Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc
  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Ở tiết học trước, các em đã được tìm hiểu văn bản “Tức nước võ bờ” trích trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố. Dưới ngòi bút hiện thực của nhà văn, chúng ta đã hiểu được một phần nào hiện thực xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945 qua gia cảnh nhà chị Dậu. Trong xã hội đó, những người nông dân phải chịu một ách hai tròng, họ không chỉ chịu nội khổ về sưu thuế mà còn còn vô vàn những ách áp bức bất công khác. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm một nhân vật nông dân điển hình của xã hội đó, đó chính là tác phẩm Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao.

    • Nam Cao (1915 – 1951), quê làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
    • Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn và truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người tri thức sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ.
    • Sau cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến. Ông đã hy sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch.
    • Nam Cao được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
    • Tác phẩm chất: Chí phèo (1941); Trăng sáng (1942); Đời thừa (1943); Lão Hạc (1943); Tiểu thuyết Sống mòn (1944);…

    a. Xuất xứ: Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, đăng báo lần đầu năm 1943.

    • Phần 1: Từ đầu … đáng buồn: Những việc làm của Lão Hạc trước khi chết
    • Phần 2: Còn lại: Cái chết của Lão Hạc

    Lão Hạc là một lão nông nghèo trong làng. Vợ lão mất sớm, đề lại cho lão một đứa con trai và một mảnh vườn do bà cố công tích góp mãi mới mua được. Vì nghèo quá, lão không có tiền để cưới vợ cho con, con trai lão vì thất tình nên quyết tâm vào đồn điền cao su đi làm kiếm tiền để không bị người ta coi khinh nữa.

    Vậy là một mình lão ở nhà với con Vàng (con chó của người con trai để lại), lão có một người hàng xóm tốt bụng là ông giáo. Chuyện gì của lão, lão cũng kể với ông giáo. Rồi lão bán con Vàng, được bao nhiêu tiền lão đưa hết cho ông giáo giữ để lo ma chay cho mình với để cho con trai lão. Lão gặp Binh Tư và xin ông ta một ít bả chó, vài ngày sau lão chết. Cái chết của lão rất đau khổ, vật vã, những cơn đau hành hạ lão tận hai giờ đồng hồ. Trong làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có ông giáo và Binh Tư mới hiểu.

    • Vợ lão mất sớm, nhà nghèo, lão phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
    • Nhà nghèo, vì không đủ tiền cưới vợ cho con, con trai lão đã phẫn chí nên bỏ đi làm ăn xa, lão sống một mình và chỉ có con chó vàng làm bạn.

    + Lão Hạc gọi con chó vàng là Cậu vàng và xưng là ông đã thấy ông rất yêu quý nó.

    + Hằng ngày, lão chăm sóc nó không khác gì người cha, người ông, chăm chăm sóc người con, người cháu nhỏ (tắm, bắt giận, cho ăn bằng bát như nhà giàu), trò chuyện tâm tình thủ thỉ, gắp thức ăn cho nó như người bạn tâm giao ngồi nhắm rượu. Đôi lúc lão còn mắng yêu, dọa yêu như đứa cháu nhỏ: “bố mày về thì nó giết” rồi lại xoa dịu, nói nựng như dỗ dành “À không! À không! Không cho giết cậu Vàng đâu nhỉ! Ông để cậu Vàng ông nuôi…”

    + Sau trận ốm hai tháng mười tám ngày thì số tiền lão Hạc dành dụm cho đứa con trai đã tiêu hết vào việc mua thuốc và ăn uống.

    + Sau trận ốm đó, lão Hạc đã yếu người đi ghê lắm, không thể cày thuê, cuốc mướn được nữa mà việc nhẹ thì đàn bà tran nhau làm hết rồi. Lão rơi vào cảnh thất nghiệp, đói deo đói dắt, không thể có hai hào đến ba hào để đong gạo nuôi miệng thì làm sao nuôi được con chó, trong khi con Vàng ăn khỏe hơn lão, mỗi ngày phải mất hai hào mua gạo.

    + Trận bão kéo đến phá hết hoa màu trong vườn nên lão Hạc không có gì để bán. Nếu để con chó lại thì nnos sẽ không có ăn, nó sẽ gầy đi.

    • Lão cố làm ra vui vẻ nhưng trong tâm rất đau đớn: Cười như mếu, mắt ầng ậc nước.
    • Diện mạo, cử chỉ thì thật đáng thương: mặt co rúm lại, nếp nhăn xô lại, đầu nghẹo về một bên, miệng móm mém.
    • Tiếng khóc hu hu như một đứa trẻ oan ức điều gì đó.
    • Tự cho mình là kẻ khốn nạn, lừa con chó.
    • Tưởng tượng con chó đang kêu ư ử là đang chửi mình: “A! lão già tệ lắm! tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”
      Nam cao đã sử dụng hàng loạt từ ngữ, hình ảnh để tả thái độ, tâm trạng của lão Hạc sau khi đã buộc lòng phải bán cậu Vàng.

    + Ầng ậc: nước mắt dâng lên sắp tràn ra ngoài mi – khóc từ trong gan, trong ruột, trong lòng khóc ra.

    + Khóc hu hu là cái khóc bình thường: hu hu khóc, tác giả đảo từ tượng thanh huhu lên trước “khóc” nhấn mạnh tiếng khóc của lão Hạc, lão khóc – tiếng khóc òa vỡ tức tưởi – tiếng lòng đau đớn xót xa, ân hận vì lão đã lừa dối cậu Vàng.

      Nguyên nhân dẫn tới cái chết của lão Hạc:

    + Nạn đói, thiên tai đưa lão Hạc rơi vào hoàn cảnh đói khổ, có khi ăn rau má, sung luộc, bữa trai, bữa ốc nhưng rồi tất cả những thứ đó cũng không còn, nên không thể tồn tại.

    + Lão có thể bán đi mảnh vườn để sống qua ngày nhưng lão quyết không bán, quyết định chọn cái chết.

    + Viết văn tự gửi ông Giáo giữ hộ mảnh vườn để sau này con trai lão về có đất làm ăn.

    + Gửi ông giáo ba mươi đồng để khi có chết thì nhờ ông giáo và hàng xóm lo ma giúp.

    + Lão Hạc chết thật bất ngờ; bất ngờ với tất cả. Sự bất ngờ của cái chết ấy càng làm cho câu chuyện thêm căng thẳng, thêm xúc động. Mâu thuẫn bế tắc được đẩy lên đỉnh điểm và kết thúc một cách bi đát và tất yếu.

    + Cái chết của lão Hạc thật dữ dội và kinh hoàng. Vì đó là cái chết do bị trúng độc bả chó.

    + Lão Hạc chết trong đau đớn, vật vã ghê gớm, cùng cực về thể xác: người giật mạnh, đầu tóc rũ rượi, bọt mép sùi ra, mắt long sòng sọc, miệng tru tréo, quần áo xộc xệch… vật vã gần hai giờ đồng hồ.

    + Lão Hạc đã chọn một cách giải quyết đáng sợ nhưng là một cách như để tạ lỗi cùng cậu Vàng.

      Cái chết của lão Hạc có ý nghĩa thật sâu sắc:

    + Một mặt, góp phần bộc lộ rõ số phận và tính cách của lão Hạc, cũng như tính cách và số phận người nông dân nghèo trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng tám: nghèo khổ, bế tắc cùng đường, giàu tình yêu thương và lòng tự trọng.

    + Mặt khác, cái chết của lão Hạc có ý nghĩ tố cáo hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến cách chúng ta hơn nửa thế kỷ – cái xã hội nô lệ tăm tối, buộc những người nghèo, đưa dẫn họ đến đường cùng. Họ chỉ có thể hoặc sa đọa, tha hóa, hoặc giữ bản chất lương thiện, trong sạch, tìm lại tự do bằng cái chết của chính mình.

