Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Văn Bản Qua Đèo Ngang

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà, 7 Bài Cảm Nhận Hay, Mở Bài,
  • Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà.
  • Văn Mẫu Lớp 7: Cảm Nhận Của Mình Về Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Của Tác Giả Lí Thường Kiệt
  • Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Của Lí Thường Kiệt
  • Cảm Nghĩ Về Văn Bản “nam Quốc Sơn Hà”
  • Phát biểu cảm nghĩ về văn bản Qua đèo ngang

    A) MỞ BÀI:

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

    – Nội dung bài thơ.

    B) THÂN BÀI:

    – Thơ của bà hay nói về hoàng hôn, giọng điệu du hương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp và lưu luyến.

    – Trên đường vào Phú Xuân, bước tới Đèo Ngang lúc chiều tà, cảm xúc đâng trào, tác giả đã sáng tác nên thơ ” Qua Đèo Ngang”.

    – Đây là lần đầu tiên, tác giả bước tới Đèo Ngang đứng dưới chân con đèo.

    *) 2 câu đề: “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”( điểm nhìn gần)

    – Nơi đây chỉ có hoa rừng and cỏ dại. Cảnh vật haong sơ đến não lòng.

    *) 2 câu thực:

    – Biện pháp nghệ thuật đối và đảo ngữ sử dụng rất điêu luyện ấn tượng, âm điệu du hương khi đọc lên ta thấy thật thú vị.

    – Điểm nhìn của tác giả đã thay đổi, đứng từ trên cao nhìn xuống, nhìn ra xa. Thế giới con người ở đây là “vài chú tiều”. Hoạt động cảu các chú đang “lom khom” vác củi xuống núi. Cảnh vật nơi đây chỉ có mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác.

    *) 2 câu luận:

    – 2 câu thơ tiếp theo tác giả tả âm thanh tiếng chim rừng gọi là bầy lúc hoàng hôn. Điểm âm “quốc quốc, gia gia” tạo âm hương du dương cảu khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người. Tác giả đã lấy cái đông của tiếng chim rừng để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm của Đèo Ngang.

    – là 1 nữ sĩ nên nỗi nhớ nước, nhớ khinh kì Thăng long, nhớ nhà, nhớ chồng con, nhớ làn Nghi Tàn thân thuộc ko thể nào kể xiết.

    *) 2 câu kết:

    – 4 chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện niềm xúc động đến bồn chồn của tác giả. Tác giả nhìn xen ra nhìn gần nhìn 4 phía thấy vô cung buồn đau “ta với ta”.

    – Tác giả đã lấy cái bao la vô tận của vũ trụ tương phản với cái nhỏ bé để tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người khách trên đỉnh Đèo Ngang lúc chiều tà, tâm trạng nhớ quê, nhà của nữ sĩ Thanh Quan.

    C) KẾT BÀI:

    “Qua Đèo Ngang” bài thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Cảnh sắc Đèo Ngang hữu tình thấm 1 nõi buồn man mác. Cảm hứng thiên nhiên chan hòa với tình yêu đất nước, quê hương đậm đà qua 1 hồn thơ trang nhã. Em rất yêu thích bài thơ này. Ngày nay và mai sau bài thơ vẫn là lời tâm sự của biết bao người.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Hai Câu Thơ Trong Đoạn Văn Bản Ở Tác Phẩm Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Hay Nhất
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Cảnh Khuya
  • Viết Bài Văn Biểu Cảm Về Văn Bản ‘cảnh Khuya’ Câu Hỏi 1368124
  • 2 Bài Văn Mẫu Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Cảnh Khuya Hay Nhất
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Cảnh Khuya, 5 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bà
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh.
  • Xác định phương thức biểu đạt trong một văn bản là một trong những yêu cầu thường gặp trong phần đọc hiểu của đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn.

    Thực ra, trong mỗi văn bản thường sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt. Việc vận dụng tổng hợp nhiều phương thức là đòi hỏi của chính cuộc đời, nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, trong một văn bản cụ thể, các phương thức ấy sẽ không có vị trí ngang nhau; tuỳ thuộc vào mục đích cần đạt tới, người viết sẽ xác định phương thức nào là chủ đạo.

    Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau:

    – Tự sự: là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    Ví dụ:

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

    (Tấm Cám)

    – Miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Ví dụ:

    Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

    ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

    Biểu cảm: là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác. Phương thức biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh.

    Ví dụ:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than

    (Ca dao)

    – Thuyết minh: là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    Ví dụ:

    Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn của hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải …”

    ( Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)

    Nghị luận: là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.

    Ví dụ:

    Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai

    (Tài liệu hướng dẫn đội viên)

    Hành chính – công vụ: là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…]

    Ví dụ:

    “Điều 5.- Xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà sách nhiễu nhân dân, dung túng, bao che cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.” chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Cách Làm Văn Biểu Cảm
  • Chuyên Đề Dhtcnl: Văn Biểu Cảm
  • Chuyên Đề Kiểu Văn Bản Biểu Cảm Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Trang 71 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)
  • Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM – Thơ Đường luật

    Còn gọi là thơ cận thể. Thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ đời Đường ở Trung Quốc. Có ba dạng chính : Thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật), trong đó thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ), được coi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác. Về bố cục, một bài bát cú gồm 4 phần : đề, thực, luận, kết. Trong đề, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề. Phá đề mở ý của đầu bài ra, thừa đề tiếp ý của phá đề chuyên vào thân bài. Thực (câu 3 và 4) còn gọi là trích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đầu bài. Luận (câu 5 và 6) phát triển rộng ý của đầu bài. Kết (hai câu cuối) kết thúc ý toàn bài. Cách chia thành 4 phần như vậy cũng như việc quy định rõ nhiệm vụ cho từng phần càng về sau càng chặt. Các nhà thơ có tài năng thường không để cho bố cục nói trên gò bó. Về luật bằng trắc, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng thanh trắc trong từng câu và trong cả bài. Hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng (và ngược lại). Sự sắp xếp âm thanh chẳng qua chỉ làm cho điệu thơ không đơn điệu. Muốn vậy trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau trong mỗi cặp câu (còn gọi là liên), các chữ tương ứng của câu số lẻ và số chẵn phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu) ; nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới (sự giống nhau đó gợi là niêm vì làm cho hai câu thuộc hai liên dính vào nhau). Ví dụ : công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng :

    Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra lệ bất luận : chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều được) ; chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận ; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thành trắc, nhất là ở câu có vần. Về cách đối : đôi ở phần thực và luận. Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại. Các nhà thơ thường thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu thuỷ (hơi thơ cũng như ý của câu thứ hai là do câu thứ nhất trượt xuống, không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một câu), khoan đối (đối không thật chỉnh)… về cách gieo vần : chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8). Riêng chữ cuối câu thứ nhất, đặc biệt là ở thơ ngũ ngôn, có thể không gieo vần.

    Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thơ Đường luật như tiệt hạ (ý, lời của mỗi câu thơ đều lơ lửng), yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám),… Nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến đã sử dụng thể thơ Đường luật để viết nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng, đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện. Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật khó diễn đạt được đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại. Tuy vậy, thơ Đường luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và ở một số trường hợp nhất định trong cuộc sống văn hoá của nhân dân ta.

    (Nguyễn Khắc Phi/ Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984)

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

    Ở bài thơ này bà Huyện chỉ nói tâm tư của mình.

    Đèo Ngang là một cảnh được nhiều người ngâm vịnh. Vì vị trí lịch sử (vùng giáp ranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt hai thế kỉ) đã đành, còn là vì cảnh trí thiên nhiên ngoạn mục : đứng trên đỉnh nhìn quanh, đông là biển xanh thăm thẳm, sóng tung bọt trắng vào chân núi, tây là núi biếc trùng trùng, bắc nam là vùng cận sơn, đất sỏi một màu đỏ thẫm. Đường ô tô nay còn quanh co, khuất khúc, huống gì hồi xưa. Tột đỉnh, ngày đó là cửa quan đỏ chót ba chữ Hoành Sơn Quan.

    Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

    Bà đến đây vào lúc bóng chiều đã ngả, không chỉ xế mà xế tà. Thời điểm ấy không còn là thời điểm cho vui tươi, rạng rỡ mà đã xiêu xiêu về phía hoài niệm, mơ màng, cảnh vẫn ra vẻ tươi : cỏ cây chen giữa đá, lá chen giữa hoa (có thể hiểu : đá chen giữa cỏ cây, hoa chen giữa lá). Nhưng sao lại không vui, mà lại gây ấn tượng chen lấn, giành giật, tranh lấy một không gian sống ? Tịnh không mảy may chào đón, hớn hở gặp được một nhà thơ lại là một bà quan. Cỏ cây, đá, lá, hoa cứ làm việc của nó, chang biết gì đến người khách quý.

    Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mây nhà.

    Cỏ cây, hoa đá còn giành giật nhau đất sống, hỏi con người sẽ ra sao ? Rõ là tội nghiệp : Lân với cổ đá, tiều chỉ vài chú lẻ loi, thân hình lom khom như bị núi đè xuống dưới nhỏ nhoi, xa lơ dưới vực sâu. Còn chợ thì tận bên sông (có thể hồi đó, sông Roòn đang còn ở gần núi, từ Đèo có thể nhìn thấy chợ bên sông?), xa tít xa mù, lẽ ra đông nhà đông người, thì chỉ có lác đác mỗi nơi một vài nhà ! Dưới núi, bên sông sao nghe xa xôi thế ! cỏ đá thì giành nhau chỗ sinh tồn vì quá đông, thiên nhiên quá rậm rạp, còn con người thì sao mà thưa thớt, bé nhỏ, hắt hiu vậy ? cảm giác không gian sao mà mênh mông, trông vắng !

    Cảnh hiện thực khách quan đó chăng? Hay là cảnh tâm trạng ? Đến hai câu luận mới rõ dần :

    Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

    Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

    Ít nhất đây cũng là tâm trạng con người bé nhỏ đối diện với thiên nhiên bao la. Cũng cần biết một chút điển tích : chim cuốc được lưu truyền là hồn vua Thục Đế mất nước nên đau lòng gào kêu mãi quốc quốc. Con đa đa (chữ Hán gọi là gia gia) nhắc tích Bá Di, Thúc Tề, bề tôi nhà Thương, thà chết đói chứ không chịu sống với nhà Chu (triều đại đã diệt nhà Thương) và ăn thóc nhà Chu ; nó là hoá thân của hai vị ấy nên nó luôn kêu “bất thực cốc Chu gia” (dân gian nhại là “bắt con tép kho cà”) tức không ăn thóc nhà Chu ; nhưng gia gia thì nhắc đến nhà.

    Bỗng dưng nhắc đến nước, đến nhà chắc không phải không có căn cớ.

    Bà Nguyễn Thị Hinh, người Đàng Ngoài, thuộc Lê Trịnh ; nay đã là triều Nguyễn, con cháu chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nói như xưa, mệnh thời thế là đã chuyên về họ Nguyễn. Tuy vậy, trong tâm tư thế hệ bà, người đất Bắc không khỏi không ngầm lắng một niềm luyến tiếc nhà Lê, tiếc thương thời cũ. Gia đình bà lại ở Hà Nội. Thăng Long xưa nay đã thay đổi và đã mất dần dấu tích xưa. Nay bà lại vào kinh, một nơi lạ nước lạ nhà, một mình ngàn dặm. Phụ nữ xưa kia mấy khi xa nhà. Nhớ cảnh cũ người xưa, nghĩ nước nhớ nhà, tâm trạng ấy, càng đi xa vào Nam càng nặng, và qua Đèo Ngang là như bước qua vùng đất Đàng Trong, chốn lạ. Cho dù đau lòng bên trong và mỏi miệng bên ngoài, mỗi bên có thể nặng nhẹ khác nhau, nhưng nhớ nước và thương nhà đều một mực tha thiết. Cặp phạm trù nước nhà này có gốc rất sâu trong lòng Việt Nam. Chạm tới nó là khơi động bao nỗi niềm thiết tha, gắn bó của con người với nước và nhà, nước chung và nhà riêng nhưng nhuyễn quánh làm một. Nhớ nước đã đau, thương nhà đã mỏi. Thương nhà đã thêm chiều sâu ở nhớ nước. Nhớ thương như thế không còn là nhớ thương bình thường của riêng một người. Đó là một nỗi nhớ thương có tính cách lịch sử.

