Top 21 # Xem Nhiều Nhất Pháp Luật Dân Sự / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Bộ Luật Dân Sự Pháp / 2023

Posted on by Civillawinfor

: Code Civil) còn gọi là Bộ luật Napoléon là bộ luật về dân sự được kiến lập bởi Napoléon Bonaparte vào năm . Với Code Civil có lẽ Napoléon đã tạo nên một tác phẩm luật quan trọng nhất của thời kỳ Hiện đại. Tại , về nhiều phần cơ bản, bộ luật Napoléon này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.

Lịch sử

Các phác thảo đầu tiên cho một bộ luật dân sự đã được tiến hành ngay từ trong những năm 1793 đến 1797 của cuộc Cách mạng Pháp. Năm 1800 Napoléon chỉ định một ủy ban bốn người dưới sự lãnh đạo của Jean-Jacques Régis de Cambacérès để tạo thống nhất trong luật pháp. Cho đến thời điểm đó trong miền Nam nước Pháp Luật La Mã vẫn còn hiệu lực, trong miền Bắc là luật theo tập quán được truyền lại cũng như là luật tạm thời của Cách mạng Pháp trong một vài năm. Mục đích của ủy ban là tạo nên một gạch nối giữa Luật La Mã và luật theo tập quán và đặc biệt là giữa Luật La Mã và luật cách mạng. Tư tưởng của cuộc Cách mạng Pháp thể hiện trước tiên là trong nguyên tắc tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ và sự tự do của cá nhân và của sở hữu cũng như là chia cắt nghiêm ngặt giữa nhà thờ và quốc gia. Một tác phẩm 5 tập của luật sư Jean Domat được xem như là nguồn quan trọng cho bộ luật.

Bộ luật cũng được đưa vào áp dụng trong các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của Pháp trong thời gian từ 1807 đến 1814 (thí dụ như Đại công quốc Warszawa ( tiếng Anh: Warsaw), Đại công quốc Luxembourg, Mexico, Ai Cập, một số bang của Hoa Kỳ hay Vương quốc Hà Lan). Tại Đức bộ luật này có hiệu lực trực tiếp trong các vùng tả ngạn sông Rhein do nước Pháp chiếm đóng, trong một số quốc gia của Liên minh Rhein ( tiếng Đức: Rheinbund) ( Vương quốc Westfalen, Frankfurt am Main, Berg, Anhalt-Köthen) bộ luật được đưa vào sử dụng không có thay đổi lớn.

Chỉ trong vòng vài năm bộ luật đã có hiệu lực từ Lissabon đến Vacsava và từ Hà Lan cho đến bờ biển Adria. Thất bại của Napoléon tại Waterloo đã không kìm hãm được việc truyền bá bộ luật này: đặc biệt là ở Tây Âu và Nam Âu cũng như là ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ các bộ luật đều hướng về Code Civil. Tuy vậy một vài quy định có nguồn gốc từ cuộc cách mạng cũng là điểm yếu: tại nhiều vùng quyền kế thừa ngang nhau của tất cả các người con dẫn đến việc chia cắt sở hữu đất đai thành những mảnh đất nhỏ không còn mang lại lợi tức; phụ nữ bị đặt dưới quyền của một người giám hộ và vì vậy đã bị đặt vào một vị trí bất lợi chưa từng có, việc li dị ưu tiên một phía cho người đàn ông.

Tại Pháp trong số 2.285 điều khoản hiện đang có hiệu lực của bộ luật là vẫn còn 1.200 điều khoản phù hợp với tác phẩm nguyên thủy.

Năm 2004 tại 22 quốc gia đã có lễ kỷ niệm 200 năm ngày thành lập tác phẩm này.

Nội dung

Từ khi có hiệu lực vào năm 1804 Bộ luật Dân sự Pháp được chia thành 3 quyển:

Livre I: Des personnes (Cá nhân)

Livre II: Des biens et des différentes modifications de la propriété (Tài sản và thay đổi khác của sở hữu)

Livre III Des différentes manières dont on acquiert la propriété (Các cách khác nhau để đạt được sở hữu)

Năm 2000 quyển thứ tư ( Dispositions applicables à Mayotte) được thành lập quy định về việc áp dụng của bộ luật trên lãnh thổ hải ngoại Mayotte.

*********************************

Tư Vấn Pháp Luật Dân Sự / 2023

18/11/2020

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

1. Khi nào nên hỏi ý kiến tư vấn của luật sư Dân sự

Trong xã hội hiện nay, không thể có một biện pháp nào có thể ngăn cản các hoạt động, giao dịch dân sự, bởi đó là sự phát triển, vận động tất yếu của cuộc sống và thực tế, sự vận động đó đã làm kinh tế, xã hội ngày một phát triển mạnh mẽ. Để hòa nhập vào sự phát triển đó, mỗi cá nhân, tổ chức không ngừng gia tăng các quan hệ dân sự. Câu hỏi đặt ra là: ” LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH ĐƯỢC RỦI RO PHÁP LÝ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ?”.

Mọi giao dịch hàng ngày khi bạn sống, sinh hoạt, làm việc, kinh doanh, quản lý… đều có quy định pháp luật điều chỉnh, đặc biệt là pháp luật Dân sự. Do vậy, khi phát sinh vấn đề pháp lý, bất kể khi nào hay ở bất kỳ đâu bạn cũng có thể yêu cầu luật sư Luật Minh Gia hỗ trợ, Chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn, giải đáp để phòng ngừa rủi ro pháp lý, ngoài ra còn đại diện hoặc tham gia tranh tụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Khi được Luật Minh Gia tư vấn, chúng tôi tin rằng, quý khách hàng sẽ được giảm thiểu được những rủi ro pháp lý hay nếu như đã có rủi ro, chúng tôi sẽ tư vấn, hướng dẫn hoặc trong trường hợp cần thiết sẽ tiến hành đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi, hạn chế tối đa thiệt hại cho quý khách hàng.