    • Ông Giáo là một người trí thức nghèo sống ở nông thôn, cũng là một người giàu tình thương, lòng tự trọng: Ông Giáo tỏ ra thông cảm, thương xót cho hoàn cảnh của lão Hạc, tìm nhiều cách an ủi, giúp đỡ lão Hạc.
    • Ông Giáo rút ra triết lý về nỗi buồn trước cuộc đời và con người: Một mặt ông tỏ ra thông cảm với nỗi khổ tâm của vợ, vì sao mà vợ ông lại không chịu giúp đỡ lão Hạc. Mặt khác, ông Giáo buồn vì lòng tự ái của lão Hạc, của mình đều rất cao, nên hai người cứ xa nhau dần.
    • Khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, nghe câu nói đầy vẻ mỉa mai thì ông giáo nghĩ : Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. Vì ông thất vọng trước sự thay đổi cách sống không chịu đựng được, đói ăn vụng, túng làm càn của một người trong sạch, đầy tự trọng đến như lão Hạc.
    • Nhưng cái chết bất ngờ và dữ dội của lão Hạc thì tâm trạng của ông Giáo lại chuyển biến. Ông nghĩ: Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, nhưng lại đnasg buồn theo một nghĩa khác:

    + Chưa hẳn đáng buồn vì vẫn có những cái chết đầy hy sinh và bi phẫn như cái chết của lão Hạc: Nhân tính vẫn chiến thắng, lòng tự trọng vẫn giữ chân con người trước bờ vực của sự tha hóa.

    + Nhưng đáng buồn theo một nghĩa khác: Những người tốt như lão Hạc, đáng thương, đáng trọng, đáng thông cảm cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc, vô vọng, vẫn phải tìm đến cái chết như là sự cứu cánh duy nhất.

    • Thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trong xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta trước cách mạng tháng 8 – cái xã hội mà “Hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”.
    • Nhà văn đã thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những con người bất hạnh nhưng vẫn cao thượng chất phác, đôn hậu và đáng kính.
    • Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm.
    • Kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, khách quan.
    • Xây dựng nhân vật: tiêu biểu, điển hình.
    • Kết hợp triết lý và trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Giáo Án Văn 8 Bài Lão Hạc (Tiết 1)
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Trang 38 Chi Tiết Nhất
  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc
  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc
  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Tổng hợp đề đọc hiểu Lão Hạc

    Đề đọc hiểu Lão Hạc số 1

    Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 5 :

    Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay : – Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ! – Bán rồi. Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện : – Thế nó cho bắt à ? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão khóc mếu như con nít. Lão hu hu khóc…

    (Ngữ Văn 8 – tập 1, trang 41,42)

    Câu 1. Đoạn trích được trích từ văn bản nào ? Tác giả là ai ?

    Câu 2. Liệt kê những từ tượng hình, tượng thanh có trong đoạn trích ? Nêu tác dụng ?

    Câu 3. “Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão khóc mếu như con nít” Phân tích cấu tạo của câu ghép ? Nêu mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép ?

    Câu 4

    . Em có nhận xét gì về tâm trạng của lão Hạc khi bán chó qua đoạn trích trên ?

    Câu 5. Nếu em là lão Hạc, trong tình huống đó em có nên bán con chó đi không ? Vì sao ?

    Đáp án đề đọc hiểu Lão Hạc số 1

    Câu 1. Trích từ văn bản Lão Hạc của nhà văn Nam Cao.

    Câu 2

    Xác định đúng, chính xác từ tượng thanh, tượng hình:

    – Từ tượng hình : Móm mém

    – Từ tượng thanh : Hu hu

    – Tác dụng : Mô phỏng hình dáng miệng lão Hạc khi khóc và tiếng khóc của lão qua đó gợi lên sự đau khổ của lão Hạc sau khi bán chó.

    Câu 3

    – Câu ghép : Cái đầu lão (CN)/ ngoẹo về một bên(VN) và cái miệng(CN)// móm mém của lão khóc mếu như con nít.(VN)

    – Mối quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép là quan hệ đồng thời

    Câu 4

    Tâm trạng của lão Hạc khi bán cậu Vàng : Buồn, đau khổ, hối hận khi bán chó.

    Câu 5

    – Học sinh tự trả lời: Nên bán hay không nên bán đều được chấp nhận.

    – Giải thích lý do nên bán hay không nên bán (GV tùy vào tính hợp lý, cách lập luận để giải thích mà ghi điểm)

    Đề đọc hiểu Lão Hạc số 2

    Đọc phần trích sau:

    (Trích văn bản Lão Hạc Nam Cao)

    ...”Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên.”

    Câu 1. Nêu nội dung nghệ thuật của văn bản “Lão Hạc” – Nam Cao?

    Câu 2. Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ bộ phận cơ thể người trong đoạn trích trên?

    Câu 3. Xác định từ tượng hình, tượng thanh được sử dụng trong đoạn trích trên? Phân tích tác dụng của từ tượng hình, tượng thanh đó?

    Đáp án đề đọc hiểu Lão Hạc số 2

    Câu 1. Học sinh nêu đúng nội dung, nghệ thuật của văn bản “Lão Hạc” :.

    – Nội dung: Truyện ngắn “Lão Hạc” đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng của nhà văn đối với người nông dân.

    Câu 2.

    – Nghệ thuật: Miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện đặc sắc.

    Câu 3.

    Trường từ vựng chỉ bộ phận của cơ thể người: đầu, tóc, mắt, mép.

    – Học sinh xác định đúng các từ tượng hình, từ tượng thanh trong đoạn văn..

    + Từ tượng hình: xồng xộc, vật vã, xộc xệch, rũ rượi, long sòng sòng.

    + Từ tượng thanh: xôn xao, tru tréo.

    – Tác dụng:. Gợi tả một cách cụ thể, chân thực và cảm động về cái chết vô cùng đau đớn, dữ dội, thê thảm của lão Hạc.

    “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: – Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ! – Bán rồi ! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: – Thế nó cho bắt à ? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…” (Trích tác phẩm Lão Hạc – Nam Cao)

    Đề đọc hiểu Lão Hạc số 3

    Em hãy đọc kỹ đoạn văn trên và trả lời các câu sau:

    Câu 1. Tìm các từ tượng hình, từ tượng thanh trong đoạn văn.

    Câu 2. Đoạn văn trên được kể ở ngôi nào, ngôi kể ấy có tác dụng như thế nào trong việc kể chuyện ?

    Câu 3. Em hãy nêu tóm tắt giá trị nhân đạo của truyện ngắn Lão Hạc.

    Đáp án đề đọc hiểu Lão Hạc số 3

    Câu 1. Tìm các từ tượng hình, tượng thanh trong đoạn văn:

    – Chỉ ra được các từ tượng hình: ầng ậng, móm mém.

    – Chỉ ra được từ tượng thanh: hu hu.

    Câu 2. Xác định ngôi kể của đoạn văn:

    – Đoạn văn trên được kể ở ngôi thứ nhất (ông giáo là người kể chuyện, xưng tôi).

    – Tác dụng của việc lựa chọn ngôi kể ở ngôi thứ nhất:

    + Ông giáo – người tham gia câu chuyện, chứng kiến sự việc diễn ra trực tiếp kể lại câu chuyện khiến cho câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi hơn. Với cách kể này, câu chuyện được kể như những lời giãi bày tâm sự, cuốn hút độc giả dõi theo.

    + Việc lựa chọn ngôi kể này còn giúp cho cách dẫn dắt câu chuyện trở nên tự nhiên, linh hoạt hơn, lời kể chuyển dịch trong mọi không gian, thời gian kết hợp giữa kể với tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc.

    Câu 3. Nêu tóm tắt giá trị nhân đạo của truyện ngắn Lão Hạc

    – Trước hết, giá trị nhân đạo của tác phẩm được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm, sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc của nhà văn trước số phận đau thương, bất hạnh của người lao động, đặc biệt là của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.

    – Truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng với người nông dân (lão Hạc) của nhà văn; đồng thời ngợi ca những phẩm cao quý của lão Hạc…

    – Tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

    – Tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố

    Đề đọc hiểu Lão Hạc số 4

    Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

    (Trích Lão Hạc-Nam Cao, SGK Ngữ văn 8)

    “…Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”.

    Câu 1. Người kể trong đoạn trích là ai? Kể về sự việc gì?

    Câu 2. Chỉ ra các thán từ và các tình thái từ được sử dụng trong đoạn trích trên?

    Câu 3. Đặt một câu ghép chỉ nguyên nhân vì sao lão Hạc gửi tiền cho ông giáo?

    Đáp án đề đọc hiểu Lão Hạc đề số 4

    Câu 2.

    Câu 1. Người kể trong đoạn trích là lão Hạc, kể về việc lão bán con chó vàng mà lão yêu quý.

    – Các thán từ: Này, a.

    – Các tình thái từ: ạ, à.

    Câu 3. Đặt câu:

    Lão Hạc gửi tiền cho ông giáo vì lão lo lão chỉ có một thân một mình, lão chết lại không có ai lo ma chay cho mình, và lão không muốn tiêu vào tiền của cậu con trai.