    Mượn tiếng kêu của hai con chim mà gợi đến nỗi niềm ấy trong lòng, kì thực là từ cảnh trước mắt quay về cảnh đã qua, từ hiện tại trở về quá khứ. Quốc quốc, gia gia trở thành những sinh vật của thời nào, nơi nào, không phải của thời điểm này, không gian này. Nó có đấy mà như không có đấy. Nó mơ hồ, huyền hoặc như nó là hiện thân của tấm lòng người khách đi đường lẻ loi, nhiều tâm sự. Hai cầu thơ như hai tiếng vọng của xa xôi thời gian và mờ mịt không gian, mường tượng như hai tiếng than thương tự đáy lòng.

    Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.

    Đúng là vậy. Trước cảnh trời, non, nước ở Đèo Ngang, non trùng điệp, nước mênh mông, trước cái vô cùng của trời đất, cảnh bể dâu của cuộc đời, con người thấy bé nhỏ tội nghiệp bao nhiêu ! Thêm cái tâm trạng ngổn ngang nhiều suy cảm, con người càng thấy mình cô đơn. Cho nên, quay lại, chỉ có mình với mình, với mảnh tình riêng của mình, đơn lẻ, nhỏ nhoi. Sáu câu thơ là một sự trống vắng mênh mông.

    Ta có cảm tưởng bài thơ tả cảnh mà không tả cảnh, chỉ mượn cảnh để tả tâm trạng một người nhưng cũng không phải tâm trạng một người. Nó là một tiếng nói của lịch sử, một chứng tích lịch sử, một đoạn đau thương trong trường khúc đau thương của non nước Việt Nam ở giai đoạn lịch sử có tính bi kịch này. Cái bóng xế tà của nhà thơ không chỉ chiếu nghiêng xuống bài thơ mà còn ngả dài xuống lịch sử, xuống số phận nhân dân ta và đất nước ta dưới triều Nguyễn. Bài thơ của một khoảnh khắc mà ai hay lại là một dự báo cho lâu dài.

    (Theo Lê Trí Viễn, Sđd)

    VĂN BẢN ĐỌC THÊM

    QUA ĐÈO NGANG

    Bãi thẳm, ngần xa, cảnh vắng teo

    Đèo Ngang lợi bể nước trong veo

    Thà là cúi xuống cây đòi sụt

    Xô xát trông lên sóng muốn trèo

    Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ

    Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều

    Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả

    Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.

    (Lê Thánh Tông)

