Thu Hồi, Hủy Bỏ Quyết Định Số 267 Ngày 22 1 2022 Đúng Quy Định

--- Bài mới hơn ---

  • Công Khai Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Thủ Tục Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính Đã Được Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Trong Trường Hợp Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Giải Quyết Khiếu Nại Lần Hai).
  • Quận Bình Thạnh (Tphcm): Chậm Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Đến 318 Ngày
  • Huyện Đan Phượng Thừa Nhận Sai Sót Khi Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại
  • Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính
  • Ông Nguyễn Văn Phụng, người đại diện pháp luật Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Khu công nghiệp và Đô thị Long An (Lainco) khiếu nại Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 12/6/2019 của UBND tỉnh về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt số tiền đền bù, giải phóng mặt bằng (GPMB) được trừ vào tiền thuê đất phải nộp đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn do công ty làm chủ đầu tư.

    Thực hiện quy định tại Điều 35 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc giao trách nhiệm đền bù thiệt hại GPMB cho doanh nghiệp; Công văn số 15130/BTC-TCT ngày 30/11/2006 và Công văn số 10977/BTC-QLGCS ngày 17/9/2008 của Bộ Tài chính về việc khấu trừ tiền bồi thường đất vào tiền thuê đất thì tổ chức thuê đất đã chi trả tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ không được khấu trừ số tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất đã chi trả vào tiền thuê đất phải nộp. Do đó, Sở Tài chính không tính khấu trừ chi phí bồi thường về đất, hỗ trợ về đất theo phương án đã được UBND thị xã Tân An (nay là TP Tân An) phê duyệt tại Quyết định số 2454/QĐ.UB ngày 24/11/2004 vào tiền thuê đất phải nộp.

    Ngày 2/6/2016, Sở Tài chính có công văn kiến nghị xử lý các khoản chi phí được trừ vào tiền thuê đất phải nộp của Công ty Lainco, tham mưu trình UBND tỉnh ký ban hành Công văn số 2033/UBND-KT ngày 7/6/2016 gửi xin ý kiến Bộ Tài chính.

    Ngày 5/10/2016, Bộ Tài chính có công văn phúc đáp: Việc xác định số tiền bồi thường đất, hỗ trợ về đất theo phương án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật trước ngày Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành… được thực hiện theo quy định tại Điểm 6, Khoản 9 và Khoản 10, Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP hướng dẫn của Bộ Tài chính. Lý do: Ngày 9/9/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2016.

    Ngày 26/12/2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 333/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/2/2017).

    Căn cứ quy định tại Điểm 6, Khoản 9, Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP và Điều 9 Thông tư số 333/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính; Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND TP Tân An căn cứ vào phương án đền bù, GPMB đã được phê duyệt tại Quyết định số 2454/QĐ.UB ngày 24/11/2004 để xác định số tiền đền bù, GPMB (không bao gồm tài sản gắn liền với đất) được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, trình UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 với số tiền 37.370.943.000 đồng.

    Ngày 22/11/2018, Tổng cục Thuế có Công văn số 4620/TCT-CS phúc đáp về chính sách tiền thuê đất với Cục Thuế tỉnh Long An, cụ thể: Trường hợp Công ty Lainco đã hạch toán số tiền đền bù, GPMB đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nêu trên vào chi phí sản xuất kinh doanh để tính giá thành sản phẩm, thì không được khấu trừ số tiền đền bù, GPMB này vào tiền thuê đất phải nộp.

    Cục Thuế tỉnh có các công văn khẳng định: Công ty Lainco đã hạch toán toàn bộ số tiền đền bù, GPMB (37.370.943.000 đồng) theo quy định tại Nghị định số 22/1998/ NĐ-CP ngày 24/4/1998 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 vào chi phí sản xuất kinh doanh để kết chuyển vào giá thành sản phẩm (kèm theo biên bản kiểm tra thuế ngày 6/9/2018 và biên bản thanh tra thuế ngày 22/8/2017 đã thống nhất phân bổ doanh thu, chi phí tương ứng theo số năm cho thuê đất còn lại đối với Công ty Lainco).

    Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 2247/UBND-KTTC ngày 16/5/2019 về việc giải quyết dứt điểm việc khấu trừ tiền đền bù, GPMB vào tiền thuê đất phải nộp của Công ty Lainco, ngày 22/5/2019, Sở Tài chính tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Cục Thuế tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp về việc thực hiện chỉ đạo tại Công văn số 2247/UBND-KTTC ngày 16/5/2019 của UBND tỉnh để rà soát toàn bộ hồ sơ, căn cứ pháp lý của Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh, kèm theo biên bản họp số 1640/BB-STC ngày 30/5/2019 của Sở Tài chính.

    Căn cứ biên bản kiểm tra thuế ngày 6/9/2018, biên bản họp số 1640/BB-STC ngày 30/5/2019 của Sở Tài chính; ngày 30/5/2019, Sở Tài chính có Công văn số 1641/STC-QLGCS trình UBND tỉnh về việc thực hiện chỉ đạo tại Công văn số 2247/UBND-KTTC ngày 16/5/2019 của UBND tỉnh. Theo đó, Sở Tài chính trình UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt số tiền đền bù, GPMB được trừ vào tiền thuê đất phải nộp đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn do Công ty Lainco làm chủ đầu tư trên địa bàn xã Lợi Bình Nhơn, TP Tân An.

    Ngày 12/6/2019, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2071/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018.

    Từ nội dung trình bày của ông Nguyễn Văn Phụng, ý kiến đại diện Cục Thuế tỉnh, đại diện Sở Tài chính và kết quả xác minh; ông Trần Văn Cần, Chủ tịch UBND tỉnh, chủ trì cuộc đối thoại kết luận, qua khẳng định của thanh tra thuế và Công ty Lainco thì khoản tiền bồi thường GPMB của dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn, công ty đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh. Do đó không được khấu trừ tiền bồi thường, GPMB vào tiền thuê đất phải nộp. Công ty phải có trách nhiệm nộp tiền thuê đất theo đúng quy định. Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 12/6/2019 của UBND tỉnh về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh là đúng quy định pháp luật và có hiệu lực thi hành.

    Lãnh đạo tỉnh Long An khẳng định ông Nguyễn Văn Phụng, người đại diện pháp luật của Công ty Lainco khiếu nại Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 12/6/2019 của UBND tỉnh về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh là không có căn cứ.