    Vì lão không muốn khi chết liên lụy đến hàng xóm nên lão đã gửi tiền ông giáo để lo ma chay cho mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Giáo Án Văn 8 Bài Lão Hạc (Tiết 1)
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Trang 38 Chi Tiết Nhất
  • Suy Nghĩ Của Em Về Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc – Nam Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Học: Đề Kiểm Tra Cuối Học Kì I – Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Đề Kiểm Tra Môn Ngữ Văn 8
  • Bài Văn: Thuyết Minh Truyện Ngắn “Lão Hạc” (2)
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tình Cảm Cha Con Trong Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà Của Nguyễn Quang Sáng Và Lão Hạc Của Nam Cao
  • Đề Thi Chọn Học Sinh Năng Khiếu Lớp 8 Năm Học 2010
  • Ở tiết học trước, các em đã được tìm hiểu văn bản “Tức nước võ bờ” trích trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố. Dưới ngòi bút hiện thực của nhà văn, chúng ta đã hiểu được một phần nào hiện thực xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945 qua gia cảnh nhà chị Dậu. Trong xã hội đó, những người nông dân phải chịu một ách hai tròng, họ không chỉ chịu nội khổ về sưu thuế mà còn còn vô vàn những ách áp bức bất công khác. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm một nhân vật nông dân điển hình của xã hội đó, đó chính là tác phẩm Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao.

    I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    • Nam Cao (1915 – 1951), quê làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

    • Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn và truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người tri thức sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ.

    • Sau cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến. Ông đã hy sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch.

    • Nam Cao được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

    • Tác phẩm chất: Chí phèo (1941); Trăng sáng (1942); Đời thừa (1943); Lão Hạc (1943); Tiểu thuyết Sống mòn (1944);…

    2. Tác phẩm

    a. Xuất xứ: Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, đăng báo lần đầu năm 1943.

    b. Bố cục: 2 phần

    • Phần 1: Từ đầu … đáng buồn: Những việc làm của Lão Hạc trước khi chết

    • Phần 2: Còn lại: Cái chết của Lão Hạc

    c. Tóm tắt đoạn trích “Lão Hạc” – Nam Cao

    Lão Hạc là một lão nông nghèo trong làng. Vợ lão mất sớm, đề lại cho lão một đứa con trai và một mảnh vườn do bà cố công tích góp mãi mới mua được. Vì nghèo quá, lão không có tiền để cưới vợ cho con, con trai lão vì thất tình nên quyết tâm vào đồn điền cao su đi làm kiếm tiền để không bị người ta coi khinh nữa.

    Vậy là một mình lão ở nhà với con Vàng (con chó của người con trai để lại), lão có một người hàng xóm tốt bụng là ông giáo. Chuyện gì của lão, lão cũng kể với ông giáo. Rồi lão bán con Vàng, được bao nhiêu tiền lão đưa hết cho ông giáo giữ để lo ma chay cho mình với để cho con trai lão. Lão gặp Binh Tư và xin ông ta một ít bả chó, vài ngày sau lão chết. Cái chết của lão rất đau khổ, vật vã, những cơn đau hành hạ lão tận hai giờ đồng hồ. Trong làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có ông giáo và Binh Tư mới hiểu.

    II. Tìm hiểu văn bản

    1. Nhân vật lão Hạc

    a. Gia thế của lão Hạc

    • Vợ lão mất sớm, nhà nghèo, lão phải chịu cảnh gà trống nuôi con.

    • Nhà nghèo, vì không đủ tiền cưới vợ cho con, con trai lão đã phẫn chí nên bỏ đi làm ăn xa, lão sống một mình và chỉ có con chó vàng làm bạn.

    b. Trước khi bán chó:

    • Tình yêu thương của lão Hạc với cậu Vàng:

    + Lão Hạc gọi con chó vàng là Cậu vàng và xưng là ông đã thấy ông rất yêu quý nó.

    + Hằng ngày, lão chăm sóc nó không khác gì người cha, người ông, chăm chăm sóc người con, người cháu nhỏ (tắm, bắt giận, cho ăn bằng bát như nhà giàu), trò chuyện tâm tình thủ thỉ, gắp thức ăn cho nó như người bạn tâm giao ngồi nhắm rượu. Đôi lúc lão còn mắng yêu, dọa yêu như đứa cháu nhỏ: “bố mày về thì nó giết” rồi lại xoa dịu, nói nựng như dỗ dành “À không! À không! Không cho giết cậu Vàng đâu nhỉ! Ông để cậu Vàng ông nuôi…”

    • Nguyên nhân bán chó: Có 3 nguyên nhân:

    + Sau trận ốm hai tháng mười tám ngày thì số tiền lão Hạc dành dụm cho đứa con trai đã tiêu hết vào việc mua thuốc và ăn uống.

    + Sau trận ốm đó, lão Hạc đã yếu người đi ghê lắm, không thể cày thuê, cuốc mướn được nữa mà việc nhẹ thì đàn bà tran nhau làm hết rồi. Lão rơi vào cảnh thất nghiệp, đói deo đói dắt, không thể có hai hào đến ba hào để đong gạo nuôi miệng thì làm sao nuôi được con chó, trong khi con Vàng ăn khỏe hơn lão, mỗi ngày phải mất hai hào mua gạo.

    + Trận bão kéo đến phá hết hoa màu trong vườn nên lão Hạc không có gì để bán. Nếu để con chó lại thì nnos sẽ không có ăn, nó sẽ gầy đi.

    c. Sau khi bán chó:

    • Lão cố làm ra vui vẻ nhưng trong tâm rất đau đớn: Cười như mếu, mắt ầng ậc nước.

    • Diện mạo, cử chỉ thì thật đáng thương: mặt co rúm lại, nếp nhăn xô lại, đầu nghẹo về một bên, miệng móm mém.

    • Tiếng khóc hu hu như một đứa trẻ oan ức điều gì đó.

    • Tự cho mình là kẻ khốn nạn, lừa con chó.

    • Tưởng tượng con chó đang kêu ư ử là đang chửi mình: “A! lão già tệ lắm! tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”

    • Nam cao đã sử dụng hàng loạt từ ngữ, hình ảnh để tả thái độ, tâm trạng của lão Hạc sau khi đã buộc lòng phải bán cậu Vàng.

    +  Ầng ậc: nước mắt dâng lên sắp tràn ra ngoài mi – khóc từ trong gan, trong ruột, trong lòng khóc ra.

    + Khóc hu hu là cái khóc bình thường: hu hu khóc, tác giả đảo từ tượng thanh huhu lên trước “khóc” nhấn mạnh tiếng khóc của lão Hạc, lão khóc – tiếng khóc òa vỡ tức tưởi – tiếng lòng đau đớn xót xa, ân hận vì lão đã lừa dối cậu Vàng.

    2. Cái chết của lão Hạc

    • Nguyên nhân dẫn tới cái chết của lão Hạc:

    + Nạn đói, thiên tai đưa lão Hạc rơi vào hoàn cảnh đói khổ, có khi ăn rau má, sung luộc, bữa trai, bữa ốc nhưng rồi tất cả những thứ đó cũng không còn, nên không thể tồn tại.

    + Lão có thể bán đi mảnh vườn để sống qua ngày  nhưng lão quyết không bán, quyết định chọn cái chết.

    • Thu xếp trước khi chết:

    + Viết văn tự gửi ông Giáo giữ hộ mảnh vườn để sau này con trai lão về có đất làm ăn.

    + Gửi ông giáo ba mươi đồng để khi có chết thì nhờ ông giáo và hàng xóm lo ma giúp.

    • Một cái chết dữ dội và đau đớn:

    + Lão Hạc chết thật bất ngờ; bất ngờ với tất cả. Sự bất ngờ của cái chết ấy càng làm cho câu chuyện thêm căng thẳng, thêm xúc động. Mâu thuẫn bế tắc được đẩy lên đỉnh điểm và kết thúc một cách bi đát và tất yếu.

    + Cái chết của lão Hạc thật dữ dội và kinh hoàng. Vì đó là cái chết do bị trúng độc bả chó.

    + Lão Hạc chết trong đau đớn, vật vã ghê gớm, cùng cực về thể xác: người giật mạnh, đầu tóc rũ rượi, bọt mép sùi ra, mắt long sòng sọc, miệng tru tréo, quần áo xộc xệch… vật vã gần hai giờ đồng hồ.

    + Lão Hạc đã chọn một cách giải quyết đáng sợ nhưng là một cách như để tạ lỗi cùng cậu Vàng.