    * Gợi dẫn

    Hãy phân tích điểm giống và khác nhau giữa bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan và của Lê Thánh Tông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7
  • 6 Kiểu Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 6: Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt
  • Top 53 Đề Kiểm Tra, Đề Thi Ngữ Văn Lớp 6 Có Đáp Án, Cực Hay
  • Đề Kiểm Tra Văn Bản Lớp: 6 Thời Gian: 45 Phút
  • Đề Kiểm Tra Văn Bản Lớp: 6 ( Đề 1) Tiết 97
  • Hệ Thống Câu Hỏi Và Bài Tập Môn: Ngữ Văn Lớp 6
  • 6 Kiểu Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt, Nhà Bác Học Qua Sông Phương Thức Biểu Đặt Là Gì, Khái Niệm Các Phương Thức Biểu Đạt, Khái Niệm 6 Phương Thức Biểu Đạt, 1 Văn Bản Tiếng Nói Của Văn Nghệ Sử Dụng Phương Thức Biểu Đạt Giống Với , Xã Phường Kiểu Mẫu, Thực Hành Xác Định Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ, Bài 4 Thực Hành Xát Định Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ, Phương án Xây Dựng Khu Dân Cư Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Các Kiểu Nhiệm Vụ Trong Chủ Đề Phương Trình Mặt Phẳng, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Thực Đơn ăn Dặm Kiểu Nhật, Bafio Phát Biểu Tham Luận Của Đoàn Thanh Niên Về Tham Gia Xây Dựng Khu Dân Cư Kiểu Mẫu, Phương Pháp Ghép Và Các Kiểu Ghép, Bài 9 Phương Pháp Ghép Và Các Kiểu Ghép, Nghiên Cứu, Tính Toán, Thiết Kế Máy Đùn ép Cám Viên Kiểu Trục Vít Làm Thức ă, Câu Thơ Kiều Càng Sắc Sảo Mặn Mà Nói Về Vẻ Đẹp Nào Của Thúy Kiều, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Thời Khoá Biểu Phương Nam, Mẫu Đơn Xin Thôi Làm Đại Biểu HĐnd Phường, Bài 14 Kiểu Và Sử Dụng Kiểu, Phat Bieu Phuong Vinh Dam Tang Di Tap The, Don Xin Mien Nhiem Dai Bieu Hdnd Phuong, Don Xin Thoi Lam Dai Bieu Hoi Dong Nhan Dan Cap Phuong , Biểu Mẫu Đăng Ký Phương Pháp Khấu Hao, Liên Hệ Thực Tiễn Tại Đia Phương Khi Tham Gia Học Lớp Bồi Dưỡng Kiến Thức Cho Đối Tượng 4, Bài Phát Biểu Tổng Kết Năm Của Tdp Và Phương Hướng Nhiệm Vụ Năm Tới, Phat Bieu Tại So Ket Quoc Phong Quan Su Dia Phuong, Em Hay Trinh Ba Phuong Phap Tim Thu Tu Dau Thang Va Dau Giang O Hoa Bieu, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê, Biểu Mẫu Đăng Ký Phương Pháp Trích Khấu Hao TscĐ, Triết Học Phương Tây Hiện Đại: Một Số Trường Phái Và Tác Giả Tiêu Biểu, Phát Biểu Chỉ Đạo Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Chính Quyền Địa Phương, Chuyên Đề Rút Gọn Biểu Thức Chứa Căn Thức Bậc Hai Có Đáp án, Cách Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ Không Được Biểu Hiện Bằng Phương Pháp Nào, Bài Phát Biểu Của Lãnh Đạo Địa Phương Trong Buổi Trao Học Bổng Cho Học Sinh Nghèo, Phương Thức, Báo Cáo Thực Tập Y Tế Xã Phường, Báo Cáo Kết Quả Thực Tế Tại Địa Phương, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Tại Trạm Y Tế Phường, Báo Cáo Thực Tập Trạm Y Tế Phường, Báo Cáo Thực Tập Tại Trạm Y Tế Phường 8, Báo Cáo Thực Tập Ubnd Phường, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Trạm Y Tế Phường, Mẫu Chứng Từ Vận Tải Đa Phương Thức, Báo Cáo Thực Tập Tại ủy Ban Nhân Dân Phường, Phương Thức Làm Đất Theo Hố, Báo Cáo Thực Tập Rừng Cúc Phương, Phương án Hoa Thức Nghịch Tập Nam Thần, Phương Thức Tồn Tại Của Vật Chất, Báo Cáo Thực Tập Trạm Y Tế Phường 8, Báo Cáo Thực Tập Tại Ubnd Phường, Bài Tập Rút Gọn Biểu Thức Lớp 9, Dạy Dự Giờ Bài Giá Trị Của Một Biểu Thức Đại Số, ôn Tập Rút Gọn Biểu Thức, Bài Tập Rút Gọn Biểu Thức Lớp 8, Biểu Thức Đại Số, Biểu Mẫu Lưu Mẫu Thức ăn, Văn Bản Đăng Ký Phương Thức Đóng Của Đơn Vị, Các Phương Thức Phân Loại Câu, Phương Trình Chứa ẩn ở Căn Thức, Công Thức Phương Trình Mặt Cầu, Chuyên Đề 5 Dấu Của Tam Thức Bậc Hai Bất Phương Trình Bậc Hai, Phương Thức Kháng Cáo Điểm Số, Hãy Kể Tên Các Phương Thức Chuyển Nghĩa Của Từ, Phiếu Khảo Sát Về Phương Thức Đào Tạo, Báo Cáo Kết Quả Thực Tập Phương án Chữa Cháy, Phương Thức Vận Tải Của Công Ty Acecook, Phương Thức Xét Tuyển Đại Học Xã Hội Nhân Văn, Báo Cáo Kết Quả Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng, Lien He Thuc Tien Tai Dia Phuong, Biểu Mẫu Sổ Chứng Thực Chữ Ký, Biểu Mẫu Thực Hiện 5s, Bài Tập Rút Gọn Biểu Thức Chứa Căn Lớp 9, Địa Lý 12 Bài 23 Thực Hành Vẽ Biểu Đồ, Biểu Mẩu Sổ Chứng Thực, Chuyên Đề Rút Gọn Biểu Thức Lớp 8, Bài Giảng Giá Trị Của Một Biểu Thức Đại Số, Bài Giảng Giá Trị Của Biểu Thức Đại Số, Biểu Mẫu Chứng Thực Chữ Ký, Chuyên Đề Rút Gọn Biểu Thức, Công Thức 2 Vecto Cùng Phương, Báo Cáo Thực Hành Phương Pháp Thí Nghiệm, Phương án Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, 9 Công Thức Nghiệm Của Phương Trình Bậc 2, 1 Công Thức Nghiệm Của Phương Trình Bậc Hai, Công Thức Nghiệm Của Phương Trình Bậc Hai, Phương án Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Phương Trình 3×3−3×2−3x=3−5x Có Nghiệm Trên Tập Số Thực Là, Báo Cáo Thực Tập Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương, Phương Thức Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc, Công Thức Tính R Phương Trình Mặt Cầu, Hãy Kể Tên Phương Pháp Làm Chín Thực Phẩm, Phụ Lục Hướng Dẫn Bầu Cử Theo Phương Thức Bầu Dồn Phiếu, Hãy Kể Tên Các Phương Pháp Làm Chín Thực Phẩm, Hãy Kể Tên Các Phương Pháp Chế Biến Thực Phẩm, Văn Bản Đăng Ký Phương Thức Đóng Bhxh, Em Hãy Kể Tên Một Số Phương Pháp Chế Biến Thức ăn Vật Nuôi, Khái Niệm Về Biểu Thức Đại Số,

    6 Kiểu Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt, Nhà Bác Học Qua Sông Phương Thức Biểu Đặt Là Gì, Khái Niệm Các Phương Thức Biểu Đạt, Khái Niệm 6 Phương Thức Biểu Đạt, 1 Văn Bản Tiếng Nói Của Văn Nghệ Sử Dụng Phương Thức Biểu Đạt Giống Với , Xã Phường Kiểu Mẫu, Thực Hành Xác Định Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ, Bài 4 Thực Hành Xát Định Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ, Phương án Xây Dựng Khu Dân Cư Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Các Kiểu Nhiệm Vụ Trong Chủ Đề Phương Trình Mặt Phẳng, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Thực Đơn ăn Dặm Kiểu Nhật, Bafio Phát Biểu Tham Luận Của Đoàn Thanh Niên Về Tham Gia Xây Dựng Khu Dân Cư Kiểu Mẫu, Phương Pháp Ghép Và Các Kiểu Ghép, Bài 9 Phương Pháp Ghép Và Các Kiểu Ghép, Nghiên Cứu, Tính Toán, Thiết Kế Máy Đùn ép Cám Viên Kiểu Trục Vít Làm Thức ă, Câu Thơ Kiều Càng Sắc Sảo Mặn Mà Nói Về Vẻ Đẹp Nào Của Thúy Kiều, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Thời Khoá Biểu Phương Nam, Mẫu Đơn Xin Thôi Làm Đại Biểu HĐnd Phường, Bài 14 Kiểu Và Sử Dụng Kiểu, Phat Bieu Phuong Vinh Dam Tang Di Tap The, Don Xin Mien Nhiem Dai Bieu Hdnd Phuong, Don Xin Thoi Lam Dai Bieu Hoi Dong Nhan Dan Cap Phuong , Biểu Mẫu Đăng Ký Phương Pháp Khấu Hao, Liên Hệ Thực Tiễn Tại Đia Phương Khi Tham Gia Học Lớp Bồi Dưỡng Kiến Thức Cho Đối Tượng 4, Bài Phát Biểu Tổng Kết Năm Của Tdp Và Phương Hướng Nhiệm Vụ Năm Tới, Phat Bieu Tại So Ket Quoc Phong Quan Su Dia Phuong, Em Hay Trinh Ba Phuong Phap Tim Thu Tu Dau Thang Va Dau Giang O Hoa Bieu, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê, Biểu Mẫu Đăng Ký Phương Pháp Trích Khấu Hao TscĐ, Triết Học Phương Tây Hiện Đại: Một Số Trường Phái Và Tác Giả Tiêu Biểu, Phát Biểu Chỉ Đạo Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Chính Quyền Địa Phương, Chuyên Đề Rút Gọn Biểu Thức Chứa Căn Thức Bậc Hai Có Đáp án, Cách Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ Không Được Biểu Hiện Bằng Phương Pháp Nào, Bài Phát Biểu Của Lãnh Đạo Địa Phương Trong Buổi Trao Học Bổng Cho Học Sinh Nghèo, Phương Thức, Báo Cáo Thực Tập Y Tế Xã Phường, Báo Cáo Kết Quả Thực Tế Tại Địa Phương, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Tại Trạm Y Tế Phường, Báo Cáo Thực Tập Trạm Y Tế Phường, Báo Cáo Thực Tập Tại Trạm Y Tế Phường 8, Báo Cáo Thực Tập Ubnd Phường, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Trạm Y Tế Phường, Mẫu Chứng Từ Vận Tải Đa Phương Thức, Báo Cáo Thực Tập Tại ủy Ban Nhân Dân Phường, Phương Thức Làm Đất Theo Hố, Báo Cáo Thực Tập Rừng Cúc Phương, Phương án Hoa Thức Nghịch Tập Nam Thần,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Đề Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Môn Văn Lớp 6 Phần Bài Tập Mẫu
  • Cách Thiết Lập Và Sử Dụng Tính Năng Thay Thế Văn Bản Trên Iphone
  • File Tải Về Trên Iphone Nằm Ở Đâu Và File Của Iphone Nằm Ở Đâu
  • Làm Thế Nào Để Phục Hồi Đã Xoá Văn Bản Thông Điệp Từ Iphone 6 Plus/6/5 / 5C/5/4/4
  • Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt Trang 15 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Bài Giao Tiếp Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt Ngữ Văn 6
  • Bài 2. Bố Cục Trong Văn Bản
  • Sửa Lỗi Mã Hóa Ký Tự Bị Hỏng, Bị Lỗi Trên Word 2022, 2022, 2013, 2010
  • Mẹo Sửa Lỗi Văn Bản Bị Dính Chữ Trong Word Không Phải Ai Cũng Biết
  • Bài tập minh họa

    Đề bài: Liệt kê và nêu khái niệm 6 phương thức biểu đạt trong văn bản và cho ví dụ minh họa từng phương thức.

    Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau

    • Tự sự
      • Khái niệm: Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.
      • Ví dụ: “Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì” (Tấm Cám).
    • Miêu tả
      • Khái niệm: Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.
      • Ví dụ: “Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát” (Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy).
    • Biểu cảm
      • Khái niệm: Là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác. Phương thức biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh.
      • Ví dụ

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than

    (Ca dao)

    • Thuyết minh
      • Khái niệm: Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.
      • Ví dụ: “Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn của hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải…”(Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000).
    • Nghị luận
      • Khái niệm: Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.
      • Ví dụ: “Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai” (Tài liệu hướng dẫn đội viên).
    • Hành chính – công vụ
      • Khái niệm: Là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí (thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…)
      • Ví dụ: “Điều 5. Xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà sách nhiễu nhân dân, dung túng, bao che cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài : Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Ubnd Tỉnh Bình Định
  • Văn Bản Chỉ Đạo Ubnd Tỉnh Bình Định
  • Văn Bản Ubnd Tỉnh Bình Định
  • Văn Bản Ubnd Tỉnh An Giang
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Sự Khác Nhau Giữa 3 Văn Bản: Lão Hạc, Trong Lòng Mẹ Và Tức Nước Vỡ Bờ? Nêu Giá Trị Bao Gồm Nội Dung, Nghệ Thuật Và Cảm Nhận Của 1 Văn Bản…
  • Khái Quát Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu Của Nguyên Hồng)
  • Trình Bày Sự Khác Nhau Giữa 3 Văn Bản: Lão Hạc, Trong Lòng Mẹ Và Tức Nước Vỡ Bờ? Nêu Giá Trị Bao Gồm Nội Dung, Nghệ Thuật Và Cảm Nhận Của 1 Văn Bản… Tài Liệu Học Tập
  • 1. Hãy Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Để Phân Loại Phép Liệt Kê Xét Theo Cấu Tạo Và Xét Theo Ý Nghĩa 2. Tìm Thêm Những Loại Văn Bản Hà…
  • Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ( khi muốn kể sự việc )

    Ví dụ:

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

    Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép.

    +Có nhân vật : dì ghẻ, Tấm, Cám.

    +Có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em

    +Có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám

    +Có các câu trần thuật

    Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả : Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc,… của người và sự vật ( tả người, tả cảnh, tả tình,….)

    Ví dụ:

    Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

    ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

    Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng.

    Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    Nhận biết phương thức thuyết minh hơi rắc rối hơn chút : có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng,người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó.

    Ví dụ:

    Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan.

    Hoa lan đã được người phương Đông tôn là ” loài hoa vương giả ” (vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là ” nữ hoàng của các loài hoa “

    Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục ….

    ( Trích trong SGK Ngữ văn lớp 10 )

    Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu rõ về loài hoa này.

    6. Hành chính công vụ :

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Và Dấu Hiệu Nhận Biết Chuẩn Xác
  • Sự Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt
  • Bài 2 . Trong Lòng Mẹ Trong Long Me Ppt
  • Trắc Nghiệm Trong Lòng Mẹ
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 8 Bài Trong Lòng Mẹ
  • Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Bài Giảng Môn Ngữ Văn Lớp 7
  • Bài Thơ: Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Qua đèo Ngang” là một tác phẩm nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được viết khi bà lên đường đến huyện Phú Xuân đi qua đèo ngang là một địa danh phong cảnh hữu tình. Bài thơ là bức tranh ngụ tình sâu sắc của nhà thơ qua đó hé lộ cho chúng ta thấy được nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả hiện lên rõ nét.

    Mở đầu bài thơ là hai câu đề:

    Bước tới đèo ngang bóng xế tà

    Cỏ cây chen lá đá cheo hoa

    Câu thơ gợi lên thời điểm mà tác giả tới đèo Ngang, khi đó thời gian đã vào xế tà tức là trời đã quá buổi chiều và đang chuyển sang tối. Đối với một vùng hoang sơ hẻo lánh thì thời điểm chiều tà cũng là thời điểm mọi người đã quay trở về nhà. Phải chăng chọn thời điểm như thế tác giả muốn nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác vắng vẻ nơi đây? Và từ đây tâm trạng tác giả bắt đầu hỗn loạn khi chứng kiến cảnh vật từ trên cao nhìn xuống.

    Khung cảnh ấy thật gợi lên trong lòng người đọc những nỗi nhớ vấn vương rồi lan tỏa ra từng câu thơ khiến cho người đọc thấm đượm được phần nào nỗi nhớ thương của tác giả đối với quê hương. Trời đã chiều tối cảnh vật đã lụi tàn khiến cho tâm trạng của bà càng trở nên xốn xang vô cùng. Cái thời điểm ấy rất phù hợp với tâm trạng hiện giờ của bà. Đúng như trong những câu thơ cổ đã nói đến tâm trạng con người nhuốm màu sang cảnh vật.

    Ở đây tâm trạng cô đơn hiu vắng hiu quạnh của tác giả đã nhuốm màu sang cảnh vật khiến cho cảnh vật giờ đây dường như trở nên tang thương hơn bao giờ hết. Ta phải công nhận là cảnh vật trong thơ được hiện lên khá là sinh động. Có cỏ cây có hoa lá nhưng lại là một cảnh tượng chen chúc nhau để tìm sự sống. Cảnh vật ấy hoang sơ hoang dại đến nao lòng. Phải chăng sự chật chội của hoa lá phải chen chúc nhau để tồn tại cũng chính là tâm trạng của tác giả đang vô cùng hỗn loạn? Tác giả đã sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Nó làm cho người đọc cảm thấy được sự hoang vắng của đèo ngang lúc chiều tà bóng xế mặc dù nơi đây có cảnh đẹp cỏ cây hoa đá, lá. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt ra xa chút nữa như để tìm một hình ảnh nào đó để tâm trạng thi nhân phần nào bớt chút hiu quạnh. Và phía dưới chân đèo xuất hiện một hình ảnh:

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    Điểm nhìn đã được nhà thơ thay đổi nhưng sao tác giả vẫn chỉ cảm thấy sự hiu quạnh càng lớn dần thêm. Bởi thế giới con người nơi đây chỉ có vài chú tiểu đang gánh nước hay củi về chùa. Đó là một hình ảnh bình thường thế nhưng chữ “lom khom” khiến hình ảnh thơ thêm phần nào đó vắng vẻ buồn tẻ thê lương. Đây là một nét vẽ ước lệ mà ta thường thấy trong thơ cổ “vài” nhưng lại rất thần tình tinh tế trong tả cảnh. Mấy nhà chợ bên kia cũng thưa thớt tiêu điều. Thường thì ta thấy nói đến chợ là nói đến một hình ảnh đông vui tấp nập nào người bán nào người mua rất náo nhiệt. Thế nhưng chợ trong thơ bà huyện thanh quan thì lại hoàn toàn khác, chợ vô cùng vắng vẻ không có người bán cũng chẳng người mua chỉ có vài chiếc nhà lác đác bên sông. Nhà thơ đang đi tìm một lối sống nhưng sự sống đó lại làm cảnh vật thêm éo le buồn bã hơn. Sự đối lập của hai câu thơ khiến cho cảnh trên sông càng trở nên thưa thớt xa vắng hơn. Các từ đếm càng thấy rõ sự vắng vẻ nơi đây. Trong sự hiu quạnh đó bỗng vang lên tiếng kêu của loài chim quốc quốc, chim gia trong cảnh hoàng hôn đang buông xuống:

    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

    Nghe tiếng chim rừng mà tác giả thấy nhớ nước, nghe tiếng chim gia gia tác giả thấy nhớ nhà. Dường như nỗi lòng ấy đã thấm sâu vào nỗi lòng nhà thơ da diết không thôi. Lữ khách là một nữ nhi nên nhớ nước nhớ nhà nhớ chồng nhớ con là một điều hiển nhiên không hề khó hiểu. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó? Từ thực tại của xã hội khiến cho nhà thơ suy nghĩ về nước non về gia đình.

    Dừng chân ngắm lại trời non nước

    Một mảnh tình riêng ta với ta

    Câu kết bài thơ dường như cũng chính là sự u hoài về quá khứ của tác giả. Bốn chữ “dừng chân ngắm lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn xa xôi mênh mang, tác giả nhìn xa nhìn gần nhìn miên man nhìn trên xuống dưới nhưng nơi nào cũng cảm thấy sự hiu quạnh sự cô đơn và nỗi nhớ nhà càng dâng lên da diết. Cảm nhận đất trời cảnh vật để tâm trạng được giải tỏa nhưng cớ sao nhà thơ lại cảm thấy cô đơn thấy chỉ có một mình “một mảnh tình riêng ta với ta”. Tác giả đã lấy cái bao la của đất trời để nhằm nói lên cái nhỏ bé “một mảnh tình riêng” của tác giả cho thấy nỗi cô đơn của người lữ khách trên đường đi qua đèo ngang.

    Bài thơ là bức tranh tả cảnh ngụ tình thường thấy trong thơ ca cổ. Qua đó tác phẩm cho chúng ta thấy được tâm trạng cô đơn hiu quạnh buồn tẻ của tác giả khi đi qua đèo ngang. Đó là khúc tâm tình của triệu là bài thơ mãi mãi còn y nguyên trong tâm trí người đọc..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)
  • Cảm Thụ Văn Học: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Nêu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ
  • Bài Tập Tổng Hợp Môn Văn Bản Quản Lý Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • [văn 7 ]Cảm thụ văn học: Qua đèo Ngang

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,

    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

    Lom khom dưới núi tiều vài chú,

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

    Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

    Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỷ 19. Quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, kinh thành Thăng Long. Bà xuất thân trong một gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh – bà được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”.

    Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi bà là Bà huyện Thanh Quan.

    Bà chỉ còn để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”, “Chơi Đài Khán Xuân Trấn võ”. “Tức cảnh chiều thu”.

    Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện.

    Trên đường vào Phú Xuân…, bước tới Đèo Ngang lúc chiều ta, cảm xúc dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài “Qua Đèo Ngang”. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà của người lữ khách – nữ sĩ.

    Lần đầu nữ sĩ “bước tới Đèo Ngang”, đứng dưới chân con đèo “đệ nhất hùng quan” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời điểm “bóng xế tà”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “tà”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “tà” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “chen”, vần lưng: “đá” – “lá”, vần chân: “tà” – “hoa”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước:

    “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

    Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng.

    Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị:

    “Lom khom dưới núi tiều vài chú,

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà”.

    Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ rong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cáilèu chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” – “hoa” – “nhà”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà.

    Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ vận dụng rất tài tình:

    “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gai”.

    Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng’ nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điẹu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “nhớ nước”, nhó kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhó chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết!

    Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trang nhớ quê, nhớ nhà:

    “Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta”.

    Bài thơ tả cảnh buổi chiều trên Đèo Ngang. Đèo Ngang trước con mắt lữ khách khi vừa đặt chân tới:

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

    Thiên nhiên như ùa đến trong tầm mắt tác giả, cảnh sắc tươi tắn, ưa nhìn, những sinh vật và đất đá nương tựa, xen lẫn nhau cũng có vẻ đông đúc:

    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

    Nhưng sau sự cảm nhận đầu tiên ấy, tác giả đã có thì giờ buông tầm mắt ra xa, tìm đến thế giới con người.

    Lẽ ra thiên nhiên có thêm con người phải sinh động, đẹp đẽ hơn nhưng ở đây sự điểm xuyết của mấy người hái củi thưa thớt, mấy quán chợ lơ thơ chỉ khiến cho cảnh vật thêm hiu hắt.

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    Bà Huyện Thanh Quan đã nhìn bao quát toàn cảnh, bà còn cảm nhận về Đèo Ngang qua thính giác: tiếng chim quốc, tiếng chim đa đa vọng đến, rơi vào cái vắng vẻ tĩnh mịch của buổi chiều trên đèo.

    Khung cảnh thiên nhiên ấy, hoàn cảnh lữ thứ ấy khiến cho tiếng chim gợi liên tưởng đến những từ đồng âm biểu hiện những ý nghĩa, những vấn đề hết sức sâu sắc và lớn lao: nhớ nước và thương nhà.

    Thương nhà thì đã rõ, bà Huyện Thanh Quan có một thời được triệu về Huế làm chức Cung trung giáo tập.

    Bà vốn người Nghi Tàm, Hà Nội (Bài thơ này có thể làm trong dịp vào cung đó). Một người phụ nữ phải rời nhà đi xa như thế, dù là đi làm quan, cũng ngổn ngang biết bao nỗi niềm.

    Cái tiếng chim đa đa tha thiết khêu gợi biết bao. Nhưng còn cái tiếng khắc khoải của những con chim quốc. Điều đó không lấy gì làm chắc, bởi lẽ thời bà sống và làm quan, đất nước đã chuyển sang nhà Nguyễn đến thập kỉ thứ ba, thứ tư rồi.

    Có điều, như các triều đại phong kiến khác, nhà Nguyễn bấy giờ đã bộc lộ những mặt tiêu cực, những chỗ yếu kém và cả những tội ác. Là một nhà thơ nhạy cảm, bà Huyện Thanh Quan hẳn có những điều buồn phiền, bất như ý về hiện thực xã hội. Cái nỗi đau lòng khi nhớ nước có lẽ chính là như thế, chính là sự nghĩ về hiện tình đất nước đương thời.

    Và khi thiên nhiên đã đánh thức dậy trong lòng tác giả những mối suy tư lớn lao thì thiên nhiên bỗng như lùi xa, trả tác giả trở lại với chính tâm tư mình và chỉ có một mình:

    Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

    Một mảnh tình riêng, ta với ta.