    Quá trình xác minh cho thấy, Công ty Lainco đã hạch toán và phân bổ toàn bộ số tiền đền bù, GPMB (37.370.943.000đồng) theo quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ vào chi phí sản xuất kinh doanh để kết chuyển vào giá thành sản phẩm. Do đó, công ty không được khấu trừ số tiền đền bù, GPMB vào tiền thuê đất phải nộp theo quy định tại Tiết a, Điểm 6, Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

    Ngày 10/3/2020, Chủ tịch UBND tỉnh Long An Trần Văn Cần đã ban hành Quyết định số 769/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Công ty Lainco với nội dung: Bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Phụng, người đại diện pháp luật Công ty Lainco khiếu nại đối với Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 12/6/2019 của UBND tỉnh Long An về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh giữ nguyên Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 12/6/2019 của UBND tỉnh Long An về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 22/1/2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt số tiền đền bù, GPMB được trừ vào tiền thuê đất phải nộp đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn, do Công ty Lainco làm chủ đầu tư.

    Vy Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Xem Xét Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Của Viện Kiểm Sát
  • Ubnd Tỉnh Thu Hồi, Hủy Bỏ Quyết Định Giải Quyết Kn Nhưng Đề Nghị Xem Xét Giải Quyết Lại!? (Kỳ 3)
  • Hủy Bỏ Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Để… “né Lỗi”
  • Người Dân Được Quyền Khởi Kiện Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại
  • Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Của Ct Ubnd Cấp Tỉnh, Bộ Trưởng Tn&mt Thì Có Được Khởi Kiện Không?
  • Quy Định Về Hủy Bỏ, Ban Hành Mới Quyết Định Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Thu Hồi Và Hủy Bỏ Quyết Định Quy Chế Phát Ngôn Và Cung Cấp Cho Báo Chí
  • Đất Có Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Thu Hồi Đất Có Được Phép Xây Dựng Không?
  • Công Bố Quyết Định Thanh Tra Chậm Nhất Là 15 Ngày
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Tiêu Chuẩn Việt Nam Và Công Bố Tiêu Chuẩn Quốc Gia
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Nội Dung Đăng Ký Thay Đổi Nội Dung Đăng Ký Doanh Nghiệp
  • Theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì :Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền. Tuy nhiên, Luật cũng như Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định cụ thể về việc hủy bỏ quyết định xử lý vi phạm hành chính, trường hợp nào được hủy bỏ, thẩm quyền hủy bỏ…dẫn đến các cơ quan có cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong quá trình xử lý vi phạm hành chính.

    Để khắc phục tình trạng trên, ngày 18/8/2017 , Chính phủ ban hành Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 97/2017/NĐ-CP Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (có hiệu lực từ ngày 05/10/2017), quy định cụ thể việc hủy bỏ, ban hành mới quyết định xử lý vi phạm hành chính.

    (Xem các bài viết về hướng dẫn nghiệp vụ xử phạt vi phạm hành chính)

    1. Những trường hợp phải hủy bỏ quyết định xử lý vi phạm hành chính

    Nghị định 97/2017 quy định, người đã ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp:

    1.1. Có vi phạm pháp luật về thẩm quyền , thủ tục xử lý vi phạm hành chính

    1.2. Ban hành Quyết định xử phạt trong trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính, cụ thể

    + Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;

    +Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;

    + Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;

    + Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;

    + Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.

    – Ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:

    + Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;

    + Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật XLVPHC;

    (Các sai sót thường gặp trong xử lý vi phạm hành chính)

    + Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt.

    1.3. Giả mạo, làm sai lệnh hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Khoản 10 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

    1.4. Đã có quyết định khởi tố vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Khoản 3 Điều 62 Luật XLVPHC.

    2. Thẩm quyền, hình thức hủy bỏ quyết định xử lý vi phạm hành chính

    Tùy theo tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định, cụ thể như sau:

    (Hướng dẫn cách lập biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất)

    – Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định

    – Quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được ban hành dẫn đến việc thay đổi căn cứ, nội dung của quyết định xử lý viphạm hành chính.

    (Thẩm quyền hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc về ai? Người ban hành hay cấp trên?)

    3. Những trường hợp ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính mới

    Trong các trường hợp sau đây, nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới, cụ thể:

    – Các trường hợp liệt kê ở phần 1.1, 1.2, 1.3 ở trên

    – Có bản án, quyết định của tòa án về việc hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện

    Thời điểm có hiệu lực của quyết định hủy bỏ, quyết định ban hành mới là kể từ ngày ký hoặc từ ngày ghi trong quyết định.

    Rubi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hủy Bỏ Quyết Định Tạm Giữ Để Thu Thập Thêm Chứng Cứ
  • Các Trường Hợp Đương Nhiên Hủy Bỏ Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Hủy Quyết Định Tạm Giữ Ông Lê Đình Kình
  • Các Trường Hợp Bị Tạm Giữ, Thẩm Quyền, Thủ Tục Quyết Định Tạm Giữ Và Thời Hạn Tạm Giữ Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Vụ Đồng Tâm: Hủy Bỏ Quyết Định Tạm Giữ Ông Lê Đình Kình
  • Thu Hồi, Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Cán Bộ Sai… Gặp Vướng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở ‘siêu Tốc’
  • Thanh Hóa: Hủy Bỏ Nhiều Quyết Định Bổ Nhiệm Lãnh Đạo Trái Quy Định
  • Sở Khoa Học Và Công Nghệ Ninh Bình Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Hai Cán Bộ
  • Vụ Thuê Villa Bị Đuổi Ra Ngoài Ở Huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang: Viện Ksnd Huyện Thừa Nhận Ông Công, Ông Tuấn Vi Phạm Pháp Luật; Nhưng Giải Quyết Chưa Đầy Đủ
  • Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự
  • Thanh tra, kiểm tra phát hiện ra sai phạm, song do thiếu cơ sở pháp lý, nên hiện nay việc thu hồi, hủy bỏ các quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm không đúng quy định gặp nhiều khó khăn, vướng mắc…

    Chính phủ vừa có báo cáo gửi Quốc hội (QH) và các đại biểu QH về việc triển khai thực hiện nghị quyết giám sát chuyên đề và hoạt động chất vấn lĩnh vực nội vụ.

    Theo báo cáo, 9 tháng đầu năm, Thanh tra Bộ Nội vụ đã thực hiện 100% các cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ trưởng.

    Bộ đã tiến hành 12 cuộc thanh tra theo kế hoạch tại Bộ Xây dựng, Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Y tế và UBND các tỉnh, TP: Hậu Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hưng Yên, Lâm Đồng, Cần Thơ, Khánh Hòa và Đồng Nai.