    • Cái chết của lão Hạc có ý nghĩa thật sâu sắc:

    + Một mặt, góp phần bộc lộ rõ số phận và tính cách của lão Hạc, cũng như tính cách và số phận người nông dân nghèo trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng tám: nghèo khổ, bế tắc cùng đường, giàu tình yêu thương và lòng tự trọng.

    + Mặt khác, cái chết của lão Hạc có ý nghĩ tố cáo hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến cách chúng ta hơn nửa thế kỷ – cái xã hội nô lệ tăm tối, buộc những người nghèo, đưa dẫn họ đến đường cùng. Họ chỉ có thể hoặc sa đọa, tha hóa, hoặc giữ bản chất lương thiện, trong sạch, tìm lại tự do bằng cái chết của chính mình.

    3. Nhân vật ông Giáo – người kể chuyện

    • Ông Giáo là một người trí thức nghèo sống ở nông thôn, cũng là một người giàu tình thương, lòng tự trọng: Ông Giáo tỏ ra thông cảm, thương xót cho hoàn cảnh của lão Hạc, tìm nhiều cách an ủi, giúp đỡ lão Hạc.

    • Ông Giáo rút ra triết lý về nỗi buồn trước cuộc đời và con người: Một mặt ông tỏ ra thông cảm với nỗi khổ tâm của vợ, vì sao mà vợ ông lại không chịu giúp đỡ lão Hạc. Mặt khác, ông Giáo buồn vì lòng tự ái của lão Hạc, của mình đều rất cao, nên hai người cứ xa nhau dần.

    • Khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, nghe câu nói đầy vẻ mỉa mai thì ông giáo nghĩ : Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. Vì ông thất vọng trước sự thay đổi cách sống không chịu đựng được, đói ăn vụng, túng làm càn của một người trong sạch, đầy tự trọng đến như lão Hạc.

    • Nhưng cái chết bất ngờ và dữ dội của lão Hạc thì tâm trạng của ông Giáo lại chuyển biến. Ông nghĩ: Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, nhưng lại đnasg buồn theo một nghĩa khác:

    + Chưa hẳn đáng buồn vì vẫn có những cái chết đầy hy sinh và bi phẫn như cái chết của lão Hạc: Nhân tính vẫn chiến thắng, lòng tự trọng vẫn giữ chân con người trước bờ vực của sự tha hóa.

    + Nhưng đáng buồn theo một nghĩa khác: Những người tốt như lão Hạc, đáng thương, đáng trọng, đáng thông cảm cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc, vô vọng, vẫn phải tìm đến cái chết như là sự cứu cánh duy nhất.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    • Thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trong xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta trước cách mạng tháng 8 – cái xã hội mà “Hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”.

    • Nhà văn đã thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những con người bất hạnh nhưng vẫn cao thượng chất phác, đôn hậu và đáng kính.

    2. Nghệ thuật

    • Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm.

    • Kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, khách quan.

    • Xây dựng nhân vật: tiêu biểu, điển hình.

    • Kết hợp triết lý và trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Tiết 14: Văn Bản: Lão Hạc (Nam Cao)
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Lão Hạc”
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đọc Văn: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích “Chinh Phụ Ngâm”)
  • Tác Phẩm “Chinh Phụ Ngâm”
  • Cách Làm Phần Đọc Hiểu Văn Bản Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Văn
  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 7)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 60)
  • Phân Tích Bài Thơ “ánh Trăng” Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9 Của Nguyễn Duy
  • Bài Soạn Lớp 9: Ánh Trăng
  • Câu hỏi

    1.Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn, hãy cho biết nội dung của mỗi đoạn.

    2.Trong bài thơ có hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3)

    a/ Hãy phân tích từng cảnh tượng

    b/ Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và 3 . Phân tích để làm rõ cái hay trong đoạn thơ này.

    c/ Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng nêu trên, tâm sự của con hổ ở vương bách thú được biểu hiện như thế nào?Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời?

    3. Căn cứ vào nội dung bài thơ, hãy giải thích vì sao tác giả mượn lời con hổ ở vương bách thú . Việc mượn lời đó có tác dụng thế nào trong việc thể hiện nội dung cảm xúc của nhà thơ?

    4*. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh pi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được.” (Thi nhân Việt Nam Sđd ) Em hiểu như thế nào về ý kiến đó? Qua bài thơ, hãy chứng minh.

