mặt âm vực của thanh điệu ). Trong dòng bát tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám đều mang thanh bằng nhưng phải khác nhau về âm vực ( nghĩa là nếu tiếng trước là bằng cao – không dấu – tiếng sau phải là bằng thấp – dấu huyền – hoặc ngược lại )

    Ví dụ : Trăm năm trong cõi người ta

    Trải qua một cuộc bể dâu

    d/- Vần thơ :

    Nếu bài thơ chỉ có một cặp lục bát thì bài thơ ấy mang một lần hiệp vần theo hình thức vần lưng ( yêu vận ) ở dòng lục bát.

    Thí dụ : Thuyền ơi có nhớ bến chăng ?

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền !

    Ở đây, tiếng cuối cùng của câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát.

    Nếu bài thơ gồm nhiều cặp lục bát liên kết, thì tiếng cuối của câu bát lại hiệp vần với tiếng cuối của câu lục dòng kế tiếp và như vậy có thêm vần chân ( cước vận ). ở cả hai dòng lục và bát.

    Thí dụ : Nắng chia nữa bãi chiều rồi

    Sợi buồn con nhện giang mau

    Em ơi ! hãy ngủ… anh hầu quạt đây ! …

    Cần lưu ý rằng trong câu lục bát, thường xuyên bắt gặp vần bằng. Hiện tượng gieo vần trắc theo kiểu sau đây chỉ là hãn hữu :

    Tò vò mà nuôi con nhện

    Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

    e/- Bố cục :

    Sự kết hợp trên dưới theo từng cặp tạo nên một chỉnh thể ở những vần thơ lục bát hai dòng. Trong những bài thơ trên hai dòng, sự kết hợp đó, về mặt hình thức, vẫn mang tính độc lập tương đối gần như của một khổ thơ.

    Vần thơ thực hiện đúng những quy định nói trên được gọi là lục bát chính thể

    Nếu về căn bản tuân theo những quy định của lục bát, song đôi lúc lại thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần, về luật bằng trắc… thì ta gọi là lục bát biến thể.

    Ví dụ : Trên trời mây trắng như bông

    Ở dưới cánh đồng, bông trắng như mây

    Hoặc : Yêu nhau tam tứ núi, cũng trèo

    Thất bát sông cũng lội, tam thập lục đèo cũng qua.

    LUẬT SONG THẤT LỤC BÁT

    Thể thơ song thất lục bát là thể thơ dân tộc truyền thống

    a/- Lượng thơ :

    Dòng 1 : bảy tiếng

    Dòng 2 : bảy tiếng

    Dòng 3 : sáu tiếng

    Dòng 4: Tám tiếng

    Ví dụ : Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

    Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên,

    Xanh kia thăm thẳm từng trên

    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

    b/- Nhịp thơ :

    Hai dòng bảy tiếng ngắt theo nhịp 3/4 theo thất ngôn đường luật.

    Hai dòng lục bát ngắt nhịp linh hoạt theo thơ lục bát

    Ví dụ : Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi

    Khách má hồng / nhiều nổi truân chuyên,

    Xanh kia / thăm thẳm từng trên

    Vì ai gây dựng / cho nên nỗi này ?

    c/- Âm điệu ( luật bằng trắc và cao thấp):

    Hai dòng lục bát trong song thất lục bát theo những quy định của thơ lục bát.

    Vì vậy, chỉ trình bày âm điệu trong hai dòng bảy tiếng.

    – Ở dòng thất bên trên, tiếng thứ năm phải là bằng và tiếng thứ bảy phải là trắc.

    – Ở dòng bên dưới sẽ ngược lại.

    Có hay chàng ở đâu đây

    Thiếp xin chắp cánh mà bay theo chàng !

    d/- Vần thơ :

    – Tiếng cuối của dòng thất trên hiệp vần với tiếng thứ năm dòng dưới. Hai tiếng hiệp vần đều mang thanh trắc. Tiếng thứ bảy mang thanh bằng của dòng thất dưới hiệp vần với tiếng cuối cũng mang thanh bằng của dòng lục tiếp theo. Sau đó là cách hiệp vần theo quy định của lục bát.

    – Nếu bài thơ được liên kết bằng nhiều khổ song thất lcuj bát, thì tiếng cuối mang thanh bằng của dòng bát thuộc khổ trước lại hiệp vần với tiếng thứ năm cũng mang thanh bằng trên dòng thất thứ nhất của khổ thơ sau.

    Như vậy, mỗi khổ thơ hay một bài thơ bốn dòng song thất lục bát có một vần lưng trắc, một vần chân bằng và một vần lưng bằng

    Sự kết hợp song thất – lục bát theo thứ tự đang trình bày tạo nên một chỉnh thể ở những vần thơ song thất lục bát bốn dòng. Trong những bài thơ từ tám dòng trở lên, sự kết hợp đó về mặt hình thức vẫn mang tính độc lập tương đối của những khổ thơ.

    Cần lưu ý có trường hợp sự kết hợp trên có thay đổi về trình tự theo kiểu :

    lục bát + song thất + lục bát.

    Trong trường hợp này có lục bát gián nhất.

    Cuối cùng, giống như lục bát, song thất lục bát cũng tồn tại dưới hai hình thức : chính thể và biến thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Trời Tập 35 (Tập Cuối), Thvl1 Việt Nam (2020)
  • Giới Thiệu Về Công Ty Usis
  • Chính Quyền Tổng Thống Donald Trump Và Những Ảnh Hưởng Lên Chương Trình Eb
  • Luật Sư José E. Latour
  • Nữ Sinh Viên Đối Diện Trục Xuất Sau 7 Năm Bị Bắt Do Lái Xe Không Bằng Lái
  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

    Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

    Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

    Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

    Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

    – Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

    – Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

    – Hài thanh:

    + Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

    Ví dụ:

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

    + Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

    Ví dụ:

    (Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

    Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

    Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

    Cách gieo vần thơ lục bát

    Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

    + Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

    Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

    “Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    + Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

    Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

    Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

    “Nhện – quện” là vần trắc.

    + Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    “Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

    + Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

    Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

    Lễ là tảo mộ, hội đạp thanh”

    “Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

    Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

    + Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

    + Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

    + Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

    + Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

    + Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

    Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

    – Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

    – Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

    – Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

    – Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

    Các thể ngũ ngôn đường luật

    – Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

    – Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

    – Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

    – Vần: 1 vần, gieo vần cách

    – Nhịp lẻ: 2/3

    – Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

    Các thể thất ngôn đường luật

    Gồm:

    Thất ngôn tứ tuyệt

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

    – Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

    – Nhịp: 4/3

    Thất ngôn bát cú

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

    – Vần: vần chân, độc vận

    – Nhịp: 4/3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Vùng Trời Cho Hoạt Động Hàng Không Chung
  • Các Vùng Trời: Vùng Trời Quốc Gia, Không Phận Quốc Tế, Vùng Thông Báo Bay (Fir) Và Vùng Nhận Dạng Phòng Không (Adiz)
  • ‘luật Trời’: Ngọc Lan Sợ Bị Ông Chủ Đuổi Khỏi Nhà Vì Âm Mưu Chiếm Đoạt Gia Sản
  • Cách Làm Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Cách làm thơi lục bát là một trong những vấn đề khiến nhiều bạn học sinh phải đau đầu. Thơ lục bát là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng và một câu 8 tiếng và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác. chúng tôi Hướng dẫn cách làm thơ lục bát, cách gieo vần và luật thanh của thể thơ.

    Cách làm thơ lục bát, tìm hiểu về cách gieo vần

    Luật thanh

    Trong các số đó các tiếng thứ một, ba và năm có thể là những tiếng chính còn tiếng thứ hai, bốn, sáu phải làm theo quy tắc. Quy luật:

    Tại câu lục: ta gieo theo trình tự những tiếng hai – bốn – sáu là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng

    Tại câu bát: ta gieo theo trình tự các tiếng hai – bốn – sáu – tám là Bằng -Trắc -Bằng -Bằng (BTBB).

    Tháng ba nhớ người quân nhân Bằng – Trắc – Bằng

    Ruột đau như cắt, thương thân chiều buồn Bằng -Trắc -Bằng -Bằng

    Quy tắc về gieo vần

    Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

    Trăm năm trong cõi người ta

    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

    Trải qua một cuộc bể dâu

    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

    Trong thể thơ biến thể vẫn gieo vần như thế, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục bên trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

    Hướng dẫn ngắt nhịp

    Thơ phổ biến được ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng thỉnh thoảng để nhấn mạnh nên người đọc đổi thành nhịp lẻ là 3/3.

    Mẹo đơn giản để làm thơ lục bát

    Bước 1 – Phương pháp Gieo Vần – Chữ: Mẹo Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, & bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu).

    Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận.

    Bước 2 – Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách sử dụng mẫu tự & viết tắt giống như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

    Câu 6: B B T T B B

    Câu 8: B B T T B B T B

    Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

    Bước 3 – Thanh: Thanh bao gồm Trầm Bình Thanh & Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là các tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng… Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau…

    Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ắng và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, & trái lại.

    Ví dụ:

    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

    (Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh).

    Các điều trông thấy mà cực khổ lòng.

    (Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

    Bước 4 – Phá Luật: Phá Luật – nhiều lúc bọn họ gặp người sử dụng thơ like phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như tầm thường lệ. Câu 6 cũng rất được ngắt ra sử dụng hai vế.

    Nguồn: Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát
  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Vùng Trời Cho Hoạt Động Hàng Không Chung
  • Các Vùng Trời: Vùng Trời Quốc Gia, Không Phận Quốc Tế, Vùng Thông Báo Bay (Fir) Và Vùng Nhận Dạng Phòng Không (Adiz)
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Lục Bát Biến Thể Và Hiệu Quả Nghệ Thuật
  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Câu 1 (trang 130-131 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1): Cho mô hình luật của hai câu thơ lục bát như trong phần Ghi nhớ ở trang 156 SGK. Dựa vào mô hình (trang 131 VBT) và toàn bộ phần Ghi nhớ, nêu lại đầy đủ luật thơ lục bát về các điểm sau:

    a, Số chữ trong câu

    b, Luật bằng trắc

    c, Luật gieo vần (Nếu có bốn câu thơ lục bát thì quan hệ về vần giữa hai câu thơ trên và hai câu thơ dưới như thế nào?)

    d, Quan hệ về thanh giữa tiếng thứ hai và tiếng thư tư

    e, Quan hệ về thanh giữa tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám trong câu 8.

    Trả lời:

    a, Lục nghĩa là “sáu”, bát nghĩa là “tám”, bởi vậy câu lục sẽ có sáu chữ, câu bát sẽ có tám chữ.

    b, – Các tiếng ở vị trí 1, 3, 5, 7 (vị trí lẻ): gieo thanh ngang (không dấu).

    – Tiếng thứ tư ở câu 6 cũng như ở câu 8 có thanh trắc, còn các tiếng ở 2, 6, 8 đều có thanh bằng.

    c, Vần gieo ở vị trí 6 của câu 6, ở vị trí 6 và 8 của câu 8. Nếu có bốn câu thơ lục bát thì tiếng cuối của câu 8 hiệp vần với tiếng cuối của câu 6 tiếp theo.

    d, Tiếng thứ tư thường có thanh trắc song trường hợp ngoại lệ nếu tiếng thứ 2 có thanh trắc thì tiếng thứ 4 sẽ mang thanh bằng.

    e, Trong câu 8. Nếu tiếng thứ sáu có thanh ngang (không dấu) thì tiếng thứ 8 có thanh bằng (thanh huyền) và ngược lại.

    Câu 2 (trang 132 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):Công thức thơ lục bát như trên là thông lệ (còn gọi là thường lệ, chính lệ). Không ít trường hợp, đặc biệt trong ca dao, còn có biến thể hoặc ngoại lệ. Hãy chỉ ra những chỗ không đúng công thức trong những câu ca dao và những câu thơ sau bằng cách gạch chân các chữ đó.

    Trả lời:

    – Ơn cha nặng lắm ai ơi,

    Nghĩa mẹ bằng trời, chin tháng cưu mang.

    – Sông nào bên đục, bên trong,

    Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?

    – Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.

    – Đường vô xứ Huế quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    Ai vô xứ Huế thì vô…

    – Người quốc sắc, kẻ thiên tài…

    (Truyện Kiều)

    – Mai cốt cách, tuyết tinh thần…

    (Truyện Kiều)

    – Nền phú hậu, bậc tài danh…

    (Truyện Kiều)

    Đến khi lớn quện nhau đi.