2. Luật Minh Gia Tư vấn cho bạn bằng các hình thức nào?

✔️ Tư vấn trực tiếp và thực hiện dịch vụ pháp lý tại văn phòng (thường áp dụng trong trường hợp người yêu cầu tư vấn bố trí được thời gian đến văn phòng với vụ việc có yêu cầu phức tạp hoặc cần trao đổi trực tiếp với luật sư nhằm tháo gỡ khó khăn pháp lý và tìm phương án giải quyết ngay). Tuy nhiên không thể phủ nhận lợi ích mà hình thức tư vấn này mang lại bởi hiệu quả tối ưu trong việc tiếp cận hồ sơ, khai thác thông tin từ khách hàng, xác định rõ yêu cầu của khách hàng trong tình huống pháp lý.

✔️ Tư vấn qua điện thoại (áp dụng trong trường hợp người yêu cầu tư vấn không có điều kiện đến văn phòng nhưng có vướng mắc, hoặc yêu cầu cần giải quyết sớm). Với hình thức tư vấn này, khách hàng sẽ sớm có câu trả lời cho vấn đề thắc mắc của mình và được Luật sư định hướng cách giải quyết vấn đề pháp lý.

✔️ Tư vấn luật qua Email hoặc trả lời bằng văn bản (áp dụng trong trường hợp người yêu cầu không có thời gian đến văn phòng, vị trí địa lý không cho phép hoặc việc tư vấn trực tuyến không đủ dữ liệu tư vấn do vụ việc phức tạp nhiều tài liệu, chứng cứ…). Hình thức tư vấn này khắc phục được tối đa mọi nhược điểm của hình thức tư vấn tại văn phòng và tư vấn qua điện thoại, đồng thời phù hợp với thực tế phát triển của xã hội hiện nay.

3. Những nội dung Luật Minh Gia thực hiện tư vấn gồm:

Dân sự là một lĩnh vực rộng rãi, bao gồm mọi quan hệ xã hội trong hệ thống luật tư. Chính vì thế, những vụ việc phát sinh trong lĩnh vực này cũng không bị giới hạn và luôn được đa dạng, mở rộng hơn. Các nội dung tư vấn của Luật Minh Gia phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, cơ bản dựa trên những nội dung sau:

✔️ Tư vấn, giải đáp về các quan hệ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu;

✔️ Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, giải đáp về quyền giữa các bất động sản như: quyền về lối đi, quyền bề mặt, quyền cấp thoát nước, …;

✔️ Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, giải đáp về vấn đề bồi thường thiệt hại do cây cối, súc vật, nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bồi thường do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm;

✔️ Ngoài ra, Luật Minh Gia còn tư vấn về các quyền cơ bản của công dân như bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, hình ảnh; quyền thay đổi họ, tên,…

4. Dịch vụ Luật sư tư vấn, đại diện giải quyết tranh chấp

Nhiều vụ việc không thể tiến hành thỏa thuận khi quyền lợi bị xâm phạm sẽ cần có Luật sư đại diện giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Bạn lo sợ rằng nếu ra Tòa quyền lợi của mình không đảm bảo? Hãy sử dụng dịch vụ tố tụng của chúng tôi để Luật sư có thể tiến hành tranh tụng, đưa ra những quan điểm, chứng cứ bảo vệ quyền lợi cho bạn.

Khi tham gia giải quyết các tranh chấp cho bạn, luật sư công ty Luật Minh Gia luôn xem xét mọi khía cạnh của vụ việc để đưa ra các giải pháp tư vấn phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho khách hàng, đồng thời giữ gìn uy tín và quan hệ đối tác lâu dài giữa các bên tranh chấp, cụ thể các vấn đề sau:

✔️ Tư vấn và tham gia thương lượng, hòa giải vụ việc giữa các bên;

✔️ Lập hồ sơ khởi kiện các vụ việc tại tòa án, trọng tài;

✔️ Tham gia tranh tụng tại tòa án, trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong vụ việc tranh chấp.

Bạn muốn vụ việc dân sự của mình được giải quyết nhanh chóng – hiệu quả – kịp thời hãy liên hệ ngay với chúng tôi bằng cách GỬI YÊU CẦU hoặc liên hệ Tổng đài 1900.6169 để được giải đáp chi tiết.

Tham khảo tình huống luật sư tư vấn trực tuyến về Hợp đồng dân sự như sau:Câu hỏi – Chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn có phải bồi thường không?

Cho mình giải đáp thắc mắc, hiện tại mình có thuê 01 phòng trọ, ở chung với chủ nhà. Từ ngày 1/7/201x chủ nhà có yêu cầu đóng trước 12 tháng tiền nhà đến hết ngày 30/6/201x là 9300000 (chín triệu ba trăm nghìn đồng) (không có hợp đồng cũng không có tiền cọc, chủ nhà chỉ viết xác nhận là đã nhận tiền) Nhưng đến nay mình mới ở được 06 tháng (ở từ ngày 1/7/201x đến ngày 31/12/201x) và mình muốn chuyển nhà, vậy cho mình hỏi chủ nhà có được quyền được giữ tiền của mình 06 tháng còn lại là 4650000 (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và mình có thể lấy lại số tiền chủ nhà đang giữ không?