    Hướng dẫn giải

    Câu hỏi 1. Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn, hãy cho biết nội dung mỗi đoạn. Bài thơ được tác giá chia thành 5 đoạn : – Đoạn 1 (từ đấu đến “Với cặp báo chuổng bốn vô tư lự”) : Lòng uất hận, căm hờn, ngao ngán vì bị giam cấm. – Đoạn 2 (từ “Ta sông mãi trong tình thương nỗi nhớ” đến “Giữa chôn thảo hoa không tên, không tuổi”): Nỗi nhớ núi rừng. – Đoạn 3 (từ “Nào đâu những đêm vùng bên bờ suối” đến Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu ?”): Nỗi nhớ vể một thời oanh liệt, tự do. – Đoạn 4 (từ “Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu” đến “Của chốn ngàn năm cao cả, âm u”): Sự căm ghét khu vườn nhỏ hẹp, giả dối. – Đoạn 5 (còn lại): Giấc mơ và niềm khao khát được trở lại vùng vẫy chốn rừng xưa. Câu hỏi 2. Trong bài thơ có hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng : cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) ; cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa” (đoạn 2 và đoạn 3). a) Hãy phân tích từng cảnh tượng. b) Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3. Phân tích để làm rỏ cái hay của hai đoạn thơ này. c) Qua sự đối lập sâu sác giữa hai cánh tượng nêu trên, tâm sự con hổ ở vườn bách thú được biểu hiện như thế nào ? Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời ? a) Trong bài thơ có hai cảnh tượng tương phản : cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị giam cầm (đoạn 1 và đoạn 4) và cánh núi non hùng vĩ, nơi con hổ từng sống (đoạn 2 và đoạn 3). Đó là sự tương phản giữa cảnh thực tại và cảnh trong dĩ vãng, mộng tưởng. – Cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị giam cầm (đoạn 1 và đoạn 4). Đoạn 1 chủ yếu miêu tả tâm trạng ngao ngán, câm tức của con hổ khi sa cơ, lâm vào cảnh ngộ tù hãm trong vườn bách thú. Con hổ nhục nhã, chán ngán khi phải “làm trò lạ mắt”, làm “thứ đồ chơi” của đám người nhỏ bé, ngạo mạn; bị coi ngang hàng với bọn “dở hơi”, “vô tư lự”. Con hổ không có cách nào đê thoát khỏi sự tù túng, tầm thường, chán ngắt, đành phải bất lực, buông xuôi, mặc cho sô phận, “nằm dài, trông ngày tháng dần qua”. Đoạn 4 miêu tả cảnh vườn bách thú qua cái nhìn của chúa sơn lâm. Đó là một nơi đơn điệu, buồn chán, “không đòi nào thay đổi”. Cảnh ở đây đã được sửa sang dưới bàn tay của con người. Nó được bắt chước cảnh rừng núi “cao cả”, “âm u”, “bí hiểm” một cách “tầm thường”, “thấp kém” và “giả dối”: Hoa chăm, cỏ xén, lôi phẳng, cây trồng; Dải nước đen giả suôi, chẳng thông dòng; Len dưới nách những mô gồ thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành, không hí hiểm… – Cảnh con hổ trong chốn giang sơn hùng vĩ của mình (đoạn 2 và đoạn 3). Đoạn 2 miêu tả cảnh thiên nhiên núi rừng đại ngàn, hoang dã, cái gì cũng lớn lao và phi thường : “bóng cả, cây già”, “tiếng gió gào ngàn”, “nguồn hét núi”, “lá gai, cỏ sắc”, “thảo hoa”. Trên cái nền hoang sơ, hùng vĩ ấy, hình ảnh con hổ – vị chúa tể của muôn loài hiện lên với vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt : một thuở “tung hoành, hống hách”, “bước chùn lên, dõng dạc, đường hoàng”, “tấm thân như sóng cuộn”, đôi “mắt thần” sáng “quắc”… Đoạn 3 là hình ảnh núi rừng hùng vĩ, tráng lệ với con hổ uy nghi làm chúa tể. Đó là cảnh thơ mộng, lãng mạn “những đêm vàng bên bờ suối”, con hổ “say mồi đứng uống ánh trăng tan”. Đó là cảnh của những ngày khó khăn “mưa chuyển bốn phương ngàn”, con hổ vẫn mang dáng vẻ của một bậc đế vương “Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới”. Đó là cảnh của những ngày vui, trong sáng “bình minh cây xanh nắng gội”, rộn rã “tiếng chim ca”, con hổ trong giấc ngủ bình yên. Đó là những cảnh dữ dội “chiểu lênh láng máu sau rừng”, con hổ đợi mặt trời “chết” để chiếm lấy “phần bí mật” trong vũ trụ. Núi rừng, nơi con hổ sống có vẻ đẹp hoang sơ, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng. Ở đây, con hổ hiện lên với một tư thế lẫm liệt, kiêu hùng. b) Đoạn 2 và đoạn 3 là những đoạn hay nhất trong bài thơ. Từ ngữ, hình ảnh và giọng điệu thơ trong hai đoạn này là những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả. Cảnh dĩ vãng huy hoàng hiện lên trong nổi nhớ da diết đến đớn đau của con hổ. Nỗi nhớ tiếc khôn nguôi về cái thuở “ngày xưa” ấy được diễn tả bằng các từ ngữ được lặp di lập lại nhiều lần : nhớ, nào đâu, đâu những; bằng tiếng than u uất với một thán từ và câu hỏi đầy nuối tiếc “Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ?”. Hình ảnh núi rừng đại ngàn hoang vu, hùng vĩ hiện ra qua các hình ảnh chọn lọc : bóng cả, củy già, gió gào ngàn, nguồn hét núi, bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc, đêm vàng bờ suối, cây xanh nắng gội, ngày mưa chuyên bốn phương ngàn… Hình ảnh “những đêm vàng bên bờ suối” và con hổ “say mồi đứng uống ánh trăng tan” là một hình ảnh vừa hoang dại, vừa diễm lệ, huyền ảo, đầy chất thơ. Hình ảnh “những chiểu lênh láng máu sau rừng’ và con hổ “đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” là hình ảnh vừa man rợ vừa kiêu hùng. Trên cái nền cao cả và âm u ấy là hình ảnh con hổ oai phong, lẫm liệt. Hình ảnh ấy được diễn tà bằng những từ ngữ mạnh, sắc : tung hoành, hống hách, dõng dạc, dường hoàng, cuộn, quắc… Trong hai đoạn thơ này, tác giả sử dụng nhiễu từ Hán Việt, sắc thái nghĩa trang trọng của lớp từ Hán Việt đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật đáng kể : khắc họa đậm nét hơn sự cao cá, lớn lao, phi thường của núi rừng và con hổ. Nhạc điệu bài thơ phong phú, giàu sức biểu cảm, âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt. Giọng thơ khi u uất, bực dọc, dằn vặt, khi say sưa, tha thiết, hùng tráng. c) Sống trong canh giam cẩm chật chội, ngột ngạt, con hổ nhớ tiếc thời sống hiẽn ngang, oanh liệt, làm chúa tê muôn loài ở chốn rừng xanh. Con hổ đau buồn, phẫn uất, căm giận vì bị giam hãm trong cũi sắt, xung quanh toàn là những sự giả tạo, chán ngát. Tâm trạng của con hổ cũng là tâm trạng của nhà thơ. Nhà thơ bất hòa sâu sắc với thực tại cuộc sống, một xã hội tù túng, ngột ngạt, xấu xa và niềm khát khao mãnh liệt muốn được sống tự do; nhưng vì bát lực, chỉ biết tìm cách thoát li thực tại ấy bằng những mộng tưởng, đắm chìm vào đời sống nội tâm. Đây cũng chính là tâm trạng chung của người dân Việt Nam sống trong cảnh nô lệ, nhớ tiếc một “thời oanh liệt” với những chiến công chống giặc ngoại xâm hiển hách của dân tộc. Câu hỏi 3. Căn cứ vào nội dung bài thơ, hãy giải thích vì sao tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú”. Việc mượn lời đó có tác dụng thế nào trong việc thê hiện nội dung cảm xúc của nhà thơ ? Tác giá mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú để gián tiếp nói lên tám sự của một lớp thanh niên trí thức yêu nước, khao khát tự do, bất hòa sâu sắc với xã hội thực tại, một xà hội thực dân, tay sai tù túng, giả dối, ngột ngạt lúc bấy giờ. Đấy cũng là tâm sự của người dân Việt Nam nói chung trong cảnh nước mất, nhà tan. Những điều tâm sự ấy không được nói thẳng mà phải nói quanh co, bóng bẩy, kín đáo để tránh sự kiểm soát gắt gao của chính quyền thực dân và tay sai. Tinh cảnh và tâm sự của con hổ có những nét tương đồng với tình cảnh và tâm sự của người dân mất nước, mất tự do. Mượn lời con hổ sẽ rất thuận lợi cho việc thê hiện nội dung và cảm xúc của nhà thơ. Câu hỏi 4. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ : “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tường chừng thấy những chữ bị xô đẩy. bị dàn vật bỡi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điêu khiển dội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cường được” (Thi nhân Việt Nanì, Sđd). Em hiểu như thế nào về ý kiến đó ? Qua bài thơ, hày chứng minh. Trong nhận xét của Hoài Thanh có hai ý: thơ Thế Lữ cảm xúc mãnh liệt, tuôn trào (“tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường”) và việc sử dụng ngôn ngữ của ông đê biểu hiện nội dung một cách linh hoạt, chính xác, hiệu quả (“Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thổ cưỡng được”). Cảm xúc trào sôi, bút pháp làng mạn, từ ngừ, hình ảnh, ủm điệu bài thơ Nhớ rừng thế hiện rất rõ điều đã nói ở trên.

    Các câu hỏi cùng bài học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn 9 Bài Giảng Ánh Trăng Anh Trang Ppt
  • Ánh Trăng Anh Trang Nhung Ltv Ppt
  • Sơ Đồ Tư Duy Ánh Trăng
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Ánh Trăng Ngắn Gọn Nhất
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Các Tác Phẩm Thơ Hiện Đại
  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc
  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Của Nhà Văn Nam Cao
  • Lão Hạc

    – Nam Cao-

    A. Mục tiêu cần đạt : (SGV tr 35)

    1. Kiến thức:

    Giúp HS: – Thấy đc tình cảnh khốn cùng và nhân cách cao quý của nhân vật Lão Hạc, qua đó hiểu thêm về số phận đáng thương và vẽ đẹp tâm hồn đáng trọng của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8.

    – Thấy đc lòng nhân đạo sâu sắc của nhân vật Nam Cao ( qua nhân vật ông Giáo ).

    2. Kĩ năng:

    Rèn cho HS kĩ năng phân tách nhân vật.

    3. Thái độ:

    Giáo dục HS biết yêu thương, cảm thông quý trọng con người nghèo khổ bất hạnh có tâm hồn cao cả.

    B. Chuẩn bị : – ảnh nhà văn Nam Cao + tuyển tập Nam Cao tập 1

    – Phiếu học tập.

    – HS soạn bài, túm tắt VB. GV chuẩn bị bài dạy.

    C. Các hoạt động dạy – học :

    – Kiểm tra bài cũ : Phõn tớch tõm lý chị Dậu qua đoạn trích ” TNVB” nhận xột của em về tớnh cỏch chị Dậu?

    – Vào bài : …….

    GV

    HS

    Nội dung cần đạt

    Hóy giới thiệu về tỏc giả VB ” Lóo Hạc”? GV chốt.

    – Trỡnh bày cỏ nhõn

    I. Tiếp xúc văn bản:

    1. Tỏc giả : (SGK tr 45)

    -Yêu cầu HS đọc phần tóm tắt nội dung đầu VB ( Chữ nhỏ): tỡnh cảm Lóo Hạc

    – Tỡnh cảm của LH với con chú vàng

    2. Đọc- chú thích:

    – Đọc diễn cảm, chú ý biểu hiện tâm trạng, tỡnh cảm, thỏi độ qua giọng điệu từng nhân vật.

    – Sự túng quẫn đe dọa Lóo Hạc lỳc này

    – HD đọc VB và tỡm hiểu chỳ thớch

    – Đọc phần tóm tắt chuẩn bị sẵn

    – Lưu ý chỳ thớch 5, 6,9 ,10,11,15,21,24, 28, 30,31,40,43 (Dành 3 phỳt cho HS tự đọc chú thích)

    – Tóm tắt đoạn VB tin chữ to

    GV củng cố, nhận xột việc túm tắt của HS

    1 HS túm tắt

    3. Túm tắt VB cần phõn tớch

    – Lóo Hạc sang nhờ ụng giỏo:

    GV dẫn : ở phần đầu truyện, ta thấy đó nhiều lần LH núi đi nói lại ý định bán ” cậu Vàng’, cho thấy lóo đó suy tớnh đắn đo nhiều lắm, coi đây là việc hệ trọng bởi ” cậu Vàng” là người bạn thân thiết, là kỷ vật của anh con trai mà lóo rất thương yêu. Vậy vỡ sao mà cuối cựng lóo lại đành lũng bỏn cậu?

    Lóo Hạc kể chuyện bỏn chú, ụng giỏo cảm thụng và an ủi lóo. Lóo Hạc nhờ cậy ụng giỏo 2 việc.

    – Em hóy tỡm từ ngữ, hỡnh ảnh miờu tả thỏi độ, tâm trạng của LH khi lóo kể chuyện bỏn cậu Vàng với ụng giỏo?

    – tỡm phỏt hiện chi tiết

    – Cố làm ra vui vẻ, cười như mếu, mặt dột nhiên co rúm lại, vết nhăm xô lại, ép nước mắt chảy, đầu ngoẹo, miệng mếu máo như con nít lu lu khóc

    – Những từ ngữ, chi tiết, hỡnh ảnh ấy diễn tả điều gỡ trong tõm trạng Lóo Hạc ?

    – Suy nghĩ nờu ý kiến cỏ nhõn

    (Lột tả sự day dứt, ăn năn vỡ ” già bằng này tuổi đầu rồi cũn đánh lừa một con chó”, thể hiện một cừi lũng đau đớn, xót xa, ân hận thương tiếc.. đang dân trào ũa vỡ khi cú người hỏi đến.

    – Em cú nhận xột gỡ về nghệ thuật miờu tả của tỏc giả qua đoạn văn miêu tả Lóo Hạc

    – Trỡnh bày cỏ nhõn

    Tác giả đó thể hiện chõn thật, cụ thể, chớnh xỏc từng diễn biến tõm trạng đau đớn cứ dâng lên, như không thể kỡm nộn nổi nỗi đau – phù hợp tâm lý, hỡnh dỏng và cỏch biểu hiện của những người già.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc
  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Giáo Án Văn 8 Bài Lão Hạc (Tiết 1)
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • 3 Bài Văn Chứng Minh Người Nông Dân Vẫn Giữ Trọn Phẩm Chất Tốt Đẹp Qua
  • Qua Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc, Chứng Minh Rằng: Mặc Dù Gặp Nhiều Đau Khổ Bất Hạnh, Người Nông Dân Trước Cách Mang Tháng Tám Vẫn Giữ Trọn Những Phẩm Chất Tốt Đẹp Của Mình
  • Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ
  • Hãy Chia Bố Cục Và Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Văn bản: Lão Hạc

    Nam Cao

    I. Tác giả:

    – Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1915 – 1951) tại làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Trước năm 1945, ông dạy học tư và viết văn. Sau CM tháng 8, ông làm phóng viên mặt trận, rồi làm công tác văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1951, ông đi công tác vào vùng sau lưng địch và ông đã hi sinh trong tư thế của một nhà văn – chiến sĩ.

    – Nam Cao là nhà văn xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945. Sáng tác của ông trước CM tập trung vào 2 đề tài chủ yếu: đề tài nông dân và đề tài trí thức tiểu tư sản. Nam Cao xứng đáng được gọi là nhà văn của nông dân. Với hơn hai chục truyện ngắn viết về nông dân, Nam Cao đã dựng lên một bức tranh tuy không rộng lớn và đồ sộ nhưng rất mực chân thực về nông thôn VN trên con đường phá sản và bần cùng, hết sức thê thảm vào những năm 1940 – 1945. Bên cạnh đó, các tác phẩm viết về đề tài trí thức của ông đã miêu tả sâu sắc, thấm thía tấn bi kịch tinh thần, tình trạng “sống mòn” không lối thoát của những người trí thức nghèo trong những năm cuối cùng của chế độ thực dân phong kiến.

    + Nam Cao không chỉ là nhà văn hiện thực xuất sắc mà ông còn là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. ông luôn đau xót và bất bình trước tình cảnh những con người lương thiện bị đầy đoạ trong cái đói, cái khổ, bị lăng nhục, bắt hủi một cách tàn nhẫn và bất công, ông đã đứng ra bênh vực họ, minh oan và chiêu tuyết cho họ.

    + Sáng tác của Nam Cao chứa đựng những yếu tố cách tân quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới của văn xuôi VN: từ cách nhìn mới, xây dựng cốt truyện, tổ chức kết cấu, phương thức miêu tả nhân vật, đến giọng điệu, lời văn, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.

    + Sau CM, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì kháng chiến chồng Pháp (1945 – 1954).

    – Tác phẩm chính của Nam Cao: viết về đề tài nông dân (Chí Phèo; Một bữa no; Mò sâm banh…) viết về đề tài trí thức (tiểu thuyết Sống mòn; truyện ngắn Đời thừa; ) Sau CM ông viết Nhật kí ở rừng; Đôi mắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Kể Chuyện Thôi Ngôi Thứ Nhất: Ông Giáo, Lão Hạc, Hồng, Chị Dậu.
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “lão Hạc”
  • Bài 4. Lão Hạc Bai 4 Lao Hac Ppt
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Chuyện Thôi Ngôi Thứ Nhất: Ông Giáo, Lão Hạc, Hồng, Chị Dậu.
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc
  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • 3 Bài Văn Chứng Minh Người Nông Dân Vẫn Giữ Trọn Phẩm Chất Tốt Đẹp Qua
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản Lão Hạc của Nam Cao lớp 8 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản Lão Hạc này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện ngắn Lão Hạc. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 1

    Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó. Vì không đủ tiền cưới vợ con trai lão phẫn chí đi đồn điền cao su. Muốn để lại mảnh vườn cho con, lão đành phải bán con Vàng. Lão mang tiền dành dụm gửi ông giáo, nhờ ông trông coi mảnh vườn. Cuộc sống ngày thêm khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và bị ốm một trận khủng khiếp. Một hôm lão xin Binh Tư một ít bả chó. Ông giáo rất buồn khi nghe binh tư kể chuyện ấy. Nhưng đột ngột lão chết, cái chết thật dữ dội. Cả làng không hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu điều đó

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 2

    Lão Hạc có một hoàn cảnh gia đình bất hạnh: vợ lão mất sớm, lão phải 1 mình gà trống nuôi con trong căn nhà nghèo.Lão rất yêu thương con, mong con trai có c/s hạnh phục,không khổ sở như mình,nhưng lão không biết làm cách nào và đành để con trai đi trong khổ đau vì cnos phẫn chí bỏ đi phu khi không cưới được vợ.Lão Hạc chỉ còn lại một mình với một mảnh vườn và một con chó vàng. Con chó ấy là của anh con trai để lại-kỷ niểm của con trai lão trước khi ra đi, lão cưng chiều nó như con, gọi “cậu Vàng”. Nhưng cuộc sống khốn khó, đã đẩy lão vào con đường cùng,lão bán chó để làm ma cho mình và quyết không bán mảnh vườn mà dành mảnh vườn cho con để mai này nó về có chỗ sống,có chỗ làm ăn,sinh sống trong khi lão vô cùng đau khổ, dằn vặt. Lão mang tiền dành dụm được khi bán “cậu vang” gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Không muốn phiền đến mọi người(ông Giáo,bà con hàng xóm), lão từ chối hết thảy những sự giúp đỡ của ông giáo.Lão kết liễu đời mình bằng cách ăn bả cho để lão vẫn giữu được nhân cách cao đẹp của lão …

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 3

    Lão Hạc là một nông dân nghèo, sống cô độc. Con trai vì không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su, chỉ để lại cho lão một con chó làm bạn. Sau một lần ốm nặng, lão yếu đi ghê lắm, không đủ sức để đi làm thuê nữa. Cùng đường lão phải quyết định bán con chó vàng mà lão hết lòng yêu thương. Rồi lão mang tiền dành dụm được và cả mảnh vườn của mình đem sang gửi cho ông Giáo. Ít lâu sau lão sang nhà Binh Tư xin bả chó. Khi nghe Binh Tư kể về chuyện lão Hạc sang xin bả chó, ông Giáo đã rất thất vọng. Nhưng ngay sau đó, khi nhìn thấy lão Hạc chết một cách đau đớn và dữ dội thì ông giáo đã hiểu ra mọi chuyện. Còn về cái chết của lão Hạc chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu rõ.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 4

    Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo không lấy được vợ, đã phẫn chí bỏ làng đi làm ăn xa. Lão Hạc ở nhà chờ con về, làm ăn thuê để kiếm sống. Sau một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Không còn đường sinh sống, lão Hạc lặng lẽ đi đến một quyết định quan trọng. Lão bán con chó Vàng mà lão rất mực yêu thương, mang hết số tiền dành dụm được và cả mảnh vườn gửi cho ông Giáo trông coi hộ. Lão chịu đói, chỉ ăn khoai và sau đó “lão chế tạo được món gì, ăn món nấy”. Ông Giáo ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão tìm cách từ chối. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói để đánh bả chó làm thịt và rủ Binh Tư uống rượu. Ông Giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Lão Hạc bỗng nhiên chết – một cái chết thật dữ dội. Cả làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu lão ăn bả chó để tử tự.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 5

    Lão Hạc là một nông dân nghèo có một đứa con,một mảnh vườn và một con chó. Con trai lão vì phấn trí nên bỏ lên đồn điền cả sử lão chỉ còn cậu vàng bầu bạn.Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con nên lão đành bán cậu vàng đi trong đau đớn. Tất cả tiền dành dụm và tiền bán cho lão đều gửi ông giáo.Cuộc sống ngày một khó khăn lão kiếm được gì ăn nấy. một hôm lão xin binh tư ít bả chó nói là bẫy con chó hay đến vườn và rủ binh tu uống rượu.Ông giáo rất buồn khi nghe binh tư kể lại chuyện đó.Đột nhiên lão hạc chết cái chết thật dữ dội cả làng không hiểu tại sao chỉ có binh tư và ông giáo hiểu.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “lão Hạc”
  • Bài 4. Lão Hạc Bai 4 Lao Hac Ppt
  • Soạn Bài Lão Hạc Của Nam Cao
  • Top 3 Soạn Bài Lão Hạc Ngắn Nhất.
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lão Hạc
  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 60)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “ánh Trăng” Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9 Của Nguyễn Duy
  • Bài Soạn Lớp 9: Ánh Trăng
  • Dịch Văn Bản Khoa Học Từ Anh Sang Việt 28 Co Nguyenphuocvinh Doc
  • Câu hỏi

    1.Đọc nhiều lần bài thơ, tìm hiểu cảm xúc bao trùm của tác giả và trình tự biểu hiện trong bài.

    2.Phân tích hình ảnh Hành tre bên lăng Bác được miêu tả ở khổ thơ đầu.Tac giả đã làm nổi bật những nét nào của cây tre, và điều đó mang ý nghĩa ẩn dụ như thế nào? Câu thơ cuối bài trở lại hình ảnh cây tre đã bổ sung thêm phương diện ý nghĩa gì nữa của hình ảnh cây tre Việt Nam.

    3.Tình cảm của nhà thơ và của mọi người đối với Bác đã được thể hiện như thế nào trong các khổ thơ 2,3,4? Chú ý phân tích những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc trong các khổ thơ này.

    4.Nhận xét về sự thống nhất giữa nội dung tình cảm, cảm xúc và các yếu tố nghệ thuật (thể thơ, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh) của bài thơ.

    Hướng dẫn giải

    Câu 1:

    Cảm xúc bao trùm trong bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Giọng điệu trong bài thơ là giọng thành kính, trang nghiêm trong những suy tư trầm lắng.

    Cảm xúc đó được thể hiện theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác. Mở đầu là cảm xúc về cảnh bên ngoài lăng, tiếp đó là cảm xúc trước hình ảnh dòng người bất tận ngày ngày vào lăng viếng Bác. Nỗi xúc động thiêng liêng khi vào lăng được gợi lên từ những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Trong khổ thơ cuối, tác giả thể hiện niềm mong ước thiết tha muốn tấm lòng mình mãi mãi ở lại bên lăng Bác.

    Câu 2:

    Hàng tre là hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả trong bài thơ. Đây là hình ảnh thực nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là hình ảnh thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam, một biểu tượng của dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất, bền bỉ. Cuối bài thơ, hình ảnh hàng tre còn được lặp lại với ý nghĩa cây tre trung hiếu. Đó cũng là một phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Cách kết cấu như vậy gọi là kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh, gây ấn tượng sâu sắc và cảm xúc được nâng cao lên.

    Câu 3.

    Tình cảm của nhà thơ, của mọi người đối với Bác đã được thể hiện qua sự kết hợp giữa những hình ảnh thực với những ẩn dụ đặc sắc:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ vừa thể hiện được sự thành kính của nhà thơ và của cả dân tộc đối với Bác.

    Đến hai câu tiếp theo, hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” là thực nhưng “Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” lại là một ẩn dụ đẹp và rất sáng tạo, thể hiện sâu sắc những tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhân dân đối với Bác.

    Đến khổ thứ ba, dòng người đang yên lặng đi qua linh cữu Bác trong nỗi nhớ thương và xót xa vô hạn. Không khí tĩnh lặng, khung cảnh yên tĩnh nơi đây đã khiến cho ngay cả hình ảnh thơ cũng thay đổi:

    Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Hình ảnh mặt trời rực đỏ trong lăng đã được thay bằng vầng trăng “sáng dịu hiền”. Sự thay đổi ấy thể hiện rất nhiều ý nghĩa. Bác không chỉ là một người chiến sĩ cách mạng, là ngọn đuốc sáng soi đường cho dân tộc (ý nghĩa biểu tượng từ mặt trời), Bác còn là một người Cha có “đôi mắt Mẹ hiền sao!”. Hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người.

    Đến hai câu thơ sau, mạch xúc cảm ấy đã được bộc lộ trực tiếp:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim.

    Đây là những câu thơ hết sức chân thành, mãnh liệt. Tình cảm mãnh liệt của tác giả đã khiến cho câu thơ vượt lên trên ý nghĩa biểu tượng thông thường, đồng thời tạo nên một mạch liên kết ngầm bên trong. Hình ảnh Bác được ví với mặt trời rực rỡ, với mặt trăng dịu mát, êm đềm và với cả trời xanh vĩnh cửu. Đó đều là những vật thể có ý nghĩa trường tồn gần như là vĩnh viễn nếu so với đời sống của mỗi cá nhân con người. Mặc dù vậy, tác giả vẫn thốt lên: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”.

    Đó là lời giãi bày rất thực, xuất phát từ những tình cảm mãnh liệt của nhân dân, đồng bào đối với Bác. Thông thường, trong những hoàn cảnh tương tự, việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ là một thủ pháp nhằm giảm nhẹ nỗi đau tinh thần. Mặc dù vậy, tác giả thốt lên: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Dường như nỗi đau quá lớn khiến cho những hình ảnh ẩn dụ trở nên không còn ý nghĩa, chỉ có cách diễn tả trực tiếp tâm trạng mới có thể giúp nhà thơ giãi bày tình cảm của mình.

    Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ được mãi mãi ở bên Bác. Đã đến giờ phút phải chia tay, tác giả chỉ có thể biểu hiện tấm lòng mình bằng ước muốn hoá thân vào những cảnh vật, sự vật ở bên Bác: muốn làm con chim cất cao tiếng hót, muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây, và nhất là muốn làm cây tre trung hiếu để có thể mãi mãi ở bên Bác.

    Câu 4:

    Giọng điệu trong bài thơ thể hiện rất nhiều tâm trạng: đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lại chan chứa niềm tin và lòng tự hào, thể hiện đúng những tâm trạng bộn bề của bao người khi vào lăng viếng Bác.

    • Bài thơ sử dụng thể 8 chữ là chủ yếu nhưng có những câu 7 chữ hoặc 9 chữ. Nhịp điệu trong thơ chậm rãi, khoan thai, diễn tả khá sát hình ảnh đoàn người đang nối nhau vào cõi thiêng liêng để được viếng Bác, để được nghiêng mình thành kính trước vong linh của một người Cha nhưng cũng đồng thời là một vị anh hùng dân tộc.

    • Hình ảnh thơ trong bài rất sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Những hình ảnh ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng, trời xanh… tuy đã rất quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ này đã thể hiện được những ý nghĩa rất mới mẻ, có sức khái quát cao đồng thời cũng chan chứa tình cảm của tác giả, của đồng bào miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với Bác.

    Các câu hỏi cùng bài học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Đọc Hiểu Văn Bản (Sgk Trang 7)
  • Văn 9 Bài Giảng Ánh Trăng Anh Trang Ppt
  • Ánh Trăng Anh Trang Nhung Ltv Ppt
  • Sơ Đồ Tư Duy Ánh Trăng
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Ánh Trăng Ngắn Gọn Nhất
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Của Nhà Văn Nam Cao
  • Đóng Vai Lão Hạc Kể Lại Sự Việc Sau Khi Lão Bán Chó, Lão Sang Gửi Ông Giáo Tiền Và Mảnh Vườn
  • thông qua tìm hiểu văn bản Lão Hạc

    Văn chương Việt Nam nói nhiều đến người mẹ mà ít nói đến người cha. Nhà

    văn Nam Cao đã bù đắp vào khoảng trống đó một hình tượng người cha tuyệt đẹp: Lão Hạc

    Nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao khổ mà đẹp.

    Về nỗi khổ: Lão Hạc là hiện thân của nỗi đau khổ: Nam Cao đã cực tả cái khốn nạn của kiếp người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đây không chỉlà nỗi khổ đói cơm rách áo mà còn là nỗi đau khổ tinh thần, nỗi bi thảm lên đến tột đỉnh: Đau vì không làm tròn bổn phận của người cha, đau vì trót lừa một con chó, đau vì sự bất lực và sự giày vò vì bất lực. Nỗi đau ánh lên một vẻ đẹp nhân cách song trớ trêu thay, trước khi chết, lão Hạc còn bị người ta ngộ nhận là một thằng ăn trộm đáng khinh bỉ.

    Về vẻ đẹp: Lão Hạc là một con người lương thiện độc đáo. Lão là biểu tượng của nhân cách không hề hoen ố trước mọi thử thách khốc liệt nhất. Những vẻ đẹp cao qúy ấy được ẩn sau vẻ ngoài tầm thường, lam lũ và cả những biểu hiện tưởng như là gàn dở.. Vẻ đẹp đó chính là tình thương con, sự tự trọng và tấm lòng nhân hậu.

    Tình thương con của lão Hạc kín đáo mà sâu sắc, mộc mạc mà thiêng liêng. Lúc nào lão cũng nghĩ về con. Lão khóc thương khi con đi phu. Lão dằn vặt, mặc cảm vì mình mà con phải phiêu bạt. Lão chắt chiu từng đồng, tính rành rọt từng buổi đau ốm vì sợ tiêu lạm vào số tiền dành dụm cho con. Không phải lão không biết quý cuộc sống. Tuy nhiên, có một thứ còn quý hơn, ấy là đạo làm người, làm cha. Đức hy sinh đã hóa thành hơi thở, thành lẽ sống của lão Hạc.

    Nhà văn đã phát hiện ở lão nông dân nghèo lòng tự trọng. Từ một cử chỉ nhỏ: nhường cho ông giáo rít hơi thuốc lào đầu tiên cho đến một ứng xử quyết liệt, đối mặt với cái chết; từ việc nhịn ăn để lại tiền làm ma bởi không muốn liên lụy tới láng giềng đến t 2000 iếng khóc nức nở vì trót lừa một con chó. Tất cả những điều đó đã làm nổi bật nhân vật lão Hạc – một con người thà chịu khổ, chịu đau đớn, thà chết chứ không làm gì phương hại đến nhân cách con người.

    Dạy một tác phẩm văn chương có hình tượng thấm đẫm chất nhân văn lại rất gần gũi với đời sống tình cảm, tâm lí học sinh như vậy là một cơ hộirất thuận lợicho việc giáo dục những giá trị sống, kĩ năng sống.

    Cách tốt nhất để hình thành kĩ năng sống cho học sinh ở bài học này là giáo viên nêu tình huống có vấn đề cho học sinh làm việc, trải nghiệm ( ở đây có tình huống bao trùm và các tình huống bộ phận ) .

    * Ví dụ 1: Có lần nhà văn Nam Cao thổ lộ: ” Người nhà quê thì dẫu sao cũng còn là cái bí mật với chúng ta “. Trong truyện ngắn Lão Hạc, nhà văn đã khám phá ra những bất ngờ gì về nhân vật lão Hạc?

    + Người nhà quê nghèo khổ, ít học thì đời sống tinh thần của họ thường là đơn giản, tầm thường, thậm chí lẩm cẩm, gàn dở?

    + Lão Hạc cứ lải nhải nói mãi đến ý định bán cậu Vàng mà mãi chưa bán? Vì sao?

    + Vì sao Lão hạc “cười như mếu” và ” huhu khóc” khi kể việc người ta thình lình tóm lấy cậu Vàng của lão dù Lão đã bán cho người ta?

    + Vì sao ” lão có tiền mà chịu khổ”?

    + Vì sao lão đến nông nỗi phải ăn bả chó mà chết một cách đau đớn, dữ dội như thế?

    * Ví dụ 2: Giáo viên nêu tình huống sau:

    Được tin bố mất mất, anh con trai lão Hạc từ đồn điền cao su trở về, sau khi nghe ông giáo kể hết sự tình về người cha trong những năm anh vắng nhà và nhận lại mảnh vườn. Đứng trên mảnh đất ấy, người con trai lão Hạc suy nghĩ gì?

    Đối diện với tình huống đó, học sinh tự làm việc và tương tác với bạn. Quá trình trả lời cho những vấn đề đó cũng là quá trình thâm nhập vào đời sống nhân vật , từ đó, kĩ năng sống được hình thành. Đó là các kĩ năng:

    + Giao tiếp: Thể hiện sự đồng cảm, xót thuơng đối với những kiếp người nghèo khổ; trân trọng những phẩm chất cao quý ở họ.

    + Tự nhận thức: Thấm thía tình cha con thiêng liêng, cảm động.

    Như vậy, qua sự trải nghiệm trên học sinh đã đượcbồi dưỡng thêm lòng nhân ái tình cảm yêu thương, chia sẻ đối với những người có hoàn cảnh sống khó khăn, bất hạnh xung quanh mình. Từ đó các em trân trọng hơn những tình cảm cao quý thiêng liêng của con người trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc
  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Giáo Án Văn 8 Bài Lão Hạc (Tiết 1)
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Lão Hạc”

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Tiết 14: Văn Bản: Lão Hạc (Nam Cao)
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc – Nam Cao
  • Bài Học: Đề Kiểm Tra Cuối Học Kì I – Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Đề Kiểm Tra Môn Ngữ Văn 8
  • Bài Văn: Thuyết Minh Truyện Ngắn “Lão Hạc” (2)
  • Tóm tắt nội dung văn bản “Lão Hạc”

    Văn bản:

    Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thực thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn chí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thé nào. Ngày ngày, lão thủi thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt.

    Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết dược nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

    Văn bản 2:

    Lão Hạc là một lão nông cùng khổ, thật thà và giàu lòng tự trọng. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ, quẫn chí đã bỏ đi làm phu đồn điền chưa biết ngày nào sẽ về. Lão chỉ còn cậu Vàng- con chó con trai lão để lại trước khi đi bầu bạn những ngày tuổi già. Cuộc sống ngày càng khốn khó khiến lão vô cùng vất vả nhưng lão quyết giữ lấy mảnh vườn cho con trai lão. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn và quyết định bán cậu Vàng đi rồi đem gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo giữ hộ. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bã chó (thuốc độc) rồi tự kết thúc đời mình bằng một cái chết thật dữ dội và khủng khiếp.Không ai hiểu nguyên nhân cái chết của lão Hạc trừ ông Giáo và Binh Tư

    Giá trị nội dung và nghệ thuật:

    Nội dung:

    Qua đoạn trích, tác giả thể hiện sự chân thật, cảm động về số đau thương của người nông dân ở xã hội phong kiến cũ và ca ngợi những phẩm chất cao quý của họ. Đồng thời cũng cho thấy sự yêu thương trân trọng của nhà văn Nam Cao đối với những người nông dân.

    Nghệ thuật:

    – Tác giả đã thể hiện dược tài năng nghệ thuật của mình trong cách miêu tả tâm lý nhân vật. Với lối kể chuyện giản dị, tự nhiên chân thật và giọng điệu linh hoạt và tình huống câu chuyện độc đáo.

    – Cách xây dựng nhân vật điển hình, đặc sắc, nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế, thể hiện rõ ràng chiều sâu ngòi bút Nam Cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đọc Văn: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích “Chinh Phụ Ngâm”)
  • Tác Phẩm “Chinh Phụ Ngâm”
  • Cách Làm Phần Đọc Hiểu Văn Bản Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Văn
  • Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Ngày 19/12/1946: Một Quyết Định Lịch Sử, Chính Xác Và Kịp Thời Đối Với Dân Tộc Việt Nam
  • Ngữ Văn 10 Đề Thi Ngữ Văn Lớp 10 Học Kì 2
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100