    Câu 3 (Bài luyện tập 2 trang 157 SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 – trang 133 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):

    Trả lời:

    a, Vườn em cây quý đủ loài,

    Có cam, có quýt, có xoài, có na.

    b, Thiếu nhi là tuổi học hành

    Chúng em phấn đấu trưởng thành đi lên.

    Câu 4 (trang 133 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1): Dựa vào bản dịch nghĩa của một trong các bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã học để dịch thành một bài thơ lục bát.

    Trả lời:

    Dịch thành thể lục bát bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra

    Thôn sau thôn trước khói mờ

    Bóng chiều cảnh vật dường tỏ dường không

    Mục đồng thổi sáo dẫn trâu

    Từng đôi cò trắng từ đâu bay về.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát
  • Cách Làm Thơ Lục Bát
  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát
  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Cách Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật
  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát
  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác. Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

    Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

    Câu lục: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng

    Câu bát: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

    Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều B-T-B-B

    Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.

    Ví dụ:

    Có sáo thì sáo nước trong T-T-B

    Đừng sáo nước đục đau lòng cò con T-T-B-B

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-B

    Thơ lục bát cí cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thiw lụch bát tính linh hoạt về vần.

    Cách gieo vần: Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát kế nó. Và tiếng thứ tám câu bát đó lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp. Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

    Trong thể thơ lục bát biến thể vẫn gieo vần như vậy, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

    Ví dụ:

    Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

    Tiểu đối trong thơ lục bát:

    Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) cảu câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

    Đau đớn thay phận đàn bà

    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

    Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát:

    Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3. Nhịp thơ giúp người đọc và người nghe cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn.

    II. CÁCH LÀM THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

    Thơ song thất lục bát là thơ gồm có 4 câu đi liền với nhau, trong đó là hai câu 7 tiếng (câu thất 1 và câu thất 2), kế tiếp là câu lục và câu bát.

    Về luật vần ở câu lục và bát thì hoàn toàn là giống thơ lục bát, không đề cập đến. Tôi chỉ đề cập đến hai câu thất. Luât thanh không phải ở các từ 2-4-6 như các thể thơ khác mà lại chú ý vào các tiếng 3-5-7.

    Câu thất 1: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là T-B-T

    Câu thất 2: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là B-T-B

    Các tiếng 1-2-4-6 tự do về thanh.

    Ví dụ:

    Lòng này gửi gió đông có tiện T-B-T

    Nghìn vàng xin gửi đến non yên B-T-B

    Về cách gieo vần cũng khác các thể thơ khác. Các thể thơ khác chỉ gieo vần ở thanh bằng, nhưng thơ song thất lục bát gieo vần ở cả tiếng thanh trắc và thanh bằng.

    Tiếng thứ 7 của câu thất 1 thanh trắc vần với tiếng thứ 5 thanh trắc của câu thất 2. Tiếng thứ 7 của câu thất 2 thanh bằng vần với tiếng thứ 6 câu lục kế.

    Ví dụ:

    Lòng này gửi gió đông có tiện

    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

    Non Yên dù chẳng tới miền

    Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời.

    Trong bài thơ có nhiều câu thơ song thất lục bát thì để nối hai nhóm câu lại về vần thì ta lấy tiếng thứ 8 thanh bằng của câu bát vần với tiếng thứ 5 thanh bằng của câu thất 1 kế tiếp.

    Ví dụ:

    Cách ngắt nhịp trong 2 câu thất của thơ này là nhịp lẻ, tức là nhịp 3/4 hay là 2/1/4.

    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 21:37 03/06/2017

    Số lượt xem: 357

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát Hay Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát (Chi Tiết)
  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Gọi là thơ Lục bát vì trong bài thơ có 2 cặp câu: trên 6, dưới 8 đi liền với nhau

    Có thể nói Lục bát là thể thơ phổ biến nhất trong dân gian được thể hiện dưới các dạng Thơ, ca dao, tục ngữ, hò vè, hát ru, hát sẩm, chầu văn, cò lả…và cả trong các điệu chèo như: sa lệnh, đường trường sa mạc, trống quân. Cả trong hát ví, sẩm xoan, xẩm chợ, bài chòi… Có tới trên một trăm điệu hát khác nhau, thường hay có nhiều từ đệm xen vào, nhưng cốt lõi vẫn là LỤC BÁT.

    Rất nhiều các nhà thơ có những áng thơ lục bát để đời. Trong đó áng văn chương bất hủ của dân tộc ta là TRUYỆN KIỀU của thi hào Nguyễn Du.

    Nói về LỤC BÁT trong bài tựa sách ‘Quốc âm từ điệu'( thế kỷ XI ) đã viết: ‘Ở thể thất ngôn thì có hình đối lập với nhau, ở lục bát thì có vẻ quanh co, lưu chuyển, đó là chỗ khác nhau vậy….’

    Nhịp điệu trong thơ – đó là tính âm nhạc trong thơ. Một bài thơ hay một câu thơ đi vào lòng người ngoài nội dung truyền tải phải là một khúc ca. LỤC BÁT có đầy đủ thuộc tính đó. Bởi VẦN và NHỊP ĐIỆU của lục bát rất uyển chuyển, dễ thuộc :

    Những từ cùng âm điệu tạo nhịp cầu nối liền về âm luật cho người đọc dễ nhớ, dễ thuộc.

    Thơ Lục bát vần rất đơn giản.Có 2 loại vần:

    – Vần cước : (vần chân : vc) ở cuối câu lục và cuối câu bát.

    – Vần yêu : (vần lưng : vl) ở giữa câu bát (từ thứ 6 hoặc cá biệt ở từ thứ 4).

    Trong lục bát vần lưng và vần chân liên tiếp móc nối với nhau.

    Đây chỉ là những nguyên tắc chung, trong lục bát còn nhiều ngoại lệ và biến thể, nhưng ta không bàn đến.

    Thơ LỤC BÁT có những niêm luật riêng

    Những từ thuộc thanh bằng:

    – Thanh bằng cao (thanh ngang : những từ không dấu )

    – Thanh bằng thấp(thanh huyền: những từ có dấu huyền)

    Những từ có các dấu: sắc,nặng hỏi ngã đều thuộc 4 thanh trắc:

    Niêm luật bằng trắc trong thơ lục bát:

    Luật bằng – trắc cho cả câu lục và câu bát:

    Từ : 1 (2) 3 (4) 5 (6) 7 (8)

    Thanh: Tựdo bằng tựdo trắc tựdo bằng tựdo bằng

    Trăm năm trong cõi người ta (vần)

    Chữ tài chữ mênh khéo là(vl) ghét nhau (vc)

    Trải qua một cuộc bể dâu(vc)

    Những điều trông thấy mà đau(vl) đớn lòng(vc)

    – Từ thứ 2 của câu lục và câu bát phải là thanh bằng

    – Từ thứ 4 của câu lục và câu bát phải là thanh trắc

    – Các từ số 2,4,6 và 8 phải dứt khoát theo đúng luật bằng trắc

    – Các từ số 2 và sô 4 của câu lục NÊM với từ số 2 và số 4 của câu bát

    – Nếu từ số 2 của câu lục thanh trắc, thường ở dạng tiểu đối, tức là mỗi vế 3 từ đối nhau và theo luật:

    Từ : 1 (2) (3) 4 5 (6)

    Thanh : tựdo trắc trắc tựdo tựdo bằng(vc)

    Khi chén rượu, lúc cuộc cờ

    Nước vỏ lựu, máu mao gà

    Người quốc sắc, kê thiên tài

    Khi tựa gối, khi cúi đầu….

    – Nếu từ số 2 của câu bát là thanh trắc thì

    Từ 1 (2) 3 (4) 5 (6) 7 (8)

    Thanh Tựdo trắc tựdo bằng tựdo trắc tựdo bằng

    Trong thơ lục bát, việc ngắt nhịp không cố định. Có khi là nhịp 2, nhịp 3, nhịp 4 hoặc nhịp 5, xen kẽ nhau tuỳ giai điệu:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật
  • Cách Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Hướng Dẫn Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát Hay Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100