Bộ luật Dân sự có quy định về hợp đồng thuê tài sản tại Điều 472 – Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Luật Nhà ở 2015 có quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở tại Điều 131 và 132 như sau:

Điều 131. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở…2. Trường hợp thuê nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước thì việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện khi có một trong các trường hợp sau đây:a) Hợp đồng thuê nhà ở hết hạn; trường hợp trong hợp đồng không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm dứt sau 90 ngày, kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng;b) Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng;c) Nhà ở cho thuê không còn;d) Bên thuê nhà ở chết hoặc có tuyên bố mất tích của Tòa án mà khi chết, mất tích không có ai đang cùng chung sống;đ) Nhà ở cho thuê bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ hoặc thuộc khu vực đã có quyết định thu hồi đất, giải tỏa nhà ở hoặc có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nhà ở cho thuê thuộc diện bị Nhà nước trưng mua, trưng dụng để sử dụng vào các mục đích khác.Bên cho thuê phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê biết trước 30 ngày về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở quy định tại điểm này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;e) Chấm dứt theo quy định tại Điều 132 của Luật này.Điều 132. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở3. Bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:a) Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;b) Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận;c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.4. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo đó, nếu bạn chấm dứt hợp đồng thuê nhà thuộc các trường hợp tại Điều 131 – Luật nhà ở 2015 hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà khi đảm bảo đủ các điều kiện tại Điều 132 thì hợp đồng giữa bạn và chủ nhà được chấm dứt đúng luật, bạn không vi phạm hợp đồng nên không phải bồi thường chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Vì vậy, bên chủ nhà có nghĩa vụ trả lại cho bạn 4.650.000.

Ngược lại, nếu bạn chấm dứt trái luật thì sẽ phải bồi thường một khoản tiền do vi phạm hợp đồng thuê với chủ sở hữu nhà cho thuê, các bên có thể thỏa thuận trừ trực tiếp khoản tiền bồi thường vào 4.650.000 mà chủ nhà đang giữ hoặc lựa chọn phương thức bồi thường khác.

Quyền Hưởng Dụng Pháp Luật Dân Sự Pháp / 2023

Bài viết: Quyền hưởng dụng – Từ góc độ Pháp luật dân sự Pháp đến kinh nghiệm cho Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Thị Thuý – Lê Minh Khoa

Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam số 08(111)/2017 – 2017, Trang 26-33

TÓM TẮT

ABSTRACT:

Usufruct, one of the property rights, is a new regulation in the civil law of Vietnam. The application of this right, in practice, will face many difficulties and confusions because the regulations related to this right are rather meager and have not forecasted legal consequences arising in cases of application of this usufruct. Otherwise, the usufruct is a regulation existed for a long time and regularly applied in certain cases in France. It is supposed that studying the French Civil Code in relation to the usufruct is necessary to apply effectively this regulation in Vietnam.

TỪ KHÓA: người hưởng dụng, chủ sở hữu Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự Pháp, quyền hưởng dụng,

KEYWORDS: French Civil Code, usufructuary, the ownership, usufruct, the 2015 Civil Code,

1. Khái quát quyền hưởng dụng từ góc nhìn của Bộ luật Dân sự Pháp so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Quyền sở hữu là một quyền trọng tâm, cốt lõi của pháp luật dân sự[1]. Theo tinh thần của pháp luật La Mã, về nguyên tắc, quyền sở hữu tài sản được cấu thành từ tập hợp của ba quyền cơ bản gồm: quyền định đoạt, quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và lợi tức từ tài sản. Trong khi đó, BLDS Pháp đã định nghĩa quyền sở hữu là quyền được hưởng thụ và định đoạt tài sản đó một cách tuyệt đối nhất, miễn là việc sử dụng tài sản đó không bị cấm bởi luật hoặc các quy định pháp luật. Với khái niệm trên thì quyền sở hữu được chia ra thành hai nhóm quyền chính, đó là (i) nhóm quyền định đoạt và (ii) nhóm quyền được hưởng thụ tức là bao gồm quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Do đó có thể nói, quyền hưởng dụng là một quyền chia cắt từ quyền sở hữu.

Theo lý giải của các nhà làm luật Pháp, có sự phân chia này vì khi một chủ thể có được quyền thụ hưởng tức là họ phải sử dụng được tài sản, họ phải tiến hành tu bổ, kinh doanh và phát triển… trên tài sản đó nếu họ mong muốn thu được hoa lợi, lợi tức từ tài sản nói trên. Do đó, BLDS Pháp đã ghép quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức thành một nhóm quyền bên cạnh quyền định đoạt. Một lý do khác nữa là các nhà lập pháp muốn nhấn mạnh quyền định đoạt tài sản là yếu tố đặc trưng nhất của quyền sở hữu, bởi vì ngược lại với quyền định đoạt, khi tiến hành những quyền tài sản khác như quyền hưởng dụng tài sản, thì chủ thể phải có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản hiện trạng của tài sản, chứ không thể phá hủy tài sản như quyền định đoạt.

1.1. Khái niệm quyền hưởng dụng

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể nhận định như sau: một chủ thể chỉ có quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và lợi tức từ tài sản nhưng không có quyền định đoạt tài sản đó thì chủ thể đó được gọi là có quyền hưởng dụng đối với tài sản nói trên. Theo quy định về quyền hưởng dụng được ghi nhận tại Điều 578 BLDS Pháp, chủ thể có quyền hưởng dụng một tài sản được gọi là người hưởng dụng (l’usufruitier), còn chủ sở hữu tài sản trong trường hợp này chỉ còn lại quyền định đoạt đối với tài sản mà không còn các quyền sử dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản của mình nữa. Tên gọi chủ sở hữu trong trường hợp quyền hưởng dụng theo tiếng Pháp đã đổi từ “le propriétaire” sang tên gọi là “le nu-propriétaire” mà một số luật gia Việt Nam đã gọi là “chủ sở hữu giảm thiểu”. [2] Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin phép được gọi chung là “chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng”.

Để dễ hình dung hơn về quyền hưởng dụng, chúng tôi xin phép đưa ra một ví dụ như sau: trong quan hệ thừa kế, pháp luật Pháp cho phép một bên vợ hoặc chồng còn sống nhận quyền hưởng dụng di sản thừa kế là một căn hộ chung cư. Họ có thể sinh sống hoặc cho thuê lại căn hộ nhưng không được bán. Chỉ những người thừa kế là chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng, tức là căn hộ, mới có quyền bán. Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng còn sống là người hưởng dụng tài sản. Họ có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản nhưng không có quyền định đoạt. Ngược lại, những người thừa kế là chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng chỉ có quyền định đoạt tài sản mà không được hưởng dụng.

Quyền hưởng dụng là một quyền tài sản mang tính chất tạm thời. Hai yếu tố “quyền tài sản” và “tạm thời” là hai tính chất cơ bản nhất của quyền hưởng dụng và BLDS Việt Nam năm 2015 cũng khẳng định tính tạm thời của quyền hưởng dụng ngay trong khái niệm của nó, cụ thể: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định”.

Như vậy, quyền hưởng dụng luôn mang tính tạm thời. Căn cứ quy định của Điều 617 BLDS Pháp,người hưởng dụng thực hiện quyền hưởng dụng trong một khoảng thời gian xác định theo thoả thuận; hoặc đến hết cuộc đời của người hưởng dụng. Mặt khác, Điều 619 BLDS Pháp quy định rằng nếu chủ thể nhận quyền hưởng dụng không phải là các cá nhân, thì quyền hưởng dụng chỉ kéo dài 30 năm. Như vậy, từ quy định trên có thể hiểu rằng quyền hưởng dụng của pháp nhân chỉ kéo dài 30 năm. Thời hạn hưởng quyền hưởng dụng của pháp nhân cũng đã được Tòa Phá án Pháp khẳng định trong một vụ việc rằng “Quyền hưởng dụng của pháp nhân không được vượt quá 30 năm”. [3] Bởi vì pháp nhân là “một chủ thể hư cấu, là một sự sáng tạo pháp lí của con người”, nên pháp nhân không bao giờ chết đi. Chính vì vậy, nếu không quy định khoảng thời gian cụ thể để chấm dứt quyền hưởng dụng của pháp nhân, thì quyền hưởng dụng có thể trở thành một quyền mang tính vĩnh viễn, điều này là không thể. Bởi vì chỉ có quyền sở hữu mới có xu hướng tồn tại vĩnh cửu và tính chất tạm thời này chính là điểm đặc trưng giúp phân biệt giữa quyền hưởng dụng và quyền sở hữu.

1.2. Cách thức xác lập quyền hưởng dụng

Căn cứ vào quy định tại Điều 579 BLDS Pháp: “Quyền hưởng dụng được thiết lập bởi luật, hoặc bởi sự tự nguyện”. Ngoài hai hình thức trên, hệ quả của việc chiếm hữu cũng là một hình thức xác lập quyền hưởng dụng bằng thời hiệu. Như vậy, quyền hưởng dụng có thể được xác lập chủ yếu bằng ba cách:

Thứ ba, quyền hưởng dụng xác lập bằng thời hiệu tức là quyền hưởng dụng có thể được hình thành bởi hệ quả của việc chiếm hữu. Tùy thuộc vào loại tài sản mà việc xác lập quyền hưởng dụng sẽ khác nhau. Đối với tài sản là động sản, bằng việc áp dụng tương tự pháp luật theo Điều 2276 BLDS Pháp thì quyền hưởng dụng đối với động sản sẽ được xác lập ngay lập tức trong trường hợp chiếm hữu ngay tình. Đối với tài sản là bất động sản, thời hiệu của việc chiếm hữu được xác định theo pháp luật dân sự[6] hoặc thời hiệu của việc chiếm hữu được rút ngắn còn 10 năm nếu thỏa mãn điều kiện nhất định do luật định.

Ngoài ra, khác với quy định của pháp luật Việt Nam, BLDS Pháp không quy định di chúc là một căn cứ xác lập quyền hưởng dụng, bởi vì quan điểm của các nhà lập pháp Pháp cho rằng di chúc là một dạng thỏa thuận đơn phương thể hiện ý chí của người lập di chúc. Tại thời điểm mở thừa kế theo di chúc, người nhận thừa kế có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc nhận thừa kế. Như vậy, bản chất của việc xác lập quyền hưởng dụng bằng di chúc cũng là một dạng thoả thuận. [7]

1.3. Chấm dứt quyền hưởng dụng

Theo quy định tại Điều 617, Điều 618 BLDS Pháp, quyền hưởng dụng chấm dứt bởi 04 nguyên nhân sau:

Thứ nhất, cá nhân nhận quyền hưởng dụng chết dù quyền hưởng dụng đã được chuyển nhượng; hoặc người nhận quyền hưởng dụng cuối cùng chết trong trường hợp có nhiều người nhận quyền hưởng dụng; hoặc hết thời hạn nhận quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận.

Thứ hai, sự biến mất của một vài điều kiện:

Việc mất tài sản dẫn đến chấm dứt quyền hưởng dụng đối với tài sản đó, với điều kiện đó là sự biến mất hoàn toàn hoặc tài sản đó không còn thích hợp để sử dụng. Ví dụ: trong trường hợp nhà ở gắn liền với đất bị phá hủy thì quyền hưởng dụng đối với ngôi nhà sẽ bị chấm dứt theo dù quyền hưởng dụng đối với đất vẫn còn tồn tại.

Quyền hưởng dụng chấm dứt khi người hưởng dụng hoàn toàn không thực hiện quyền của mình trong khoảng thời gian 30 năm. Thời hiệu này không được áp dụng trong trường hợp quyền hưởng dụng được thực hiện bởi một người thứ ba. Ví dụ: người hưởng dụng tài sản không trực tiếp thực hiện quyền hưởng dụng mà quyền hưởng dụng được thực hiện bởi người đi thuê tài sản theo hợp đồng cho thuê tài sản có thời hạn là 30 năm. Như vậy, trong trường hợp này, quyền hưởng dụng không bị chấm dứt do quyền hưởng dụng được thực hiện bởi một người thứ ba.

Quyền hưởng dụng bị chấm dứt do sự hợp nhất. Sự hợp nhất ở đây được hiểu là người có quyền sở hữu đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng và người có quyền hưởng dụng trở thành một. Ví dụ: chủ sở hữu đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng, nhận được di sản là quyền hưởng dụng đối với tài sản đó. Trong trường hợp này, chủ sở hữu đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng ngoài việc có quyền định đoạt tài sản còn được nhận thừa kế là quyền hưởng dụng đối với tài sản đó. Như vậy, quyền hưởng dụng trong trường hợp này sẽ chấm dứt và chủ sở hữu sẽ có đầy đủ quyền năng của mình.

Người hưởng dụng từ chối quyền hưởng dụng trong trường hợp nhận quyền hưởng dụng theo thỏa thuận. Tuy nhiên, quyết định từ chối nhận quyền hưởng dụng có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu gây ra thiệt hại cho bên chuyển nhượng quyền.

Thứ ba, quyền hưởng dụng có thể bị chấm dứt như một chế tài đối với hành vi lạm dụng quyền hưởng dụng của người nhận quyền. Chế tài này được quy định tại khoản 1 Điều 618 BLDS Pháp như sau: “Quyền hưởng dụng có thể chấm dứt bởi việc lạm dụng quyền của người hưởng dụng, bằng việc làm cho xuống cấp hoặc làm cho hư hỏng do không giữ gìn tài sản”. Thẩm phán có thẩm quyền xem xét sự lạm dụng này và lựa chọn chế tài: tuyên bố chấm dứt quyền hưởng dụng hoặc bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu.

Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp trên thực tế có thể làm chấm dứt quyền hưởng dụng mà BLDS năm 2015 chưa lường trước được đó là người hưởng dụng là pháp nhân chấm dứt hoạt động của mình. Trong trường hợp này, quyền hưởng dụng sẽ được giải quyết như thế nào nếu pháp nhân đó được một pháp nhân khác kế thừa quyền và nghĩa vụ (trường hợp sáp nhập, chia tách, hợp nhất pháp nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp)? Thời hạn của quyền hưởng dụng sẽ được tính lại hay vẫn tiếp tục? Nếu pháp nhân đó không được một pháp nhân khác kế thừa quyền và nghĩa vụ thì sẽ phải giải quyết như thế nào? Vấn đề trên vẫn chưa được BLDS Pháp và Việt Nam đề cập đến. Theo quan điểm của nhóm tác giả, trường hợp pháp nhân nhận quyền hưởng dụng chấm dứt hoạt động của mình và có pháp nhân mới kế thừa (trường hợp sáp nhập, chia tách, hợp nhất pháp nhân) thì tất cả quyền lợi và nghĩa vụ của pháp nhân cũ được chuyển giao qua cho pháp nhân mới. Thời hạn hưởng quyền hưởng dụng vẫn sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày pháp nhân mới nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp pháp nhân nhận quyền hưởng dụng chấm dứt hoạt động và không được một pháp nhân nào khác kế thừa thì có thể hiểu tương tự như việc cá nhân nhận quyền hưởng dụng chết. Trong trường hợp này, có thể xem đây là một trong những căn cứ chấm dứt quyền hưởng dụng.

Ngoài ra, BLDS năm 2015 tại khoản 2 Điều 263 chỉ quy định việc Tòa án truất quyền hưởng dụng của người hưởng dụng trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, mà không đề cập đến trường hợp lạm dụng quyền của người hưởng dụngnhư là một căn cứ chấm dứt quyền hưởng dụng. Cần lưu ý rằng, việc lạm dụng quyền và vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người hưởng dụng là khác nhau. Theo khoản 1 Điều 618 BLDS Pháp, hành vi lạm dụng quyền được hiểu là việc người hưởng dụng dựa vào quyền hưởng dụng của mình gây ra những thiệt hại cho tài sản hoặc không tiến hành những biện pháp tu bổ, bảo trì, sửa chữa cần thiết dẫn đến hư hỏng tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng.

Nhóm tác giả cho rằng, đối với việc người hưởng dụng không thực hiện nghĩa vụ của mình thì có thể xem đó là hành vi vi phạm “nghiêm trọng” nghĩa vụ của mình. Ngược lại, trong trường hợp người hưởng dụng thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi đó mà có thể xác định là hành vi vi phạm “nghiêm trong” hay không. Về cách thức xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng thì cần thiết phải căn cứ vào tình hình thực tế của từng vụ việc. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng có thể định tính được bằng việc xác định hành vi vi phạm có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản hoặc quyền hưởng dụng hay không. Nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại trực tiếp đến tài sản hoặc trực tiếp đe dọa việc hưởng dụng thì có thể xem hành vi đó là vi phạm nghiêm trọng.

1.4. Hậu quả của việc chấm dứt quyền hưởng dụng

Khi kết thúc quyền hưởng dụng, người hưởng dụng phải hoàn trả lại tài sản theo đúng tình trạng lúc nhận, không được làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 589 BLDS Pháp. Chủ sở hữu phải chịu phần hao mòn cơ bản theo thời gian của tài sản.

Về nguyên tắc, người hưởng dụng không nhận được đền bù cho việc cải tạo vật trái ngược với người chiếm hữu vật. Khoản 2 Điều 599 BLDS Pháp quy định: “Về phía mình, người nhận quyền hưởng dụng không thể đòi, tại thời điểm chấm dứt quyền hưởng dụng, bất kỳ khoản đền bù nào cho việc cải tạo mà họ đã thực hiện mặc dù giá trị của vật đã được tăng lên”. Quy định này phần nào đã hạn chế sự đầu tư ngược trở lại của người nhận quyền hưởng dụng lên tài sản do không được đền bù cho việc cải tạo cũng như cho dù làm cho giá trịcủa tài sản tăng lên. Ngược lại, người nhận quyền hưởng dụng phải bồi thường cho chủ sở hữu trong trường hợp làm hư hỏng tài sản.

2. Quyền được bảo vệ bằng tòa án và nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ pháp lý của quyền hưởng dụng

2.1. Nghĩa vụ và quyền được bảo vệ bằng tòa án của người hưởng dụng

Quyền hưởng dụng là một quyền đối với tài sản nên quyền của người hưởng dụng đối với tài sản sẽ được pháp luật bảo vệ tối đa. Trong khoảng thời gian có quyền hưởng dụng, người hưởng dụng không có bất cứ mối quan hệ nào với chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. Có thể nói hai chủ thể này gần như độc lập và không có bất cứ ràng buộc nào lẫn nhau. Chính vì vậy, theo pháp luật dân sự Pháp, khi mà các quyền của người hưởng dụng bị xâm phạm, họ có quyền vận dụng con đường Tòa án nhằm:

(i) Yêu cầu Tòa án công nhận quyền hưởng dụng của mình bằng việc “kiện đòi vật”, kiện đòi lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng đang bị xâm phạm bởi các chủ thể khác kể cả chủ sở hữu tài sản này.

(ii)Yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền chiếm hữu tài sản. Chủ thể bị khởi kiện có thể là bất kỳ ai như người thứ ba là chủ sở hữu tài sản hay người thứ ba chiếm hữu bất kể ngay tình hay không ngay tình. Ví dụ, chủ nợ của chủ sở hữu muốn lấy tài sản (là đối tượng của quyền hưởng dụng) để trừ nợ, người hưởng dụng có quyền yêu cầu tòa án can thiệp để không cho phép chủ nợ làm điều đó.

Điều 261 BLDS Việt Nam năm 2015 cho phép người hưởng dụng (i) tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng; (ii) yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài sản; và (iii) cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản. Ngoài ra, BLDS cũng có các quy định chung bảo vệ quyền khác đối với tài sản tại Mục 2 Chương XI. Cụ thể, BLDS quy định quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật tại Điều 166 và quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm bồi thường thiệt hại tại Điều 170. Tương tự BLDS Pháp, BLDS năm 2015 đã đưa ra được những cơ sở pháp lý để người nhận quyền hưởng dụng có thể tự bảo vệ mình trong trường hợp quyền hưởng dụng bị xâm phạm. Tuy nhiên, các quy định này còn tương đối đơn giản và được quy định một các rải rác dẫn đến việc, trên thực tế, các chủ thể không nắm bắt được quyền lợi của mình. Hơn nữa, BLDS Pháp quy định rõ khi quyền lợi của người hưởng dụng bị xâm phạm thì họ có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Trong khi đó, BLDS năm 2015 chỉ quy định việc người hưởng dụng có quyền đòi lại tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không quy định cách thức mà các chủ thể có thể bảo vệ quyền lợi của mình bằng con đường Tòa án hay bằng một con đường giải quyết tranh chấp khác.

2.2. Nghĩa vụ và quyền được bảo vệ bằng Tòa án của chủ sở hữu

Theo pháp luật dân sự Pháp, chủ sở hữu không có toàn quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ có quyền định đoạt. Cụ thể là chủ thể này có quyền mua bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp, góp vốn… Trong trường hợp này, khoản 2 Điều 621 BLDS Pháp quy định việc mua bán tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng mà không thông qua sự đồng ý của người hưởng dụng, sẽ không làm thay đổi địa vị pháp lý vốn có của người hưởng dụng nếu họ không tuyên bố từ chối quyền hưởng dụng. Tức là người hưởng dụng vẫn tiếp tục quyền hưởng dụng của mình đối với tài sản dù chủ sở hữu tài sản đó đã thay đổi. Người nhận chuyển nhượng trên chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. Ngoài ra, chủ sở hữu có nghĩa vụ không được gây phương hại đến quyền của người hưởng dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 599 BLDS Pháp. Chủ sở hữu phải kiềm chế không được can thiệp hoặc gây trở ngại cho người có quyền hưởng dụng trong việc thực hiện quyền của mình. Ngoài ra, chủ sở hữu còn có nghĩa vụ phải thực hiện những công việc sửaa chữa nghiêm trọng được liệt kê tại Điều 606 BLDS Pháp.

Bên cạnh đó, chủ sở hữu cũng có thể thực hiện những biện pháp bảo đảm cần thiết nếu người có quyền hưởng dụng không thực hiện đúng những quy định do pháp luật đưa ra, chẳng hạn như khởi kiện (i) yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền của mình bằng cách kiện đòi lại vật; (ii) yêu cầu việc bồi thường thiệt hại gây ra cho tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng; (iii) hoặc kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền chiếm hữu.[12] Pháp luật dân sự Pháp trao quyền chiếm hữu tài sản cho người hưởng dụng. Tuy nhiên người hưởng dụng chỉ được trao quyền chiếm hữu trong một giới hạn nhất định. Trong trường hợp này, người hưởng dụng chỉ đơn giản là người giữ đối tượng của quyền chiếm hữu (yếu tố vật chất của tài sản). Quy định này được cụ thể hóa từ khoản 2 Điều 2236 BLDS Pháp và được giải thích bằng án lệ số 103 ngày 13/02/1963: “Theo Điều 2236 BLDS thì người hưởng dụng chỉ là người giữ tạm thời và chủ sở hữu tài sản – là đối tượng của quyền hưởng dụng – thì chiếm hữu một cách trung gian”[13]. Như vậy, dù trên thực tế người hưởng dụng là người chiếm hữu trực tiếp tài sản nhưng về bản chất họ chỉ là người giữ đối tượng tạm thời về mặt vật chất. Cũng vì vậy mà quyền chiếm hữu của người hưởng dụng cũng rất hạn chế. Tuy chủ sở hữu tài sản không chiếm hữu về mặt vật chất tài sản đó nhưng họ vẫn có thể yêu cầu Toà án bảo vệ quyền chiếm hữu đối với tài sản đó.

Theo pháp luật dân sự Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được BLDS năm 2015 quy định tại Điều 263. Điều đáng chú ý là pháp luật Việt Nam có quy định trường hợp cho phép người chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được yêu cầu Tòa án truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình. Như vậy, có thể hiểu rằng đây cũng là một trong những căn cứ làm chấm dứt quyền hưởng dụng bằng quyết định của Toà án quy định tại khoản 6 Điều 265 BLDS năm 2015.

Tuy nhiên, thủ tục truất quyền vẫn còn chưa được quy định rõ kể cả trong BLDS lẫn Bộ luật Tố tụng dân sự của Việt Nam, cho nên việc yêu cầu truất quyền hưởng dụng là một vụ án dân sự hay một việc dân sự? Ngoài ra, việc người hưởng dụng không thực hiện, thực hiện không đúng, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình có được coi là hành vi vi phạm “nghiêm trọng” hay không?[14] Căn cứ để xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người hưởng dụng? Cách xác định thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ của Tòa án? Thiết nghĩ nên cần có một thời gian áp dụng nhất định và khi đó phát sinh những vụ việc cụ thể để được hướng dẫn bằng án lệ hoặc bằng các văn bản hướng dẫn chi tiết.

Nhóm tác giả cho rằng, việc yêu cầu truất quyền hưởng dụng là một vụ án dân sự. Bởi vì yêu cầu này phát sinh từ tranh chấp giữa hai bên trong quan hệ pháp luật dân sự, cũng như tính chất phức tạp của quan hệ mà cần thiết phải giải quyết bằng việc khởi kiện tại Tòa án, chứ không thể giải quyết như một việc dân sự thông thường.

– Đối với thẩm quyền theo lãnh thổ, tuỳ thuộc vào tính chất của tài sản mà quyết định Tòa án có thẩm quyền, cụ thể là Tòa án nơi có bất động sản hoặc Tòa án nơi bị đơn cư trú trong trường hợp đối tượng tranh chấp là động sản..

CHÚ THÍCH

[1]* ThS, Giảng viên Khoa Luật Thương mại, Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

** ThS, Đại học Lyon III, Cộng hòa Pháp Phillipe Malaurie và Laurent Aynès, Les biens, Droit civil, 5ème éd., Nxb. Defrénois 2013, tr.109.

[2] Điều 578 BLDS Pháp: “Quyền hưởng dụng là quyền được thụ hưởng, như chủ sở hữu, trên tài sản thuộc sở hữu của người khác, nhưng phải có nghĩa vụ giữ gìn và bảo quản tài sản đó”.

[3] Phillipe Maulaurie và Laurent Aynès, Les biens, Droit civil, 5ème éd., Nxb. Defrénois 2013:Cass.civ.3er, 7 mars 2007, chúng tôi n°36; chúng tôi patr.févr.2009.96, obs.Seube et Th.Revet: “L’usufruit accordé à une personne morale ne peut excéder trente ans”, tr. 264

[6] Trên thực tế, thời hiệu này hiếm khi được áp dụng vì sau 30 năm kể từ ngày chiếm hữu, người chiếm hữu có thể xác lập quyền sở hữu đầy đủ đối với bất động sản đó.

[7] Điều 258 BLDS 2015: “Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc”

[10] Francois Terré và Philippe Simler, Droit civil, Les biens, 4e éd., Nxb. Précis Dalloz, 1992, tr. 534

[11] Điều 184 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[12] Francois Terré và Philippe Simler, Droit civil, Les biens, 4e éd., Nxb. Précis Dalloz, 1992, tr. 540 – 541

[13] Civ. 1er, 13 fév. 1963, Bull. Civ. I, no 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Zénati-Castaing et Revet, Les biens, 3e éd., Nxb. PUF, 2008 [trans: Zénati-Castaing and Revet, Property, 3th edition, PUF, 2008]

Phillipe Malaurie et Laurent Aynès, Les biens, Droit civil, 5ème éd., Defrénois 2013 [trans: Philippe Malaurie and Laurent Aynès, Property, Civil Law, 5th edition, Defrénois 2013]

Marty et Raynaud, Droit civil. t. II vol. 2, Les biens, 2e éd., Sirey, 1980 [trans: Marty and Raynaud, Civil Law. T. II vol. 2, Property, 2nd edition, Sirey, 1980]

Mémeteau, Droit des biens, 5e éd., Paradigme, 2012 [trans: Mémeteau, Property Law, 5th edition, Paradigme, 2012]

Planiol et Ripert, Traité pratique de droit civil français, t. 3, 2e éd. par PICARD, LGDJ, 1952 [trans: Planiol and Ripert, Practical Treaty of French Civil Law, t. 3, 2nd edition by PICARD, LGDJ, 1952]

Ripert et Boulanger, Traité de droit civil, t. 2, LGDJ, 1957 [trans: Ripert and Boulanger, Treaty of Civil Law, t. 2, LGDJ, 1957]

Sautai, L’usufruit des valeurs mobilières, Dalloz,1925 [trans: Sautai, The usufruct of mobile value, Dalloz, 1925]

Francois Terré et Philippe Simler, Droit civil, Les biens, 4e éd., Précis Dalloz, 1992 [trans: Francois Terré and Philippe Simler, Civil Law, Property, 4th edition, Précis Dalloz, 1992]

Terré et Simler, Droit civil. Les biens, 8e éd., Précis Dalloz, 2010 [trans: Terré and Simler, Civil Law, Property, 8th edition, Précis Dalloz, 2010]

Weill et Terré, Les personnes, La famille, Les incapacités, Dalloz [trans: Weill and Terré, Person, Family, Disabilities, Dalloz]

Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự / 2023

1. Quan hệ pháp luật dân sự

Khái niệm quan hệ pháp luật dân sự

Các quan hệ xã hội này rất đa dạng và rất rộng.

a) Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng nhưng độc lập về tài sản và tổ chức: Bởi vì quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh thường nhật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, cho hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Đây là những quan hệ xã hội phát sinh thường nhật trong một phạm vi rất rộng, đáp ứng nhu cầu của bất cứ chủ thể nào trong xã hội.

– Biểu hiện của sự đa dạng: Chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự bao gồm:

+ Cá nhân;

+ Pháp nhân;

+ Tổ hợp tác;

+ Hộ gia đình;

+ Nhà nước.

– Độc lập về tổ chức: Chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự đều độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức. Tránh trường hợp đổ lỗi trách nhiệm cho nhau.

– Độc lập về tài sản: Có sự rành rẽ, độc lập về tài sản.

b) Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng và không phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác

– Các chủ thể luôn bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không có sự phân biệt về thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn hóa, nghề nghiệp…

– Thể hiện của đặc điểm này trong quan hệ pháp luật dân sự:

+ Các chủ thể bình đẳng về tài sản: Các bên bình đẳng với nhau, thực hiện quyền và nghĩa vụ bằng tài sản của mình.

+ Bình đẳng về mặt tổ chức: Các chủ thể không lệ thuộc với nhau về mặt tổ chức, phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại do mình gây ra.

c) Lợi ích chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan hệ pháp luật dân sự

– Lý do để khẳng định lợi ích chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan hệ pháp luật dân sự:

+ Thứ nhất là các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản nên nó cũng mang các đặc điểm là có tính chất hàng hóa, tiền tệ và tính chất đền bù tương đương nên lợi ích về vật chất là một biểu hiện phổ biến trong quan hệ dân sự.

+ Các bên thiết lập một quan hệ dân sự nhằm một mục đích nhất định, tức là đều hướng đến một lợi ích nhất định có thể là lợi ích tinh thần hoặc lợi ích vật chất từ các quan hệ nhân thân hay quan hệ tài sản.

d) Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể các bên trong quan hệ pháp luật dân sự quy định các biện pháp không trái với pháp luật.

– Các biện pháp cưỡng chế trong quan hệ dân sự có nhiều biện pháp như các biện pháp mang tính chất tinh thần như xin lỗi, cải chính công khai…Chủ yếu nhằm mục đích khắc phục các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, về các giá trị nhân thân.

2. Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối

Căn cứ vào tính xác định của chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ, quan hệ pháp luật dân sự được chia thành hai loại:

– Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối: Trong quan hệ này, chủ thể quyền được xác định, còn các chủ `thể khác đều là chủ thể nghĩa vụ. Nghĩa vụ của các chủ thể nghĩa vụ được biểu hiện là dạng nghĩa vụ không hành động (tức là không thực hiện bất cứ hoạt động nào xâm phạm tới quyền của chủ thể quyền). Thông thường, các loại quyền tuyệt đối được pháp luật ghi nhận mà không phải do các bên thỏa thuận.

– Quan hệ pháp luật dân sự tương đối: Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật xác định cả chủ thể quyền và nghĩa vụ. Trong loại quan hệ này, nội dung quyền và nghĩa vụ thông thường do các bên thỏa thuận dựa trên các quy định của pháp luật. Nội dung các thỏa thuận này các nhà làm luật không thể quy định chi tiết mà chỉ đưa ra các quy định khung để các chủ thể dựa trên đó thỏa thuận.

3. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài , người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự. Để có tư cách chủ thể thì cá nhân phải có các điều kiện đầy đủ năng lực pháp luật dân sự (Điều 14) ” 1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. và năng lực hành vi dân sự (Điều 17) “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có được khi đạt độ tuổi nhất định:

– Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Theo quy định tại Điều 19 người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đủ 18 tuổi trở lên nhưng không bị mắc bệnh tâm thần, bệnh khác (Điều 22) hoặc người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác (Điều 23).

– Năng lực hành vi một phần: Điều 20 quy định Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác, trường hợp có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

-Không có năng lực hành vi dân sự : là người chưa đủ 6 tuổi theo quy định Điều 21

– Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định Điều 22 và Điều 23

Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84 về Pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, là được thành lập hợp pháp: thành lập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

– Thứ hai, là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

– Thứ ba, là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: pháp nhân phải có tài sản riêng không phụ thuộc và bị chi phối bởi bất kì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nào khác, trên cơ sở tài sản riêng đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình

– Thứ tư, là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: vì tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập nên pháp nhân sẽ được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp nhân nên pháp nhân phải nhân danh chính mình.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

www.luatthienminh.vn

Trân trọng !

Bạn có thể tham khảo các bài viết khác mà khách hàng thường quan tâm của Luật Thiên Minh: