【#1】Đọc Kĩ Văn Bản Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Bên Dưới: Trong Xã Hội Có Muôn Vàn Những Việc Làm Đẹp, Những Hành Động Đẹp, Là Sự Sẻ Chia Thăm Đậm Tình Người Với Đạo Lý “thương Người Như Thể Thương Thân”. Ngày Nay, Chúng Ta Không Khó Bắt Gặp Nhiều Hoạt Động Tử Tế Giúp Đỡ Những Người Khó Khăn, Với Những Manh Áo Mỏng Bớt Đi Cái Lạnh Của Mùa Đông, Những Tô Cháo, Hộp Cơm… Chứa Chan Biết Bao Tình Người Mà Các Nhà Hảo Tâm Cung Cấp Miễn Phí Ở Một Số Bệnh Viện Trong Cả Nước Hay Sức Lan Tỏa Của Phong Trào Hiến Máu Tình Nguyện Đã Thu Hút Đông Đảo Người Tham Gia. Thậm Chí Có Những Cái Chết Nhưng Vẫn Lưu Lại Sự Sống Bằng Việc Hiến Tạng, … Là Truyền Thống Tốt Đẹp Của Đất Nước Ta Từ Nhiều Đời Nay. Truyền Thống Ây Luôn Tồn Tại Và Không Ngừng Phát Triển Dưới Nhiều Hình Thức Khác Nhau. Thật Cảm Động Trước Những Nghĩa Cử Cao Đẹp Của Các Tổ Chức, Cá Nhân Đã Và Đang Thực Hiện Các Hoạt Động Từ Thiện Này. Họ Đến Từ Nhiều Thành Phần Trong Xã Hội, Là Những Nhà Mạnh Thường Quân, Tổ Chức Tôn Giáo, Người Tu Hành, Người Dân Bình Thường Và Cả Những Người Từng Có Quá Khứ Lỗi Lầm. Họ Cùng Nhau, Người Góp Công Sức, Người Góp Tiền Của, Cho Dù Nhiều Người Chưa Hẳn Đã Có Cuộc Sống Dư Dả Về Vật Chất, Song Họ Đều Có Một Mục Đích Chung Là Giúp Đỡ Người Khác, Giúp Đỡ Những Hoàn Cảnh Bất Hạnh Vượt Qua Khó Khăn Và Bệnh Tật. Với Những Bệnh Nhân Nghèo, Hộp Cơm, Tố Cháo, Đồng Tiền… Mà Họ Nhận Được Từ Các Nhà Hảo Tâm Đã Mang Đến Những Nụ Cười Và Cả Những Giọt Nước Mắt Hạnh Phúc Của Cả Người Cho Và Người Nhận, Thứ Hạnh Phúc Mà Chính Những Người Trong Cuộc Cũng Khó Có Thể Bày Tỏ Hết Bằng Lời, Nó Là Động Lực Thôi Thúc Sự Sẻ Chia Và Cảm Thông, Để Rồi Ai Cũng Muốn Cho Đi, Cho Dù Chỉ Là Nụ Cười Và Cùng Nhau Đón Nhận Những Giá Trị Của Việc Cho Đi, Cho Đi… Là Còn Mải, Đó Chính Là Tình Người! (Theo Khắc Trường, Dangcongsan.vn)

Trong xã hội có muôn vàn những việc làm đẹp, những hành động đẹp, là sự sẻ chia thăm đậm tình người với đạo lý “thương người như thể thương thân”. Ngày nay, chúng ta không khó bắt gặp nhiều hoạt động tử tế giúp đỡ những người khó khăn, Với những manh áo mỏng bớt đi cái lạnh của mùa đông, những tô cháo, hộp cơm… chứa chan biết bao tình người mà các nhà hảo tâm cung cấp miễn phí ở một số bệnh viện trong cả nước hay sức lan tỏa của phong trào hiến máu tình nguyện đã thu hút đông đảo người tham gia. Thậm chí có những cái chết nhưng vẫn lưu lại sự sống bằng việc hiến tạng, … là truyền thống tốt đẹp của đất nước ta từ nhiều đời nay. Truyền thống ây luôn tồn tại và không ngừng phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thật cảm động trước những nghĩa cử cao đẹp của các tổ chức, cá nhân đã và đang thực hiện các hoạt động từ thiện này. Họ đến từ nhiều thành phần trong xã hội, là những nhà Mạnh Thường Quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường và cả những người từng có quá khứ lỗi lầm. Họ cùng nhau, người góp công sức, người góp tiền của, cho dù nhiều người chưa hẳn đã có cuộc sống dư dả về vật chất, song họ đều có một mục đích chung là giúp đỡ người khác, giúp đỡ những hoàn cảnh bất hạnh vượt qua khó khăn và bệnh tật.

Với những bệnh nhân nghèo, hộp cơm, tố cháo, đồng tiền… mà họ nhận được từ các nhà hảo tâm đã mang đến những nụ cười và cả những giọt nước mắt hạnh phúc của cả người cho và người nhận, Thứ hạnh phúc mà chính những người trong cuộc cũng khó có thể bày tỏ hết bằng lời, nó là động lực thôi thúc sự sẻ chia và cảm thông, Để rồi ai cũng muốn cho đi, cho dù chỉ là nụ cười và cùng nhau đón nhận những giá trị của việc cho đi, cho đi… là còn mải, đó chính là tình người!

(Theo Khắc Trường, dangcongsan.vn) Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Trong xã hội có muôn vàn những việc làm đẹp, những hành động đẹp, là sự sẻ chia thăm đậm tình người với đạo lý “thương người như thể thương thân”. Ngày nay, chúng ta không khó bắt gặp nhiều hoạt động tử tế giúp đỡ những người khó khăn, Với những manh áo mỏng bớt đi cái lạnh của mùa đông, những tô cháo, hộp cơm… chứa chan biết bao tình người mà các nhà hảo tâm cung cấp miễn phí ở một số bệnh viện trong cả nước hay sức lan tỏa của phong trào hiến máu tình nguyện đã thu hút đông đảo người tham gia. Thậm chí có những cái chết nhưng vẫn lưu lại sự sống bằng việc hiến tạng, … là truyền thống tốt đẹp của đất nước ta từ nhiều đời nay. Truyền thống ây luôn tồn tại và không ngừng phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thật cảm động trước những nghĩa cử cao đẹp của các tổ chức, cá nhân đã và đang thực hiện các hoạt động từ thiện này. Họ đến từ nhiều thành phần trong xã hội, là những nhà Mạnh Thường Quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường và cả những người từng có quá khứ lỗi lầm. Họ cùng nhau, người góp công sức, người góp tiền của, cho dù nhiều người chưa hẳn đã có cuộc sống dư dả về vật chất, song họ đều có một mục đích chung là giúp đỡ người khác, giúp đỡ những hoàn cảnh bất hạnh vượt qua khó khăn và bệnh tật.

Với những bệnh nhân nghèo, hộp cơm, tố cháo, đồng tiền… mà họ nhận được từ các nhà hảo tâm đã mang đến những nụ cười và cả những giọt nước mắt hạnh phúc của cả người cho và người nhận, Thứ hạnh phúc mà chính những người trong cuộc cũng khó có thể bày tỏ hết bằng lời, nó là động lực thôi thúc sự sẻ chia và cảm thông, Để rồi ai cũng muốn cho đi, cho dù chỉ là nụ cười và cùng nhau đón nhận những giá trị của việc cho đi, cho đi… là còn mải, đó chính là tình người!

(Theo Khắc Trường, dangcongsan.vn) Phương pháp giải: Phương pháp giải: Phương pháp giải:

【#2】Bài Văn Phân Tích Nhân Vật Bà Cô Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Để Làm

Trong đoạn trích Trong lòng mẹ, tình cảm của bé Hồng dành cho mẹ khiến chúng ta cảm động nhưng sự toan tính ích kỉ, nhẫn tâm của bà cô bé Hồng lại khiến ta ghê sợ, bất bình. Em hãy phân tích nhân vật bà cô trong đoạn trích Trong lòng mẹ để làm rõ ý kiến có những lời nói và hành động thể hiện bản chất tàn nhẫn, mất hết tình người đáng lên án.

Đề bài: Phân tích nhân vật bà cô trong đoạn trích Trong lòng mẹ để làm rõ ý kiến có những lời nói và hành động thể hiện bản chất tàn nhẫn, mất hết tình người đáng lên án.

Phân tích nhân vật bà cô trong đoạn trích Trong lòng mẹ

Bài làm:

Nhắc đến nhà văn Nguyên Hồng là nhắc đến nững trang văn thấm đượm chất trữ tình, lời văn dạt dào, làm sống dậy bao cảm xúc mãnh liệt của lòng người, đặc biệt những trang văn viết về phụ nữ và trẻ thơ. Những tác phẩm của ông đâu chỉ hay thôi mà còn đẹp nữa, đẹp bởi tình cảm chân thành và tha thiết được bộc lộ rõ trong từng hơi thở, cử chỉ và lời nói của nhân vật. Đó là những Bỉ vỏ, Khi đứa con ra đời, hay tập hồi kí Những ngày thơ ấu đều mang lại những sức hấp dẫn riêng. Đoạn trích Trong lòng mẹ của tập hồi kí này không chỉ gây xúc động bởi tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp, sự đồng cảm với một cậu bé Hồng chịu nhiều bất hạnh. Mà khi đọc tác phẩm, ta còn căm phẫn trước sự cay độc, tàn ác của bà cô ruột cậu bé – một hình ảnh đại diện cho những hủ tục của xã hội phong kiến xưa lạc hậu còn tồn tại.

Thật độc ác và ghê người, một người đàn bà tàn nhẫn máu lạnh khi bỏ qua cả tính máu mủ ruột rà để châm chọc, hành hạ đứa cháu đáng thương đến tội nghiệp. Mụ ta xem đó là một trò chơi và khi cậu bé Hồng càng đau đớn, tủi nhục thì mụ là càng hài lòng, tự mãn. Tâm trạng đầy uất nghẹn của cậu bé: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn”. Nhìn em như thế, đến người dưng còn không kìm được lòng mình, vậy mà bà cô vẫn không mảy may chút thương cảm, lạnh lùng, thích thú như vừa làm được điều gì thú vị lắm. Bà ta kể về những khó nhọc, tình cảnh túng quẫn thương tâm của người mẹ cho cậu bé trong niềm vui. Cho đến khi nỗi đau của em lên đến tột cùng, bà mới hạ giọng mình làm bộ vỗ về an ủi em.

Một bà cô tàn nhẫn, thâm hiểm, vô cảm, sắc lạnh. Một hành động tàn bạo, ý nghĩ đê tiện, thấp hèn, tanh bẩn xấu xa trong chính con người mụ. Khắc họa nhân vật bà cô, tác giả đã lên tiếng tố cáo, phê phán hiện thực xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đồng thời lên án những kẻ có bản tính xấu xa, độc ác, có những lời nói và hành động mất hết tình người. Là tiếng nói thương cảm và cảnh tỉnh mỗi người hãy quý trọng tình thân trong cuộc sống.

【#3】Những Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới: Doanh Nghiệp Cần Quan Tâm

SBLAW gửi tới Quý khách hàng bản tóm tắt một số nội dung của các văn bản pháp luật có hiệu lực trong Quý 1 năm 2021. 1. Cá nhân đăng ký kinh doanh được mua bán hàng hóa qua biên giới

Đây là nội dung mới nổi bật tại Nghị định sốNĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới.

Theo đó, Nghị định chỉ rõ thương nhân được thực hiện mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới Trung Quốc, Lào, Campuchia bao gồm:

– Thương nhân Việt Nam: Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật (theo quy định hiện hành thì cá nhân không thuộc đối tượng điều chỉnh).

– Thương nhân có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam thực hiện mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới theo cam kết của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Nghị định số 14/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2018. 2. Nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của doanh nghiệp logistics

Ngoài ra, Nghị định 14 cũng có nhiều quy định mới so với quy định hiện hành; đơn cử như đã bỏ chế định về Ban chỉ đạo thương mại biên giới được quy định tại Chương VII Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg.

Đây là nội dung nổi bật được quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó:

Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước là thành viên của WTO khi kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng những điều kiện về tỷ lệ vốn góp và một số điều kiện sau:

– Dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa): Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu không quá 1/3 định biên của tàu; thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là người Việt Nam.

Nghị định số 163/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/02/2018 và thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP. 3.Bảy tiêu chí thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia

– Vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ thì 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

Lưu ý: Thương nhân tiến hành 01 phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bằng phương tiện điện tử có nối mạng Internet, mạng viễn thông di động; các mạng mở khác phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Đây là nội dung nổi bật tại Nghị định số 28/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương.

Theo đó, Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại (Chương trình) bao gồm các hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) được thực hiện theo 07 tiêu chí sau:

– XTTM cho sản phẩm, ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu của vùng kinh tế, quốc gia, phát triển thị trường xuất khẩu;

– Nâng cao hiệu quả nhập khẩu, phục vụ phát triển sản xuất trong nước và xuất khẩu;

– Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, ngoại thương theo từng thời kỳ;

– Chương trình được Thủ tướng ban hành, có cơ chế phối hợp của bộ, ngành; Bộ Công Thương chủ trì, đầu mối;

– XTTM xuất khẩu, nhập khẩu liên kết giữa các bộ, ngành, giữa các ngành hàng hoặc giữa các địa phương;

Nghị định số 28/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2018 và Nghị định số 100/2011/NĐ-CP hết hiệu lực từ ngày Nghị định số 28/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. 4.Thay đổi hồ sơ cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa lần đầu

– Triển khai thông qua các đề án thực hiện Chương trình do cơ quan có thẩm quyền quyết định, được ngân sách nhà nước hỗ trợ;

– Đơn vị chủ trì đề án phải có uy tín, mang tính đại diện, có năng lực tổ chức.

Đây là nội dung nổi bật của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa.

Theo đó, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) lần đầu hoặc cho sản phẩm mới xuất khẩu lần đầu hoặc cho sản phẩm không cố định được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 31.

– Hồ sơ theo quy định mới bổ sung thêm các giấy tờ sau:

+ Bảng kê khai chi tiết hàng hóa xuất khẩu đạt tiêu chí xuất xứ ưu đãi hoặc tiêu chí xuất xứ không ưu đãi theo mẫu;

+ Bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp nguyên liệu có xuất xứ được sản xuất trong nước theo mẫu;

+ Bản sao quy trình sản xuất hàng hóa (đóng dấu sao y bản chính của thương nhân);

– Bên cạnh đó, vẫn giữ nguyên các giấy tờ, hồ sơ theo quy định trước đó, đơn cử như:

Nghị định số 31/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/3/2018, thay thế Nghị định số 19/2006/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn của nghị định này. 5. Thay đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

+ Đơn đề nghị cấp C/O (đã thay thế bằng Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 31);

+ Mẫu C/O tương ứng đã được khai hoàn chỉnh; …

Ngày 11/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009.

Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo từng lĩnh vực.

Cụ thể, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm:

– Doanh nghiệp siêu nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ (trước đây không phân loại dựa vào vốn).

Nghị định số 39/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 11/3/2018. 6. Lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa

– Doanh nghiệp nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ (trước đây là 10 tỷ trở xuống).

– Doanh nghiệp vừa: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ.

Ngoài ra, Nghị định còn hướng dẫn chi tiết chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khởi nghiệp sáng tạo.

Theo đó, Chính phủ đã hướng dẫn việc thành lập quỹ đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo như sau:

– Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo do tối đa 30 nhà đầu tư góp vốn thành lập trên cơ sở điều lệ quỹ và không có tư cách pháp nhân; quỹ này không được góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác.

– Tài sản góp vốn có thể bằng Đồng Việt Nam, vàng, giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản khác có thể định giá bằng Đồng Việt Nam.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (ngày 11/3/2018). 7. Phải trả tiền nhuận bút khi sử dụng bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại

Nhà đầu tư không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

+ Gửi tiền tại các ngân hàng thương mại;

+ Đầu tư không quá 50% vốn điều lệ của DNNVV khởi nghiệp sáng tạo sau khi nhận đầu tư.

Ngày 12/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, trong đó quy định điều kiện đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.

Cụ thể, tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng 7 điều kiện:

1- Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.

2- Có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên.

3- Thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không bao gồm tổ chức hoặc cá nhân từng giữ một trong các chức vụ nêu trên tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Nghị định này.

4- Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

5- Có mẫu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản rõ ràng, minh bạch và phù hợp với quy định của Nghị định này.

6- Có hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp.

7- Có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp.

Nghị định số 40/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 02/5/2018.

Có 3 trường hợp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp:

1- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp hết hiệu lực mà không được gia hạn;

2- Doanh nghiệp tự chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp;

3- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi.

Doanh nghiệp hoạt động bán hàng đa cấp có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký tại Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và chỉ được phép tổ chức hoạt động bán hàng đa cấp sau khi có xác nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bằng văn bản của Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó.

【#4】Những Điều Cần Nắm Vững Về Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự

1. Thế nào gọi là tóm tắt tác phẩm tự sự?

Tóm tắt tác phẩm tự sự là dùng lời văn của mình giới thiệu một cách ngắn gọn sinh động nội dung chính của tác phẩm, diễn biến của cốt truyện. Bản tóm tắt cần phản ánh trung thành tác phẩm. Chỉ được lược bớt, chứ không được bịa, được thêm vào sự việc hoặc tình tiết nào.

2. Mục đích của việc tóm tát tác phẩm tự sự

Tại sao phải tóm tắt tác phẩm tự sự?

– Tóm tắt tác phẩm tự sự là để nắm chắc cốt truyện.

– Trong cuộc sống, do thời gian, do điều kiện (thiếu văn bản), ta có thể đọc các bản tóm tắt tác phẩm. Ở Ấn Độ, Pháp, Mĩ có hiện tượng nhiều cuốn sách hàng nghìn trang lại có kèm theo văn bản tóm tắt vài chục trang, một hai trăm trang để phục vụ một số đối tượng độc giả nào đó trong xã hội.

Tóm lại, tóm tắt tác phẩm là một kĩ năng quan trọng. Có năng lực phân tích và tổng hợp cao thì mới có thể tóm tắt tác phẩm tốt. Đối với nhà văn, trước khi viết một truyện ngắn hoặc một cuốn tiểu thuyết cũng cần có bản tóm tắt tác phẩm, để trên cơ sở đó định hướng và phát triển câu chuyện. Đối với các hướng dẫn viên du lịch, cần biến các bảng tóm tắt thành cẩm nang để giới thiệu du khách tìm hiểu, thâm nhập và khơi nguồn cảm hứng cho họ khi tiếp cận các di tích văn hóa, lịch sử, các danh lam thắng cảnh.

3. Bài tập vận dụng

Đọc văn bản sau và tóm tắt:

Trí và nhân

Thầy Tử Lộ yết kiến đức Khổng Tử.

Đức Khổng Tử hỏi: “Thế nào là người trí? Thế nào là người nhân?’

Thầy Tử Lộ thưa: “Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình; người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình”.

Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá là người có học vấn”

Thầy Tử Lộ ra, thầy Tử Cống vào, đức Khổng Tử lại hỏi người trí, người nhân là thế nào?

Thầy Tử Cống thưa: “Người trí là người biết người, người nhân là người yêu người”

Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá là người có học vấn”

Thầy Tử Cống ra, thầy Nhan Hồi vào, đức Khổng Tử lại đem trí, nhân ra hỏi.

Thầy Nhan Hồi thưa: “Người tri là người tự biết mình; người nhân là người tự yêu mình”.

Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy đáng gọi là bậc sĩ quân tử.

Tóm tắt bài “Trí và nhân”

Thầy Tử Lộ, thầy Tử Cống và thầy Nhan Hồi lần lượt vào yết kiến Đức Khổng Tử. Ngài hỏi: “Thế nào là người trí? Thế nào là người nhân’

Thầy Tử Lộ thưa: ”Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình; người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình”.

Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá là người có học vấn”.

Sau khi nghe thầy Tử Cống thưa “Người trí là người biết người, người nhân là người yêu người”, thì ngài bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá là người có học vấn”.

Thầy Nhan Hồi thưa: “Người trí là người tự biết mình; người nhân là người tự yêu mình”. Nghe vậy, đức Khổng Tử khen: “Nhà ngươi đúng là bậc sĩ quân tử”
(Lê Thành Nghĩa, 8A Trường THCS Đình Bảng- Bắc Ninh)

Nghiện làm quan

Tương truyền ở phủ Nam Dương thời nhà Minh có một viên thái thú, chết ngay trên công đường, nhưng hồn phách không tan. Cứ mỗi sáng mai, khi trống canh điểm, lại thấy y đội mũ sa đen, khoác áo, đeo đai lên công đường, quay về hướng Nam mà ngồi, có cả nha dịch đứng hầu. Quan ma nghe trình việc xong, nhận lễ lạy. Mặt trời sáng rực rỡ, mới dần dần biến mất.

Đến đời Ưng Thính, Thái thú họ Kiểu đến nhậm chức, nghe kể chuyện này rồi cười, nói:

– Lão già này mắc bệnh nghiện làm quan. Thân dẫu đã chết mà vẫn không tự biết. Ta có cách làm cho lão sáng mắt ra.

Từ lúc trời chưa sáng, họ Kiều mặc triều phục, lên ngồi sẵn ở công đường. Đến lúc trống điểm canh cái mũ sa thấp thoáng tiến vào, thấy trên án đã có người, bóng ma lưỡng lự, hú lên một tiếng thám thiết rồi biến mất.

Từ đó quái tuyệt hẳn.

(Trích Giai thoại văn học Thanh)

Hãy tóm tắt truyện ngán “Lão Hạc”của Nam Cao

Vợ lão Hạc chết. Lão Hạc và cậu con trai sống trên mảnh vườn ba sào. Nhà nghèo, không có tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đi làm phu đồn điền. Ngày ra đi, anh biếu bố 3 đồng bạc để ăn quà; lão khóc. Từ đó, lão Hạc sống thui thủi một mình trong túp lều nơi xó vườn. Lão làm thuê để nuôi thân. Chỉ có con chó ớ bên cạnh, lão gọi là “cậu Vàng”, lão quý nó như người đàn bà hiếm hoi quý đứa con cầu tự.

Hết hạn một công – ta 3 năm, anh con trai vẫn chưa về. Gần 4 năm vẫn chưa về. Lão âm thầm đợi chờ và chỉ biết tâm sự với cậu Vàng. Tiền bán hoa lợi trong vườn được đồng nào lão dành dụm lại đồng ấy. Vợ lão thắt lưng buộc bụng, tậu mảnh vườn 50 đồng; lão nói với ông giáo “Của mẹ nó tậu thì nó hưởng”…

Một trận ốm kéo dài 2 tháng 18 ngày, lão yếu đi ghê lắm. Làng mất vé sợi, lão Hạc không có việc làm. Rồi lại bão, hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Gạo mỗi ngày một kém. Mỗi ngày lão và cậu Vàng ăn hết ba hào gạo mà vẫn đói deo đói dắt. Lão Hạc phải bán con chó được 5 đồng cho thằng Xiên thằng Mục giết thịt. Sau khi bán chó, lão khóc.

Lão Hạc tâm sự với ông giáo về kiếp người khổ sở của mình; lão nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn cho cậu con trai, gửi ông giáo 30 đồng bạc để phòng khi lão chết “gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu dành nhờ hàng xóm”

Từ đó, lão Hạc ăn khoai, ăn cú ráy, củ chuối, sung luộc,… chế tạo được món gì ăn món ấy.

Lão Hạc xin Binh Tư cái bả chó… Cái chết của lão Hạc thật dữ dội, hai mắt long lên sòng sọc, bọt mép sùi ra,… vật vã đến 2 giờ đồng hồ rồi mới chết. Chỉ có ông giáo và Binh Tư mới hiểu được cái chết đau đớn và bất thình lình của lão Hạc.

Ông giáo nhìn thi thể lão Hạc rồi khẽ hứa giữ gìn mảnh vườn cho lão và sẽ trao lại trọn vẹn cho anh con trai lão khi hắn trở về.

chúng tôi

【#5】Quan Hệ Ngữ Pháp Trong Văn Bản

1. Có người sẽ nói ngay: Làm gì có cái gọi là quan hệ ngữ pháp (QHNP) trong văn bản. Điều này là dễ hiểu bởi vì nhiều công trình nghiên cứu ngữ pháp nghiêm túc đã khẳng định không có cái gọi là QHNP bên ngoài phạm vi câu.

Theo Bloomfield, câu là một hình thức ngôn ngữ độc lập, không bị bao gồm vì bất cứ một kết cấu ngữ pháp nào trong một hình thức ngôn ngữ lớn hơn. (…) Câu là đơn vị lớn nhất của miêu tả ngữ pháp . Cố giáo sư Hoàng Tuệ cũng đã viết: Giá trị đơn vị văn bản được xác định chủ yếu theo nội dung. Quan hệ giữa những đơn vị này có thể có dấu hiệu (hiển ngôn) về ngữ pháp ( … ), song đó vẫn là chủ yếu quan hệ ngữ nghĩa (Cho nên, chớ bị lầm lẫn bởi các thuật ngữ Ph: Grammaire textuelle; A: Textual grammar; Ng: Grammatika teskta… đã được dịch thành ngữ pháp văn bản. ( … ) hoặc là quan hệ giữa các thành tố của cụm từ và quan hệ giữa các thành phần câu… . Theo W. Dressler, Trong thời đại của chúng ta, dư luận rộng rãi thừa nhận rằng đơn vị độc lập hơn cả và cao nhất của ngôn ngữ không phải là câu mà là văn bản. Từ đó xuất hiện sự cần thiết phải nghiên cứu cú pháp văn bản, tức là cú pháp của các đơn vị trên câu . Moskalskaja trong giáo trình của mình nói cụ thể hơn: Một số phạm trù trước đây được coi là những phạm trù ngữ pháp của từ hoặc câu, bây giờ, dưới ánh sáng mới, chúng sẽ hiện lên như những phạm trù văn bản . Vậy thì các QHNP giữa các vế của câu ghép đã biến đi đâu khi các vế câu được tách thành câu riêng?

So sánh:

(1) Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu rỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. (Tô Hoài) . Vậy cần được hiểu rộng như thế nào?

Cách hiểu như trên đụng chạm trực tiếp tới cách hiểu lâu nay (dựa trên quan niệm của Sausure) nên không thể không nói lại vài điều về chuyện này. Trước hết, nhờ khả năng trừu tượng hóa rất cao, Saussure đã phân biệt và tạm thời cô lập ngôn ngữ và lời nói rồi sau đó lại nêu lên mối quan hệ giả định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau giữa chúng, đến mức không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được. Lí giải chính xác ấy ảnh hưởng rất to lớn trong ngôn ngữ học thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những hạt nhân hợp lí, tư tưởng của Saussure còn chứa đựng những điều cần xem lại. Giáo trình ngôn ngữ học đại cương viết: Nhưng ngôn ngữ (…) là gì? Đối với chúng tôi (…..). Nó vừa là một sản phẩm xã hội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này . Giáo trình cũng đặt trước chúng ta một câu hỏi để cùng tiếp tục suy nghĩ: Cần phải hình dung cái sản phẩm xã hội này như thế nào để cho ngôn ngữ hiện ra một cách thật tách bạch so với những cái khác? Giá ta có thể bao quát được cái tổng số những hình tượng hoạt động ngôn ngữ tích lũy lại ở tất cả các cá nhân, ta sẽ thấu được đến mối liên hệ xã hội gọi là ngôn ngữ

Như thế, có thể cho rằng NHỮNG QUY ƯỚC ĐƯỢC TẬP THỂ XÃ HỘI CHẤP NHẬN (chữ dùng của Sausure) ngoài các quy tắc biến hình từ, cấu tạo từ, kết hợp các từ, ngữ để tạo câu còn là các quy tắc kết hợp các câu, các đơn vị trên câu để tạo nên ngôn phẩm. Các quy tắc này tồn tại trong các ngôn phẩm, phải trừu tượng hóa mới thấy được. Chúng là những quy tắc được tuân thủ trong hầu hết các văn bản cùng thể loại, đã được mọi người chấp nhận hoặc cho là phải và đang được tiếp tục chỉ ra. Không thể gạt chúng ra ngoài phần NGỮ được. Thực tế chứng tỏ rằng việc hiểu khác nhau về từ ngôn ngữ đã dẫn đến những quan niệm ngược hẳn nhau: đơn vị từ, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất; còn đơn vị câu, khi thì được coi là đơn vị ngôn ngữ, khi thì được coi là kết cấu lớn nhất của các đơn vị ngôn ngữ và là đơn vị nhỏ nhất của lời nói (Xem các mục từ TỪ, CÂU trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb GD, 1997).

Một khi nghĩa của từ ngữ pháp đã được hiểu rộng thì nghĩa của tổ hợp từ QHNP cũng sẽ thay đổi. Theo ngữ pháp học truyền thống, QHNP là quan hệ giữa các từ, cụm từ (hay ngữ, tiểu cú) trong quá trình kết hợp với nhau để tạo nên câu. Đó là quan hệ giữa các nghĩa ngữ pháp của các đơn vị trong lòng kết cấu ngữ pháp do các đơn vị ấy tạo nên. Ở đây, nghĩa ngữ pháp được hiểu là nghĩa chung, trừu tượng, được khái quát từ hàng loạt từ, ngữ, từ hàng loạt kiểu quan hệ giữa các từ, ngữ trong tổ chức câu. Nghĩa ngữ pháp thường được chia thành hai loại: nghĩa ngữ pháp tự thân là nghĩa nằm trong từ và nghĩa ngữ pháp quan hệ là nghĩa nằm ngoài từ, được thể hiện ra trong sự kết hợp của từ, ngữ với các từ, ngữ xung quanh. Loại trên là thuộc tính bản chất, loại dưới thuộc về chức năng. Trong văn bản, cũng có thể nêu lên: ý nghĩa ngữ pháp tự thân và ý nghĩa ngữ pháp quan hệ. Ý nghĩa ngữ pháp tự thân trong văn bản như các ý nghĩa tự nghĩa/không tự nghĩa của câu, cụm câu, đoạn văn. Chúng là ý nghĩa trừu tượng, được khái quát hóa từ bản thân hàng loạt ĐV và KCVB. Ý nghĩa ngữ pháp quan hệ trong văn bản cũng là ý nghĩa trừu tượng, được khái quát từ hàng loạt kiểu quan hệ thông báo giữa các thành tố với KCVB bậc trên liền kề do chúng tạo nên. Các ĐV và KCVB gồm: câu (hay phát ngôn), cụm câu (hay liên / lời / tiểu khúc), đoạn văn (hay tiểu đoạn), mục, tiết, chương, phần (1). Như vậy, QHNP (hiểu rộng) là quan hệ giữa các ý nghĩa ngữ pháp của các đơn vị ngữ pháp

III. KẾT LUẬN

Tóm lại, trong thực tế hành văn, người viết có thể viết rất nhiều cụm câu, đoạn văn thuộc các thể loại khác nhau làm nên tính phong phú, đa dạng của các loại câu trong văn bản xét về mặt cấu trúc thông báo. Do đó muốn chỉ ra chính xác mỗi câu trong cụm câu thuộc loại nào xét về mặt chức năng thông báo của chúng thì nhất thiết phải xuất phát từ nội dung từng câu và mối quan hệ giữa các ý của từng câu, gắn với đặc điểm thể loại của cụm câu. Trong nhà trường phổ thông, việc viết văn nghị luận được chú ý nhiều. Xét về mặt chức năng thông báo, một cụm câu nghị luận chính phụ, hợp nghĩa, có thể có tối đa sáu loại câu: câu chuyển ý, câu mở ý, câu chủ ý, câu luận ý, câu thuyết ý, câu kết ý. Tuy nhiên nếu cho rằng có thể chỉ dùng duy nhất lí thuyết ấy để phân loại câu về mặt thông báo trong mọi trường hợp thì dễ mắc sai lầm.(1)

Vậy là, khi xem xét cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản về mặt thông báo, phải nắm chắc các mối quan hệ phong phú giữa các đơn vị và kết cấu văn bản; phải nắm chắc các tiêu chí phân loại và các hệ thống phân loại đơn vị và kết cấu văn bản. Riêng đối với việc dạy thực hành dựng đoạn, hệ thống phân loại dựa vào chức năng thông báo của từng thành tố trong kết cấu văn bản là có nhiều tác dụng hơn cả.

Như đã trình bày, cứ giữ nguyên cách hiểu thuật ngữ ngôn ngữ và ngữ pháp theo cách của F. de Saussure thì cũng được, nhưng mọi thuật ngữ khoa học đều có thể được quan niệm lại khi việc nghiên cứu đã có những bước chuyển. Cho nên, có thể theo gợi ý của cố giáo sư Hoàng Tuệ để mở rộng khái niệm ngữ pháp, khái niệm ngôn ngữ; từ đó nói tới khái niệm QHNP văn bản và các loại QHNP đẳng lập, chính phụ trong văn bản như những thuật ngữ thuộc phạm trù ngữ pháp học – bộ môn của ngôn ngữ học, khoa học nghiên cứu cả ngôn lẫn ngữ, cả hệ thống nguyên liệu tĩnh trạng lẫn hệ thống hành chức của nó. Các ĐV và KCVB trực tiếp làm chức năng giao tiếp nên quan hệ thông báo được quan tâm trước hết nhưng cũng không thể quên rằng các ĐV và KCVB có bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp – ngữ ý. Việc nhận rõ QHNP giữa các ĐV và KCVB trong văn bản có tác dụng thiết thực cho khâu biên tập xuất bản và khâu sửa đoạn văn và văn bản trong môn làm văn. Nó cũng tạo cơ sở lí luận cho việc khắc phục khuynh hướng sửa văn chỉ chăm chú sửa câu mắc lỗi và chỉ chú ý tới quan hệ logic và thông báo giữa các câu, đoạn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Các đơn vị này có thể coi là các đơn vị ngôn ngữ được hay không còn tùy thuộc vào nội hàm của khái niệm ngôn ngữ trong quan niệm của từng người. Có người gọi đó là các đơn vị của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt Sơ thảo ngữ pháp chức năng, KHXH, 1991), có người gọi đó là các đơn vị ngôn giao – giao tiếp bằng ngôn ngữ (Xem Hồ Lê, Quy luật ngôn ngữ, Quyển 2, Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, KHXH, 1996), có người khẳng định đó là các đơn vị ngôn ngữ. (Xem Lưu Vân Lăng, Hệ thống thành tố cú pháp với nòng cốt câu, Ngôn ngữsố 1-1995).

Nguyễn Hữu Chỉnh Tạp chí NGÔN NGỮ số 6/2002 Sửa chữa và bổ sung năm 2007

KCVB nhỏ nhất được Nguyễn Đức Dân gọi là CỤM CÂU, Lưu Vân Lăng gọi là LỜI (hay PHÁT NGÔN), Hồ Lê gọi là TIỂU KHÚC. KCVB bậc trên liền kề của cụm câu được Hồ Lê gọi là TIỂU ĐOẠN và nhiều người gọi là ĐOẠN VĂN.

  1. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, Tập hai, Nxb GD, 1996
  2. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đại cương ngôn ngữ học, Tập hai, Nxb GD, 1993
  3. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD, 1995
  4. Cao Xuân Hạo, TIẾNG VIỆT sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH, 1991
  5. John Lyons, Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, Vương Hữu Lễ dịch, Nxb GD, 1997
  6. Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên…Văn học 10, Tập một, Nxb GD, 1996
  7. Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Văn học 12, Tập một, Nxb GD, 1992
  8. O.I. Moskalskaja, Ngữ pháp văn bản, Trần Ngọc Thêm dịch, GD, 1996
  9. Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn, Ngôn ngữ học Khuynh hướng – Lĩnh vực – Khái niệm, Nxb KHXH, Tập II, 1986
  10. Ferdinand de Saussure – Giáo trình ngôn ngữ học đại cương – Nxb KHXH, 1973
  11. Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, KHXH, H.1985
  12. Lê Đức Trọng, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993
  13. Hoàng Tuệ – Ngôn ngữ – số 9/2000
  14. Encyclopaedia Universalis, Corpus 13, Ed. à Paris, 1996.

(1) Hoàng Như Mai…, Văn học 12, Tập 1, Nxb GD, trang 9

(1) Hồ Tĩnh Tâm, Cô gái gọi mặt trời, Tuổi trẻ chủ nhật 28-9-2003

(2) Lê Thúy Bảo Nhi, Hai chị em, Giải ba cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20, Tuổi trẻ chủ nhật số 36/2000

(1) Lê Khả Phiêu, Trả lời phỏng vấn, Tuổi trẻ, Thứ năm 7 – 5 – 98

(1) Chim Văn Bé – Giáo trình Làm văn – Tập 2 – Đại học Cần Thơ, 1992

(1) Trần Đăng Xuyền và … – Giảng văn văn học Việt Nam – Nxb GD, 1999, tr. 542

(1) Hà Huy Giáp, Diễn văn đọc tại cuộc mít tinh kỉ niệm lần 150 ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu

(1) SGK và sách hướng dẫn giảng dạy cũng có những sai sót đáng tiếc. Để biết cụ thể xin xem ba bài báo: Bài tập ‘mẹo’ hay bài tập sai?; Sao lại hướng dẫn học sinh lớp 9 như thế? ( Ngôn ngữ và Đời sống số 5 và số 9/2003); Đôi điều bàn lại về lí thuyết trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 ( Ngôn ngữ số 1-2007)

【#6】Ý Nghĩa Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính

ý Nghĩa Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Tài Chính Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Của Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Thủ Tục Hành Chính Là Gì, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Các Loại Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Của Các Loại Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Của Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Nghĩa Vụ Quân Sự, ý Nghĩa Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Thuế, ý Nghĩa Của Quyết Định Hành Chính, ý Nghĩa Kiểm Soát Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Quyết Định Số 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chinh Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Và Dân Quân Tự Vệ V, Quyết Định 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Dân Quân T, Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Tập Đoàn Công Nghiệp – Viễn Thông Quân Đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Cơ Quan Chính Trị, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Quận 12 Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Yêu Cầu Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 7, Thủ Tục Hành Chính Quận 12, Cục Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 1, Thủ Tục Hành Chính Hải Quan, Đề Thi Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Tập Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Hà Đông, Thủ Tục Hành Chính Quận Hai Bà Trưng, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Nam Từ Liêm, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Phần Mềm Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận Cầu Giấy, Thủ Tục Hành Chính Quận Bắc Từ Liêm, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng, Mẫu Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khoa Học Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Ba Đình, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh, Mẫu Đơn Xin Việc Vào Cơ Quan Hành Chính, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Phần Mềm Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Học Thuyết Quản Trị Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận Đống Đa, Văn Bản Hành Chính Quản Lý Nhà Nước, Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Đề Cương Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bai Tapve Quan Li Hanh Chinh Nha Nuoc, Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Lý Luận Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc, Bai Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội, Thủ Tục Hành Chính Quận Thanh Xuân, Vai Trò Chủ Yếu Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Quản Lý Tổ Chức Hành Chính Nhà Nước, Tài Liệu Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Đề Cương Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Lý Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quy Chế Văn Hoá Công Sở Tại Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Lần 1, Bao Cao Tốt Nghiệp Nghành Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc, Nêu Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Lần 2, Giáo Trình Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thao Luan Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lan 2, Bài Tiểu Luận Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Mẫu Giấy Uỷ Quyền Trong Cơ Quan Hành Chính, Giáo Trình Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nêu Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội, Thảo Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quy Phạm Và Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính, Tiểu Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Về Việc Ban Hành Quy Chế Quản Lý Tài Chính Của Tổng Cục Thống Kê, Vai Trò Quan Trọng Nhất Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Bất Hợp Pháp, Nghị Định 112 Xu Phat Vi Pham Hanh Chinh Quan Su, Thảo Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Phần 2, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng Nguyễn Thị Tiểu Laon, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Hải Quan, Cơ Quan Hành Chính Thành Phố, Huyện Trong Tỉnh Okayama, Xử Lý Kỷ Luật Công Chức Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước,

ý Nghĩa Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Tài Chính Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Của Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Thủ Tục Hành Chính Là Gì, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Các Loại Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, ý Nghĩa Của Các Loại Văn Bản Hành Chính, ý Nghĩa Của Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Nghĩa Vụ Quân Sự, ý Nghĩa Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Thuế, ý Nghĩa Của Quyết Định Hành Chính, ý Nghĩa Kiểm Soát Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Quyết Định Số 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chinh Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Và Dân Quân Tự Vệ V, Quyết Định 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Dân Quân T, Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Tập Đoàn Công Nghiệp – Viễn Thông Quân Đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Cơ Quan Chính Trị, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Quận 12 Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Yêu Cầu Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 7, Thủ Tục Hành Chính Quận 12, Cục Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 1, Thủ Tục Hành Chính Hải Quan, Đề Thi Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Tập Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Hà Đông, Thủ Tục Hành Chính Quận Hai Bà Trưng, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Nam Từ Liêm, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Phần Mềm Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận Cầu Giấy, Thủ Tục Hành Chính Quận Bắc Từ Liêm, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng, Mẫu Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khoa Học Quản Lý Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước,

【#7】Xử Lý Trật Tự Xây Dựng Và Những Vấn Đề Pháp Luật

Mặc dù Nghị định số 180/2007/NĐ-CP đã hết hiệu lực thi hành, nhưng các hành vi vi phạm trật tự xây dựng quy định trong nghị định này đã được cụ thể hóa trong Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở (Nghị định số 139/2017/NĐ-CP) và các văn bản quy phạm pháp luật khác về hoạt động xây dựng sau này.

Hành vi vi phạm trật tự xây dựng gồm 4 hành vi vi phạm cơ bản

Xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép xây dựng; Xây dựng công trình sai giấy phép xây dựng do cấp có thẩm quyền cấp; Xây dựng công trình gây lún, nứt, có nguy cơ gây sụp đổ công trình bên cạnh; Xây dựng công trình sai quy hoạch chi tiết 1/500; sai thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (trong trường hợp được miễn giấy phép).

Trên thực tế, hành vi xây dựng công trình gây lún, nứt, sụp đổ nhà bên cạnh thường được giải quyết kịp thời, bởi đây là mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với tập thể. Các khiếu nại trong trường hợp này thường được giải quyết thông qua việc thỏa thuận. Có những việc tuy kéo dài phải thông qua tòa án xét xử, nhưng cơ bản các vụ việc trong những trường hợp vi phạm này được giải quyết ổn thỏa, ít tồn đọng.

Trường hợp xây dựng sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500; sai thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đây là quy định trong một thời gian dài từ khi Luật Xây dựng 2003 có hiệu lực tới Luật Xây dựng sửa đổi năm 2014. Các trường hợp trên mới được sửa đổi yêu cầu phải cấp phép xây dựng.

Nhìn chung, hầu hết các dự án (khu đô thị, khu nhà ở…) được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500. Trong quá trình xây dựng, cơ bản đều vi phạm trật tự xây dựng như: Thu hẹp diện tích mặt đường, diện tích cây xanh, diện tích các công trình hạ tầng xã hội, nhằm tăng mật độ xây dựng nhà để kinh doanh; xây dựng vượt chiều cao so với quy hoạch được duyệt; thay đổi công năng sử dụng công trình… Mặc dù các sai phạm nêu trên là rất lớn đã làm tăng quy mô dân số khu đô thị, quá tải hệ thống hạ tầng gây lụt lội và ách tắc giao thông… Tuy nhiên, hầu hết các vi phạm này đều được hợp thức hóa thông qua việc điều chỉnh quy hoạch của chính quyền địa phương; thậm chí nhiều dự án được điều chỉnh nhiều lần. Chính vì vậy hồ sơ những hành vi vi phạm này tồn tại rất ít, chủ yếu là một vài dự án công trình riêng lẻ độc lập.

Hồ sơ tồn đọng nhiều nhất đối với các vi phạm trật tự xây dựng hiện nay là hồ sơ xây dựng công trình sai giấy phép được cơ quan có thẩm quyền cấp. Theo báo cáo của TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thì loại hồ sơ này còn tồn đọng hàng nghìn công trình vi phạm và tồn tại nhiều năm. Tuy nhiên, đây là số lượng vi phạm rất nhỏ so với thực tế. Đa phần những vi phạm này bị giới truyền thông phát hiện và đăng tải. Số còn lại thì hầu như hồ sơ được khép lại và chính quyền các cấp cũng không cần thiết phải báo cáo…

Hồ sơ vi phạm trật tự xây dựng công trình không phép: Loại hồ sơ này thì nhiều vô kể; thậm chí không thể thống kê hết được. Loại công trình này ngoài những công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ, có nơi xây dựng thành các khu dân cư hàng vài trăm hộ, kéo dài từ năm này qua năm khác nhưng chính quyền cũng không thể xử lý được.

Hầu hết các công trình xây dựng này trên đất có nguồn gốc là đất nông nghiệp, đất 5% của các hộ dân từ thời kỳ hợp tác xã, đất lâm nghiệp. Điển hình như các khu dân cư ở Tứ Liên; các khu dân cư dọc đê sông Hồng Hà Nội; các khu dân cư ở các quận huyện khác trên địa bàn TP. Hà Nội và trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Nhiều khu dân cư theo quy hoạch đô thị được phê duyệt là đất ở, nhân dân xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng chính quyền không giải quyết được vì những khu dân cư này xây dựng vi phạm trật tự xây dựng, chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thậm chí là không được cấp giấy phép xây dựng kể cả giấy phép xây dựng tạm. Vì do nhu cầu thiếu nơi ở, người dân vẫn tiếp tục xây dựng dưới nhiều hình thức mà chính quyền cơ sở không xử lý được.

Hãy xem cách ứng xử của các cấp chính quyền trước những vi phạm này

Hầu hết lãnh đạo các cấp từ cấp xã, phường, quận, huyện đến cấp tỉnh, thành phố, khi trả lời vấn đề này trước giới truyền thông thì đều nói: “Xử lý nghiêm theo pháp luật”, “xây dựng sai thì phải phá dỡ”. Nếu kiểm tra hồ sơ các công trình xây dựng vi phạm thì việc xử lý các vụ việc cơ bản rất đúng “quy trình” (kiểm tra, xử phạt, quyết định đình chỉ, quyết định phá dỡ) nhưng rồi công trình vẫn còn đó và nhiều công trình vi phạm vẫn mọc lên, tồn tại nhiều năm qua nhiều thời kỳ lãnh đạo.

Tất nhiên cũng có nhiều vi phạm được xử lý “nghiêm túc, kịp thời”. Ví như câu chuyện ông Chủ tịch UBND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh. Thời kỳ ông là Chủ tịch huyện thì ở huyện này đã mọc lên nhiều điểm dân cư xây dựng không phép trên đất nông nghiệp nhưng không được xử lý; khi ông được điều động về thành phố giữ cương vị Giám đốc Sở Xây dựng thì ông đã sử dụng lực lượng Thanh tra xây dựng phối hợp với chính quyền địa phương phá dỡ hàng trăm căn nhà xây dựng không phép trên đất nông nghiệp trước đây; đồng thời kiến nghị kỷ luật một loạt Thanh tra xây dựng cấp huyện, lãnh đạo xã. Hậu quả là quyết định của ông được thực hiện rất nghiêm nhưng dẫn đến hàng trăm gia đình mất nhà ở, đời sống khó khăn và những khu đất ấy một số người dân lại tiếp tục về định cư.

Một câu chuyện khác, cách đây vài năm báo chí đồng loạt đưa tin việc xây dựng gần 60 biệt thự không có giấy phép trên diện tích khoảng 5ha đất tại xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội. Chính quyền từ TP. Hà Nội, đến UBND huyện, UBND xã tổ chức biết bao nhiêu cuộc họp và hầu hết đều thống nhất xử lý nghiêm, có nghĩa là phải phá dỡ các công trình này và sau đó hồ sơ lại khép lại. Tới nay điểm dân cư du lịch này vẫn tồn tại nhưng đang mang theo “cái án” vi phạm trật tự xây dựng.

Khi nói chuyện với một số Chủ tịch phường, xã trên địa bàn TP. Hà Nội, đa phần họ rất bức xúc và than phiền rằng, cái nặng nề nhất đối với họ hiện nay là phá dỡ các công trình vi phạm trật tự xây dựng. “Quận, huyện đã giao thành chỉ tiêu cho thực hiện hàng quý, hàng tháng, nhưng nhiều trường hợp chúng tôi không thể thực hiện được, vì công trình đã kéo dài nhiều năm tại sao lúc đó lại không xử lý? Có công trình chiều cao thấp hơn công trình bên cạnh nhưng buộc phải phá dỡ 1 tầng hoặc 2 tầng.

Họ cho rằng, đó là sự thiếu công bằng. Đòi cơ sở pháp luật nào để phá dỡ chúng tôi thấy rất khó khăn. Còn những diện tích đất nông nghiệp, đất 5% người dân đã xây dựng nhiều năm thành khu dân cư với hàng trăm nhà dân làm sao phá dỡ? Kể cả những trường hợp nhà vừa xây lên, người dân yêu cầu nếu phá dỡ thì phải phá tất cả… Còn nhiều vấn đề khác mà chúng tôi rất vướng về mặt pháp luật khi thi hành công vụ. Nếu không thực hiện được chỉ tiêu phá dỡ được giao thì chắc chắn một loạt cán bộ cơ sở lại bị kiểm điểm, kỷ luật”.

Những năm trước đây, cứ vài năm Hà Nội lại rầm rộ tổ chức những cuộc cưỡng chế những công trình sai phép, không phép, công trình siêu mỏng… Mỗi lần đó, mặc dù tổ chức rầm rộ nhưng cũng chỉ dỡ được vài trăm m2 nhà ở. Có điều lạ, hậu quả của việc phá dỡ đó là rất lớn, nhưng những người lãnh đạo các cấp không ai chịu trách nhiệm gì mà lại được ghi vào thành tích để chuẩn bị cho các cuộc bầu bán quyền chức…

Pháp luật nói sao, ứng xử với các vi phạm này như thế nào để đúng luật và hợp lòng dân?

Nhìn chung khẩu hiện thực hiện xử lý nghiêm theo pháp luật là chuẩn, nhưng những người lãnh đạo các cấp cũng cần phải hiểu một cách thấu đáo xem pháp luật nói gì, để xử lý cho phù hợp trong từng trường hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ổn định đời sống, hạn chế tối đa việc lãng phí tiền của của nhân dân, đất nước; đồng thời xác định rõ trách nhiệm đó thuộc về cấp nào, cá nhân nào, chứ không hiểu một cách thuần túy đó là trách nhiệm của chính quyền cơ sở (chủ yếu là chính quyền xã, phường).

Nói về việc xây dựng không phép: Theo quy hoạch chung của TP. Hà Nội, cũng như các quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/200 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì khái niệm về đất nông nghiệp không tồn tại trong các bản đồ quy hoạch xây dựng. Trong quá trình dân cư phát triển việc tách hộ, dân số tăng cơ học trở về sinh sống và hoạt động trong các lĩnh vực nghề nghiệp của thành phố thì các khu dân cư lâu nay gọi là đất nông nghiệp được hình thành.

Xét về quy hoạch thì đây là đất ở, vậy thì tại sao phải phá dỡ? Tại sao chính quyền cấp thành phố không xem xét quy hoạch mới, điều chỉnh những khu dân cư tự phát theo ý đồ quy hoạch; chuyển đổi mục đích sử dụng đất để tạo cho những người dân sống ổn định có trật tự, có chủ quyền về nhà và đất đồng thời cũng thu một lượng tiền lớn trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất; trừ những trường hợp những căn nhà, khu dân cư thật sự đặt sai vị trí mà những vị trí đó theo quy hoạch dùng để xây dựng những công trình đặc biệt.

Qua kiểm tra khu dân cư tự hình thành gần 60 căn biệt thự tại xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội, chúng tôi thấy rằng: Đây là vùng đất hoang vu, đất đai bạc màu không thể trồng trọt được. Rồi ở đây tự mọc lên một khu dân cư gồm những biệt thự có kiến trúc đa dạng, có hệ thống hạ tầng đồng bộ, trên thực tế điểm dân cư này đã như một điểm dân cư du lịch. Vậy tại sao phải phá dỡ, phá dỡ để làm gì, liệu có phá dỡ được không? Và nếu phá dỡ thì chúng ta đã lãng phí mất bao nhiêu tiền của công sức? Tại sao chính quyền thành phố không chỉ đạo xử phạt vi phạm bằng tiền, chủ động hướng dẫn chủ đầu tư lập quy hoạch tổng thể khu vực, chuyển đổi mục đích sử dụng để thu tiền tạo ngân sách cho thành phố; tạo điều kiện cho nhiều điểm dân cư như thế ra đời? Bài toán này hoàn toàn có lời giải, chỉ có điều những người lãnh đạo không dám đương đầu với sự thật và không dám đương đầu với hành vi buông lỏng quản lý của mình, thiếu trách nhiệm và tầm nhìn trong quá trình phát triển đô thị.

Trên địa bàn TP. Hà Nội còn hàng trăm điểm dân cư tương tự như vậy mà đang cần sớm có những lời giải phù hợp để yên dân hay chỉ có một từ là phá dỡ?

Đối với các công trình xây dựng sai giấy phép. Trước khi có Luật Xây dựng 2003, rồi Luật Xây dựng 2003 có hiệu lực, đến Luật Quy hoạch đô thị 2014 có hiệu lực đều khẳng định một trong những yêu cầu tiên quyết để cấp giấy phép xây dựng là phải có quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Còn nhớ, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2012/NĐ-CP về việc cấp phép xây dựng, trong nghị định này quy định điều kiện tiên quyết để cấp phép xây dựng là phải có quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 được cấp có thẩm quyền phê đuyệt.

Chính vì quy định này mà UBND TP. Hồ Chí Minh và UBND TP. Hà Nội đã đề nghị Bộ Xây dựng xin phép Thủ tướng Chính phủ hoãn lại 6 tháng so với hiệu lực thi hành của Nghị định để có thời gian triển khai lập quy hoạch chi tiết 1/500. Mặc dù nghị định này hiện nay không còn hiệu lực nhưng Luật Quy hoạch đô thị 2014 và các văn bản hướng dẫn hiện hành về cấp phép không thay đổi quy định này.

Xin hỏi, UBND TP. Hà Nội, UBND TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh: Việc cấp phép xây dựng hiện nay đặc biệt là đối với việc cấp phép xây dựng nhà dân đã thực hiện trên cơ sở quy hoạch 1/500 được cấp thẩm quyền phê duyệt chưa (trừ trường hợp các dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở, khu đô thị)? Nếu chưa thì việc cấp phép đó có trái pháp luật không? Mặt khác, pháp luật cũng quy định việc quy hoạch chi tiết 1/500 cũng như các loại quy hoạch xây dựng khác phải được công khai minh bạch để cho mọi người dân được biết dù rằng trước khi phê duyệt đã phải xin ý kiến nhân dân khu vực có quy hoạch.

Vậy thì việc dỡ bỏ đi một vài tầng của một công trình xây dựng sai giấy phép xây dựng đã đảm bảo đúng pháp luật chưa? Để trả lời câu hỏi này thì phải biết giấy phép xây dựng đó có dựa trên quy hoạch 1/500 đã được duyệt không? Trong khi hầu hết các khu dân cư ổn định lâu đời trên địa bàn TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh chưa có quy hoạch chi tiết 1/500 được phê duyệt; trong quy hoạch chi tiết 1/500 có hệ thống bản đồ thiết kế đô thị được quy định trong luật mà chưa có thì cơ sở nào để xử lý phá dỡ? Xin nói thêm cái gọi là Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc cũng chỉ là một bản thuyết minh để giải thích thêm cho các đồ án quy hoạch được duyệt đặc biệt là đối với quy hoạch 1/500.

Ngôn ngữ kiến trúc chính thống đã nói rõ trong hệ thống bản vẽ thiết kế đô thị; còn quy chế, chỉ bổ sung những vấn đề mà bản vẽ chưa nói hết. Đây là bản chất của các quy định về pháp luật để khẳng định công trình đó có vi phạm trật tự xây dựng hay không? Hãy chưa vội khẳng định tờ giấy phép xây dựng đó là pháp luật. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đặc biệt là UBND TP. Hà Nội, UBND TP. Hồ Chí Minh cần chỉ đạo cho Sở Kiến trúc quy hoạch, Sở Xây dựng phải tuân thủ pháp luật trong việc thực thi nhiệm vụ, đặc biệt tổ chức thiết kế quy hoạch chi tiết 1/500 ở các khu dân cư đã ổn định lâu đời làm cơ sở để cấp phép xây dựng, đây mới là công việc chính của các cơ quan này. Như vậy trách nhiệm của từng cá nhân, từng tổ chức đã rõ. Những vi phạm về trật tự xây dựng đâu phải chỉ do người dân và trách nhiệm chính quyền cơ sở…

【#8】20 Đề Đọc Hiểu Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn

Đọc – hiểu là một phần quan trọng trong bài thi THPT Quốc gia môn Văn. Nhằm giúp các bạn thí sinh đạt tối đa 3 điểm cho phần thi này, VnDoc.com xin giới thiệu tới các bạn: Tuyển tập 20 đề thi đọc hiểu luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 12. Mời các bạn cùng tham khảo.

Đề đọc hiểu môn Ngữ văn 12

Văn bản 1: Đọc đoạn văn sau (lời bài hát Khát Vọng – Phạm Minh Tuấn) và trả lời các câu hỏi:

Câu 1: Chủ đề bài hát là gì? Phương thức biểu đạt của bài hát trên?

Câu 2: Chỉ ra và phân tích hiệu quả của những biện pháp tu từ được sử dụng trong lời bài hát trên?

Câu 3: Những câu nào trong lời bài hát để lại cho anh (chị) ấn tượng sâu sắc nhất?

Câu 4: Lời bài hát đem đến cho mọi người cảm xúc gì?

Văn bản 2: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

“Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người. Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…”.

(Trích Vai trò của nước sạch với sự sống của con người)

Câu 5: Nêu nội dung của đoạn trích.

Câu 6: Thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn trích trên là gì?

Câu 7: Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt của đoạn văn bản trên.

Câu 1:

  • Chủ đề: Khát vọng ước mơ cao đẹp của con người.
  • Phương thức biểu đạt: Biểu cảm, miêu tả.

Câu 2:

  • Các biện pháp tu từ được sử dụng trong lời bài hát:
  • Tác dụng: Các biện pháp tu từ trên nhấn mạnh vào khát vọng cao đẹp của nhạc sĩ, đặc biệt còn khiến lời ca như giục giã nhắc nhớ con người về lẽ sống tốt đẹp…

Câu 3:

  • Những câu nào trong lời bài hát để lại ấn tượng sâu sắc nhất:
    • Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội
    • Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
    • Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư.
  • Lời bài hát đều rất xúc động bởi ý nghĩa sâu xa. Ba câu thơ trên cho ta bài học về đạo lí sống tốt đep uống nước nhớ nguồn. Hơn thế, còn định hướng cho ta sống có ích như mặt trời đối với vạn vật trên trái đất.

Câu 4:

Lời bài hát đem đến cho mọi người cảm xúc phong phú, cảm phục tự hào về tình yêu cuộc đời tha thiết mà tác giả gửi gắm. Đó là khát vọng hóa thân để cống hiến và dựng xây cuộc đời.

Câu 5:

Vai trò của nước sạch đối với sự sống của con người.

Câu 6:

Thao tác lập luận diễn dịch.

Câu 7:

Đề đọc hiểu Ngữ văn 12 số 2

Văn bản 1: Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 – 4:

(Lưu Quang Vũ – Tiếng Việt)

1- Văn bản trên thuộc thể thơ nào?

2- Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu trong văn bản.

3- Văn bản thể hiện thái độ, tình cảm gì của tác giả đối với tiếng Việt.

4- Viết đoạn văn khoảng 6 – 8 câu, trình bày suy nghĩ của anh (chị) về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở giới trẻ ngày nay.

Văn bản 2: Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 5 – 8:

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”

(Hồ Chí Minh)

5- Anh (chị) hãy đặt tên cho đoạn trích.

6- Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn trên.

7- Đoạn trên viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Đặc trưng?

8- Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để thể hiện lòng yêu nước trong câu: “Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”

1- Thể thơ tự do.

2- Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong văn bản: so sánh:

Tác dụng: hữu hình hóa vẻ đẹp của tiếng Việt bằng các hình ảnh, âm thanh; tiếng Việt đẹp bởi hình và thanh.

3- Văn bản trên thể hiện lòng yêu mến, thái độ trân trọng đối với vẻ đẹp và sự giàu có, phong phú của tiếng Việt.

4- Thí sinh phải viết một đoạn văn ngắn hoàn chỉnh khoảng 6 – 8 câu trình bày được suy nghĩ về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. (Ví dụ: ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong nói và viết, phê phán các hành vi cố tình sử dụng sai tiếng Việt).

5- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

6- Phép thế với các đại từ “đó”, “ấy” , “nó”.

7- Tác giả đã dùng nghệ thuật ẩn dụ khi ngầm so sánh sức mạnh của lòng yêu nước với ” một làn sóng“;

8- Viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận, với những đặc trưng:

  • Tính công khai về quan điểm chính trị.
  • Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận.
  • Tính truyền cảm, thuyết phục.

Đề đọc hiểu Ngữ văn 12 số 3

Văn bản 1: Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 3:

NHỚ ĐỒNG

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!

Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh

Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

Tố Hữu, Tháng 7/1939

Câu 2: Đồng quê hiện lên qua nỗi nhớ của tác giả với những bóng dáng con người nào? Nêu cảm nhận của anh/chị về tình cảm của tác giả dành cho những con người đó.

Câu 3: Nhận xét về hai câu thơ đầu đoạn và hai câu cuối đoạn.

Văn bản 2: Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi từ 4 đến 7:

… Điền thương con lắm. Vút cái, Điền thấy Điền không thể nào đi được. Điền không thể sung sướng khi con Điền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?… Không, không, Điền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời …

Sáng hôm sau, Điền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà.

(Trích Giăng sáng – Nam Cao)

Câu 4: Nội dung chính của văn bản trên là gì?

Câu 5: Ngôn ngữ trong văn bản trên là của ai? Việc sử dụng ngôn ngữ đó có tác dụng gì?

Câu 6: Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật Điền trong văn bản trên? Viết câu trả lời trong khoảng 10 dòng.

Câu 7: Điền quan niệm: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Anh/chị có đồng ý với quan niệm đó hay không? Vì sao?

Gợi ý:

Câu 1: Bài thơ Nhớ đồng sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) tháng 7 năm 1939 vì “tội” tuyên truyền thanh niên, học sinh chống Pháp.

Câu 2: Đồng quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ với hình ảnh con người bình dị, mộc mạc mà lam lũ, vất vả của quê hương: “Mẹ già xa đơn chiếc”, “những hồn thân” “những hồn quen dãi gió dầm sương” “những hồn chất phác hiền như đất”, nhớ qua một “tiêng hò”. Điệp từ nghi vấn “Đâu” đặt ở đầu câu cùng với một loạt từ cảm thán đã diễn tả một cách tự nhiên và chân thực tình cảm gắn bó máu thịt của nhà thơ đối với cuộc sống và con người quê hương. Dường như người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đang chìm đắm trong nỗi nhớ nhung, trong dòng hồi ức miên man không dứt. Người đọc cảm nhận rất rõ tâm trạng cô đơn, đau khổ của người tù lúc này.

Câu 3: Hai câu kết là sự lặp lại của hai câu thơ đầu, tạo nên kết cấu vòng tròn. Bài thơ khép lại nhưng cảm xúc thơ vẫn tiếp tục mở rộng như nhiều vòng sóng đồng tâm, mỗi lúc một lan xa, tỏa rộng không giới hạn.

Câu 4: Nội dung chính của văn bản: Tâm trạng đau khổ, đầy bi kịch và những trăn trở về nghệ thuật của nhân vật Điền.

Câu 6: Cảm nhận về nhân vật Điền:

-Là 1 nhà văn có lí tưởng đẹp đẽ về văn chương nghệ thuật.

-Có cái nhìn chân thực, sâu sắc về cuộc đời, về mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và cuộc sống: nghệ thuật phải vị nhân sinh chứ k phải nghệ thuật vị nghệ thuật.

Câu 7: Quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh:

-Bày tỏ thái độ đồng tình.

-Vì:

+ Con người là đối tượng phản ánh của văn học, hiện thực cuộc sống chính là nguồn cảm hứng, là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học. Con người cũng chính là đối tượng hướng tới của văn học. Nếu xa rời hiện thực, văn chương sẽ trở nên xáo rỗng; không có độc giả, văn chương sẽ “chết”.

+ Văn chương phải cất lên tiếng nói sẻ chia, đồng cảm với con người mới là văn chương chân chính.

Đề đọc hiểu Ngữ văn 12 số 4

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

“… (1) Thật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như ti vi, Ipad, điện thoại Smart, và hệ thống sách báo điện tử trên Internet. Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ … rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.

…(2) Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus… Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát, v.v… càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính hay cái điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay…”

(Trích “Suy nghĩ về đọc sách” – Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục & Thời đại, Thứ hai ngày 13.4.2015)

Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?

Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha”?

Câu 4. Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 tác dụng của việc đọc sách. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

(Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên.

Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên.

Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét tư tưởng của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: “Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi/ Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận so sánh.

Câu 3. Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.

Câu 4. Nêu ít nhất 02 tác dụng của việc đọc sách. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức tự sự.

Câu 6. Hai biện pháp tu từ: lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ “Những mùa quả”…), so sánh (trong câu “Như mặt trời, khi như mặt trăng”).

Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ từ chuyện trồng cây sang khắc sâu sự hy sinh thầm lặng của mẹ; tình yêu, lòng biết ơn công dưỡng dục sinh thành và nỗi lo sợ mẹ sẽ mất đi mà mình vẫn chưa nên người.

Câu 8. Tư tưởng của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ cuối: Hai câu thơ không chỉ là hàm ý lòng biết ơn mà còn là sự ân hận như một thứ “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của đứa con chưa làm thỏa được niềm vui của mẹ. Đó là suy nghĩ của một người con chí hiếu.

Đề đọc hiểu Ngữ văn 12 số 5

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

“Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được. Nó là nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống thở than của một cảnh ngộ tri âm… Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cỡ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành….Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím”

(Trích từ Chùa đàn – Nguyễn Tuân)

Câu 1: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Dấu hiệu để nhận biết phong cách ngôn ngữ ấy?

Câu 2: Đoạn văn này giúp anh/chị nhớ đến tiếng đàn của các nhân vật trong những tác phẩm đã học nào ở chương trình Ngữ Văn THPT? Hãy trình bày nét tương đồng với tiếng đàn trong các tác phẩm ấy.

Câu 3: Biện pháp tu từ chủ yếu nào đã được tác giả sử dụng trong việc miêu tả tiếng đàn ? Tác dụng của biện pháp tu từ ấy?

Câu 4: Thử đặt nhan đề cho đoạn trích.

Các đề đọc hiểu Ngữ văn 12 khác

【#9】Thi Hành Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Hđnd, Ubnd: Những Hạn Chế Cần Sớm Khắc Phục

(QNg)- Sau 7 năm đưa vào thực thi, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của HĐND, UBND đã góp phần quan trọng vào công tác quản lý, điều hành mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, qua thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, tồn tại cần sớm khắc phục.

Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND được ban hành năm 2004. Qua 7 năm thực hiện đã xuất hiện nhiều tồn tại, bất cập, trong đó hầu hết là xuất phát từ sự thiếu quan tâm đến công tác chỉ đạo triển khai thực hiện luật, đặc biệt là việc tự kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản. Tính kỷ luật trong việc tham mưu UBND tỉnh xây dựng dự thảo quyết định, chỉ thị chưa được các sở, ngành tuân thủ triệt để.

Tại hội nghị tổng kết thi hành Luật này, UBND tỉnh đã thừa nhận: Công tác xây dựng và ban hành văn bản ở địa phương còn ở thế bị động. Nhiều cơ quan tham mưu xây dựng văn bản chưa chủ động bám sát chương trình xây dựng văn bản QPPL để kịp thời tham mưu soạn thảo. Chất lượng văn bản ban hành chưa cao.

Cá biệt, có trường hợp cơ quan dự thảo không xác định được văn bản đang ban hành có chứa đựng QPPL hay không, ảnh hưởng đến việc xác định trình tự thủ tục ban hành văn bản. Công tác khảo sát thực trạng quan hệ xã hội chịu tác động của văn bản còn sơ sài; việc lấy ý kiến trước khi ban hành văn bản chưa được chú trọng, chất lượng ý kiến không cao, thậm chí góp ý vào dự thảo một cách qua loa, chiếu lệ. Một số văn bản trước khi ban hành không tổ chức lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp sự điều chỉnh của văn bản.

Trong thực tế thực hiện Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND, cơ quan dự thảo đôi lúc còn cho rằng trước đây có văn bản quy định về lĩnh vực nào thì nay tiếp tục ban hành lại quy định mới để áp dụng cho lĩnh vực đó. Trong khi văn bản trước đây lại không còn phù hợp thực tế và nội dung có nhiều quy định vượt thẩm quyền cho phép, nhưng không bị phát hiện để hủy bỏ.

Đó là chưa kể đến những bất cập ngay trong các quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND và các văn bản hướng dẫn thi hành mà cần thiết phải có sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn, như yếu tố cấu thành, hình thức của văn bản QPPL. Văn bản QPPL mới chỉ đề cập đến tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất mà chưa coi trọng tính khả thi. Trong khi đó, tính khả thi của văn bản QPPL chiếm một vị trí quan trọng, là nhân tố đảm bảo văn bản QPPL có thực sự đi vào cuộc sống hay không. Vấn đề kinh phí để đảm bảo công tác xây dựng, ban hành văn bản cũng chưa được các cấp chú trọng, thậm chí có nhiều địa phương như: Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành chưa bố trí kinh phí cho hoạt động này.

Nói về những tồn tại, bất cập trong thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL, ông Trần Em – Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Phổ cho rằng: “Việc ban hành văn bản QPPL thời gian qua còn mang tính thụ động; mới chỉ chú trọng về số lượng. Nhiều văn bản ban hành sau chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản ban hành trước đó, dẫn đến khó thực thi”. Còn ông Lê Minh Huấn – Chánh văn phòng UBND tỉnh cho biết: “Văn bản QPPL đôi khi ban hành chưa phù hợp, chưa có tính khả thi cao. Một số địa phương ban hành văn bản không tuân thủ kế hoạch đề ra, khi có kế hoạch không ban hành, ngược lại không nằm trong kế hoạch lại cứ ban hành. Việc lấy ý kiến đóng góp trước khi ban hành văn bản dường như đều phó thác cho cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản”.

Trao đổi về vấn đề này, ông Lê Quang Thích – Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương cần tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL đã ban hành, để điều chỉnh, hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp. Đồng thời, phát hiện kiến nghị cơ quan có thẩm quyền những chồng chéo, mâu thuẫn trong văn bản QPPL để có biện pháp khắc phục, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi cao trong quá trình thi hành văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp đã ban hành. Riêng Sở Tư pháp đẩy mạnh công tác tập huấn nghiệp vụ, để các cấp, các ngành nắm vững quy định của luật, từ đó tham mưu xây dựng, ban hành văn bản QPPL hiệu quả, chất lượng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.

http://baoquangngai.com.vn/channel/2024/201202/Thi-hanh-luat-ban-hanh-van-ban-quy-pham-phap-luat-cua-HdNd-uBNd-Nhung-han-che-can-som-khac-phuc-2133475/

【#10】Soạn Bài: Những Câu Hát Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước, Con Người Trang 37 Văn 7

a. Bài ca là lời của một người và chỉ có một phần.

b- Bài ca có hai phần: Phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là : lời đáp của cô gái.

c- Hình thức đối đáp này có rất nhiều trong ca dao, dân ca.

d- Hình thức đối đáp này không phố biến trong ca dao, dân ca

Gợi ý: Nhận xét về bài 1, em đồng ý với các ý kiến:

a) Bài ca dao có hai phần: phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần hai là lời đáp của cô gái.

b) Hình thức đối đáp này có rất nhiều trong ca dao – dân ca.

Ví dụ:

– Đố anh chi sắc hơn dao,

Chi sâu hơn bể, chi cao hơn rời?

– Em ơi mắt sắc hơn dao,

Bụng sâu hơn bể, trán cao hơn trời.

– Cái gì nó bé nó cay,

Cái gì nó bé nó hay của quyền?

– Hạt tiêu nó bé nó cay

Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền.

– Em đố anh từ Nam chí Bắc

Sông nào là sông sâu nhất?

Núi nào là núi cao nhất nước tá?

Anh mà giảng được cho ra

Thì em kết nghĩa giao hòa cùng anh.

– Sâu nhất là sông Bạch Đằng

Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

Cao nhất là núi Lam Sơn

Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.

2: Trong bài 1, vì sao chàng trai, cô gái lại dùng những địa danh với những đặc điếm (của từng địa danh) như vậy để hỏi – đáp?

Trong bài 1 chàng trai, cô gái lại hỏi – đáp về những địa danh với những đặc điểm (của từng địa danh) như vậy, vì họ muốn thử tài nhau, thử tài về kiến thức địa lí, lịch sử. Qua đó, cô gái cũng như chàng trai có dịp thăm dò sự hiểu biết, trí thông minh của người bạn để làm quen, bày tỏ tình cảm, kết thân.

Qua lời hỏi và lời đáp, có thể thấy chàng trai và cô gái đều là những người lịch lãm, thông minh, sâu sắc, tế nhị. Họ có niềm tự hào, tình yêu đối với quê hương đất nước.

3: Phân tích cụm từ “Rủ nhau” và nêu nhận xét của em về cách tả cảnh của bài 2. Địa danh và cảnh trí trong bài gợi lên điều gì? Suy ngẫm của em về câu hỏi cuối bài ca: “Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”

Trong bài 2, cụm từ “Rủ nhau” cho thấy cả những người rủ và người được rủ đều tỏ ra thích thú muốn được tham quan cảnh đẹp Hồ Gươm. Đây là một thắng cảnh thiên nhiên, đồng thời là một di tích lịch sử, văn hóa của đất nước ta.

Cách tả cảnh của bài ca dao này là gợi chứ không tả, tức chỉ nhắc lần lượt các địa danh: Kiếm Hồ, Thê Húc, Ngọc Sơn… Nhưng như thế cũng đủ cho người nghe cảm thây háo hức, vì đó là những cảnh trí tiêu biểu của hồ Hoàn Kiếm.

Địa danh gắn liền với truyền thông đấu tranh (sự tích Hồ Gươm) dân tộc. Cảnh trí đa dạng có hồ, cầu, có chùa, đền đài, tháp… tạo thành cảnh thiên nhiên thơ mộng của đất Thăng Long. Vì thế, địa danh và cảnh trí trong bài gợi lên niềm tự hào về đất nước, về lịch sử và văn hóa.

“Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”

Câu hỏi cuối bài là lời nhắn nhủ nhắc chúng ta phải nhớ đến công lao xây dựng đất nước của các đấng tiền nhân. Câu hỏi còn nhắc chúng ta cùng các thế hệ mai sau phải biết tiếp tục xây dựng, giữ gìn đất nước cho xứng với truyền thống lịch sử, văn hóa nghìn đời của dân tộc.

4: Nhận xét của em về cảnh trí xứ Huế và cách tả cảnh trong bài 3. Em hãy phân tích đại từ “ai” và chỉ ra những tình cảm ẩn chứa trong lời mời, lời nhắn gửi: “Ai vô xứ Huế thì vô…”

Cảnh trí xứ Huế rät đẹp và thơ mộng. Đường vào “quanh quanh” uốn khúc, đây có non, đó có nước quần tụ làm nên một không gian mênh mông khoáng đạt. Non thì xanh, nước thì biếc, màu sắc ấy nhuộm cho Huế thêm tươi mát, êm đềm. Khung cảnh Huế sông động về đường nét, quyến rũ về màu sắc chẳng khác nào “tranh họa đồ” nên đã làm sây đắm lòng người.

– Bài ca dao này dù có dùng định ngữ (quanh quanh), dùng biện pháp so sánh (như tranh họa đồ), nhưng chủ yếu vần là gợi hơn là tả. Tuy nhiên cảnh đẹp xứ Huế vẫn hiện lên thật sinh động.

– “Ai” trong lời mời, lời nhắn gửi “Ai vô xứ Huế thì vô” là một đại từ phiếm chỉ có nhiều nghĩa. Nó có thể chỉ một người hoặc nhiều người, có thể chỉ người mà tác giả bài ca dao trực tiếp nhắn gửi hoặc hướng tới người chưa quen biết.

Lời nhắn gửi trên ẩn chứa một niềm tự hào, lòng yêu mến cảnh đẹp xứ Huế, muôn được cùng nhiều người chia sẻ nỗi niềm ấy. Ngoài ra, biết đâu, lời mời

5: Hai dòng thơ đầu bài 4 có những gì đặc biệt về từ ngữ? Nhửng nét đặc biệt ấy có tác dụng, ý nghĩa gì?

Hai dòng thơ đầu bài 4, khác dòng thơ bình thường, được kéo dài ra tới 12 tiếng, có sử dụng các điệp từ, đảo từ và đối xứng (đứng bên tê đồng – đứng bẽn ni đồng, mênh mông bát ngát – bát ngát mênh mông).

Cách sử dụng các câu thơ kéo dài như thế có tác dụng gợi lên sự dài rộng, to lớn của cánh đồng. Và các điệp từ, đảo từ” cho thấy dù đứng ở góc độ nào cánh đồng vẫn bao la, mênh mông. Sự rộng lớn ấy và sự trù phú của cánh đồng báo hiệu một cuộc sống đầy hạnh phúc và tự tin.

6: Phân tích hình ảnh cô gái trong hai dòng cuối bài 4.

Lúa đòng đòng là lúa sắp trổ bông; nắng hồng ban mai là nắng mới lên. Sự so sánh cô gái như “chẽ lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai” làm nổi bật hình ảnh một cô gái đương xuán, phơi phới, đầy sức sống.

Ở hai dòng đầu của bài ca dao là một cánh đồng bao la bát ngát. Hai dòng dưói, bây giờ xuất hiện một cô thôn nữ đã mảnh mai dường như còn mảnh mai hơn. Nhưng sự phì nhiêu của cả cánh đồng “Mênh mông bát ngát – bát ngát mênh mông” kia là có một phần công sức của đôi tay nhỏ bé của cô gái. Đứng giữa trời đất, đôi mắt cô gái sáng lẽn niềm tự hào, đôi môi cô nở nụ cười sung sướng trước khi những thành quả lao động của mình đang dàn trải ra trước mặt.

7: Bài 4 là lời của ai? Người ấy muốn biểu hiện tình cảm gì? Em có biết cách hiểu nào khác về bài ca này và có đồng ý với cách hiếu đó không? Vì sao?

Bài 4 là lời của chàng trai. Người ấy thấy cánh đồng thật là mènh mông bát ngát và thấy cô gái mảnh maì với vẻ đẹp đương xuân đầy sức sống. Chàng trai đã ngợi ca cánh đồng, ngợi ca vẻ đẹp cô gái và qua đó bày tỏ tình cảm của mình một cách tế nhị đối với cô gái.

– Bài ca dao này có thể hiểu một cách khác: Đây là lời của một cỏ gái. Đứng trước cái mênh mông của cánh đồng, cô gái nghĩ về thản phận mình như “chẽn lúa đòng đòng. Phất phơ dưới ngọn nấng hồng ban mai”, đẹp thì có đẹp nhưng sớm nở tối tàn, rồi sẽ ra sao trước cái biển lúa khổng lồ. Từ “phất phơ” bộc lộ rõ tâm trạng lo lắng này. Và nỗi lo đó cũng giống như nỗi lo của cò gái trong bài ca dao:

“Thân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

(Các em cũng có thể còn nhiều cách hiểu khác. Điều quan trọng là phải lí giải được cách hiểu của mình sao cho phù hợp với lời bài ca dao).