    Qua Đèo Ngang trước tiên là bài thơ tả cảnh. Cảnh vật hiện ra phong phú dần theo bước chân người đi. Có cảnh sắc: cỏ cây, hoa lá, đá, tiều phu bên sườn núi, chợ bên sông, nhà; có âm thanh: tiếng quốc quốc, gia gia khắc khoải, dồn dập.

    Và khi lên đến đỉnh đèo thì nhà thơ đã nhìn được một cách tổng quát, toàn thể: trời, non, nước. Cái mênh mông vô cùng và hùng vĩ ấy của thiên nhiên đã làm nhà thơ sững lại: dừng chân đứng lại.

    Nhưng tả cảnh chỉ là một phần nhỏ ý nghĩa của bài thơ. Chính là bài thơ đã miêu tả rất rõ diễn biến tình cảm của tác giả khi qua con Đèo Ngang này.

    Từ cảm nhận ban đầu, tình cảm của tác giả sâu lắng dần; qua sự tiếp nhận của mắt, của tai, những nỗi niềm tâm sự mỗi lúc một dồn nén để rồi chất chứa, cô đọng thành một nỗi buồn, nỗi cô đơn không thể cùng ai chia sẻ.

    Hình ảnh một con người, lại là một người phụ nữ, đứng sừng sững giữa cảnh trời, nước, non cao, trong ánh chiều tà đơn độc biết bao!

    Ở đây có sự tương phản: tương phản giữa thời gian khoảnh khắc (chiều sắp hết) và vũ trụ vô cùng; tương phản giữa không gian mênh mông hùng vĩ và con người lẻ loi đơn độc.

    Sự tương phản ấy đã tạc vào cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian: tâm trạng cô đơn, nỗi buồn vô hạn, và cả bóng hình nữ sĩ.

    Qua Đèo Ngang là một bài thơ hay và sẽ bất tử với thời gian.

    Có lẽ cho đến khi nào con đường Nam Bắc, còn Đèo Ngang thì những người qua đây nhiều người còn nhớ đến nữ sĩ và như còn mường tượng ra bức tượng bà đứng trên cao trội lên bóng chiếu trên đỉnh đèo.

    * Nguồn: Tư liệu văn học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Dạy Hè Chuẩn Ngữ Văn Lớp 7 Lên 8
  • Đề Cương Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 7 Bài Qua Đèo Ngang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú
  • Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang
  • -Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

    -Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

    -Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

    -Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

    -Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

    1. Hoàn cảnh ra đời

    Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

    2. Bố cục (4 phần )

    -Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

    -Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

    -Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

    -Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

    3. Giá trị nội dung

    bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

    4. Giá trị nghệ thuật

    -Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    -Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

    -Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

    I. Mở bài

    -Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

    -Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

    II. Thân bài

    1.Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

    -Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

    -Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

    -Cảnh vật:

    +Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

    +Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

    ⇒Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

    2.Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

    -Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

    -Nghệ thuật đảo ngữ:

    +Lom khom … tiều vài chú

    +Lác đác … chợ mấy nhà

    ⇒Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

    ⇒Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

    3.Tâm trạng của tác giả

    -Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

    -Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

    ⇒Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

    4.Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

    -Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

    -“Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

    ⇒Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

    III.Kết bài

    -Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

    +Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

    +Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

    Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Môn Ngữ Văn Lớp 7
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài : Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Bồi Dưỡng Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Hệ Thống Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Về Chứng Thực Ở Cấp Xã, Hot
  • Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Cần Có Những Điều Khoản Nào?
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    Bà Huyện Thanh Quan (? – ?), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Bình ngày nay), do đó có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một nữ sĩ vào loại tài danh hiếm có thời phong kiến. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ trong đó có bài Qua Đèo Ngang nổi tiếng.

    Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn bát cú. Đây là một trong hai dạng cơ bản, phổ biến nhất của thơ Đường luật, gồm thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu) và thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu). Thơ thất ngôn bát cú Đường luật có những quy định rất chặt chẽ về bố cục (tổ chức cơ bản về nội dung và hình thức), luật (quy định về vần, thanh trong cả bài, đối giữa các cặp câu 3 – 4, 5 – 6), niêm (sự liên kết giữa các câu 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7).

    1. Nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ, về cách gieo vần và về phép đối.

    : Dựa vào phần giới thuyết thể thơ ở trên, tự kiểm tra về số câu, số chữ, cách gieo vần và phép đối của bài thơ.

    2. Cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất là với người lữ thứ.

    3. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, tiếng chim quốc, chim đa đa, có vài chú tiều phu. Các chi tiết này cho thấy cảnh Đèo Ngang um tùm, rậm rạp. Con người thì ít ỏi, thưa thớt. Các từ láy: lom khom, lác đác, các từ tượng thanh: quốc quốc, đa đa có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

    4. Cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ. Cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà, lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng.

    5. Có thể thấy, ấn sâu kín trong bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của người lữ thứ (Bà Huyện Thanh Quan). Đó là tâm trạng buồn, cô đơn, hoài cổ. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tiếng kêu da diết của chim quốc, chim đa đa cũng chính là tiếng lòng tha thiết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước. Câu thơ cuối cùng chính là cao trào của nỗi buồn, nỗi cô đơn của người khách xa quê.

    6. Giữa cảnh trời, non, nướcmột mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau. Cảnh càng rộng lớn thì tình càng cô đơn, con người càng nhỏ bé. Như thế, rõ ràng cảnh góp phần khiến nỗi cô đơn của tác giả càng lớn hơn, nặng nề hơn.

    Đọc một bài thơ thất ngôn bát cú, trước hết phải chú ý đọc đúng nhịp (4/3), sau nữa là chú ý đến phép đối trong hai cặp 3 – 4, 5 – 6. Riêng với bài thơ này, cần chú ý đọc chậm, diễn cảm, thể hiện được nỗi buồn sâu lắng của tác giả.

    – Từ ta thứ nhất và từ ta thứ hai đều chỉ bản thân người nói.

    – Vì thế, ta với ta có nghĩa là không có ai khác (chỉ có một mình tác giả mà thôi).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang
  • Chính Sách Liên Quan Đến Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt
  • Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn
  • Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền