Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Lão Hạc”

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Tiết 14: Văn Bản: Lão Hạc (Nam Cao)
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc – Nam Cao
  • Bài Học: Đề Kiểm Tra Cuối Học Kì I – Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Đề Kiểm Tra Môn Ngữ Văn 8
  • Bài Văn: Thuyết Minh Truyện Ngắn “Lão Hạc” (2)
  • Tóm tắt nội dung văn bản “Lão Hạc”

    Văn bản:

    Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thực thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn chí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thé nào. Ngày ngày, lão thủi thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt.

    Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết dược nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

    Văn bản 2:

    Lão Hạc là một lão nông cùng khổ, thật thà và giàu lòng tự trọng. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ, quẫn chí đã bỏ đi làm phu đồn điền chưa biết ngày nào sẽ về. Lão chỉ còn cậu Vàng- con chó con trai lão để lại trước khi đi bầu bạn những ngày tuổi già. Cuộc sống ngày càng khốn khó khiến lão vô cùng vất vả nhưng lão quyết giữ lấy mảnh vườn cho con trai lão. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn và quyết định bán cậu Vàng đi rồi đem gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo giữ hộ. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bã chó (thuốc độc) rồi tự kết thúc đời mình bằng một cái chết thật dữ dội và khủng khiếp.Không ai hiểu nguyên nhân cái chết của lão Hạc trừ ông Giáo và Binh Tư

    Giá trị nội dung và nghệ thuật:

    Nội dung:

    Qua đoạn trích, tác giả thể hiện sự chân thật, cảm động về số đau thương của người nông dân ở xã hội phong kiến cũ và ca ngợi những phẩm chất cao quý của họ. Đồng thời cũng cho thấy sự yêu thương trân trọng của nhà văn Nam Cao đối với những người nông dân.

    Nghệ thuật:

    – Tác giả đã thể hiện dược tài năng nghệ thuật của mình trong cách miêu tả tâm lý nhân vật. Với lối kể chuyện giản dị, tự nhiên chân thật và giọng điệu linh hoạt và tình huống câu chuyện độc đáo.

    – Cách xây dựng nhân vật điển hình, đặc sắc, nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế, thể hiện rõ ràng chiều sâu ngòi bút Nam Cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đọc Văn: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích “Chinh Phụ Ngâm”)
  • Tác Phẩm “Chinh Phụ Ngâm”
  • Cách Làm Phần Đọc Hiểu Văn Bản Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Văn
  • Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Ngày 19/12/1946: Một Quyết Định Lịch Sử, Chính Xác Và Kịp Thời Đối Với Dân Tộc Việt Nam
  • Ngữ Văn 10 Đề Thi Ngữ Văn Lớp 10 Học Kì 2
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “lão Hạc”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc
  • Kể Chuyện Thôi Ngôi Thứ Nhất: Ông Giáo, Lão Hạc, Hồng, Chị Dậu.
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc
  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • Tóm tắt nội dung văn bản “Lão Hạc” Văn bản:

    Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thực thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn chí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thé nào. Ngày ngày, lão thủi thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt.

    Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết dược nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

    Văn bản 2:

    Lão Hạc là một lão nông cùng khổ, thật thà và giàu lòng tự trọng. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ, quẫn chí đã bỏ đi làm phu đồn điền chưa biết ngày nào sẽ về. Lão chỉ còn cậu Vàng- con chó con trai lão để lại trước khi đi bầu bạn những ngày tuổi già. Cuộc sống ngày càng khốn khó khiến lão vô cùng vất vả nhưng lão quyết giữ lấy mảnh vườn cho con trai lão. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn và quyết định bán cậu Vàng đi rồi đem gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo giữ hộ. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bã chó (thuốc độc) rồi tự kết thúc đời mình bằng một cái chết thật dữ dội và khủng khiếp.Không ai hiểu nguyên nhân cái chết của lão Hạc trừ ông Giáo và Binh Tư

    Giá trị nội dung và nghệ thuật:

    Qua đoạn trích, tác giả thể hiện sự chân thật, cảm động về số đau thương của người nông dân ở xã hội phong kiến cũ và ca ngợi những phẩm chất cao quý của họ. Đồng thời cũng cho thấy sự yêu thương trân trọng của nhà văn Nam Cao đối với những người nông dân.

    Nghệ thuật:

    – Tác giả đã thể hiện dược tài năng nghệ thuật của mình trong cách miêu tả tâm lý nhân vật. Với lối kể chuyện giản dị, tự nhiên chân thật và giọng điệu linh hoạt và tình huống câu chuyện độc đáo.

    – Cách xây dựng nhân vật điển hình, đặc sắc, nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế, thể hiện rõ ràng chiều sâu ngòi bút Nam Cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 4. Lão Hạc Bai 4 Lao Hac Ppt
  • Soạn Bài Lão Hạc Của Nam Cao
  • Top 3 Soạn Bài Lão Hạc Ngắn Nhất.
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc (Chi Tiết)
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ
  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC Kİ 11 LỚP 8

    Năm hoc: 2022- 2022

    TRƯỜNG THCS YÊN HOÀ

    Môn thi: Ngữ văn

    Ngày thi: 11 tháng 3 nam 2022

    Thời gian làm bài: 90 phút

    Câu 1, (5 điểm)

    Mở đầu bài thơ “Khi con tu hú”, nhà thơ Tô Hữu viết:

    “Khi con tu hú gọi bầy”

    1. Chép chính xác 5 câu thơ tiếp theo để hoàn chỉnh khổ thơ và cho biết hài thơ dược ra đời

    trong hoàn cảnh nào? (1 điểm).

    2. Dựa vào khổ thơ vừa chép, kết hợp hiểu biết của em về tác phẩm, hãy trình bày mạch

    cảm xúc của bài thơ. (1 điểm)

    3. Viết đoạn văn theo cách quy nạp (khoảng 12 câu), trong doạn có sử dụng một câu cảm

    thán, nêu cảm nhận của em về bức tranh mùa hè sang trong đoạn thơ vừa chép. (gach dưới câu

    cảm thán) (3 diêm)

    Cau 2. (2,5 diêm)

    Doc doan văn sau và tra loi câu hoi:

    ( ) “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất;

    được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa

    núi. địa thế rộng mà bằng: dất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt

    muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa

    Thật là chôn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế

    vương muôn đời. “(..)

    (Trích “Chiếu dời dô” – Lí Công Uẩn)

    1. “Chiéu doi do” được viết vào năm nào và vớii mục đích gì? (1 diêm)

    2. Xác duh nội dung của đoạn văn trên. Nội dung đó được thế hiện c câu văn nào? Qua đó,

    em thấy đoạn văn dược viết theo kiểu đoạn gì? (1 diêm)

    mình. Hãy ghi lại tên một văn bản nghị luận trung đại khác da hoc trong chuong trinh Ngữ van

    lop 8 hoc ki II cung viét vè chú dè trên. (ghi ro tên tác giá) (0,5 diểm)

    Câu 3. (2,5 diểm)

    Hãy viết một doan văn theo cách diễn dịch (khoảng 10 câu) cảm nhận về tâm lòng yêu

    nuoc, can thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện trong đoạn văn sau:

    ( ) “Huông chi ta cung các ngrơi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy

    sự giặc di lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi củ diệu mà si ming triều đình, đem thân dê

    chó mà bát nat té phu, thác mênh Hot Tá Liệt mà doi ngoc lua, dé thôa long tham khong cing.

    giá hieu Vân Nam iromg mà thnu bac vang, vét cuia kho co han. That khác nào dem thit ma

    nuói ho dói, sao cho khôi tai va ve sau!”..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Hay Nhất
  • Dựa Vào Văn Bản Lão Hạc, Em Hãy Lập Dàn Ý Chi Tiết Giới Thiệu Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Lập Dàn Ý Cho Đề Văn: Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Cùng Tên Của Nam Cao
  • 3 Bài Văn Mẫu Em Hãy Nhận Xét Về Vẻ Đẹp Tâm Hồn Của Lão Hạc Qua Đoạn T
  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ
  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Lão Hạc Hay Nhất
  • Không có con chó vàng, có lẽ truyện “Lão Hạc” không thể nào sâu lắng và cảm động đến thế. Dùng con vật như một đối sánh để khắc hoạ chân dung con người không còn là một thủ pháp nghệ thuật xa lạ nữa. Trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, con chó đã thực sự là một tình tiết nghệ thuật đắt giá. Vậy mà ám ảnh hơn cả vẫn là cậu Vàng của ông lão này thôi.

    Ở đây, con chó nào đâu chỉ sắm một vai truyện. Cậu Vàng còn như một phần của lão Hạc. Liệu có thể hình dung đầy đủ về lão Hạc, nếu thiếu đi con chó ấy? Rõ ràng, Nam Cao có dụng ý đối chiếu ý thức sở hữu của anh trí thức và người nông dân. Ông giáo vô cùng quý những cuốn sách của mình. Nhưng với ông giáo, sách chỉ là một kỉ vật về thời gian đầy mơ ước và cũng chỉ thế thôi! Con chó Vàng với lão Hạc thì biết bao ý nghĩa. Nó là một tài sản “Lão lẩm nhẩm quy ra tiền”, một “vật nuôi định bụng lúc cưới thằng con sẽ thịt”, nó còn là kỉ vật của đứa con trai, một mối dây liên lạc lạ lùng giữa lão và đứa con trai vắng mặt.

    Song, phát hiện sâu sắc đến kì lạ của ngòi bút Nam Cao ở đây, vẫn là tư cách thứ tư của nó: một thành viên trong gia đình lão Hạc. Có một đứa con độc nhất thì đã bỏ lão mà đi. Sống cô quạnh trong một tuổi già trống trơ, lạnh lẽo, lão có một nhu cầu rất tự nhiên: được làm cha, làm ông nội. Có bao nhiêu tình cảm chất chứa trong lòng, lão dồn hết vào con chó. Lão coi nó như một đứa con, rồi chăm chút cưu mang như một đứa cháu nội bé bỏng, côi cút: lão bắt rận, lão tắm, lão trò chuyện âu yếm. Lão gọi là “cậu Vàng” như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Lão mắng yêu, lão cưng nựng, dấu dí. Cứ thế, ranh giới, sự phân đẳng người – vật (chủ sở hữu và vật bị chiếm hữu) đã bị xóa nhòa từ bao giờ. Dường như vật nuôi đã được người hóa.

    Cũng vì thế mà khi cuộc sống tàn ác buộc lão phải chà đạp, phải thủ tiêu quan hệ tình cảm này, lão đã rơi vào bi kịch. Lúc đường cùng, buộc phải trả con chó về địa vị thông thường của một vật nuôi, một tài sản, nghĩa là xóa bỏ tư cách một kỉ vật, một thành viên, một người bạn tận tụy trung thành, đối với lão là một tội hình khòng thể tha thứ.

    Con chó không chỉ làm hiện lên nguyên vẹn tính người tự nhiên sâu thẳm trong lão Hạc. Đằng sau đó, Nam Cao còn kín đáo kí thác một triết lí đau buồn vẻ thân phận trớ trêu của con người trên mặt đất này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Hay Nhất
  • Dựa Vào Văn Bản Lão Hạc, Em Hãy Lập Dàn Ý Chi Tiết Giới Thiệu Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Lập Dàn Ý Cho Đề Văn: Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Cùng Tên Của Nam Cao
  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Lão Hạc Hay Nhất
  • 3 Bài Văn Mẫu Nêu Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc
  • Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Trung tâm gia sư uy tín tại tphcm nhận thấy Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực nổi tiếng thế kỉ XX, những tác phẩm của ông như những mũi dao chĩa thẳng vào hiện thực của đất nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ông luôn trăn trở về số phận con người trong xã hội cũ và luôn dành một tình thương yêu, trân trọng cho những số phận người nông dân. Lão Hạc là một trong số những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách viết của Nam Cao. Ở tác phẩm này có sự kết hợp độc đáo giữa việc truyền tải những giá trị hiện thực và gửi vào đó những giá trị nhân đạo sâu sắc.

    Tác phẩm “Lão Hạc” kể về cuộc đời của Lão Hạc, một hình tượng nhân vật điển hình cho số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Truyện ngắn này chứa đựng những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, Nam Cao là con người luôn tìm tòi cái mới, ông hết lòng cống hiến cho văn học, ông căm ghét những cái gì rập khuôn, vì vậy những tác phẩm của ông luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong văn đàn Việt Nam.

    Trung tâm gia sư sư phạm tphcm nhận thấy tác phẩm phản ánh hiện thực số phận của người nông dân trước cách mạng tháng Tám thông qua hình tượng Lão Hạc với những bi kịch không thể nghĩ là có thể xảy ra. Lão Hạc là một người nông dân nghèo, ông có một đứa con trai, nhưng vì nhà lão nghèo không có tiền cưới vợ nên đứa con trai phải bỏ nhà đi cao su, quyết chí kiếm đủ tiền mới trở về. Lão Hạc ở lại một mình, sống lẻ loi, may mắn có con chó vàng làm bạn, ngày qua ngày bao biến cố xảy ra, cuối cùng lão Hạc phải bán đi con chó vàng để bảo toàn tài sản cho đứa con trai, và cuối cùng kết thúc cuộc đời mình để khỏi làm phiền hàng xóm, láng giềng. Xót xa làm sao khi cái đói gặm nhấm hết cuộc đời của một con người, khiến cho họ phải chọn cách kết thúc cuộc đời mình trong cùng cực. Qua đó cũng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đã đày đọa cuộc sống của người dân Việt Nam, khiến cho họ cực khổ trên chính mảnh dất quê hương của mình.

    Gia sư ở quận 11 nhận thấy số phận đáng thương của Lão hạc được khắc họa rõ nét nhất, thì nhân vật ông giáo cũng bị rơi vào bi kịch, vì cái đói, cái nghèo bủa vây mà ông lần lượt phải bán đi hết những quyển sách mà ông ấy đã từng nghĩ dù có chết thì cũng không bao giờ bán đi đống sách đó. Không phải chỉ mỗi tầng lớp nông dân mà còn tầng lớp tri thức và các tầng lớp khác đều chịu cảnh sống khắc nghiệt trước Cách mạng tháng Tám.

    Bởi đề cao sự truyền tải giá trị hiện thực đến cho bạn đọc mà Nam Cao viết thật, viết đúng nên chạm vào nỗi đau của nhiều người. Thế nhưng không phải Nam cao phanh phui ra để chạm vào nỗi đau của họ, mà là để dành tình yêu thương vô bờ bến cho họ. Ông dành tấm lòng trân trọng cho lão Hạc vì lão đã chọn cái chết để bảo toàn cho nhân cách của mình, vì ông thà bán con chó để cất tiền cho đứa con trai chứ nhất quyết không bán mảnh vườn, và ông cũng không hề đụng đến một xu nào từ tiền mà ông tính để dành cho con trai, qua đó chúng ta mới thấu được dù trong cảnh khốn cùng hay khó khăn thì tình yêu thương của ông dành cho con trai vẫn luôn luôn bền bỉ.

    Gia sư tại quận 4 thấy Nam Cao cũng trân trọng nhân cách của ông giáo, bởi dù ông là người nhiều chữ, nhưng ông cũng luôn yêu thương con người không kể họ là ai, họ xuất thân từ đâu. Ông không có thái độ khinh khi mà đôi khi ông còn nhún nhường trước lão Hạc và cực kì lễ phép với cụ. Ông giáo và lão Hạc có một tình bạn điển hình và sau khi lão Hạc mất thì ông giáo đã đau khổ cùng cực. Nam Cao luôn trăn trở vì con người, vì cuộc sống của con người và cả cuộc đời ông dành trọn để ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người dù trong tình huống nào họ cũng luôn giữ được nhân cách cao đẹp.

    Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

    giá trị nội dung của tác phẩm lão hạc

    nêu nội dung và nghệ thuật bài lão hạc

    ý nghĩa của văn bản lão hạc

    nghệ thuật xây dựng nhân vật lão hạc

    nội dung văn bản lão hạc

    đặc sắc về nghệ thuật của truyện lão hạc

    cuộc đời lão hạc

    tính hiện thực trong tác phẩm lão hạc

    tóm tắt giá trị nhân đạo của lão hạc

    Các bài viết khác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Hay Nhất
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Của 3 Văn Bản: Trong Lòng Mẹ, Lão Hạc, Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Môn Ngữ Văn
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Câu Truyện Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao {Văn Lớp 8}
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận Về Lão Hạc Hay Nhất
  • 3 Bài Văn Mẫu Nêu Cảm Nghĩ Nổi Bật Nhất Về Truyện Ngắn Lão Hạc
  • Đây là đoạn văn hay và rất tiêu biểu cho bút pháp tiểu thuyết trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Có thể nêu lên mọi khía cạnh nổi bật:

    Khắc họa nhân vật: các nhân vật trong đoạn văn đều rõ nét, nhất là hai nhân vật Cai Lệ và chị Dậu. Cai Lệ chỉ là một tên tay sai vô danh, nhưng ở đoạn văn này đã nổi bật lên thật đậm nét. Từ giọng quát mắng thị oai thô lỗ, trắng trợn, đến những hành động hung hãn, tàn ác, cho đến cả “cái giọng khàn khàn vì hút nhiều xái cũ”, cái thân hình “lẻo khoèo” vì nghiện ngập, cả cái tư thế thảm hại rất hài hước: “ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói” đều đã tập trung làm nổi bật cái nhân cách vừa tàn ác, vừa đểu cáng, đê tiện của cái hạng “đầu chày đít thớt” đó.

    Hình tượng chị Dậu trong đoạn văn được khắc họa thật sinh động. Đặc biệt sự diễn biến tâm lý, thái độ của chị Dậu – từ chỗ lễ phép van xin thiết tha đến chỗ nghiến răng quật ngã bọn lay sai – được thể hiện thật tự nhiên, đúng với lôgic tính cách chị Dậu, tuy dường như rất đột ngột. Như vậy, bản chất tính cách của nhân vật chị Dậu – dịu dàng, chịu đựng mà ngang tàng, bất khuất – được thể hiện vừa đa dạng, vừa thống nhất, nhất quán. Có thể nói mọi lời lẽ, động lực của chị Dậu trong đoạn văn đều đúng là “chị Dậu”. Hơn bất cứ chỗ nào khác, đoạn Tức nước vỡ bờ đã cho thấy “sừng sững hiện ra cái chân dung lạc quan của chị Dậu” (Nguyễn Tuân).

    Ngòi bút Ngô Tất Tố tả những cảnh hoại động rất hay Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với Cai Lệ là một đoạn tuyệt khéo, rất đúng với tâm lý của dân quê” (Sđd). Đó là một bức ký họa với những nét bút thật linh hoạt, sắc sảo, pha chút biếm họa tài tình. Cảnh hoạt động dồn dập, rộn rịp mà vẫn rõ nét, không rối mắt, mỗi chi tiết đều đắt. Với vốn sống nông thôn phong phú và với “óc quan sát rất tinh tường, rất chu đáo” (lời Vũ Trọng Phụng trong bài Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng báo Thời vụ, 1939), ngòi bút Ngô Tất Tô” ở đây vừa giàu chất sống, vừa rất sắc sảo.

    Có người nhận xét tiểu thuyết Tắt đèn giàu tính kịch. Hoàn toàn đúng. Tính kịch, đó là “tính hành động chặt chẽ và quán triệt”, xung đột thể hiện tập trung là sự căng thẳng đối với nhân vật do tình huống tạo ra. Đồng thời, nếu kịch yêu cầu tính cách nhân vật tự thể hiện bằng lời nói và hành động, “ngôn ngữ của nhân vật đều có tính đặc thù rõ rệt, có sức biểu hiện tối đa” thì đoạn văn Tức nước vỡ bờ, ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật quả là như vậy, Ngô Tất Tố rất thuộc lời ăn tiếng nói của từng hạng người ở nông thôn nên nhân vật nào cũng có “ngôn ngữ” riêng. Khẩu khí hống hách đểu cáng của cai lệ, giọng điệu và lời lẽ khi thiết tha lễ phép khi đanh đá ngỗ nghịch của chị Dậu, đều rất “hột” đã khiến cho nhân vật “tự thể hiện tính cách” đầy đủ, nổi bật. Khẩu ngữ nông thôn đã vào văn của Ngô Tất Tố thật tự nhiên, nhuần nhuyễn, khiến cho câu văn sinh động, đậm đà, có hơi thở của đời sống và đoạn văn rất có không khí.

    Sức mạnh nghệ thuật của Ngô Tất Tố, xét đến cùng là sức mạnh của chủ nghĩa hiện thực, đồng thời là sức mạnh của một ngòi búi gắn bó máu thịt với nông dân, của một trái tim yêu ghét rạch ròi, mãnh liệt và nhất quán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ngắn Gọn Nội Dung Chích Của Văn Bản Lão Hạc
  • Nêu Nội Dung, Ý Nghĩa Văn Bản Lão Hạc
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lão Hạc, Tác Giả Nam Cao
  • Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Hay Nhất
  • Dựa Vào Văn Bản Lão Hạc, Em Hãy Lập Dàn Ý Chi Tiết Giới Thiệu Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Điều 10. Tên Loại Và Trích Yếu Nội Dung Của Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Về Thể Thức Và Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Pháp Luật
  • 1. Khổ Giấy, Kiểu Trình Bày Và Định Lề Trang Văn Bản
  • Bản Sao Y Bản Chính Có Thời Hạn Bao Lâu?
  • Bản Sao Y Có Thời Hạn Bao Lâu?
  • Sao Y Văn Bản Và Những Quy Định Không Thể Không Biết
  • Điều 10. Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản

    1. Thể thức

    Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành. Khi ban hành văn bản đều phải ghi tên loại, trừ công văn.

    Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản.

    2. Kỹ thuật trình bày

    Tên loại và trích yếu nội dung của các loại văn bản có ghi tên loại được trình bày tại ô số 5a; tên loại văn bản (nghị quyết, quyết định, kế hoạch, báo cáo, tờ trình và các loại văn bản khác) được đặt canh giữa bằng chữ in hoa, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; trích yếu nội dung văn bản được đặt canh giữa, ngay dưới tên loại văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; bên dưới trích yếu có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ, ví dụ:

    QUYẾT ĐỊNH

    Về việc điều động cán bộ

    Trích yếu nội dung công văn được trình bày tại ô số 5b, sau chữ “V/v” bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng; được đặt canh giữa dưới số và ký hiệu văn bản, cách dòng 6pt với số và ký hiệu văn bản, ví dụ:

    Số: 72/VTLTNN-NVĐP

    V/v kế hoạch kiểm tra công tác

    văn thư, lưu trữ năm 2009

    Điều 11. Nội dung văn bản

    1. Thể thức

    a) Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của văn bản.

    Nội dung văn bản phải bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:

    – Phù hợp với hình thức văn bản được sử dụng;

    – Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; phù hợp với quy định của pháp luật;

    – Được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác;

    – Sử dụng ngôn ngữ viết, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu;

    – Dùng từ ngữ tiếng Việt Nam phổ thông (không dùng từ ngữ địa phương và từ ngữ nước ngoài nếu không thực sự cần thiết). Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giải thích trong văn bản;

    – Chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu. Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản thì có thể viết tắt, nhưng các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó;

    – Viết hoa trong văn bản hành chính được thực hiện theo Phụ lục VI – Quy định viết hoa trong văn bản hành chính.

    b) Bố cục của văn bản

    Tùy theo thể loại và nội dung, văn bản có thể có phần căn cứ pháp lý để ban hành, phần mở đầu và có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm hoặc được phân chia thành các phần, mục từ lớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định, cụ thể:

    – Nghị quyết (cá biệt): theo điều, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm;

    – Quyết định (cá biệt): theo điều, khoản, điểm; các quy chế (quy định) ban hành kèm theo quyết định: theo chương, mục, điều, khoản, điểm;

    – Chỉ thị (cá biệt): theo khoản, điểm;

    – Các hình thức văn bản hành chính khác: theo phần, mục, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm.

    Đối với các hình thức văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều thì phần, chương, mục, điều phải có tiêu đề.

    2. Kỹ thuật trình bày

    Nội dung văn bản được trình bày tại ô số 6.

    Phần nội dung (bản văn) được trình bày bằng chữ in thường (được dàn đều cả hai lề), kiểu chữ đứng; cỡ chữ từ 13 đến 14 (phần lời văn trong một văn bản phải dùng cùng một cỡ chữ); khi xuống dòng, chữ đầu dòng phải phải lùi vào từ 1cm đến 1,27cm (1 default tab); khoảng cách giữa các đoạn văn (paragraph) đặt tối thiểu là 6pt; khoảng cách giữa các dòng hay cách dòng (line spacing) chọn tối thiểu từ cách dòng đơn (single line spacing) hoặc từ 15pt (exactly line spacing) trở lên; khoảng cách tối đa giữa các dòng là 1,5 dòng (1,5 lines).

    Đối với những văn bản có phần căn cứ pháp lý để ban hành thì sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu “chấm phẩy”, riêng căn cứ cuối cùng kết thúc bằng dấu “phẩy”.

    Trường hợp nội dung văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm thì trình bày như sau:

    – Phần, chương: Từ “Phần”, “Chương” và số thứ tự của phần, chương được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm. Số thứ tự của phần, chương dùng chữ số La Mã. Tiêu đề (tên) của phần, chương được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

    – Mục: Từ “Mục” và số thứ tự của mục được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm. Số thứ tự của mục dùng chữ số Ả – rập. Tiêu đề của mục được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm;

    – Điều: Từ “Điều”, số thứ tự và tiêu đề của điều được trình bày bằng chữ in thường, cách lề trái 1 default tab, số thứ tự của điều dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm; cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng, đậm;

    – Khoản: Số thứ tự các khoản trong mỗi mục dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm, cỡ chữ số bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng; nếu khoản có tiêu đề, số thứ tự và tiêu đề của khoản được trình bày trên một dòng riêng, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng;

    – Điểm: Thứ tự các điểm trong mỗi khoản dùng các chữ cái tiếng Việt theo thứ tự abc, sau có dấu đóng ngoặc đơn, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng.

    Trường hợp nội dung văn bản được phân chia thành các phần, mục, khoản, điểm thì trình bày như sau:

    – Phần (nếu có): Từ “Phần” và số thứ tự của phần được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm; số thứ tự của phần dùng chữ số La Mã. Tiêu đề của phần được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

    – Mục: Số thứ tự các mục dùng chữ số La Mã, sau có dấu chấm và được trình bày cách lề trái 1 default tab; tiêu đề của mục được trình bày cùng một hàng với số thứ tự, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

    – Khoản: Số thứ tự các khoản trong mỗi mục dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm, cỡ chữ số bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng; nếu khoản có tiêu đề, số thứ tự và tiêu đề của khoản được trình bày trên một dòng riêng, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng, đậm;

    – Điểm trình bày như trường hợp nội dung văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm.

    Điều 12. Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền

    1. Thể thức

    a) Việc ghi quyền hạn của người ký được thực hiện như sau:

    – Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM.” (thay mặt) vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức, ví dụ:

    – Trường hợp ký thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì phải ghi chữ viết tắt “KT.” (ký thay) vào trước chức vụ của người đứng đầu, ví dụ:

    Trường hợp cấp phó được giao phụ trách thì thực hiện như cấp phó ký thay cấp trưởng;

    – Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” (thừa lệnh) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, ví dụ:

    – Trường hợp ký thừa ủy quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” (thừa ủy quyền) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, ví dụ:

    TUQ. GIÁM ĐỐC

    TRƯỞNG PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ

    b) Chức vụ của người ký

    Chức vụ ghi trên văn bản là chức vụ lãnh đạo chính thức của người ký văn bản trong cơ quan, tổ chức; chỉ ghi chức vụ như Bộ trưởng (Bộ trưởng, Chủ nhiệm), Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc, Phó Giám đốc, Q. Giám đốc (Quyền Giám đốc) v.v…, không ghi những chức vụ mà Nhà nước không quy định như: cấp phó thường trực, cấp phó phụ trách, v.v…; không ghi lại tên cơ quan, tổ chức, trừ các văn bản liên tịch, văn bản do hai hay nhiều cơ quan, tổ chức ban hành; việc ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền do các cơ quan, tổ chức quy định cụ thể bằng văn bản.

    Chức danh ghi trên văn bản do các tổ chức tư vấn (không thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan được quy định tại quyết định thành lập; quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan) ban hành là chức danh lãnh đạo của người ký văn bản trong ban hoặc hội đồng. Đối với những ban, hội đồng không được phép sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức thì chỉ ghi chức danh của người ký văn bản trong ban hoặc hội đồng, không được ghi chức vụ trong cơ quan, tổ chức.

    Chức vụ (Chức danh) của người ký văn bản do hội đồng hoặc ban chỉ đạo của Nhà nước ban hành mà lãnh đạo Bộ Xây dựng làm Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng được ghi như sau, ví dụ:

    Chức vụ (Chức danh) của người ký văn bản do hội đồng hoặc ban của Bộ Xây dựng ban hành mà Thứ trưởng Bộ Xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng hoặc Trưởng ban, lãnh đạo các Cục, Vụ thuộc Bộ Xây dựng làm Phó Chủ tịch Hội đồng hoặc Phó Trưởng ban được ghi như sau, ví dụ:

    c) Họ tên bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản

    Đối với văn bản hành chính, trước họ tên của người ký, không ghi học hàm, học vị và các danh hiệu danh dự khác. Đối với văn bản giao dịch; văn bản của các tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học hoặc lực lượng vũ trang được ghi thêm học hàm, học vị, quân hàm.

    2. Kỹ thuật trình bày

    Quyền hạn, chức vụ của người ký được trình bày tại ô số 7a; chức vụ khác của người ký được trình bày tại ô số 7b; các chữ viết tắt quyền hạn như: “TM.”, “KT.”, “TL.”, “TUQ.” hoặc quyền hạn và chức vụ của người ký được trình bày chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

    Họ tên của người ký văn bản được trình bày tại ô số 7b; bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm, được đặt canh giữa so với quyền hạn, chức vụ của người ký.

    Chữ ký của người có thẩm quyền được trình bày tại ô số 7c.

    2. Dấu của cơ quan, tổ chức được trình bày tại ô số 8; dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy; mỗi dấu đóng tối đa 05 trang văn bản.

    Điều 14. Nơi nhận

    1. Thể thức

    Nơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản và có trách nhiệm như để xem xét, giải quyết; để thi hành; để kiểm tra, giám sát; để báo cáo; để trao đổi công việc; để biết và để lưu.

    Nơi nhận phải được xác định cụ thể trong văn bản. Căn cứ quy định của pháp luật; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức và quan hệ công tác; căn cứ yêu cầu giải quyết công việc, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đề xuất những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản trình người ký văn bản quyết định.

    Đối với văn bản chỉ gửi cho một số đối tượng cụ thể thì phải ghi tên từng cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản; đối với văn bản được gửi cho một hoặc một số nhóm đối tượng nhất định thì nơi nhận được ghi chung, ví dụ:

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

    – Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

    Đối với những văn bản có ghi tên loại, nơi nhận bao gồm từ “Nơi nhận” và phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản.

    Đối với công văn hành chính, nơi nhận bao gồm hai phần:

    – Phần thứ nhất bao gồm từ “Kính gửi”, sau đó là tên các cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá nhân trực tiếp giải quyết công việc;

    2. Kỹ thuật trình bày

    Nơi nhận được trình bày tại ô số 9a và 9b.

    Phần nơi nhận tại ô số 9a được trình bày như sau:

    – Từ “Kính gửi” và tên các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng;

    – Sau từ “Kính gửi” có dấu hai chấm; nếu công văn gửi cho một cơ quan, tổ chức hoặc một cá nhân thì từ “Kính gửi” và tên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được trình bày trên cùng một dòng; trường hợp công văn gửi cho hai cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trở lên thì xuống dòng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, cá nhân được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy, cuối dòng cuối cùng có dấu chấm; các gạch đầu dòng được trình bày thẳng hàng với nhau dưới dấu hai chấm.

    Phần nơi nhận tại ô số 9b (áp dụng chung đối với công văn hành chính và các loại văn bản khác) được trình bày như sau:

    – Từ “Nơi nhận” được trình bày trên một dòng riêng (ngang hàng với dòng chữ “quyền hạn, chức vụ của người ký” và sát lề trái), sau có dấu hai chấm, bằng chữ in thường, cỡ chữ 12, kiểu chữ nghiêng, đậm;

    – Phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận văn bản được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng sát lề trái, cuối dòng có dấu chấm phẩu; riêng dòng cuối cùng bao gồm chữ “Lưu” sau có dấu hai chấm, tiếp theo là chữ viết tắt “VT” (Văn thư cơ quan, tổ chức), dấu phẩy, chữ viết tắt tên đơn vị (hoặc bộ phận) soạn thảo văn bản và số lượng bản lưu (chỉ trong trường hợp cần thiết), cuối cùng là dấu chấm.

    Điều 15. Các thành phần khác

    1. Thể thức

    a) Dấu chỉ mức độ mật: Việc xác định và đóng dấu độ mật (tuyệt mật, tối mật hoặc mật), dấu thu hồi đối với văn bản có nội dung bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 5, 6, 7, 8 của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000.

    b) Dấu chỉ mức độ khẩn

    Tùy theo mức độ cần được chuyển phát nhanh, văn bản được xác định độ khẩn theo bốn mức sau: khẩn, thượng khẩn, hỏa tốc, hỏa tốc hẹn giờ; khi soạn thảo văn bản có tính chất khẩn, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo văn bản đề xuất mức độ khẩn trình người ký văn bản quyết định.

    c) Đối với những văn bản có phạm vi, đối tượng được phổ biến, sử dụng hạn chế, sử dụng các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành như “TRẢ LẠI SAU KHI HỌP (HỘI NGHỊ)”, “XEM XONG TRẢ LẠI”, “LƯU HÀNH NỘI BỘ”.

    d) Đối với công văn, ngoài các thành phần được quy định có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-Mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ trang thông tin điện tử (Website).

    đ) Đối với những văn bản cần được quản lý chặt chẽ về số lượng bản phát hành phải có ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành.

    e) Trường hợp văn bản có phụ lục kèm theo thì trong văn bản phải có chỉ dẫn về phụ lục đó. Phụ lục văn bản phải có tiêu đề; văn bản có từ hai phụ lục trở lên thì các phụ lục phải được đánh số thứ tự bằng chữ số La Mã.

    g) Văn bản có hai trang trở lên thì phải đánh số trang bằng chữ số Ả-rập.

    2. Kỹ thuật trình bày

    a) Dấu chỉ mức độ mật

    Con dấu các độ mật (TUYỆT MẬT, TỐI MẬT hoặc MẬT) và dấu thu hồi được khắc sẵn theo quy định tại Mục 2 Thông tư số 12/2002/TT-BCA ngày 13 tháng 9 năm 2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000. Dấu độ mật được đóng vào ô số 10a, dấu thu hồi được đóng vào ô số 11.

    b) Dấu chỉ mức độ khẩn

    Con dấu các độ khẩn được khắc sẵn hình chữ nhật có kích thước 30mm x 8mm, 40mm x 8mm và 20mm x 8mm, trên đó các từ “KHẨN”, “THƯỢNG KHẨN”, “HỎA TỐC” và “HỎA TỐC HẸN GIỜ” trình bày bằng chữ in hoa, phông chữ Times New Roman cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm và đặt cân đối trong khung hình chữ nhật viền đơn. Dấu độ khẩn được đóng vào ô số 10b. Mực để đóng dấu độ khẩn dùng màu đỏ tươi.

    c) Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành

    Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành trình bày tại ô số 11; các cụm từ “TRẢ LẠI SAU KHI HỌP (HỘI NGHỊ)”, “XEM XONG TRẢ LẠI”, “LƯU HÀNH NỘI BỘ” trình bày cân đối trong một khung hình chữ nhật viền đơn, bằng chữ in hoa, phông chữ Times New Roman, cỡ chữ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

    d) Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-Mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ Trang thông tin điện tử (Website).

    Các thành phần này được trình bày tại ô số 14 trang thứ nhất của văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 11 đến 12, kiểu chữ đứng, dưới một đường kẻ nét liền kéo dài hết chiều ngang của vùng trình bày văn bản.

    đ) Ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành

    Được trình bày tại ô số 13; ký hiệu bằng chữ in hoa, số lượng bản bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng.

    e) Phụ lục văn bản

    Phụ lục văn bản được trình bày trên các trang riêng; từ “Phụ lục” và số thứ tự của phụ lục được trình bày thành một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; tên phụ lục được trình bày canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

    g) Số trang văn bản

    Số trang được trình bày tại góc phải ở cuối trang giấy (phần footer) bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 13-14, kiểu chữ đứng, không đánh số trang thứ nhất. Số trang của phụ lục được đánh số riêng theo từng phụ lục.

    Mẫu chữ và chi tiết trình bày các thành phần thể thức văn bản được minh họa tại Phụ lục IV kèm theo Thông tư này.

    Mẫu trình bày một số loại văn bản hành chính được minh họa tại Phụ lục V kèm theo Thông tư này.

    THỂ THỨC VÀ KỸ THUẬT TRÌNH BÀY BẢN SAO

    Điều 16. Thể thức bản sao

    Thể thức bản sao bao gồm:

    1. Hình thức sao

    “SAO Y BẢN CHÍNH” hoặc “TRÍCH SAO” hoặc “SAO LỤC”.

    2. Tên cơ quan, tổ chức sao văn bản

    3. Số, ký hiệu bản sao bao gồm số thứ tự đăng ký được đánh chung cho các loại bản sao do cơ quan, tổ chức thực hiện và chữ viết tắt tên loại bản sao theo Bảng chữ viết tắt tên loại văn bản và bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục I). Số được ghi bằng chữ số Ả-rập, bắt đầu từ số 01 vào ngày đầu năm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.

    4. Các thành phần thể thức khác của bản sao văn bản gồm địa danh và ngày, tháng, năm sao; quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; dấu của cơ quan, tổ chức sao văn bản và nơi nhận được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 9, 12, 13 và 14 của Thông tư này.

    Điều 17. Kỹ thuật trình bày

    1. Vị trí trình bày các thành phần thể thức bản sao (trên trang giấy khổ A4)

    Thực hiện theo sơ đồ bố trí các thành phần thể thức bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục III).

    Các thành phần thể thức bản sao được trình bày trên cùng một tờ giấy, ngay sau phần cuối cùng của văn bản cần sao được photocopy, dưới một đường kẻ nét liền, kéo dài hết chiều ngang của vùng trình bày văn bản.

    2. Kỹ thuật trình bày bản sao

    a) Cụm từ “SAO Y BẢN CHÍNH”, “TRÍCH SAO” hoặc “SAO LỤC” được trình bày tại ô số 1 (Phụ lục III) bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

    b) Tên cơ quan, tổ chức sao văn bản (tại ô số 2); số, ký hiệu bản sao (tại ô số 3); địa danh và ngày, tháng, năm sao (tại ô số 4); chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền (tại ô số 5a, 5b và 5c); dấu của cơ quan, tổ chức sao văn bản (tại ô số 6); nơi nhận (tại ô số 7) được trình bày theo hướng dẫn trình bày các thành phần thể thức tại Phụ lục III.

    Mẫu chữ và chi tiết trình bày các thành phần thể thức bản sao được minh họa tại Phụ lục IV; mẫu trình bày bản sao được minh họa tại Phụ lục V kèm theo Thông tư này.

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Điều 18. Điều khoản thi hành

    Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký.

    Những quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính và bản sao văn bản được quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trái với Thông tư này bị bãi bỏ.

    Điều 19. Tổ chức thực hiện

    Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước (91) chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Thông tư này.

    Các Bộ, ngành căn cứ quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản tại Thông tư này để quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản chuyên ngành cho phù hợp.

    Nơi nhận:

    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

    – Văn phòng Trung ương Đảng;

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

    – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    – Tòa án nhân dân tối cao;

    – Kiểm toán Nhà nước;

    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

    – Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước (91);

    – Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (10b);

    – Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp);

    – Công báo;

    – BNV: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ;

    – VPCP: Bộ trưởng CN, các Phó CN;

    – Website BNV;

    – Lưu: VT, PC (BNV). 320b

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Phần Mềm Làm Video Miễn Phí Và Tốt Nhất Hiện Nay
  • Giới Thiệu Các Phần Mềm Văn Phòng
  • Phần Mềm Xử Lý Văn Bản Cho Dân Văn Phòng
  • Khái Quát Chung Về Văn Bản
  • Ban Hành Quy Định Thể Thức Và Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • 3 Bài Văn Chứng Minh Người Nông Dân Vẫn Giữ Trọn Phẩm Chất Tốt Đẹp Qua
  • Qua Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc, Chứng Minh Rằng: Mặc Dù Gặp Nhiều Đau Khổ Bất Hạnh, Người Nông Dân Trước Cách Mang Tháng Tám Vẫn Giữ Trọn Những Phẩm Chất Tốt Đẹp Của Mình
  • Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ
  • Hãy Chia Bố Cục Và Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Văn bản: Lão Hạc

    Nam Cao

    I. Tác giả:

    – Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1915 – 1951) tại làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Trước năm 1945, ông dạy học tư và viết văn. Sau CM tháng 8, ông làm phóng viên mặt trận, rồi làm công tác văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1951, ông đi công tác vào vùng sau lưng địch và ông đã hi sinh trong tư thế của một nhà văn – chiến sĩ.

    – Nam Cao là nhà văn xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945. Sáng tác của ông trước CM tập trung vào 2 đề tài chủ yếu: đề tài nông dân và đề tài trí thức tiểu tư sản. Nam Cao xứng đáng được gọi là nhà văn của nông dân. Với hơn hai chục truyện ngắn viết về nông dân, Nam Cao đã dựng lên một bức tranh tuy không rộng lớn và đồ sộ nhưng rất mực chân thực về nông thôn VN trên con đường phá sản và bần cùng, hết sức thê thảm vào những năm 1940 – 1945. Bên cạnh đó, các tác phẩm viết về đề tài trí thức của ông đã miêu tả sâu sắc, thấm thía tấn bi kịch tinh thần, tình trạng “sống mòn” không lối thoát của những người trí thức nghèo trong những năm cuối cùng của chế độ thực dân phong kiến.

    + Nam Cao không chỉ là nhà văn hiện thực xuất sắc mà ông còn là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. ông luôn đau xót và bất bình trước tình cảnh những con người lương thiện bị đầy đoạ trong cái đói, cái khổ, bị lăng nhục, bắt hủi một cách tàn nhẫn và bất công, ông đã đứng ra bênh vực họ, minh oan và chiêu tuyết cho họ.

    + Sáng tác của Nam Cao chứa đựng những yếu tố cách tân quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới của văn xuôi VN: từ cách nhìn mới, xây dựng cốt truyện, tổ chức kết cấu, phương thức miêu tả nhân vật, đến giọng điệu, lời văn, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.

    + Sau CM, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì kháng chiến chồng Pháp (1945 – 1954).

    – Tác phẩm chính của Nam Cao: viết về đề tài nông dân (Chí Phèo; Một bữa no; Mò sâm banh…) viết về đề tài trí thức (tiểu thuyết Sống mòn; truyện ngắn Đời thừa; ) Sau CM ông viết Nhật kí ở rừng; Đôi mắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Kể Chuyện Thôi Ngôi Thứ Nhất: Ông Giáo, Lão Hạc, Hồng, Chị Dậu.
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “lão Hạc”
  • Bài 4. Lão Hạc Bai 4 Lao Hac Ppt
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Chuyện Thôi Ngôi Thứ Nhất: Ông Giáo, Lão Hạc, Hồng, Chị Dậu.
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc
  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • 3 Bài Văn Chứng Minh Người Nông Dân Vẫn Giữ Trọn Phẩm Chất Tốt Đẹp Qua
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản Lão Hạc của Nam Cao lớp 8 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản Lão Hạc này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện ngắn Lão Hạc. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 1

    Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó. Vì không đủ tiền cưới vợ con trai lão phẫn chí đi đồn điền cao su. Muốn để lại mảnh vườn cho con, lão đành phải bán con Vàng. Lão mang tiền dành dụm gửi ông giáo, nhờ ông trông coi mảnh vườn. Cuộc sống ngày thêm khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và bị ốm một trận khủng khiếp. Một hôm lão xin Binh Tư một ít bả chó. Ông giáo rất buồn khi nghe binh tư kể chuyện ấy. Nhưng đột ngột lão chết, cái chết thật dữ dội. Cả làng không hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu điều đó

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 2

    Lão Hạc có một hoàn cảnh gia đình bất hạnh: vợ lão mất sớm, lão phải 1 mình gà trống nuôi con trong căn nhà nghèo.Lão rất yêu thương con, mong con trai có c/s hạnh phục,không khổ sở như mình,nhưng lão không biết làm cách nào và đành để con trai đi trong khổ đau vì cnos phẫn chí bỏ đi phu khi không cưới được vợ.Lão Hạc chỉ còn lại một mình với một mảnh vườn và một con chó vàng. Con chó ấy là của anh con trai để lại-kỷ niểm của con trai lão trước khi ra đi, lão cưng chiều nó như con, gọi “cậu Vàng”. Nhưng cuộc sống khốn khó, đã đẩy lão vào con đường cùng,lão bán chó để làm ma cho mình và quyết không bán mảnh vườn mà dành mảnh vườn cho con để mai này nó về có chỗ sống,có chỗ làm ăn,sinh sống trong khi lão vô cùng đau khổ, dằn vặt. Lão mang tiền dành dụm được khi bán “cậu vang” gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Không muốn phiền đến mọi người(ông Giáo,bà con hàng xóm), lão từ chối hết thảy những sự giúp đỡ của ông giáo.Lão kết liễu đời mình bằng cách ăn bả cho để lão vẫn giữu được nhân cách cao đẹp của lão …

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 3

    Lão Hạc là một nông dân nghèo, sống cô độc. Con trai vì không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su, chỉ để lại cho lão một con chó làm bạn. Sau một lần ốm nặng, lão yếu đi ghê lắm, không đủ sức để đi làm thuê nữa. Cùng đường lão phải quyết định bán con chó vàng mà lão hết lòng yêu thương. Rồi lão mang tiền dành dụm được và cả mảnh vườn của mình đem sang gửi cho ông Giáo. Ít lâu sau lão sang nhà Binh Tư xin bả chó. Khi nghe Binh Tư kể về chuyện lão Hạc sang xin bả chó, ông Giáo đã rất thất vọng. Nhưng ngay sau đó, khi nhìn thấy lão Hạc chết một cách đau đớn và dữ dội thì ông giáo đã hiểu ra mọi chuyện. Còn về cái chết của lão Hạc chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu rõ.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 4

    Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo không lấy được vợ, đã phẫn chí bỏ làng đi làm ăn xa. Lão Hạc ở nhà chờ con về, làm ăn thuê để kiếm sống. Sau một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Không còn đường sinh sống, lão Hạc lặng lẽ đi đến một quyết định quan trọng. Lão bán con chó Vàng mà lão rất mực yêu thương, mang hết số tiền dành dụm được và cả mảnh vườn gửi cho ông Giáo trông coi hộ. Lão chịu đói, chỉ ăn khoai và sau đó “lão chế tạo được món gì, ăn món nấy”. Ông Giáo ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão tìm cách từ chối. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói để đánh bả chó làm thịt và rủ Binh Tư uống rượu. Ông Giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Lão Hạc bỗng nhiên chết – một cái chết thật dữ dội. Cả làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu lão ăn bả chó để tử tự.

    Tóm tắt văn bản Lão Hạc – bài 5

    Lão Hạc là một nông dân nghèo có một đứa con,một mảnh vườn và một con chó. Con trai lão vì phấn trí nên bỏ lên đồn điền cả sử lão chỉ còn cậu vàng bầu bạn.Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con nên lão đành bán cậu vàng đi trong đau đớn. Tất cả tiền dành dụm và tiền bán cho lão đều gửi ông giáo.Cuộc sống ngày một khó khăn lão kiếm được gì ăn nấy. một hôm lão xin binh tư ít bả chó nói là bẫy con chó hay đến vườn và rủ binh tu uống rượu.Ông giáo rất buồn khi nghe binh tư kể lại chuyện đó.Đột nhiên lão hạc chết cái chết thật dữ dội cả làng không hiểu tại sao chỉ có binh tư và ông giáo hiểu.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “lão Hạc”
  • Bài 4. Lão Hạc Bai 4 Lao Hac Ppt
  • Soạn Bài Lão Hạc Của Nam Cao
  • Top 3 Soạn Bài Lão Hạc Ngắn Nhất.
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lão Hạc
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Vb Lão Hạc
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Thông Qua Tìm Hiểu Văn Bản Lão Hạc
  • Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Ở tiết học trước, các em đã được tìm hiểu văn bản “Tức nước võ bờ” trích trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố. Dưới ngòi bút hiện thực của nhà văn, chúng ta đã hiểu được một phần nào hiện thực xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945 qua gia cảnh nhà chị Dậu. Trong xã hội đó, những người nông dân phải chịu một ách hai tròng, họ không chỉ chịu nội khổ về sưu thuế mà còn còn vô vàn những ách áp bức bất công khác. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm một nhân vật nông dân điển hình của xã hội đó, đó chính là tác phẩm Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao.

    • Nam Cao (1915 – 1951), quê làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
    • Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn và truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người tri thức sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ.
    • Sau cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến. Ông đã hy sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch.
    • Nam Cao được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
    • Tác phẩm chất: Chí phèo (1941); Trăng sáng (1942); Đời thừa (1943); Lão Hạc (1943); Tiểu thuyết Sống mòn (1944);…

    a. Xuất xứ: Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, đăng báo lần đầu năm 1943.

    • Phần 1: Từ đầu … đáng buồn: Những việc làm của Lão Hạc trước khi chết
    • Phần 2: Còn lại: Cái chết của Lão Hạc

    Lão Hạc là một lão nông nghèo trong làng. Vợ lão mất sớm, đề lại cho lão một đứa con trai và một mảnh vườn do bà cố công tích góp mãi mới mua được. Vì nghèo quá, lão không có tiền để cưới vợ cho con, con trai lão vì thất tình nên quyết tâm vào đồn điền cao su đi làm kiếm tiền để không bị người ta coi khinh nữa.

    Vậy là một mình lão ở nhà với con Vàng (con chó của người con trai để lại), lão có một người hàng xóm tốt bụng là ông giáo. Chuyện gì của lão, lão cũng kể với ông giáo. Rồi lão bán con Vàng, được bao nhiêu tiền lão đưa hết cho ông giáo giữ để lo ma chay cho mình với để cho con trai lão. Lão gặp Binh Tư và xin ông ta một ít bả chó, vài ngày sau lão chết. Cái chết của lão rất đau khổ, vật vã, những cơn đau hành hạ lão tận hai giờ đồng hồ. Trong làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có ông giáo và Binh Tư mới hiểu.

    • Vợ lão mất sớm, nhà nghèo, lão phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
    • Nhà nghèo, vì không đủ tiền cưới vợ cho con, con trai lão đã phẫn chí nên bỏ đi làm ăn xa, lão sống một mình và chỉ có con chó vàng làm bạn.

    + Lão Hạc gọi con chó vàng là Cậu vàng và xưng là ông đã thấy ông rất yêu quý nó.

    + Hằng ngày, lão chăm sóc nó không khác gì người cha, người ông, chăm chăm sóc người con, người cháu nhỏ (tắm, bắt giận, cho ăn bằng bát như nhà giàu), trò chuyện tâm tình thủ thỉ, gắp thức ăn cho nó như người bạn tâm giao ngồi nhắm rượu. Đôi lúc lão còn mắng yêu, dọa yêu như đứa cháu nhỏ: “bố mày về thì nó giết” rồi lại xoa dịu, nói nựng như dỗ dành “À không! À không! Không cho giết cậu Vàng đâu nhỉ! Ông để cậu Vàng ông nuôi…”

    + Sau trận ốm hai tháng mười tám ngày thì số tiền lão Hạc dành dụm cho đứa con trai đã tiêu hết vào việc mua thuốc và ăn uống.

    + Sau trận ốm đó, lão Hạc đã yếu người đi ghê lắm, không thể cày thuê, cuốc mướn được nữa mà việc nhẹ thì đàn bà tran nhau làm hết rồi. Lão rơi vào cảnh thất nghiệp, đói deo đói dắt, không thể có hai hào đến ba hào để đong gạo nuôi miệng thì làm sao nuôi được con chó, trong khi con Vàng ăn khỏe hơn lão, mỗi ngày phải mất hai hào mua gạo.

    + Trận bão kéo đến phá hết hoa màu trong vườn nên lão Hạc không có gì để bán. Nếu để con chó lại thì nnos sẽ không có ăn, nó sẽ gầy đi.

    • Lão cố làm ra vui vẻ nhưng trong tâm rất đau đớn: Cười như mếu, mắt ầng ậc nước.
    • Diện mạo, cử chỉ thì thật đáng thương: mặt co rúm lại, nếp nhăn xô lại, đầu nghẹo về một bên, miệng móm mém.
    • Tiếng khóc hu hu như một đứa trẻ oan ức điều gì đó.
    • Tự cho mình là kẻ khốn nạn, lừa con chó.
    • Tưởng tượng con chó đang kêu ư ử là đang chửi mình: “A! lão già tệ lắm! tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”
      Nam cao đã sử dụng hàng loạt từ ngữ, hình ảnh để tả thái độ, tâm trạng của lão Hạc sau khi đã buộc lòng phải bán cậu Vàng.

    + Ầng ậc: nước mắt dâng lên sắp tràn ra ngoài mi – khóc từ trong gan, trong ruột, trong lòng khóc ra.

    + Khóc hu hu là cái khóc bình thường: hu hu khóc, tác giả đảo từ tượng thanh huhu lên trước “khóc” nhấn mạnh tiếng khóc của lão Hạc, lão khóc – tiếng khóc òa vỡ tức tưởi – tiếng lòng đau đớn xót xa, ân hận vì lão đã lừa dối cậu Vàng.

      Nguyên nhân dẫn tới cái chết của lão Hạc:

    + Nạn đói, thiên tai đưa lão Hạc rơi vào hoàn cảnh đói khổ, có khi ăn rau má, sung luộc, bữa trai, bữa ốc nhưng rồi tất cả những thứ đó cũng không còn, nên không thể tồn tại.

    + Lão có thể bán đi mảnh vườn để sống qua ngày nhưng lão quyết không bán, quyết định chọn cái chết.

    + Viết văn tự gửi ông Giáo giữ hộ mảnh vườn để sau này con trai lão về có đất làm ăn.

    + Gửi ông giáo ba mươi đồng để khi có chết thì nhờ ông giáo và hàng xóm lo ma giúp.

    + Lão Hạc chết thật bất ngờ; bất ngờ với tất cả. Sự bất ngờ của cái chết ấy càng làm cho câu chuyện thêm căng thẳng, thêm xúc động. Mâu thuẫn bế tắc được đẩy lên đỉnh điểm và kết thúc một cách bi đát và tất yếu.

    + Cái chết của lão Hạc thật dữ dội và kinh hoàng. Vì đó là cái chết do bị trúng độc bả chó.

    + Lão Hạc chết trong đau đớn, vật vã ghê gớm, cùng cực về thể xác: người giật mạnh, đầu tóc rũ rượi, bọt mép sùi ra, mắt long sòng sọc, miệng tru tréo, quần áo xộc xệch… vật vã gần hai giờ đồng hồ.

    + Lão Hạc đã chọn một cách giải quyết đáng sợ nhưng là một cách như để tạ lỗi cùng cậu Vàng.

      Cái chết của lão Hạc có ý nghĩa thật sâu sắc:

    + Một mặt, góp phần bộc lộ rõ số phận và tính cách của lão Hạc, cũng như tính cách và số phận người nông dân nghèo trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng tám: nghèo khổ, bế tắc cùng đường, giàu tình yêu thương và lòng tự trọng.

    + Mặt khác, cái chết của lão Hạc có ý nghĩ tố cáo hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến cách chúng ta hơn nửa thế kỷ – cái xã hội nô lệ tăm tối, buộc những người nghèo, đưa dẫn họ đến đường cùng. Họ chỉ có thể hoặc sa đọa, tha hóa, hoặc giữ bản chất lương thiện, trong sạch, tìm lại tự do bằng cái chết của chính mình.

    • Ông Giáo là một người trí thức nghèo sống ở nông thôn, cũng là một người giàu tình thương, lòng tự trọng: Ông Giáo tỏ ra thông cảm, thương xót cho hoàn cảnh của lão Hạc, tìm nhiều cách an ủi, giúp đỡ lão Hạc.
    • Ông Giáo rút ra triết lý về nỗi buồn trước cuộc đời và con người: Một mặt ông tỏ ra thông cảm với nỗi khổ tâm của vợ, vì sao mà vợ ông lại không chịu giúp đỡ lão Hạc. Mặt khác, ông Giáo buồn vì lòng tự ái của lão Hạc, của mình đều rất cao, nên hai người cứ xa nhau dần.
    • Khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, nghe câu nói đầy vẻ mỉa mai thì ông giáo nghĩ : Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. Vì ông thất vọng trước sự thay đổi cách sống không chịu đựng được, đói ăn vụng, túng làm càn của một người trong sạch, đầy tự trọng đến như lão Hạc.
    • Nhưng cái chết bất ngờ và dữ dội của lão Hạc thì tâm trạng của ông Giáo lại chuyển biến. Ông nghĩ: Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, nhưng lại đnasg buồn theo một nghĩa khác:

    + Chưa hẳn đáng buồn vì vẫn có những cái chết đầy hy sinh và bi phẫn như cái chết của lão Hạc: Nhân tính vẫn chiến thắng, lòng tự trọng vẫn giữ chân con người trước bờ vực của sự tha hóa.

    + Nhưng đáng buồn theo một nghĩa khác: Những người tốt như lão Hạc, đáng thương, đáng trọng, đáng thông cảm cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc, vô vọng, vẫn phải tìm đến cái chết như là sự cứu cánh duy nhất.

    • Thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trong xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta trước cách mạng tháng 8 – cái xã hội mà “Hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”.
    • Nhà văn đã thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những con người bất hạnh nhưng vẫn cao thượng chất phác, đôn hậu và đáng kính.
    • Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm.
    • Kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, khách quan.
    • Xây dựng nhân vật: tiêu biểu, điển hình.
    • Kết hợp triết lý và trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Đề Đọc Hiểu Lão Hạc
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Ngắn Nhất
  • Giáo Án Văn 8 Bài Lão Hạc (Tiết 1)
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Lớp 8 Trang 38 Chi Tiết Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100