    11 cuộc kiểm tra đột xuất đã được thực hiện, trong đó có kiểm tra việc xử lý kỷ luật đối với ông Huỳnh Minh Hoàng, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ Bạc Liêu; kiểm tra nội dung phản ánh của báo chí và doanh nghiệp về một số việc tiêu cực xảy ra tại Cục Hải quan TP Hải Phòng…

    Qua thanh tra, kiểm tra, Thanh tra Nội vụ đã phát hiện những thiếu sót, sai phạm trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác tổ chức cán bộ của các bộ, ngành, địa phương.

    Điển hình như việc giao và sử dụng biên chế hành chính vượt quá chỉ tiêu; tuyển dụng, tiếp nhận không qua thi tuyển không đúng đối tượng, không đúng quy định; tuyển dụng theo chính sách thu hút không đúng quy định.

    Nhiều nơi còn sai phạm trong bổ nhiệm ngạch khi chưa có đủ bằng cấp, chứng chỉ; bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng quy trình, thủ tục bổ nhiệm; một số cơ quan, đơn vị có số lượng cấp phó vượt quá quy định…

    Mặc dù phát hiện có nhiều tồn tại, hạn chế, sai phạm trong công tác tổ chức cán bộ, song các bộ, ngành, địa phương chưa vào cuộc quyết liệt và có những biện pháp đủ mạnh để xử lý vi phạm. Chủ yếu là đề nghị đối tượng thanh tra, kiểm tra kiểm điểm, rút kinh nghiệm và cho thời gian nhất định để tự khắc phục.

    Nguyên nhân được đưa ra là hiện chưa có chế tài để xử lý các vi phạm trong công tác tổ chức cán bộ.

    “Việc thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi, hủy bỏ các quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm không đúng quy định gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện vì thiếu cơ sở pháp lý”, báo cáo nêu.

    Ngoài ra, công tác tổ chức cán bộ ngoài việc thực hiện theo pháp luật của Nhà nước còn phải thực hiện theo các quy định của Đảng. Ví dụ như công tác quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển…

    Song hiện tại, một số quy định của Đảng và pháp luật còn chưa thống nhất, gây khó khăn, lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện.

    Từ thực tế này, Bộ Nội vụ cũng đã đề đề nghị xây dựng, ban hành đầy đủ, đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về công tác tổ chức cán bộ làm cơ sở pháp lý trong việc xử lý đối với những trường hợp sai phạm được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra về công tác tổ chức cán bộ.

    Lương tăng thêm 20,9%, đời sống cán bộ vẫn còn khó khăn

    Thực hiện nghị quyết của QH về hoạt động tài chính 5 năm giai đoạn 2022-2020, hàng năm Chính phủ đã điều chỉnh mức lương cơ sở tăng 7%/năm.

    Năm 2022 mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng thì đến năm 2022 (sau 3 năm) đã điều chỉnh lên 1.390.000 đồng/tháng, tăng thêm 20,9% cao hơn chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ do Tổng cục Thống kê công bố.

    “Nhưng đời sống của đa số người hưởng lương vẫn còn khó khăn”, Chính phủ báo cáo.

    4 năm, tinh giản được hơn 40.000 biên chế

    Theo Bộ Nội vụ, tổng số người tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 được Bộ này thẩm tra từ năm 2022 đến ngày 30/9/2018 là 40.203 người (năm 2022 là 5.778 người; năm 2022 là 11.923 người; năm 2022 là 12.660 người; 9 tháng đầu năm 2022 là9.842 người).

    Trong đó, hưởng chính sách về hưu trước tuổi 34.729 người (chiếm 86,39%); hưởng chính sách thôi việc ngay 5.405 người (chiếm 13,44%); hưởng chính sách thôi việc sau khi đi học: 29 người (chiếm 0,07%); hưởng chính sách chuyển sang các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách Nhà nước 40 người (chiếm 0,1%).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hủy Bỏ Nhiều Quyết Định Bổ Nhiệm Lãnh Đạo
  • Sở Tn&mt Thanh Hóa Thu Hồi Các Quyết Định Bổ Nhiệm Sai Quy Định
  • Bàn Về Khái Niệm Quyết Định Hành Chính
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Mẫu Văn Bản Hành Chính Cá Biệt
  • Thanh Tra Chính Phủ Kiến Nghị Hủy Bỏ Quyết Định Thu Hồi Đất, Quyết Định Bố Trí Tái Định Cư Trái Quy Định Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Hủy Thầu Trong Hoạt Động Đấu Thầu Theo Quy Định Pháp Luật
  • Các Trường Hợp Hủy Đấu Thầu Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Các Trường Hợp Hủy Thầu Mà Mọi Nhà Thầu Cần Phải Biết!
  • Làm Thế Nào Để Đăng Ký
  • ことにする Quyết Định Làm Gì
  • Thẩm định, trình duyệt khi không cập nhật đầy đủ các dự án

    Theo quy hoạch Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị, thị xã Lạng Sơn đến năm 2022 (nay là thành phố Lạng Sơn) được UBND tỉnh duyệt tại Quyết định số 53/2001/QĐ-UB ngày 2/10/2001, khu đất thực hiện Dự án thuộc ô quy hoạch có chức năng sử dụng đất là công cộng và đất cây xanh.

    Thông báo kết luận thanh tra số 289/TB-TTCP nêu rõ, việc UBND tỉnh Lạng Sơn có Quyết định số 1942/QĐ-UB-XD phê duyệt báo cáo Nghiên cứu khả thi dự án Tiểu khu tái định cư khối 2 Vĩnh Trại trên cơ sở ý kiến của Chủ tịch UBND tỉnh tại Thông báo số 27/VP-TB ngày 23/6/2003 là phù hợp với Khoản 4 Điều 1 Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 31/01/2003. Tuy nhiên, UBND tỉnh Lạng Sơn chưa kịp thời chỉ đạo Chủ đầu tư (UBND thành phố Lạng Sơn) tiến hành lập, trình thẩm định, phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị khu vực thực hiện Dự án là thiếu chặt chẽ theo Điều 9 Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ. Trách nhiệm thuộc Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn.

    Điều đáng nói, ngày 14/02/2008, Sở Xây dựng đã thẩm định, trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 262/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỷ lệ 1/1.000, song quá trình lập quy hoạch đã không cập nhật, đánh giá thực trạng xây dựng của 03 dự án đầu tư xây dựng, gồm: Dự án tái định cư khối 2, phường Vĩnh Trại; Dự án xây dựng trung tâm thương mại kinh doanh dịch vụ của Công ty TNHH Tùng Lâm (nay là Công ty Cổ phần Thành Đô); Dự án xây dựng kè suối Lao Ly đã được được phê duyệt, cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấp giấy phép xây dựng công trình.

    Đặc biệt, khi phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch tại Quyết định số 1933/QĐ-UBND ngày 2/12/2011, Sở Xây dựng chỉ cập nhật dự án Tiểu khu tái định cư khối 2, phường Vĩnh Trại, mà không cập nhật 02 dự án còn lại là Dự án xây dựng trung tâm thương mại kinh doanh dịch vụ của Công ty TNHH Tùng Lâm và Dự án xây dựng kè suối Lao Ly.

     Dự án  tiểu khu tái định cư khối 2 Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn có nhiều vi phạm (ảnh internet)

    Hơn nữa, việc Sở Xây dựng có Báo cáo thẩm định số 03/BC-SXD ngày 05/01/2013 và UBND tỉnh ban hành Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 10/01/2013 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết dự án chỉnh trang đô thị khu dân cư khối 2, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn là không rõ ràng bởi không có dự án chỉnh trang đô thị khối 2, phường Vĩnh Trại được phê duyệt.

    Việc điều chỉnh thửa đất thuộc dự án này sang dự án khác nhưng không nêu cụ thể ký hiệu, quy mô, vị trí, ranh giới và mốc giới của lô đất phải điều chỉnh theo quy hoạch như khu đất của công ty TNHH Tùng Lâm chuyển sang đất thuộc dự án Chỉnh trang phát triển đô thị và quy hoạch khu dân cư khối 2 phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn để sử dụng vào mục đích công cộng là thiếu cơ sở. Do đó, Thanh tra Chính phủ kết luận: “Việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng là đúng thẩm quyền, phù hợp với Khoản 2 Điều 22 Luật Xây dựng 2003. Tuy nhiên, nội dung điều chỉnh quy hoạch chi tiết tại Quyết định 41/QĐ-UBND có nội dung không phù hợp như nêu trên. Trách nhiệm của các sai phạm thuộc Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, Chủ tịch UBND TP Lạng Sơn, Giám đốc Sở Xây dựng”.

    Đáng chú ý, UBND tỉnh Lạng Sơn chưa kịp thời chỉ đạo Chủ đầu tư tiến hành lập, trình thẩm định, phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị khu vực thực hiện Dự án tiểu khu tái định cư khối 2 Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn; nội dung điều chỉnh quy hoạch chi tiết không phù hợp; ban hành quyết định thu hồi đất nhưng không gửi đến các hộ gia đình cá nhân…

    Theo đó, Thông báo Kết luận thanh tra số 289/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ, diện tích đất thu hồi của các hộ dân theo Quyết định thu hồi đất số 1808/QĐ-UBND ngày 14/9/2005 là phù hợp với thực tế sử dụng đất của các hộ dân và bản đồ trích đo địa chính khu đất tỷ lệ 1/500 do Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố lập ngày 15/5/2005, từ các tờ bản đồ số 19, 20, 21, bản đồ địa chính phường Vĩnh Trại kèm theo quyết định thu hồi đất số 1808/QĐ-UBND. Tuy nhiên, hiện nay một số hộ dân còn khiếu nại, tố cáo kéo dài vì cho rằng diện tích đất bị thu hồi của gia đình nằm ngoài ranh giới của Quyết định thu hồi đất số 1808/QĐ-UBND ngày 14/9/2005 của UBND tỉnh Lạng Sơn.

    Giao đất tái định cư cho hộ không đủ điều kiện

    Việc UBND thành phố Lạng Sơn ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ gia đình cá nhân nhưng không gửi đến các hộ gia đình cá nhân là vi phạm quy định tại Khoản 6 Điều 130 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.

    Về việc giao đất tái định cư, ngoài áp dụng cơ chế, chính sách của tỉnh căn cứ theo m2 thì diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi được bố trí tái định cư chưa đúng quy định. Ngoài ra, Văn phòng UBND tỉnh đã có 09 Văn bản Thông báo kết luận của lãnh đạo UBND tỉnh về việc chỉ đạo UBND thành phố Lạng Sơn ban hành quyết định giao 40 ô đất tái định cư cho 40 trường hợp các hộ không đủ điều kiện được bố trí tái định cư là vi phạm Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Trách nhiệm thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND Thành phố Lạng Sơn.

    Đồng thời, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND tỉnh Lạng Sơn hủy bỏ quyết định thu hồi đất, quyết định bố trí tái định cư đối với khu đất của ông Mai Đức Lâm do UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành các quyết định điều chỉnh quy hoạch, cưỡng chế thu hồi đất, bố trí tái định cư trái với quy định của pháp luật; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân./.

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Trường Hợp Hủy Bỏ Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022
  • 2.2. Kiểm Sát Việc Áp Dụng, Thay Đổi, Huỷ Bỏ Các Biện Pháp Ngăn Chặn.
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Người Bị Kiện Trong Vụ Án Hành Chính
  • Một Số Vấn Đề Về Trách Nhiệm Của Công Tố Trong Hoạt Động Khởi Tố Vụ Án, Khởi Tố Bị Can Theo Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính: Chuyển Biến Ở “Một Cửa” Cấp Xã
  • Đất Có Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Thu Hồi Đất Có Được Phép Xây Dựng Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Bố Quyết Định Thanh Tra Chậm Nhất Là 15 Ngày
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Tiêu Chuẩn Việt Nam Và Công Bố Tiêu Chuẩn Quốc Gia
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Nội Dung Đăng Ký Thay Đổi Nội Dung Đăng Ký Doanh Nghiệp
  • Mẫu Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp
  • Hỏi Về Thủ Tục Hủy Thầu Và Hình Thức Đấu Thầu Qua Mạng ?
    • 23/07/2016
    • Nguyễn Thị Ngọc Khánh
    • Thưa luật sư. Tôi gặp một vấn đề rất cần sự tư vấn của luật sư như sau. Năm 2004 gia đình tôi được Nhà nước công bố Quyết định phần đất của gia đình nằm trong quy hoạch.

    Không đồng ý với những điều kiện bồi thường thu hồi đất, gia đình tôi có làm đơn gửi các ngành chức năng xem xét. Thế nhưng trong thời gian chờ đợi đến nay vẫn chưa được trả lời thỏa đáng. Năm 2012 ủy ban nhân dân huyện nơi gia đình tôi sinh sống công bố Quyết định thu hồi phần đất thuộc diện quy hoạch của gia đình tôi, nhưng không thực hiện các chế độ bồi thường theo quy định của Nhà nước. Đến năm 2013, ủy ban nhân dân tỉnh có ý kiến chỉ đạo dừng thi công hạn mục trên phần đất của gia đình tôi, chờ đến khi nào có điều kiện thực hiện thì thực hiện. Năm 2014, ủy ban nhân dân huyện nơi gia đình tôi sinh sống ra quyết định hủy bỏ Quyết định thu hồi phần đất của gia đình tôi. Nay tôi có ý định xây dựng nhà ở trên phần đất này có được không? Rất mong sớm nhận được phần trả lời tư vấn của văn phòng luật sư để gia đình tôi được am hiểu thêm vấn đề này và thực hiện đúng quy định của nhà nước về đất đai.

    Trân trọng và cảm ơn!

    Căn cứ Điều 49 Luật Đất đai 2013:

    2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

    Trường hợp của bạn, đã có quyết định hủy bỏ Quyết định thu hồi đối với phần đất của gia đình bạn. Như vậy, việc hủy bỏ quyết định thu hồi đất có thể vì một trong hai lý do sau:

    • Phần đất của gia đình bạn vẫn nằm trong quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất cấp huyện hàng năm, nhưng vì chưa đủ điều kiện thực hiện dự án được quy hoạch nên tạm thời chưa thu hồi phần đất của bạn. Trường hợp này, căn cứ khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai 2013thì bạn không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm trên phần đất này.
    • Phần đất của gia đình bạn không còn nằm trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm vì có sự thay đổi trong kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp này, bạn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong đó có xây dựng nhà ở, công trình khác trên đất.

    Như vậy để biết được bạn có được phép xây dựng nhà ở trên phần đất của bạn thì bạn cần tham khảo kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện được công bố công khai trên công thông tin điện tử và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nếu không còn nằm trong kế hoạch thì bạn được phép xây dựng nhà ở trên đó và ngược lại, nếu nằm trong kế hoạch thì không được phép xây dựng bất kỳ công trình nào.

    Trường hợp bạn được phép xây dựng nhà ở trên mảnh đất đó nhưng mảnh đất của bạn nằm trong khu vực đô thị thì trước khi xây nhà bạn phải xin cấp Giấy phép xây dựng. Để được cấp Giấy phép xây dựng đối với nhà ở tại đô thị thì phải đáp ứng những điều kiện sau:

    – Phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt;

    – Thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ được thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 79 của Luật này;

    – Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng; đối với nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

    – Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 95, Điều 96 và Điều 97 của Luật Xây dựng.

    Nếu phần đất của bạn nằm ở khu vực nông thôn thì khi xây dựng nhà ở bạn không phải xin giấy phép xây dựng mà khi xây nhà chỉ cần phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn (khoản 3 Điều 93 Luật Xây dựng 2014).

    Để được tư vấn cụ thể hơn, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể liên hệ với tổng đài 1900.6169 của công ty Luật Minh Gia để được tư vấn một cách đầy đủ nhất

    Trân trọng!

    Lương Đình Thiện – Công ty Luật Minh Gia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thu Hồi Và Hủy Bỏ Quyết Định Quy Chế Phát Ngôn Và Cung Cấp Cho Báo Chí
  • Quy Định Về Hủy Bỏ, Ban Hành Mới Quyết Định Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Hủy Bỏ Quyết Định Tạm Giữ Để Thu Thập Thêm Chứng Cứ
  • Các Trường Hợp Đương Nhiên Hủy Bỏ Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Hủy Quyết Định Tạm Giữ Ông Lê Đình Kình
  • Mẫu Quyết Định Thu Hồi, Hủy Bỏ Giấy Khai Sinh Cấp Trái Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Bị Kiện Tự Mình Sửa Đổi, Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính, Hoặc Dừng, Khắc Phục Hành Vi Hành Chính Bị Khởi Kiện Trong Giai Đoạn Xét Xử Sơ Thẩm, Phúc Thẩm Vụ Án Hành Chính
  • Ủy Ban Rút Quyết Định Bị Kiện, Tòa Xử Sao?
  • Chiêu Đối Phó Của Ủy Ban Khi Bị Kiện
  • Nghệ An: Hủy Bỏ Các Quyết Định Cưỡng Chế Nhà Dân Tại Xã Quỳnh Lương
  • Cần Thơ: Dân Lo Mất Đất Dù Chính Quyền Đã Hủy Bỏ Các Quyết Định Cưỡng Chế
  • Decuongtuyentruyen.com giới thiệu tới bạn đọc biểu mẫu quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh do UBND cấp xã cấp trái với quy định của Luật Hộ tịch. Đối với các giấy tờ hộ tịch khác các bạn có thể sử dụng mẫu này để thực hiện thu hồi, hủy bỏ.

    Theo Luật Hộ tịch thì các trường hợp các trường hợp phải thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch gồm: Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ của người khác để đăng ký hộ tịch; Cam đoan, làm chứng sai sự thật để đăng ký hộ tịch; Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch; Lợi dụng việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc trục lợi dưới bất kỳ hình thức nào; Người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; và các trường hợp cấp trái quy định của Luật Hộ tịch.

    QUYẾT ĐỊNH Thu ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh

    Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2022;

    Căn cứ Luật Hộ tịch ngày 20 tháng 11 năm 2014;

    QUYẾT ĐỊNH:

    Xét Tờ trình số /TTr-PTP ngày tháng năm 2022 của Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,

    Điều 1. Thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh, số 510, quyển số 05 do UBND xã, phường, thị trấn cấp ngày 07/02/1991 cho ông: Nguyễn Huy A, sinh ngày 13/01/1978, thường trú tại thôn/tổ dân phố, xã, phường, thị trấn, huyện, tỉnh QN.

    Lý do: UBND xã, phường, thị trấn cấp Giấy khai sinh số 510, quyển số 05 cho ông Nguyễn Huy A không đúng theo quy định tại điều, khoản của Luật Hộ tịch.

    Điều 2. Giao Phòng Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh đã cấp tại Điều 1 và thực hiện ghi chú vào Sổ hộ tịch theo đúng quy định của pháp luật.

    Điều 3. Chánh Văn phòng HĐND và UBND, Trưởng Phòng Tư pháp, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn và ông Nguyễn Huy A căn cứ quyết định thi hành.

    Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đà Nẵng Hủy Bỏ Quyết Định Hỗ Trợ Lãi Suất 10% Tiền Sử Dụng Đất
  • Từ Bị Hại Trở Thành Bị Can: Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố
  • Thư Bạn Đọc: Cần Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Nguyễn Văn Mạnh
  • Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An
  • Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra
  • Hủy Bỏ Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Hủy Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Bs Truyện
  • Thuật Toán Cây Quyết Định
  • Cơ Quan Nào Có Thẩm Quyền Ra Quyết Định Khởi Tố Bị Can?
  • Quyết Định Xóa Kỷ Luật Học Sinh
  • Thông Tư 08/tt 1988 Hướng Dẫn Khen Thưởng Thi Hành Kỷ Luật Học Sinh
  • Luật sư cho tôi hỏi: – Hành vi vi phạm hành chính sau 2 năm mới ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng hay sai? – Nếu trình tự, thủ tục, quyết định đó sai thì cấp nào có quyền ra quyết định hủy bỏ? – Trình tự, thủ tục hồ sơ sau khi huy bỏ quyết định đó? Văn bản pháp lý nào hướng dẫn thực hiện việc này?

      Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định như sau:

      a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

      Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

      Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế;

      b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:

      Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

      Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

      c) Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

      d) Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

      Như vậy, hành vi vi phạm hành chính xảy ra đã quá hai năm thì ko thể tiến hành xử phạt vi phạm hành chính được nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Hỗ Trợ Ngân Sách Địa Phương Phòng, Chống Dịch Covid
  • Thủ Tướng Quyết Định Đối Tượng Cụ Thể Được Hỗ Trợ Do Gặp Khó Bởi Covid
  • Cách Nhận Tiền Hỗ Trợ Do Bị Ảnh Hưởng Bởi Covid
  • Mẫu Hồ Sơ Hủy Hóa Đơn Theo Thông Tư 39/2014/tt
  • Mẫu Biên Bản Hủy Hóa Đơn Không Sử Dụng Hoặc In Thừa
  • Thu Hồi Và Hủy Bỏ Quyết Định Quy Chế Phát Ngôn Và Cung Cấp Thông Tin Cho Báo Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Đất Có Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Thu Hồi Đất Có Được Phép Xây Dựng Không?
  • Công Bố Quyết Định Thanh Tra Chậm Nhất Là 15 Ngày
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Tiêu Chuẩn Việt Nam Và Công Bố Tiêu Chuẩn Quốc Gia
  • Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Nội Dung Đăng Ký Thay Đổi Nội Dung Đăng Ký Doanh Nghiệp
  • Mẫu Quyết Định Về Việc Hủy Bỏ Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp
  • (CAO) Chiều 13-10, ông Thân Đức Hưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau ký quyết định số 1704/QĐ-UBND thu hồi và hủy Quyết định số 1627/QĐ-UBND ngày 29-9-2017 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

    Tại Điều 1 Quyết định ghi rõ: Quyết định số 1627/QĐ-UBND ngày 29-9-2017 có những điểm chưa phù hợp với Luật Báo chí và Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 9-2-2017 của Chính phủ quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.

    Trước đó, ngày 29-9-2017, ông Thân Đức Hưởng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau ký Quyết định số 1627/QĐ-UBND ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Quy chế dày 7 trang, gồm 3 chương và 12 điều.

    Tại khoản 3, điều 9 của quy chế này có nội dung: “Nhà báo, phóng viên không được dùng những ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo, các cuộc gặp gỡ, trao đổi, nói chuyện có nhà báo tham dự để thông tin trên báo chí hoặc chuyển thành bài phỏng vấn nếu không được sự đồng ý của người phát biểu”.

    Trong khi đó, điều 40 của Luật Báo chí năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) quy định: “Nhà báo không được dùng những ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo, các cuộc gặp gỡ, trao đổi, nói chuyện có nhà báo tham dự để chuyển thành bài phỏng vấn nếu không được sự đồng ý của người phát biểu”. Dư luận cho rằng, nội dung của khoản 3, điều 9, quy chế phát ngôn báo chí của UBND tỉnh Cà Mau đã đi ngược với Luật Báo chí năm 2022 chỉ quy định không được chuyển ý kiến phát biểu thành bài phỏng vấn chứ không quy định chuyển thành tin, bài bình thường.

    Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau nói: “Sau khi báo chí thông tin, tôi đã chỉ đạo kiểm tra. Qua đó, tôi chủ trương thu hồi và hủy quyết định trên có nhiều điểm chưa phù hợp với Luật Báo chí. Tỉnh Cà Mau luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà báo hoạt động theo đúng quy định pháp luật. Việc ban hành quy chế trên là do sơ suất trong tham mưu đã tạo dư luận không tốt, tỉnh sẽ chỉ đạo nghiêm túc kiểm điểm, chấn chỉnh trong thời gian tới”. Hiện Cà Mau có 4 quan quan báo chí địa phương, 2 Văn phòng thường trú, 7 phóng viên thường trú.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Hủy Bỏ, Ban Hành Mới Quyết Định Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Hủy Bỏ Quyết Định Tạm Giữ Để Thu Thập Thêm Chứng Cứ
  • Các Trường Hợp Đương Nhiên Hủy Bỏ Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Hủy Quyết Định Tạm Giữ Ông Lê Đình Kình
  • Các Trường Hợp Bị Tạm Giữ, Thẩm Quyền, Thủ Tục Quyết Định Tạm Giữ Và Thời Hạn Tạm Giữ Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hà Nội: Hủy Bỏ Quyết Định Thu Hồi Đất Trái Luật Của Ubnd Huyện Gia Lâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Giao Đất, Cho Thuê Đất Đối Với Doanh Nghiệp, Hộ Gia Đình, Tổ Chức, Cá Nhân ? Quy Định Về Hạn Mức Giao Đất ?
  • Giao Đất Để Làm Nhà Ở Cho Hộ Gia Đình, Cá Nhân Tại Nông Thôn (Không Thuộc Trường Hợp Phải Đấu Giá Quyền Sử Dụng Đất)
  • Mua Đất Của Quân Đội Cấp
  • Xin Được Tư Vấn Về Đất Đai Quân Đội Cấp./.
  • Có Được Phép Mua Lại Đất Của Quân Đội Cấp Cho Quân Nhân Không ?
  • (TN&MT) – Hội đồng xét xử nhận định, tại Điều 2, Quyết định số 63/QĐ-UB của UBND huyện Gia Lâm thu hồi đất của gia đình ông Chiến, ông Chỉnh là không đúng và… (TN&MT) – Hội đồng xét xử nhận định, tại Điều 2, Quyết định số 63/QĐ-UB của UBND huyện Gia Lâm thu hồi đất của gia đình ông Chiến, ông Chỉnh là không đúng và không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, nên UBND huyện Gia Lâm đã phải ban hành Quyết định số 8643/QĐ-UBND hủy bỏ việc thu hồi đất trên.

    Ngày 23/03, TAND TP. Hà Nội đã đưa ra xét xử vụ án hành chính sơ thẩm do ông Nguyễn Văn Chiến và ông Nguyễn Văn Chỉnh, địa chỉ tại thôn 7, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội khởi kiện Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 8643/QĐ-UBND ngày 05/07/2017 và Quyết định số 63/QĐ-UB của UBND huyện Gia Lâm về việc giải quyết khiếu nại.

    Tại phiên tòa này, người đại diện cho UBND huyện Gia Lâm là ông Lê Anh Quân – Chủ tịch UBND huyện đã ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc Thuần – Phó Chủ tịch huyện tham dự. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc Thuần cũng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn Hợi – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường là người bảo vệ quyền và lợi ích của UBND huyện Gia Lâm tại phiên tòa.

    Theo nội dung khởi kiện, ông Chỉnh và ông Chiến cho rằng, UBND huyện Gia Lâm có sai phạm trong việc ban hành Quyết định thu hồi đất của gia đình ông Nguyễn Văn Chỉnh để giao cho UBND xã Ninh Hiệp quản lý đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Chỉnh.

    Cụ thể, năm 1956, Ủy ban cải cách ruộng đất chia cho 03 người là ông Nguyễn Văn Dậu (bố đẻ của ông Chỉnh), ông Đào Tiến Thọ và ông Nguyễn Quang Lựu (sau này nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Chi, sau đó bà Chi nhượng lại cho ông Đào Tiến Thạch và bà Đào Thị Phú) một khu nhà chung Chiến Thắng và một khu ao rộng khoảng 450 m2 (sau này là 380 m2), phần đất bờ ao rộng khoảng 3m trồng cây cối sát với dãy tường bao quanh để ba gia đình sử dụng trước nhà. Sau đó các hộ gia đình được chia đất đã tự phân chia và thể hiện địa giới hành chính rõ của từng gia đình.

    Đến ngày 04/02/2002, UBND huyện Gia Lâm ban hành Quyết định số 63/QĐ-UB về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Quang Lựu trú tại xóm 6 xã Ninh Hiệp. Tuy nhiên, tại Điều 2 Quyết định giải quyết khiếu nại này lại có nội dung: “Thu hồi toàn bộ diện tích 380 m2 đất ao ở xóm 7 xã Ninh Hiệp gồm các thửa 55-76 tại tờ bản đồ số 15 bản đồ địa chính đo vẽ năm 1993 xã Ninh Hiệp, Giao cho UBND xã Ninh Hiệp có trách nhiệm quản lý và có kế hoạch sử dụng phần đất này trình UBND huyện phê duyệt”. Theo đó, nhà ông Chỉnh bị thu hồi 146 m2 đất.

    Sau khi nhận được Quyết định số 63/QĐ-UB, gia đình ông Chiến, ông Chỉnh đã khiếu nại nhiều nơi và sau hơn 15 năm, ngày 05/7/2017, UBND huyện Gia Lâm mới ban hành Quyết định số 8643/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Chỉnh.

    Tại quyết định này, UBND huyện Gia Lâm quyết định điều chỉnh Điều 2, Quyết định 63/QĐ-UB ngày 04/02/2002, tức điều chỉnh việc thu hồi toàn bộ phần diện tích 380 m2 đất ao các gia đình đang sử dụng. Đồng thời giao UBND xã Ninh Hiệp phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trường Gia Lâm hướng dẫn các gia đình ông Nguyễn Văn Chỉnh, bà Đào Thị Phú, ông Đào Tiến Thạch thực hiện việc đăng ký đất đai, cấp sổ đỏ.

    Tuy nhiên, gia đình ông Chiến và ông Chỉnh tiếp tục không đồng ý với quan điểm của UBND huyện Gia Lâm đưa ra tại Quyết định giải quyết khiếu nại nên đã gửi đơn khởi kiện đến TAND TP. Hà Nội để yêu cầu hủy Quyết định 63/QĐ-UB và Quyết định 8643/QĐ-UBND của UBND huyện Gia Lâm.

    Tại phiên tòa ngày 23/03, ông Nguyễn Văn Hợi – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm cho biết, lý do ra Quyết định số 63/QĐ-UB thu hồi đất là do trong quá trình sử dụng, các hộ dân không đăng ký kê khai với cơ quan quản lý Nhà nước nên dẫn đến ra quyết điện thu hồi đất.

    Sau đó, UBND huyện Gia Lâm ban hành Quyết định 8643/QĐ-UBND ngày 05/07/2017 đã triệt tiêu Điều 2 tại QĐ 63 tức là không thu hồi đất nữa, thì của ai sẽ trả lại người đó. Vì vậy, các hộ gia đình được phép làm hồ sơ kê khai để được xem xét cấp sổ, tức Điều 2 tại Quyết định số 63/QĐ-UB không có giá trị.

    Có mặt tại phiên tọa, đại diện UBND xã Ninh Hiệp cũng cho biết, bản chất UBND huyện Gia Lâm đã hủy bỏ việc thu hồi đất ao trên. Tuy nhiên, khúc mắc hiện tại là có sự tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Chỉnh và gia đình ông Đào Tiến Thạch, bà Đào Thị Phú.

    Trên cơ sở ý kiến của các bên và các tài liệu, chứng cứ, HĐXX nhận định, khiếu kiện của ông Nguyễn Văn Chiến và ông Nguyễn Văn Chỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP. Hà Nội, qua xem xét, HĐXX nhận thấy, việc UBND huyện Gia Lâm ban hành Quyết định số 63/QĐ-UB và 8643/QĐ-UBND là đúng thẩm quyền.

    Về nội dung khiếu kiện, Điều 2 tại Quyết định 63/QĐ-UB của UBND huyện Gia Lâm về việc thu hồi 380 m2 đất thuộc thửa số 55 và 76, tờ bản đồ số 15, tại xóm 7 và giao cho UBND xã Ninh Hiệp có trách nhiệm quản lý, có kế hoạch sử dụng đất đã được điều chỉnh thay thế tại Quyết định 8643/QĐ-UBND của UBND huyện Gia Lâm.

    Theo đó, không thu hồi diện tích đất nêu trên mà giao cho UBND xã Ninh Hiệp hướng dẫn các hộ gia đình ông Chỉnh và ông Thạch và bà Phú thực hiện việc đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Như vậy, đối tượng khởi kiện của ông chiến và ông Chỉnh là Điều 2 của Quyết định 63/QĐ-UB nêu trên đã không còn.

    Theo HĐXX, hiện phần diện tích đất 380 m2 đất ao xóm 7 xã Ninh Hiệp gồm thửa 55 và 76 do hai gia đình ông Chỉnh, ông Thạch và bà Phú sử dụng đất nhưng chưa thống nhất vị trí và ranh giới.

