【#1】Một Số Vấn Đề Việc Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết 26 Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa X Về Tam Nông Của Nước Ta.

Để phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa cần phải có các giải pháp đồng bộ từ Chính phủ và các cơ qua hữu quan, khơi dậy sức mạnh tự thân của người nông dân với vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp, trong đó cần chú trọng mộ số vấn đề sau:

Thứ nhất, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn. Trong đó cần tập trung hình thành và phát triển vùng sản xuất nông nghiêp hàng hóa với các sản phẩm nông nghiệp đặc thù của Việt Nam hoặc Việt Nam có lợi thế so sánh với 3 trục sản phẩm chính: sản phẩm quốc gia, sản phẩm vùng miền, sản phẩm làng xã (thôn, bản), có năng xuất, chất lượng cao, có sức cạnh tranh và giá trị tăng cao (qua chế biến và chế biến sâu) nhằm nâng tỷ trọng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng hóa xuất khẩu, dii đôi với bảo vệ môi trường và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Khuyến khích tập trung ruộng đất và quy hoạch phát triển vùng chuyên môn hóa, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn; Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường”. Ưu tiên phát triển doanh nghiệp nông nghiệp với phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phù hợp với điều kiện từng vung; áp dụng các công nghệ hiện đại trong sản xuất và chế viến nâng cao giá trị gia tăng trong nông sản, đáp ứng nhu cầu thị trường; đẩy nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất.

Thứ hai, xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân như tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đẩng: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện đẻ nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; họ chính là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, cần khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; dồng thời bảo đảm đến những quyền lợi chính đáng của họ. Vai trò chr thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thể hiện ở chỗ: trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn; tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới: xây dựng và gìn giữ đời sống văn hóa – xã hội, môi trường ở nông thôn; đảm bảo an ninh trật tự xã hội ở nông thôn, hệ thống chính trị cơ sở.

Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khao học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc XĐGN làm giàu hợp pháp.

Thứ ba, xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh giàu đẹp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân nhằm khắc phục những hạn chế bấp cập trong phát triển nông thôn nước ta hiện nay. Khi triển khai chương trình xây dựng nông thôn cụ thể, vững chắc trong từng gia đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam; đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; tạo môi trường thuận lợi đẻ khai thác khả năng đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động.

Tiếp tục thực hiện tốt cơ cấu ngành nông nghiệp:

Một là, kiên trì thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển các sản phẩm chủ lực.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện tích tụ ruộng đất, làm tốt các công tác quy hoạch, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sản xuất và chế biến nông sản.

Ba là, xây dựng thương hiệu sản phẩm; tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế, có khả năng cạnh tranh và đáp ứng đòi hỏi của thị trường.

Bốn là, phát triển công nghiệp sản xuất nông nghiệp (sản xuất nông nghiệp theo tư duy công nghiệp), nâng cao năng xuất, chất lượng; chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ sang thành vùng sản xuất hàng hóa lớn,.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, quỹ tín dungjcar về số lượng, hạn mức vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, để thu hút doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, ưu tiên doanh nghiệp tại chỗ, nhất là vùng biên giới và hải đảo.

Sáu là, phât triển HTXvaf hình thành mạng lưới liên kết với HTX, Hội Nông dân, tạo công ăn việc làm, nâng cao hơn điều kiện sống của người dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường cả cải cahs thông lệ tài chính cho nông nghiệp, nông thôn phù hợp với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đặc điểm sản xuất nông lâm ngư nghiệp, như cho vay chuỗi phát triển giá trị nông sản, cho vay nông nghiêp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, phát triển vốn rừng. Huy động nguồn lực đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ.

Bảy là, Nhà nước hỗ trợ các chương trình “mỗi xã một sản phẩm” dựa trên thế mạnh của các sản phẩm đặc thù, sản phẩm chủ lực và nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, phát triển mạnh công nghiệp chế biến và dịch vụ ở nông thôn, trong đó vai trò của doanh nghiệp là trọng tâm để hướng dẫn nông dân tổ cssanr xuất thông qua mô hình HTX kiểu mới, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến nhu cầu của thị trường. Khuyến khích tăng cường các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa với quy mô năng xuất, chất lượng ngày càng cao, an toàn thực phẩm được coi trọng. Ngoài ra các cấp chính quyền cần thực hiện nghiêm túc, quyết liệt những chính sách, chương trình hành động phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng và Nhà nước ban hành./.

【#2】Bộ Chính Trị Cho ý Kiến Về Việc Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 7 (Khóa X) Về Nông Nghiệp, Nông Dân, Nông Thôn

Thứ sáu, 14/03/2014 23:16

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu kết luận Hội nghị. (Ảnh: dangcongsan.vn)

Chuyển biến tích cực, toàn diện

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Sơ kết, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã huy động được cả hệ thống chính trị tham gia và được triển khai thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc, sâu rộng; được người dân hưởng ứng tích cực.

Nền nông nghiệp của đất nước tiếp tục phát triển theo hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa với năng suất và chất lượng ngày càng cao. Trong giai đoạn 2009 – 2013, GDP nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 2,9%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15,2%/năm; năm 2013 đạt khoảng 27,5 tỷ USD. Quỹ đất lúa được quản lý chặt chẽ hơn. Trình độ thâm canh hầu hết các loại cây trồng được nâng cao; năng suất, sản lượng nhiều loại cây trồng liên tục tăng lên. Riêng sản lượng lúa tăng 5,4 triệu tấn (14%), cao su tăng 38,4%. Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp tiếp tục phát triển. Chăn nuôi trang trại đang từng bước thay thế hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Sản lượng thịt, trứng, sữa đều tăng.

Công tác bảo vệ rừng, trồng rừng có chuyển biến tích cực, độ che phủ rừng tăng; năm 2013 đạt khoảng 41%. Khai thác hải sản tiếp tục được phát triển theo hướng đẩy mạnh đánh bắt xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nuôi trồng thủy sản tăng mạnh. Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, hiện chiếm 61% cơ cấu.

Kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới. Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào mạnh mẽ lan rộng cả nước, đã góp phần thay đổi diện mạo, cải thiện điều kiện sống của dân cư ở nhiều vùng nông thôn.

Thu nhập của đại bộ phận người dân nông thôn tiếp tục được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; an sinh xã hội được bảo đảm; các điều kiện về y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục, văn hóa tiếp tục được cải thiện, dân chủ ở cơ sở được phát huy tốt hơn; trong 4 năm 2009 -2013, cả nước đã giải quyết việc làm cho gần 5 triệu lao động nông thôn và gần 14 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư nhận định, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết cũng đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém: Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đang có xu hướng chậm lại. Chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nhiều loại sản phẩm hàng hóa còn thấp; quy mô nhỏ lẻ, manh mún, năng suất chưa cao; có một số sản phẩm nông nghiệp đang trong tình trạng khủng hoảng thừa; an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề bức xúc; thu nhập và mức sống của khu vực nông thôn còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn còn cao; hệ thống hạ tầng nông thôn, nhất là các vùng miền núi vẫn còn lạc hậu, chậm được cải thiện; ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn chậm được khắc phục và có xu hướng gia tăng; sử dụng tài nguyên đất đai, rừng, biển còn kém hiệu quả…

Về nhiệm vụ từ nay đến năm 2021, Bộ Chính trị cơ bản nhất trí với những mục tiêu, chủ trương, giải pháp đã đề ra. Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, các cấp, các ngành cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; làm rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; xác định phát triển nông nghiệp là nền tảng then chốt, xây dựng nông thôn mới là căn bản và nông dân là chủ thể; coi đây là những vấn đề chiến lược trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước thời gian tới.

Toàn cảnh Hội nghị. (Ảnh: dangcongsan.vn)

Tổng Bí thư nêu rõ, mục tiêu cuối cùng của quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn thông qua triển khai có hiệu quả nhiệm vụ hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn theo cơ chế thị trường và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và nguồn vốn.

Tổng Bí thư yêu cầu phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào chính mặt trận nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn với tái cơ cấu nền nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, gắn với đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Trong đó, phải xác định cụ thể những lĩnh vực có lợi thế để ưu tiên tập trung thực hiện; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học – công nghệ nhằm giải quyết những vấn đề bức thiết trong sản xuất nông nghiệp hướng vào mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của nông sản, ưu tiên trước hết cho các sản phẩm chủ lực.

Tổng Bí thư nhấn mạnh: Cần có định hướng tổ chức, hình thành và phát triển các khu vực, các vùng sản xuất lớn, công nghệ cao với sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Trước hết, cần ban hành các luật cần thiết để tạo môi trường minh bạch cho nhà đầu tư lựa chọn lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; điều chỉnh cơ chế, chính sách theo hướng khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế vào phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chế biến, tiêu thụ nông sản, đầu tư vào các ngành nghề sử dụng nhiều lao động địa phương để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

Tổng Bí thư yêu cầu, cần thực hiện tốt công tác quy hoạch, xác định cơ cấu kinh tế từng vùng, từng địa phương cho phù hợp, phát huy được lợi thế của nông nghiệp; bảo đảm làm đồng bộ và có chất lượng các quy hoạch theo ngành sản xuất (chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp, ngư nghiệp…), lĩnh vực (đất đai, lao động, dân cư, cơ sở hạ tầng…), quy hoạch các vùng và địa phương; kiên quyết tổ chức thực hiện quản lý nghiêm theo quy hoạch. Trước hết, cần tổ chức thực hiện tốt quy hoạch 3,8 triệu ha đất trồng lúa, nhằm bảo đảm an ninh lương thực lâu dài cho đất nước. Xác định rõ và tổ chức thực hiện tốt các biện pháp phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với từng vùng, miền và địa phương để phát huy tối đa lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hướng tới mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm môi trường sinh thái.

Tổng Bí thư lưu ý, phải thực hiện hiệu quả hơn các chương trình và chính sách giảm nghèo. Trong đó, cần ưu tiên hợp lý hơn cho các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc các vùng miền núi, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, khu vực biên giới, hải đảo, vùng bãi ngang, an toàn khu; nâng cao kiến thức và năng lực cho người nghèo; cho vay vốn ưu đãi để khuyến khích người nghèo vươn lên thoát nghèo, làm giàu. Quan tâm hơn nữa đến vấn đề xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, đảm bảo vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngoài việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, cần tập trung đào tạo nâng cao dân trí, đào tạo nghề phù hợp, tăng cường các điều kiện để nông dân ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất, năng suất lao động; tham gia có hiệu quả các chương trình phát triển nông nghiệp và phát huy vai trò giám sát, làm chủ trong xây dựng nông thôn mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, các cấp uỷ đảng tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết; tiến hành sơ kết, tổng kết nhân rộng các mô hình có hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các mục tiêu, giải pháp và nội dung của Nghị quyết, đặc biệt là những vướng mắc về cơ chế, chính sách và phương thức tổ chức; nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng của nhân dân, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước./.

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

【#3】Sơn Hòa: Triển Khai Kịp Thời Các Nghị Quyết Số 18, 19, 26 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii

Trong hai ngày 11 và 12/6/2019, Đoàn kiểm tra 4496 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, do đồng chí Nguyễn Đình Phúc – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm Trưởng đoàn đã làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa về tình hình thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung Đảng khóa XII, gắn với Kế hoạch số 53-KH/TU, ngày 05/3/2018 của Tỉnh ủy “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung Đảng khóa XII, gắn với Kế hoạch số 58-KH/TU, ngày 11/4/2018 của Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung Đảng khóa XII, gắn với Kế hoạch số 76-KH/TU, ngày 17/10/2018 của Tỉnh ủy về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Qua kiểm tra cho thấy, Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa đã quán triệt đầy đủ, kịp thời nghị quyết số 18, 19, 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, gắn với các kế hoạch số 53, 58, 76 của Tỉnh ủy; đã chủ động cụ thể hóa xây dựng, ban hành văn bản để triển khai thực hiện phù hợp với tình hình của địa phương; tổ chức quán triệt đến cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện; đồng thời chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chủ động tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Kết quả cụ thể như sau:

Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Kế hoạch số 53-KH/TU

Huyện đã sáp nhập phòng Y tế vào Văn phòng HĐND & UBND huyện; thực hiện xong chủ trương Trưởng ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Trưởng ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch UBMT Tổ quốc; đã xây dựng Đề án vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức; thực hiện tinh giảm biên chế tính đến tháng 5/2019 là 10 biên chế, đạt 0,8% so với tổng số biên chế giao cho các cơ quan, đơn vị năm 2021; đã hoàn thành Đề án hợp nhất Văn phòng Huyện ủy với Văn phòng HĐND và UBND huyện, chờ Nghị định của Chính phủ để triển khai thực hiện; thực hiện chủ trương bố trí đồng chí bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, buôn, khu phố, đến nay có 38/76 (đạt 50%); bố trí Bí thư Huyện ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND huyện và 7/14 xã, thị trấn bố trí bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch HĐND xã; đồng thời triển khai thực hiện mô hình bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch UBND xã ở 01/14 xã, thị trấn…

Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kế hoạch số 58-KH/TU

Đã thực hiện sáp nhập, hợp nhất 10 trường tiểu học, trung học cơ sở thành 01 trường tiểu học và 04 trường tiểu học – trung học cơ sở, theo đó giảm 05 trường; đã trình hoàn chỉnh đề án và gửi Sở Nội vụ thẩm định và trình UBND tỉnh có ý kiến đối việc với sáp nhập, hợp nhất 12 trường thành 06 trường; đã xây dựng Đề án vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 666/QĐ-UBND ngày 07/5/2019; đã thực hiện phê duyệt phương án tự chủ đối với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện; đã trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt Đề án hợp nhất Nhà văn hóa thiếu nhi Nguyễn Hữu Thọ thuộc Huyện đoàn, Đội thông tin lưu động và thư viện huyện thuộc Phòng Văn hóa – Thông tin, Đài Truyền thanh – Truyền hình, Ban Quản lý khu Di tích lịch sử trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ thành Trung tâm Văn hóa – Truyền thanh trực thuộc UBND huyện…

Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW và Kế hoạch số 76-KH/TU

Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban Quy định số 2654-QĐ/TU để triển khai thực hiện quy định về trách nhiệm của đồng chí Bí thư Huyện ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân; Quyết định số 736-QĐ/HU về việc ban hành Quy chế đối thoại trực tiếp với nhân dân; Quyết định số 438-QĐ/HU thực hiện Đề án đưa cán bộ cấp xã về học việc tại các cơ quan chuyên môn cấp huyện, đến nay qua 6 đợt triển khai đã có 86 lượt cán bộ cấp xã về học việc tại 21 cơ quan cấp huyện; Kế hoạch số 79-KH/HU thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; đã thực hiện việc bố trí 01 bí thư cấp ủy, 04 chủ tịch UBND cấp xã không phải là người địa phương; đã ban hành Quy định số 03-QĐ/HU về công tác phụ trách thôn, buôn, khu phố, theo đó phân công nhiệm vụ đối với các đồng chí huyện ủy viên, trưởng, phó các cơ quan, phòng, ban, ngành, mặt trận và các hội, đoàn thể huyện mỗi tháng một lần về địa bàn được phân công để nắm tình hình, tham gia góp ý kiến với chi bộ, ban nhân dân thôn, buôn, khu phố…

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện các nghị quyết số 18, 19, 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, gắn với các kế hoạch số 53, 58, 76 của Tỉnh ủy trên địa bàn huyện cũng còn những mặt tồn tại, hạn chế như: Chưa thực hiện việc phân công cán bộ, đảng viên cư trú tại địa phương phụ trách hộ gia đình nơi cư trú; kết quả thực hiện tinh giản biên chế còn thấp so với theo Kế hoạch được UBND tỉnh phê duyệt; chậm tổ chức thi tuyển viên chức theo thẩm quyền…

Qua kết quả kiểm tra, Đoàn kiểm tra đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo rà soát các nhiệm vụ đã được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh giao để triển khai thực hiện tốt các nghị quyết số 18, 19, 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và các kế hoạch số 53, 58, 76 của Tỉnh ủy, các văn bản chỉ đạo mới của Trung ương và Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Hồng Thái

Liên kết website

Đang truy cập: 1

Hôm nay: 353

Hôm qua: 742

Tháng hiện tại: 26,828

Tháng trước: 26,828

Tổng lượt truy cập: 2,567,320

【#4】Đề Cương Giới Thiệu Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 26

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực

Đại tá Huỳnh Văn Mầm

Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Đây là Nghị quyết chuyên đề của Trung ương về công tác cán bộ, nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất trong nhiệm kỳ mà Đại hội XII của Đảng đề ra.

Một là, vì sao Ban Chấp hành Trung ương phải ban hành Nghị quyết về công tác cán bộ?

Hai là, thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay.

Bốn là, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và những trọng tâm, nội dung đột phá.

Năm là, một số vấn đề về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết.

I. VÌ SAO BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG PHẢI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT MỚI VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ?

c án bộ và công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của cách mạng và sự phát triển của đất nước.

– Như chúng ta biết, xây dựng đường lối chính trị, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ là ba vấn đề cốt yếu, quyết định sự thành bại của một đảng cầm quyền. Song, suy đến cùng thì cán bộ có vai trò quyết định, bởi vì: đường lối chính trị của Đảng cũng do cán bộ xây dựng nên; tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị cũng do cán bộ thiết lập ra và khi đã có đường lối chính trị, tổ chức bộ máy thì cán bộ cũng là người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống.

– Từ kinh nghiệm và thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: ” Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém“. Người còn nói: “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.

– Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ ” then chốt” thì công tác cán bộ là ” then chốt” của nhiệm vụ ” then chốt “.

Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước: Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN; giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước – Thị trường – Xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với nền kinh tế số, kinh tế tri thức và sự biến đổi khí hậu; công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, khó và phức tạp, đòi hỏi Đảng ta phải xử lý, giải quyết một cách khoa học, hiệu quả cả về lý luận và thực tiễn.

Hơn nữa, chúng ta phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong bối cảnh khu vực và thế giới luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Sự tác động thường xuyên, mạnh mẽ, nhiều chiều từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội…

qua 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp đã trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Thứ ba, Tuy nhiên, cho đến nay Chiến lược cán bộ có một số nội dung không còn phù hợp, cần được điều chỉnh, bổ sung và phát triển để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, khuyết điểm và bất cập, trong đó có những khuyết điểm, yếu kém kéo dài, nhưng chậm được khắc phục, đổi mới như:

(1) Công tác cán bộ đổi mới còn chậm so với đổi mới kinh tế.

(2) Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh.

(4) Tình trạng chạy chức, chạy quyền , … còn diễn ra nhưng chậm được khắc phục.

Thứ tư , sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta đang đứng trước sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo, từ lớp cán bộ được rèn luyện, thử thách trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa; sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước có các thể chế chính trị khác nhau.

chúng ta luôn luôn phải động viên, khích lệ, lan tỏa những thành tựu đã đạt được sau 30 năm đổi mới nhưng không chủ quan, thỏa mãn, lơ là, mất cảnh giác, nhất là trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, Nhà nước ta bằng Chiến lược “Thứ năm , diễn biến hòa bình ” với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn; chúng lợi dụng triệt để những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước ta nói chung và về công tác cán bộ nói riêng để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta gây hoang mang, hoài nghi, phân tâm nhằm chia rẽ nội bộ, tác động xấu đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ các cấp.

Như vậy, trong tình hình, bối cảnh nêu trên và để cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tạo sự thống nhất, đồng bộ với thực hiện các nghị quyết 4, 5, 6 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, việc ban hành Nghị quyết “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” là rất cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của công tác xây dựng Đảng trong những năm tới.

Trên cơ sở Tổng kết 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:

– Đ ội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn. Số cán bộ có trình độ đại học, sau đại học tăng nhanh.

– Trình độ, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ có nhiều tiến bộ. Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, cơ bản, bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ.

– Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có phẩm chất, năng lực và uy tín. Cán bộ cấp chiến lược luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, dân tộc và CNXH; có tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược, có khả năng hoạch định đường lối, đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

– Hầu hết cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

– Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện còn nhiều khó khăn.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu xảy ra ở nhiều nơi.

– Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

– Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương còn cao.

– Còn thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số còn thấp.

– Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp.

Nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại khó, ngại khổ.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp; còn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có không ít cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật.

– Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, luật, nghị định và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để thực hiện. Các quy trình trong công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn.

– Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương có từ khóa IX đạt được kết quả bước đầu.

– Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ đã được coi trọng hơn; kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm, cả cán bộ đương chức hoặc đã nghỉ hưu và không có “vùng cấm“, không có ” ngoại lệ ” đã góp phần đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

– Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, nhìn chung chưa phản ánh đúng thực chất.

– Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”, còn dàn trải, khép kín, dựa nhiều vào tuổi.

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới về nội dung và phương pháp; chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Chủ trương bố trí một số chức danh (9 chức danh) lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương thực hiện chưa đạt yêu cầu.

– Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình còn xảy ra ở một số nơi, trong đó có cả người nhà, người thân của một số cán bộ lãnh đạo gây bức xúc trong dư luận xã hội.

– Công tác tuyển dụng còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa, thiếu trọng tâm, trọng điểm hiệu quả thấp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách tiền lương, nhà ở, thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.

– Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình ( Quy định 67-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị ban hành năm 2007, đến 2021 mới được bổ sung thành Quy định 105-QĐ/TW.

– Việc chỉ đạo, triển khai một số chủ trương thí điểm chưa thực sự quyết liệt, chậm sơ kết, tổng kết như việc đại hội đảng bộ cơ sở bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; việc sắp xếp tổ chức, kiêm nhiệm để tinh giản biên chế ...

– Việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, thiếu chủ động, mới chỉ tập trung được kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm; việc kiểm tra theo chuyên đề, chuyên ngành còn hạn chế. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định.

– Tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối (Hiện nay, Ban ổ chức của cấp ủy, cơ quan nội vụ của chính quyền các cấp, Ban Công tác đại biểu của Quốc hội có chức năng tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ. Nếu không phối hợp chặt chẽ, hiệu quả rất dễ xảy ra thiếu thống nhất, phát sinh nhiều thủ tục hành chính không cần thiết).

– Phẩm chất, năng lực và uy tín của một số cán bộ làm công tác cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Chậm sơ kết, tổng kết thực tiễn; thiếu nghiên cứu cơ bản và phát triển lý luận về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hiệu quả để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mứcThứ tư: .

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng các mối đe dọa truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. C ông cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao, Việt Nam ngày càng có vị thế và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Tuy nhiên: Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.

Nghị quyết Trung ương lần này xác định 05quan điểm sau:

cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “Một là, then chốt ” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành một cách khoa học, thận trọng, thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả. Đ ầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. C huẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Ba là t ôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và thu hút, trọng dụng nhân tài.

Thứ tư, q uán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa xây và chống; giữa đức và tài; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Các quan điểm chỉ đạo nêu trên hợp thành hệ thống quan điểm đồng bộ, toàn diện, thể hiện rõ tinh thần kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển; vừa mang tính nguyên tắc chỉ đạo, vừa định hướng cách tiếp cận, phương pháp khoa học cho việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong những năm tới.

có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đủ sức lãnh đạo Nghị quyết đề ra m ục tiêu tổng quát là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến l ược công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước), trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể, với 3 mốc thời gian:đến năm 2021, năm 2025 và năm 2030. Việc xác định các mục tiêu cụ thể trong Nghị quyết căn cứ vào kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận trước đây và tình hình thực tế hiện nay. Các mục tiêu đề ra cho từng giai đoạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng và có tính khả thi, nhưng đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu mới có thể đạt được. Cụ thể là:

Đến năm 2025, Nghị quyết đề ra 03 mục tiêu lớn:

Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:

(Tại sao lại đặt ra mục tiêu làm việc trong môi trường quốc tế? Vì chúng ta đang tích cực, chủ động hội nhập (cả địa phương, Trung ương, các cấp, các ngành); nước ta có vị trí là thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế. Đủ k hả năng làm việc trong môi trường quốc tếhiểu biết rộng; sử dụng được một trong các ngoại ngữAnh, Pháp, Nga, Trung, Tây Ban Nha, Arab; sử dụng thành thạo máy tínhkỹ năng, chuyên môn phù hợp , hiểu biết về thông lệ và luật pháp quốc tế, có khả năng làm việc độc lập, làm việc nhóm…

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 – 25% dưới 40 tuổi; từ 50 – 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc phù hợp với cơ cấu dân cư.

Căn cứ vào các quan điểm, mục tiêu nêu trên và tình hình thực tế,Nghị quyết đề ra 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn chủ yếu; đồng thời xác định 02 trọng tâm và 05 đột phá để thực hiện.

Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm mới sáng tạo, có hiệu quả(2) .

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc.

(4) Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài.

Các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình t hể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ b ảo đảm đ ồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế.

Đánh giá đa chiều (360 độ) là c ấp trên đánh giá cấp dưới; đồng cấp đánh giá; cấp dưới đánh giá cấp trên; bản thân tự đánh giá.

Đánh giá bằng tiêu chí là đánh giá trên các mặt: chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm; chiều hướng phát triển.

Đánh giá bằng “sản phẩm” là lượng hóa kết quả làm việc của cán bộ mà có thể “cân, đong, đo, đếm” được và được cấp có thẩm quyền ghi nhậnánh giá phải có sự so sánh với các chức danh tương đương: Vụ trưởng so với vụ trưởng; giám đốc sở so với giám đốc sở; trưởng phòng so với trưởng phòng…

thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm và khảo sát nhân sự trước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử. Đánh giá người đứng đầu phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị nơi công tác và công khai kết quả đánh giá ).

(3) Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực, theo ngành.

(8) Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp ủy các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp ủy viên.

Xây dựng chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức theo hướng: Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách công khai, minh bạch đối với từng đối tượng; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua nhà ở.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộvà tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

Tiếp tục mở rộng thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng. Đồng thời, thực hiện các thí điểm: (16) Một, người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm các nguyên tắc của Đảng và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình.Hai, giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới (với 6 nội dung chủ yếu).

(Đây là giải pháp nhằm khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý cán bộ ở một số nơi như vừa qua

(6) K iểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm , không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cán bộ cấp chiến lược, nhất là nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành và các tỉnh, thành phố.

Vấn đề kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền đang là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong dư luận. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức đảng phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả vấn nạn này. Trong mục tiêu đã xác định rất cương quyết, phần giải pháp xin giới thiệu với các đồng chí nội dung cơ bản:

( Quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn thì càng phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã nói “phải kiểm soát quyền lực bằng cơ chế” và “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”).

Thể chế hóa, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

(2) Thường trực cấp ủy các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ và cấp ủy viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

Thường xuyên chăm lo, xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan tổ chức cán bộ.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

(1) Cụ thể hóa, hoàn thiện các văn bản về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc, nhất là phương hướng công tác nhân sự.

(2) Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc cán bộ và vấn đề chính trị của cán bộ; tăng cường thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ và phải có các phương án phù hợp, hiệu quả để thực hiện việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra.

(3) Tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn trong quy hoạch để chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp.

hực hiện tốt 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, Nghị quyết xác định hai trọng tâm và năm đột phá sau:

(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa , siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung .

(2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấpđi đôi vớiphân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

(2) K iểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm ; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền.

1. Về học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết

(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải tổ chức học tập, quán triệt nghiêm túc Nghị quyết và Kế hoạch thực hiện để cán bộ, đảng viên nhận thức rõ thực trạng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay; nắm vững các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết.

(2) Trên cơ sở Nghị quyết của Trung ương, Kế hoạch của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Quân ủy Trung ương, xây dựng Kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết của cơ quan, đơn vị mình phù hợp với thực tiễn; xác định rõ trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân; thời gian thực hiện và hoàn thành từng nhiệm vụ.

(3) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả ; tăng cường kiểm tra, giám sát, định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện theo Kế hoạch để kiểm soát nội dung và tiến độ.

Khi có Kế hoạch của Đảng ủy Quân khu c ăn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến rõ nét về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình./.

【#5】Hội Nghị Trung Ương 7::toàn Văn Nghị Quyết Số 26

Báo Quảng Ninh trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XII

về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

I – TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Tình hình

Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có đóng góp tích cực cho đất nước. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi.

Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là người địa phương, trong đó có bí thư cấp uỷ các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.

Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm. Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định. Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

2. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.

– Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm.

– Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ.

– Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức.

– Chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí.

– Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; các mối đe doạ truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hoá nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. Ở trong nước, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn; tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng,… Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau.

Tình hình đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.

1. Quan điểm

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

– Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

– Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp uỷ, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

– Đến năm 2021: (1) Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; (2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; (3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; (4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

– Đến năm 2025: (1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; (2) Cơ bản bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; (3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

– Đến năm 2030: (1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:

+ Đối với cán bộ cấp chiến lược: Thực sự tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 40 – 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế (đối với quân đội, công an có quy định riêng của Bộ Chính trị).

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 – 25% dưới 40 tuổi; từ 50 – 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: Từ 15 – 20% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh dưới 40 tuổi, từ 25 – 35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; từ 20 – 25% cán bộ lãnh đạo chủ chốt và uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện dưới 40 tuổi. Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hoá về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác.

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội, công an: Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; có số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; từ 20 – 30% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia: Đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học ở những lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới. Số cán bộ khoa học đạt ít nhất 11 người trên 1 vạn dân.

+ Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước: Nâng cao tính Đảng và ý thức tuân thủ pháp luật; sản xuất kinh doanh hiệu quả; từ 70 – 80% có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp. Tỉ lệ nữ cấp uỷ viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số phù hợp với cơ cấu dân cư.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

– Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ. Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.

– Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài.

2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ

– Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ; thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả những tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ.

– Thể chế hoá, cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ theo hướng: Đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

– Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.

– Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ:

+ Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực.

+ Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và học tập ngoại ngữ.

+ Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.

+ Thực hiện việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch Uỷ ban nhân dân, nếu có điều kiện.

+ Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài.

– Đổi mới công tác ứng cử, bầu cử, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ:

+ Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp uỷ các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp uỷ viên.

+ Tiếp tục thực hiện chủ trương bầu trực tiếp bí thư tại đại hội đảng bộ các cấp ở những nơi có điều kiện; thực hiện nghiêm việc lựa chọn, bầu cử có số dư; ứng viên trước khi bổ nhiệm phải trình bày chương trình hành động và cam kết trách nhiệm thực hiện.

+ Nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải kinh qua vị trí chủ chốt cấp dưới; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Nhân sự không trúng cử cấp uỷ cấp dưới thì không giới thiệu để bầu cấp uỷ cấp trên.

+ Cấp uỷ các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Xây dựng chỉ tiêu cơ cấu phù hợp, nếu chưa bảo đảm chỉ tiêu cơ cấu thì phải để trống, bổ sung sau; gắn việc thực hiện chỉ tiêu với trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu.

+ Quy định trách nhiệm của lãnh đạo và cấp uỷ viên các cấp trong việc tiến cử người có đức, có tài; người đứng đầu có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình.

+ Có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ.

+ Xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hoá ứng xử của cán bộ; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm để việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trở thành bình thường trong công tác cán bộ.

– Thực hiện lộ trình cải cách tiền lương phù hợp với từng nhóm đối tượng theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, năng suất lao động, hiệu quả công tác và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, nguồn lực của đất nước. Xây dựng chính sách nhà ở theo hướng: Nhà nước thống nhất ban hành cơ chế, chính sách; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua. Thực hiện nghiêm, đúng đắn, chính xác chế độ thi đua, khen thưởng.

– Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý nghiêm những người có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.

– Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ: Nắm chắc lịch sử chính trị và tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Hoàn thiện quy định để xử lý, sử dụng những trường hợp có vấn đề về chính trị. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

– Tiếp tục nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chủ trương:

+ Mở rộng việc thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng.

+ Người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp uỷ giới thiệu để bầu uỷ viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình.

+ Giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

– Các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi trường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ. Coi trọng trang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung nâng cao chất lượng bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

– Hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng và đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận. Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài.

– Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu.

– Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học; có chính sách ưu đãi để xây dựng, sử dụng đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực. Củng cố, nâng cao ý thức trách nhiệm và tính Đảng đối với cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là người đứng đầu; xây dựng quy định về tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ quản trị doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

– Nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng, nhất quán trong hệ thống chính trị; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ “biên chế suốt đời”.

– Quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ các cấp theo hướng: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ. Địa phương, cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền. Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu quả. Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp. Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu cầu.

– Hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

– Quân đội, Công an có đề án riêng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới.

4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ

Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược bảo đảm các tiêu chuẩn quy định và đáp ứng yêu cầu, theo hướng:

– Phát hiện, lựa chọn từ nguồn quy hoạch những cán bộ tiêu biểu, xuất sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo chức danh, nhất là những người đã được thử thách qua thực tiễn, có thành tích nổi trội, có “sản phẩm” cụ thể, có triển vọng phát triển.

– Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt; bồi dưỡng toàn diện về kỹ năng; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng.

– Xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ.

– Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cho các chức danh cấp chiến lược.

– Đánh giá chính xác nhân sự được quy hoạch, giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm vào các chức danh cấp chiến lược. Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

– Định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội cho các nhiệm kỳ.

– Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, trong sáng, gương mẫu về mọi mặt. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng “hình ảnh” các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

– Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách đối với Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng theo hướng chỉ lựa chọn cán bộ trẻ, thật sự ưu tú và có cơ cấu hợp lý giữa Trung ương với địa phương, giữa các ngành nghề, lĩnh vực trong hệ thống chính trị.

5. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền

– Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm.

– Thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng.

– Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

– Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”.

– Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ.

– Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ.

– Nhận thức sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.

6. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

– Thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

– Thường trực cấp uỷ các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ và cấp uỷ viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư. Thực hiện việc phân công cán bộ, đảng viên phụ trách hộ gia đình nơi cư trú với các hình thức phù hợp để gắn bó mật thiết với nhân dân; truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; nắm chắc tình hình cơ sở; đồng thời, qua đó để nhân dân thực hiện việc giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống.

– Cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát trong công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

– Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp.

– Hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và xử lý những ý kiến phản ảnh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, nhất là của người có uy tín trong cộng đồng dân cư gửi đến cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị và qua các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức phù hợp, hiệu quả.

7. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ

– Các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ các cấp.

– Nâng cao nhận thức, chất lượng công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ của mình.

– Xây dựng mô hình tổ chức, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ các cấp theo hướng giảm đầu mối, tránh chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý tổ chức, biên chế, công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đẩy mạnh cải cách hành chính; chuẩn hoá văn bản pháp quy; tin học hoá, tự động hoá trong quản lý và điều hành.

– Tăng cường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Nghiêm trị các hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ, nhất là việc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

– Coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ ở các cấp, các ngành; kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình công tác cán bộ.

– Kịp thời sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, quy định, quy chế và những chủ trương thí điểm, mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.

– Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc vấn đề chính trị của cán bộ; thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đủ tiêu chuẩn, điều kiện trên cơ sở quy hoạch để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc.

– Tổ chức các lớp cán bộ dự nguồn trong quy hoạch ở các cấp để bổ sung, nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc.

Thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên cần tập trung vào hai trọng tâm và năm đột phá:

– Hai trọng tâm là: (1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

– Năm đột phá là: (1) Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; (2) Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền; (3) Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện; (4) Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài; (5) Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết, xác định rõ những việc cần làm ngay, những việc làm thường xuyên và những việc theo lộ trình; phân công cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.

2. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ, đảng đoàn, ban cán sự đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, chủ động xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để thực hiện Nghị quyết.

4. Các ban, cơ quan đảng ở Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ triển khai nghiên cứu, xây dựng, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định, quy chế, ban hành hướng dẫn và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.

Theo chúng tôi

【#6】Gia Viễn Tổng Kết Nghị Quyết Số 22 26 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa X

Ngày 14/6, Huyện ủy Gia Viễn tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa X, gồm Nghị quyết số 22 “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Nghị quyết số 26 “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”. Dự hội nghị có lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

Đảng bộ huyện Gia Viễn hiện có 70 tổ chức cơ sở đảng với hơn 7 nghìn đảng viên. Thực hiện Nghị quyết 22, đội ngũ cán bộ, đảng viên từ cấp huyện đến cơ sở đã nhận thức rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị và ý thức tốt hơn về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở.

Nề nếp, chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ được nâng lên, nội dung sinh hoạt có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh ở cơ sở… Tỷ lệ đảng viên dự sinh hoạt chi bộ tăng, bình quân đạt trên 81,5%. Hàng năm có trên 90% TCCSĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, bình quân 12% TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu.

Công tác quản lý cán bộ, quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ, công chức đảm bảo về cơ cấu, số lượng, chất lượng theo chức năng nhiệm vụ và trình độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. Các chức danh quy hoạch cơ bản đều được quy hoạch 3 độ tuổi, cơ cấu tuổi trẻ, cán bộ nữ đều đảm bảo theo quy định, sát với tình hình thực tế của địa phương. Trong đó, kết quả xây dựng quy hoạch các chức danh diện Ban thường vụ, Thường trực huyện ủy quản lý của các xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị có tuổi trẻ dưới 35 tuổi đều đạt trên 20%.

Công tác kiểm tra, giám sát và quản lý đảng viên được tăng cường; chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát được nâng lên; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những khuyết điểm, tồn tại, hạn chế.

Hội nghị cũng tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26 “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”. Trong đó đánh giá, triển khai Nghị quyết đã góp phần tạo sự chuyển biến rõ rệt trong phát triển sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển KTXH của địa phương.

Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn liên tục tăng, năm 2008 đạt hơn 300 tỷ đồng, đến năm 2021 con số này là gần 700 tỷ đồng. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực, giảm tỷ trọng trồng trọt, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản. Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, nhất là hộ nghèo được cải thiện rõ rệt. Năm 2021, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt gần 30 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,02% (năm 2008, theo chuẩn cũ) xuống còn 4,13% (năm 2021, theo chuẩn mới). Người nông dân được tiếp cận tốt hơn với các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa xã hội… Hạ tầng nông thôn từng bước được chỉnh trang, nâng cấp và phát triển theo quy hoạch, đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả khá toàn diện, đến hết năm 2021 có 13/20 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Đào Duy- Thế Minh

【#7】Hoa Lư Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 22 26 Của Bch Trung Ương Đảng Khóa X

Ngày 31/5, Ban Thường vụ Huyện ủy Hoa Lư tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TƯ, ngày 2/2/2008 của BCH Trung ương khóa X về “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” và Nghị quyết số 26- NQ/TƯ, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là Nghị quyết 26). Dự hội nghị có lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy.

Thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TƯ, hầu hết các đảng bộ, chi bộ cơ sở thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Hàng năm, nhiều đảng bộ, chi bộ đạt tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vữngmạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ban Thường vụ Huyện ủy luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự tiên phong gương mẫu; quan tâm thực hiện chủ trương trẻ hóa, nhất thể hóa chức danh cán bộ ở cơ sở.

Tổ chức các cơ quan Đảng, nhà nước, MTTQ và các đoàn thể đã từng bước được sắp xếp, kiện toàn, chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên; mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, đã tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết 26, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hoa Lư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TƯ gắn với phong trào “cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”. Đến nay, Hoa Lư đã cơ bản hoàn thành mục tiêu tổng quát như Nghị quyết đã đề ra.

Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn không ngừng được nâng cao. 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% trường đạt chuẩn quốc gia; 100% số xã có điểm bưu điện văn hóa; 99% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Công tác tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân được quan tâm. Nhận thức, vai trò của người nông dân được nâng lên. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt 50%. Nền nông nghiệp trên địa bàn huyện đang từng bước phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực.

Cùng với đó, hạ tầng kinh tế- xã hội của huyện, của các xã, thị trấn được quan tâm đầu tư có kết cấu tương đối hiện đại, phù hợp với định hướng đô thị,đáp ứng được yêu cầu sản xuất, dân sinh, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế- xã hội.

Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất của huyện và các xã bước đầu cơ bản hợp lý, đã từng bước gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, du lịch, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của đảng được tăng cường…

Hoa Lư đã hoàn thành xây dựng NTM trước 4 năm và vượt gấp 2 lần mục tiêu của Nghị quyết 26-NQ/TƯ đã đề ra. Đến hết năm 2021, 100% số xã đạt chuẩn NTM và huyện Hoa Lư đạt chuẩn NTM và huyện Hoa Lư đạt chuẩn NTM.

Tại hội nghị, Ban Thường vụ Huyện ủy Hoa Lư đã tặng giấy khen cho 21 tập thể và 21 cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Nghị quyết số 22 và Nghị quyết số 26 của BCH Trung ương Đảng (khóa X).

Thùy Phương- Thế Minh

【#8】Hội Nghị Trung Ương 7: Toàn Văn Nghị Quyết Số 26

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ I – TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Tình hình

Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có đóng góp tích cực cho đất nước. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi.

Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là người địa phương, trong đó có bí thư cấp uỷ các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.

Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm. Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định. Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

2. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.

– Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm.

– Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ.

– Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức.

– Chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí.

– Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; các mối đe doạ truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hoá nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. Ở trong nước, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn; tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng,… Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau.

Tình hình đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.

1. Quan điểm

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

– Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

– Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp uỷ, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

– Đến năm 2021: (1) Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; (2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; (3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; (4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

– Đến năm 2025: (1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; (2) Cơ bản bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; (3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

– Đến năm 2030: (1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:

+ Đối với cán bộ cấp chiến lược: Thực sự tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 40 – 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế (đối với quân đội, công an có quy định riêng của Bộ Chính trị).

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 – 25% dưới 40 tuổi; từ 50 – 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: Từ 15 – 20% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh dưới 40 tuổi, từ 25 – 35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; từ 20 – 25% cán bộ lãnh đạo chủ chốt và uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện dưới 40 tuổi. Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hoá về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác.

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội, công an: Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; có số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; từ 20 – 30% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia: Đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học ở những lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới. Số cán bộ khoa học đạt ít nhất 11 người trên 1 vạn dân.

+ Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước: Nâng cao tính Đảng và ý thức tuân thủ pháp luật; sản xuất kinh doanh hiệu quả; từ 70 – 80% có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp. Tỉ lệ nữ cấp uỷ viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số phù hợp với cơ cấu dân cư.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

– Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ. Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.

– Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài.

2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ

– Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ; thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả những tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ.

– Thể chế hoá, cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ theo hướng: Đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

– Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.

– Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ:

+ Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực.

+ Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và học tập ngoại ngữ.

+ Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.

+ Thực hiện việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch Uỷ ban nhân dân, nếu có điều kiện.

+ Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài.

– Đổi mới công tác ứng cử, bầu cử, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ:

+ Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp uỷ các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp uỷ viên.

+ Tiếp tục thực hiện chủ trương bầu trực tiếp bí thư tại đại hội đảng bộ các cấp ở những nơi có điều kiện; thực hiện nghiêm việc lựa chọn, bầu cử có số dư; ứng viên trước khi bổ nhiệm phải trình bày chương trình hành động và cam kết trách nhiệm thực hiện.

+ Nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải kinh qua vị trí chủ chốt cấp dưới; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Nhân sự không trúng cử cấp uỷ cấp dưới thì không giới thiệu để bầu cấp uỷ cấp trên.

+ Cấp uỷ các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Xây dựng chỉ tiêu cơ cấu phù hợp, nếu chưa bảo đảm chỉ tiêu cơ cấu thì phải để trống, bổ sung sau; gắn việc thực hiện chỉ tiêu với trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu.

+ Quy định trách nhiệm của lãnh đạo và cấp uỷ viên các cấp trong việc tiến cử người có đức, có tài; người đứng đầu có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình.

+ Có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ.

+ Xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hoá ứng xử của cán bộ; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm để việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trở thành bình thường trong công tác cán bộ.

– Thực hiện lộ trình cải cách tiền lương phù hợp với từng nhóm đối tượng theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, năng suất lao động, hiệu quả công tác và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, nguồn lực của đất nước. Xây dựng chính sách nhà ở theo hướng: Nhà nước thống nhất ban hành cơ chế, chính sách; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua. Thực hiện nghiêm, đúng đắn, chính xác chế độ thi đua, khen thưởng.

– Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý nghiêm những người có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.

– Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ: Nắm chắc lịch sử chính trị và tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Hoàn thiện quy định để xử lý, sử dụng những trường hợp có vấn đề về chính trị. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

– Tiếp tục nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chủ trương:

+ Mở rộng việc thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng.

+ Người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp uỷ giới thiệu để bầu uỷ viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình.

+ Giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

– Các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi trường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ. Coi trọng trang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung nâng cao chất lượng bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

– Hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng và đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận. Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài.

– Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu.

– Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học; có chính sách ưu đãi để xây dựng, sử dụng đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực. Củng cố, nâng cao ý thức trách nhiệm và tính Đảng đối với cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là người đứng đầu; xây dựng quy định về tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ quản trị doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

– Nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng, nhất quán trong hệ thống chính trị; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ “biên chế suốt đời”.

– Quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ các cấp theo hướng: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ. Địa phương, cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền. Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu quả. Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp. Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu cầu.

– Hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

– Quân đội, Công an có đề án riêng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới.

4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ

Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược bảo đảm các tiêu chuẩn quy định và đáp ứng yêu cầu, theo hướng:

– Phát hiện, lựa chọn từ nguồn quy hoạch những cán bộ tiêu biểu, xuất sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo chức danh, nhất là những người đã được thử thách qua thực tiễn, có thành tích nổi trội, có “sản phẩm” cụ thể, có triển vọng phát triển.

– Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt; bồi dưỡng toàn diện về kỹ năng; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng.

– Xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ.

– Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cho các chức danh cấp chiến lược.

– Đánh giá chính xác nhân sự được quy hoạch, giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm vào các chức danh cấp chiến lược. Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

– Định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội cho các nhiệm kỳ.

– Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, trong sáng, gương mẫu về mọi mặt. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng “hình ảnh” các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

– Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách đối với Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng theo hướng chỉ lựa chọn cán bộ trẻ, thật sự ưu tú và có cơ cấu hợp lý giữa Trung ương với địa phương, giữa các ngành nghề, lĩnh vực trong hệ thống chính trị.

5. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền

– Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm.

– Thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng.

– Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

– Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”.

– Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ.

– Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ.

– Nhận thức sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.

6. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

– Thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

– Thường trực cấp uỷ các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ và cấp uỷ viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư. Thực hiện việc phân công cán bộ, đảng viên phụ trách hộ gia đình nơi cư trú với các hình thức phù hợp để gắn bó mật thiết với nhân dân; truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; nắm chắc tình hình cơ sở; đồng thời, qua đó để nhân dân thực hiện việc giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống.

– Cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát trong công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

– Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp.

– Hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và xử lý những ý kiến phản ảnh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, nhất là của người có uy tín trong cộng đồng dân cư gửi đến cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị và qua các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức phù hợp, hiệu quả.

7. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ

– Các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ các cấp.

– Nâng cao nhận thức, chất lượng công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ của mình.

– Xây dựng mô hình tổ chức, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ các cấp theo hướng giảm đầu mối, tránh chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý tổ chức, biên chế, công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đẩy mạnh cải cách hành chính; chuẩn hoá văn bản pháp quy; tin học hoá, tự động hoá trong quản lý và điều hành.

– Tăng cường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Nghiêm trị các hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ, nhất là việc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

– Coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ ở các cấp, các ngành; kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình công tác cán bộ.

– Kịp thời sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, quy định, quy chế và những chủ trương thí điểm, mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.

– Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc vấn đề chính trị của cán bộ; thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đủ tiêu chuẩn, điều kiện trên cơ sở quy hoạch để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc.

– Tổ chức các lớp cán bộ dự nguồn trong quy hoạch ở các cấp để bổ sung, nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc.

Thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên cần tập trung vào hai trọng tâm và năm đột phá:

– Hai trọng tâm là: (1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấpđi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

– Năm đột phá là: (1) Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; (2) Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền; (3) Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện; (4) Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài; (5) Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết, xác định rõ những việc cần làm ngay, những việc làm thường xuyên và những việc theo lộ trình; phân công cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.

2. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ, đảng đoàn, ban cán sự đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, chủ động xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để thực hiện Nghị quyết.

4. Các ban, cơ quan đảng ở Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ triển khai nghiên cứu, xây dựng, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định, quy chế, ban hành hướng dẫn và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

【#9】Trung Ương Hội Nông Dân Việt Nam Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Quang cảnh hội nghị

Báo cáo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và tham luận của các đại biểu tại hội nghị thống nhất về 6 kết quả nổi bật; 3 hạn chế, nguyên nhân và 6 bài học kinh nghiệm; đồng thời đề ra 4 nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới. Trên cơ sở đó đánh giá Nghị quyết số 26-NQ/TW đã được các cấp hội triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện, nghiêm túc, sâu rộng và được nông dân cả nước hưởng ứng tích cực; góp phần tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động, góp phần xứng đáng vào những thành tựu quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong những năm qua.

Trung ương Hội đã ban hành nhiều nghị quyết; duy trì và phát động phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” thu hút hàng triệu hộ nông dân tham gia. Bình quân hàng năm, số lượng hộ nông dân đăng ký đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp là hơn 6,2 triệu hộ chiếm 38,8% so với tổng số hộ sống ở nông thôn. Qua bình xét, có hơn 3,55 triệu hộ nông dân đạt danh hiệu, chiếm 57,2% số hộ đăng ký. Từ phong trào thi đua đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương nông dân điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh giỏi; hàng năm có trên 27.000 hộ nông dân có thu nhập trên 1 tỷ đồng, số hộ có thu nhập trên 1 tỷ đồng/năm năm 2021 tăng 5 lần so với năm 2012; trong đó có 1.980 hộ nông dân sản xuất, kinh doanh trừ có thu nhập từ 2 tỷ đồng trở lên. Phong trào đã làm thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hàng hóa; đẩy mạnh hợp tác, liên kết, liên doanh theo chuỗi; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; nâng cao giá trị lợi nhuận gắn với an toàn thực phẩm và phát triển bền vững.

Hội Nông dân Việt Nam tích cực tham gia 02 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Các cấp Hội, nhất là ở cấp cơ sở, đã chủ động tham gia công tác quy hoạch và tham gia giám sát quá trình tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới theo quy hoạch; tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thay đổi nhận thức, phát huy vai trò là chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới; đóng góp hoàn thành các tiêu chí, đặc biệt trong đóng góp kinh phí, hiến đất và ngày công tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa, bảo đảm vệ sinh môi trường và an ninh trật tự ở cơ sở…

Đồng chí Nguyễn Văn Bình phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân của Hội Nông dân ngày càng có hiệu quả. Hội Nông dân các tỉnh, thành phố đã tích cực, chủ động, phối hợp và liên kết với các đơn vị, doanh nghiệp đề xuất với cấp ủy và chính quyền địa phương hỗ trợ cho nông dân về cước vận chuyển, hỗ trợ vốn, lãi suất ngân hàng để mua vật tư, máy móc nông nghiệp để nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Bảo lãnh, ký hợp đồng với các doanh nghiệp cung cấp vật tư, phân bón trả chậm theo mùa vụ hoặc chu kỳ cây, con đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý. Đến nay, tổng nguồn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp Hội Nông dân đạt hơn 2.695 tỷ đồng; đã giúp trên 380.000 lượt hộ nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh và hàng nghìn mô hình kinh tế hoạt động có hiệu quả. 10 năm qua, các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân các tỉnh, thành phố tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông thôn; tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân; xây dựng trên 9.000 mô hình trình diễn sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt GAP…

Hội Nông dân đã thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới. Các cấp hội thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức hoạt động, hướng về cơ sở, thiết thực hiệu quả gắn với sản xuất và đời sống của hội viên, nông dân. Qua 10 năm, Hội Nông dân đã kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới; nâng tổng số hội viên hiện có lên 10,207 triệu người, tăng 4,5% so với năm 2008. Đến nay, 100% thôn, ấp, bản có nông dân có tổ chức Hội với 94.159 chi hội, 152.311 tổ hội thuộc 10.498 cơ sở hội. Hàng năm bồi dưỡng, giới thiệu trên 10.000 cán bộ, hội viên, nông dân ưu tú cho các cấp ủy xem xét kết nạp vào Đảng.

Tại Hội nghị, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt còn tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện Nghị quyết, như: Tỷ lệ nghèo ở một bộ phận dân cư nông thôn còn cao, giảm nghèo chưa bền vững, thu nhập và đời sống của nông thôn còn thấp, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn chưa được thu hẹp. Một số địa phương chưa xây dựng quy hoạch rõ ràng, chưa xác định được cây, con chủ lực có giá trị kinh tế nên trong sản xuất, nông dân còn tự phát theo phong trào, việc đầu tư công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp mới chỉ là bước đầu, còn hạn chế. Nông dân ít được tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị. Mối liên kết giữa nông dân với các “nhà” khác chưa bền chặt, thiếu gắn kết lợi ích và trách nhiệm giữa các bên với nhau. Năng lực đội ngũ cán bộ Hội nông dân nhiều nơi còn yếu, thiếu tâm huyết, trách nhiệm, làm việc công một cách hành chính, thụ động. Một số cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn chưa phù hợp nhưng lại chậm được sửa đổi, bổ sung… Trên cơ sở đó, các đại biểu phân tích tìm ra nguyên nhân và giải pháp, phương hướng giải quyết trong thời gian tới.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ghi nhận những thành tích của giai cấp nông dân, Hội Nông dân Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện Nghị quyết 26 trong 10 năm qua. Với tư cách Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng đã thẳng thắn tiếp thu và trả lời, lý giải trực tiếp về những kiến nghị, đề xuất của Hội Nông dân Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị thời gian tới, các cấp Hội Nông dân cần tập trung phối hợp tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân về vốn, thiết bị, vật tư nông nghiệp; tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ; hướng dẫn nông dân tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn; từ kinh tế hộ nhỏ lẻ sang liên kết hợp tác và cùng các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị; từ sản xuất truyền thống, kinh nghiệm sang công nghệ cao; từ coi trọng năng suất, sản lượng sang bảo đảm chất lượng, giá trị gia tăng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập…

Thanh Phan

【#10】Hướng Dẫn Viết Mẫu Giấy Ủy Quyền Đi Làm Thủ Tục Chuẩn Xác

Sau khi mẫu giấy ủy quyền được ký kết, các hoạt động sau đó có trong nội dung ủy quyền mà bên nhận ủy quyền thực hiện đều có giá trị pháp lý, được công nhận và có giá trị tương đương giống như khi bên ủy quyền trực tiếp ký kết. Tuy vậy, giấy ủy quyền sẽ chỉ có giá trị pháp lý khi nó được lập, soạn thảo theo đúng những quy định chung của văn bản hành chính cũng như đáp ứng những nội dung chuẩn theo yêu cầu. Vậy cách viết mẫu giấy ủy quyền như thế nào?

chúng tôi

2. Cách viết mẫu giấy ủy quyền bạn nên biết

Mẫu giấy ủy quyền là một văn bản hành chính có giá trị pháp lý sau khi được ký kết bởi vậy mà nó cần phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản của một văn bản hành chính từ nội dung cho đến hình thức. Vậy làm sao để viết giấy ủy quyền chuẩn xác nhất?

2.1. Lưu ý về hình thức của mẫu giấy ủy quyền

Một mẫu giấy ủy quyền chuẩn xác phải có hình thức theo tiêu chuẩn của một văn bản hành chính. Đó là bao gồm các đề mục bắt buộc như:

– Quốc hiệu ngữ. Bất kỳ văn bản hành chính nào cũng đều phải có mục này, quốc hiệu tiêu ngữ sẽ nằm đầu tiên của văn bản. Sau đó đến tên của văn bản hành chính đó.

– Chữ ký của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền sẽ phải được ký kết đầy đủ trong văn bản hành chính này. Nếu như không có chữ ký thì văn bản hành chính sẽ không có giá trị và vai trò ủy quyền không được công nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp người ủy quyền không có khả năng ký kết thì tùy từng trường hợp cụ thể mà mẫu giấy ủy quyền sẽ không có chữ ký của bên ủy quyền.

– Thực tế cho thấy, giấy ủy quyền thường được sử dụng trong những trường hợp ủy quyền đơn giản hơn là các trường hợp phức tạp. Những trường hợp ủy quyền phức tạp thay vì viết giấy ủy quyền người ta sẽ viết hợp đồng ủy quyền.

– Ngoài ra, trong hình thức văn bản sẽ bao gồm tên của bên nhận ủy quyền và bên được ủy quyền. Những thông tin này sẽ được điền đầy đủ, chi tiết rõ ràng nhất để cụ thể hóa mẫu giấy ủy quyền.

2.2. Nội dung chính – cách viết mẫu giấy ủy quyền

Thực chất, cách viết mẫu giấy ủy quyền không quá khó khăn. Ngoài mục quốc hiệu tiêu ngữ, tên văn bản được viết và trình bày theo quy chuẩn chung của pháp luật thì các mục khác được viết như sau:

– Căn cứ vào …: đây được xem là cơ sở pháp lý của mẫu giấy ủy quyền khi nó được lập ra. Bạn có thể ghi chung là căn cứ vào bộ luật dân sự nước CHXHCN VN hoặc ghi cụ thể hóa điều bao nhiêu, khoản mấy trong bộ luật nào tùy vào trường hợp cụ thể được ủy quyền.

– Thứ hai là ngày tháng năm được ủy quyền: đây là cơ sở để xác định vai trò của người ủy quyền về sau này.

– Bên ủy quyền: Bên ủy quyền sẽ cần điền đầy đủ thông tin về họ và tên, địa chỉ sinh sống, quốc tịch và số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp của mình. Những thông tin này cần được viết đầy đủ, chuẩn xác theo đúng những thông tin cá nhân của người ủy quyền. Ngoài ra, tên riêng của bên ủy quyền sẽ được viết hoa. Ví dụ: NGUYỀN TRUNG HIẾU.

– Bên nhận ủy quyền: Bên nhận ủy quyền sẽ cần điền đầy đủ thông tin về họ và tên, địa chỉ sinh sống, quốc tịch và số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp của mình. Những thông tin này cần được viết đầy đủ, chuẩn xác theo đúng những thông tin cá nhân của người nhận ủy quyền. Ngoài ra, tên riêng của bên ủy quyền sẽ được viết hoa. Ví dụ: PHẠM ĐÔNG BÌNH MINH.

– Nội dung ủy quyền: trong mục này bạn sẽ cần điền đầy đủ các thông tin về thời gian ủy quyền (là thời gian giấy quyền quyền có hiệu lực đến khi hết hiệu lực), bạn cần ghi rõ ngày tháng có hiệu lực và ngày tháng kết thúc trong mục này. Thứ hai là quyền và nghĩa vụ của bên nhận ủy quyền, đó là họ sẽ đại diện người ủy quyền thực hiện công việc gì?

– Cuối cùng là cam kết giữa các bên và chữ ký xác nhận: cam kết này sẽ bao gồm quyền lợi và nghĩa vụ được hưởng của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền. Đồng thời, trong cam kết này cũng sẽ có cam kết về giải quyết vấn đề khi có tranh chấp xảy ra giữa bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền. Chữ ký xác nhận của hai bên khẳng định lại sự đồng ý của bên này và bên kia về những thỏa thuận được soạn thảo trong giấy ủy quyền đi làm thủ tục.

2.3. Lưu ý khi viết giấy ủy quyền đi làm thủ tục

Khi viết giấy ủy quyền đi làm thủ tục bạn cần lưu ý một số điều quan trọng như sau:

– Tôn trọng quy định chung của một văn bản hành chính.

– Không được phạm những lỗi chính tả, không tẩy xóa trong văn bản. Ngôn từ sử dụng rõ ràng, rành mạch, không sử dụng các từ lóng, không sử dụng các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh hay ấn – hoán dụ trong văn bản hành chính này.

– Tốt nhất là nên có chữ kỹ xác nhận của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền để đảm bảo tính pháp lý tối cao của văn bản hành chính này.

– Các thông tin viết trong mẫu giấy ủy quyền đi làm thủ tục phải chuẩn xác đặc biệt là thông tin cá nhân của bên nhận ủy quyền và bên ủy quyền.

– Nội dung ủy quyền cần được ghi rõ ràng đặc biệt với những trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục quan trọng có giá trị kinh tế, pháp lý cao.

2.4. Trọn bộ mẫu giấy ủy quyền đầy đủ nhất

Tong-hop-mau-giay-uy-quyen (1).zip

3. Những trường hợp nào không được sử dụng mẫu giấy ủy đi làm thủ tục

Mẫu giấy ủy quyền đi làm thủ tục là văn bản chỉ định người khác đại diện mình thực hiện các thủ tục hành chính trong phạm vi được quyền. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp đều có thể ủy quyền thực hiện. Cụ thể những trường hợp không được phép ủy quyền như sau:

– Thực hiện thủ tục ly hôn hay đăng ký kết hôn.

– Thực hiện thủ tục gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng hay các tổ chức tín dụng.

– Lập di chúc của bản thân mình.

Giay-uy-quyen-quyet-toan-thue-tncn.doc

Nhìn chung, mẫu giấy ủy quyền đi làm thủ tục là một văn bản hành chính quan trọng, quen thuộc được nhiều doanh nghiệp, cá nhân sử dụng trong quá trình làm việc. Hy vọng rằng thông qua bài viết này bạn đã nắm rõ về mẫu giấy ủy quyền đi làm thủ tục cùng những thông tin hữu ích khác cho mình.

Tác giả: Timviec365.vn