    Do đó, Điều 2 tại Quyết định số 63/QĐ-UB của UBND huyện Gia Lâm thu hồi đất là không đúng và không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993. Sau đó, UBND huyện Gia Lâm đã ban hành Quyết định 8643/QĐ-UBND để điều chỉnh Điều 2 tại Quyết định số 63/QĐ-UB là cần thiết và phù hợp.

    HĐXX cũng nhận định, thực tế sử dụng đất của hai gia đình ông Chỉnh và ông Thạch không phù hợp với sơ đồ phân chia của UBND xã Ninh Hiệp ngày 24/09/1990, không phù hợp với Biên bản của ông Chỉnh cùng các hộ gia đình thống nhất sử dụng ranh giới.

    Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên, UBND huyện Gia Lâm đã điều chỉnh Điều 2 của Quyết định số 63/QĐ-UB để không thu hồi hai thửa đất 55 và 76 mà giao cho UBND xã Ninh Hiệp hướng dẫn các hộ gia đình ông Chỉnh, ông Thạch và bà Phú thực hiện việc đăng ký kê khai Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định là đúng pháp luật không thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của ông Chiến và ông Chỉnh.

    “Trường hợp, trong nội bộ các hộ gia đình không thống nhất được quyền sử dụng đất do việc tặng cho hay thừa kế thì đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Sau đó, làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, HĐXX nhấn mạnh.

    Từ những nhận định trên, thay mặt HĐXX, thẩm phán Lê Trí Cường tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Chiến và ông Nguyễn Văn Chỉnh đề nghị hủy Quyết định số 8643/QĐ-UBND ngày 05/07/2017 của UBND huyện Gia Lâm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Chiến và ông Chỉnh đề nghị hủy Quyết định số 63/QĐ-UB ngày 04/02/2002 (do đã được giải quyết tại Quyết định 8643/QĐ-UBND). Các đương sự được quyền kháng cáo trong vòng 15 ngày từ ngày nhận được bản án.

    Báo TN&MT sẽ tiếp tục thông tin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tp.hcm: Kiến Nghị Hủy Bỏ Quyết Định Giao Đất Cho Dự Án Lấp Rạch, Bán Nhà Trái Phép
  • Ubnd Huyện Bị Kiện Vì Hủy Quyết Định Cấp Đất Cho Dân
  • Mẫu Biên Bản Bàn Giao Tài Sản
  • Mẫu Biên Bản Bàn Giao Tài Sản Bản Cập Nhật Năm 2022
  • Quyết Định Giao Đất, Giao Rừng (Dùng Cho Hộ Gia Đình, Cá Nhân, Cộng Đồng Dân Cư)
  • Hỏi Luật Sư Về Việc Đính Chính, Thay Thế, Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính!

    --- Bài mới hơn ---

  • Bãi Bỏ Quyết Định Số 06/2015/qđ
  • Mẫu Quyết Định Cưỡng Chế Thu Hồi Đất Và Nguyên Tắc Bồi Thường Khi Nhà Nước Thu Hồi Đất ?
  • Văn Bản Hành Chính Có Thể Bãi Bỏ Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Vụ Đồng Tâm: Hủy Bỏ Quyết Định Tạm Giữ Ông Lê Đình Kình
  • Các Trường Hợp Bị Tạm Giữ, Thẩm Quyền, Thủ Tục Quyết Định Tạm Giữ Và Thời Hạn Tạm Giữ Trong Tố Tụng Hình Sự
  • – Năm 2005 hộ bà A và hộ ông B đổi đất cho nhau:

    Việc đổi đất giữa hộ bà A và hộ ông B được lập biên bản có xác nhận chứng thực của UBND xã C nhưng không đăng ký theo quy định của pháp luật về đất đai. Theo đó, hộ bà B nhận Giấy Chứng nhận QSDĐ (1) của hộ ông B và hộ ông B nhận Giấy Chứng nhận QSDĐ (2) của hộ bà A.

    – Năm 2006 hộ ông B xây nhà và sinh sống trên toàn bộ diện tích đất (2).

    – Năm 2007 Nhà nước có dự án xây dựng công trình quốc gia XYZ, và diện tích đất (2) của hộ ông B đang sử dụng thuộc diện phải thu hồi để bàn giao mặt bằng thi công.

    – Năm 2008 UBND huyện D ban hành Quyết định123/QĐ-UBND ngày 01/01/2008 về việc thu hồi diện tích đất (2) đối với hộ bà A để thi công công trình quốc gia XYZ và yêu cầu hộ bà A có trách nhiệm thực hiện quyết định này.

    – Sau khi Quyết định123/QĐ-UBND ngày 01/01/2008 ban hành, Hội đồng GPMB huyện D đã tiến hành các bước đo đạc, kiểm điểm và thực hiện phương án bồi thường, giao đất tái định cư cho hộ gia đình ông B theo đúng quy định. Nhưng sau khi nhận tiền bồi thường, nhận đất tái định cư theo quy định, hộ ông B đã không bàn giao mặt bằng (2) theo quy định.

    – Vận động, thuyết phục nhưng hộ ông B vẫn không ban giao mặt bằng (2)

    – Năm 2012 UBND huyện D quyết định thực hiện phương án cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất (2) vì hộ ông B không bàn giao mặt bằng (2)

    * Nhưng khi soát hồ sơ để tổ chức cưỡng chế, đã nhận thấy có sai sót, nhầm lẫn trong khi ban hành quyết định123/QĐ-UBND ngày 01/01/2008. Cụ thể, lẽ ra Quyết định 123 phải thu hồi đất (2) của hộ ông B nhưng khi đó đã ghi: Thu hồi đất (2) của hộ bà A.

    Trân trọng đón nhận sự tham vấn của Luật sư để giúp chúng tôi tự quyết định phương án tối ưu khi tổ chức cưỡng chế thực hiện Quyết định 123 theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Thơ: Dân Lo Mất Đất Dù Chính Quyền Đã Hủy Bỏ Các Quyết Định Cưỡng Chế
  • Nghệ An: Hủy Bỏ Các Quyết Định Cưỡng Chế Nhà Dân Tại Xã Quỳnh Lương
  • Chiêu Đối Phó Của Ủy Ban Khi Bị Kiện
  • Ủy Ban Rút Quyết Định Bị Kiện, Tòa Xử Sao?
  • Người Bị Kiện Tự Mình Sửa Đổi, Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính, Hoặc Dừng, Khắc Phục Hành Vi Hành Chính Bị Khởi Kiện Trong Giai Đoạn Xét Xử Sơ Thẩm, Phúc Thẩm Vụ Án Hành Chính
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100