Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Viii

--- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Tiếp Xúc Của Đại Biểu Quốc Hội Với Cử Tri:khắc Phục Tình Trạng Cử Tri
  • Hiệu Lực Quyết Định Của Hđnd
  • Chính Phủ Chính Thức Cho Phép Giảm Phí Trước Bạ 50% Đối Với Xe Trong Nước
  • Khi Nào Người Mua Xe Mới Được Giảm 50% Phí Trước Bạ?
  • Khi Nào Một Văn Bản Pháp Luật Hết Hiệu Lực ? Dịch Vụ Cung Cấp Văn Bản Luật
  • Thứ hai, 15 Tháng 9 2014 11:22

    Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được xác định tại Đề cương văn hóaViệt Nam(1943): “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa)”; “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa…”; “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”(1) và “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội…”(2); “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(3). Mục tiêu trước mắt mà Đề cương văn hóa Việt Nam đề ra là xây dựng nền văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài là xây dựng “văn hóa xã hội chủ nghĩa”(4). Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng phải nắm vững ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Đường lối ấy được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương từ khóa I đến khóa VIII. Nhưng có thể nói đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) mới là văn kiện đánh dấu sự phát triển toàn diện đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Sự phát triển toàn diện ấy được thể hiện ở các điểm chủ yếu sau đây:

    Từ nhận thức văn hóa, bao gồm tư tưởng, học thuật, nghệ thuật ( Đề cương văn hóa Việt Nam 1943) đến văn hóa bao gồm: tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục – đào tạo, thông đại chúng, văn học – nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng…

    Từ nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng; dân tộc là hình thức, tân dân chủ là nội dung (1943); là nền văn hóa “có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc”(5) (1982) đến nền văn hóa mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn (Hiến pháp 1992) và xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII – 1998).

    Từ quan niệm “phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội” (1943); cách mạng tư tưởng – văn hóa là động lực (Đại hội IV) đến văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Từ ba nguyên tắc vận động cách tân văn hóa: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa (1943); tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội: kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước; “tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”(6). “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”(7) (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Từ định hướng chỉ đạo: “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”, văn hóa là một trong ba mặt trận, các nhà báo, đội ngũ văn nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy đến năm quan điểm chỉ đạo:

    – Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

    – Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    – Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    -Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”(8).

    Từ nhiệm vụ văn hóa là: giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, không ngừng đấu tranh với tư tưởng phi vô sản (Đại hội I)(9), giáo dục, động viên văn hóa thật sự tham gia kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1-1948), “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học… phát triển văn hóa” (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai mươi, tháng 4-1972)(10), giáo dục tư tưởng XHCN, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ khoa học – kỹ thuật, sức khỏe và tay nghề của người lao động, mở rộng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, truyền thanh, truyền hình…(11) (Hội nghị Trung ương 2 khóa IX), phát triển đầy đủ thành 10 nhiệm vụ cụ thể trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, từ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn mới, xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống; phát triển văn học, nghệ thuật; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; thực hiện chính sách văn hóa đối với tôn giáo đến củng cố, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa và mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã nêu lên bốn giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển văn hóa:

    – Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

    – Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.

    – Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa.

    – Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.

    Như vậy, Nghị quyết đã bổ sung và phát triển toàn diện đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ của thời đại từ quan niệm về văn hóa, vị thế, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII không chỉ phát triển toàn diện mà còn phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tiến bộ của nhân loại về văn hóa, về xây dựng và phát triển nền văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Sự phát triển sáng tạo ấy được thể hiện đậm nét ở những quan niệm, tư tưởng chủ yếu như sau:

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đưa ra mô hình văn hóa XHCN nhưng cũng nêu lên tính chất của nền văn hóa là phải kết hợp giữa cái truyền thống với cái hiện đại, giữa cái dân tộc và cái quốc tế trên nền tảng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.

    Từ những ý tưởng ban đầu của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đưa ra mô hình văn hóa XHCN để hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mô hình văn hóa với hai đặc trưng cơ bản: tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc đã hàm chứa được tất cả những gì tốt nhất, hiện đại nhất, đẹp nhất, nhân đạo nhất của văn hóa Việt Nam, phù hợp với sự tiến bộ văn hóa của nhân loại. Đây là sự phát triển sáng tạo lý luận văn hóa mácxít của Đảng ta và khắc phục được hạn chế trong nhận thức xem bản sắc văn hóa dân tộc là hình thức.

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) không chỉ xác định mô hình mà còn làm sáng tỏ đặc trưng của một nền văn hóa tiên tiến và đặc trưng của bản sắc dân tộc. Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiên tiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo(13).

    Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Đây là luận điểm mới mẻ, sáng tạo nói lên mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và sự phát triển, nhấn mạnh vị thế, vai trò của văn hóa đối với chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là quan niệm mới mẻ và sáng tạo của Đảng ta bổ sung vào lý luận văn hóa mácxít. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển cũng là sự phát triển sáng tạo trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Mác: chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị; văn hóa vô sản = chủ nghĩa cộng sản của Lênin và văn hóa là “hệ quy chiếu” của sự phát triển (theo UNESCO). Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội chính là bổ sung vào tư tưởng mácxít về vai trò của các hình thái ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, khoa học, giáo dục là động lực của lịch sử. Văn hóa là yếu tố nội sinh, là động lực của sự phát triển.

    Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước hết là phải xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam và môi trường văn hóa.

    Con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin “không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(14). Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, vừa là chủ thể của tiến trình lịch sử, nó gắn với những điều kiện lịch sử nhất định, một phương thức sản xuất, một dân tộc nhất định. Với ý nghĩa ấy, con người cũng vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa. Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người XHCN. Thế nhưng trong thời gian khá dài, mối quan hệ giữa con người và văn hóa chưa được đề cập một cách khoa học, trong đường lối thường tách xây dựng con người mới và nền văn hóa mới. Từ thực tiễn xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khắc phục những khiếm khuyết nêu trên, đã nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh như là một hệ quả tất yếu từ biện chứng giữa con người và văn hóa theo quy luật nhân quả. Việc bổ sung vào lý luận văn hóa mácxít thuật ngữ môi trường văn hóa và xác định đặc trưng của con người mà chúng ta hướng tới xây dựng, chính là sự phát triển sáng tạo đường lối văn hóa của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

    Không tách rời hệ tư tưởng với văn hóa, xem hệ tư tưởng là cái cốt lõi của văn hóa, xây dựng tư tưởng, đạo đức là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản, thường xuyên và lâu dài của sự nghiệp văn hóa, là điểm mới, sáng tạo trong sự phát triển đường lối văn hóa.

    Hồ Chí Minh luôn xem công tác tư tưởng là công tác hàng đầu của Đảng. Theo Người, tư tưởng có thống nhất thì hành động mới thống nhất, tư tưởng và hành động có thống nhất thì mọi việc cách mạng mới thành công. Đảng ta không tách rời cách mạng tư tưởng và cách mạng văn hóa, xem tư tưởng, học thuật, nghệ thuật nằm trong phạm trù văn hóa (Đề cương văn hóa 1943) và ngay từ Hội nghị Trung ương 3 (khóa III) đã xác định: “Cùng với đà phát triển của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận kinh tế, cần xúc tiến sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật”(15).

    Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII từ những quan điểm nêu trên đã phát triển một cách sáng tạo đường lối xây dựng và phát triển văn hóa: xem việc xây dựng tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản, cấp bách và lâu dài của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

    Từ đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam đến quan điểm nền văn hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Đến Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc mới được cụ thể hóa một cách lôgíc, sáng tạo. Từ quan điểm chỉ đạo: nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cũng từ quan điểm chỉ đạo cơ bản này để xác định nhiệm vụ mang tầm chiến lược trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam là bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Tính thống nhất theo tinh thần Nghị quyết là thống nhất ở hệ tư tưởng, ở những giá trị phổ biến, vững bền, đặc trưng cho cả nền văn hóa Việt Nam; bảo tồn, phát huy không tách rời phát triển văn hóa, bởi đậm đà bản sắc phải gắn với cái hiện đại, cái tiên tiến.

    Điểm mới trong sự phát triển sáng tạo đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là đã xác định rõ ràng, cụ thể chủ thể lãnh đạo và chủ thể xây dựng nền văn hóa.Chủ thể lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nền văn hóa là Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ thể xây dựng là toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng. Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chính sách trên lĩnh vực văn hóa: chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, bảo tồn các di sản văn hóa, khuyến khích sáng tạo văn hóa mới, chính sách hợp lý trong hưởng thụ, tiêu dùng các giá trị văn hóa, chính sách đối với nghệ nhân, xã hội hóa hoạt động văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ… Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, cho nên giải pháp vừa cơ bản, vừa lâu dài, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, mang tính đột phá là phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, gắn chặt phong trào thi đua yêu nước với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là giải pháp, bao gồm nhiều biện pháp để xây dựng văn hóa ngay từ cơ sở, từ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống đến xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa, đơn vị văn hóa, môi trường văn hóa; từ phong trào xóa đói giảm nghèo, người tốt, việc tốt, phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc đến phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào văn nghệ quần chúng, phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại…

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã phát triển toàn diện, sáng tạo đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam, song ở một nghị quyết, cùng một lúc không thể đề cập một cách đầy đủ, trọn vẹn, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực văn hóa. Chẳng hạn như đặc trưng mô hình văn hóa: tiên tiến là yêu nước và tiến bộ; đậm đà bản sắc, nhiệm vụ cụ thể chưa đề cập đến lĩnh vực thể dục, thể thao; giải pháp xây dựng tư tưởng, đạo đức vẫn còn chung chung; vận dụng quy luật và tính quy luật trong sự phát triển văn hóa mới chú trọng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, còn mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, văn hóa với các lĩnh vực xã hội khác, với môi trường chưa thật đậm nét; chưa nêu được nội dung và giải pháp để xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam hiện đại…

    Những hạn chế đó, đã được Hội nghị Trung ương 10 khóa IX và Đại hội X của Đảng bổ sung toàn diện hơn, đầy đủ hơn: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội”; “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội. Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên; chống những hiện tượng phản văn hóa, phi văn hóa”(17)

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2014

    (1), (2), (3), (4), (5), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 316, 318, 318, 319, 98,484.

    (6) Sđd, t. 51, tr. 135-136.

    (7), (12), (13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.54-55, 56, 98.

    (8), (9), (10), (11) Tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Đại hội và Hội nghị Trung ương (1930-2002), Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr. 1408-1410, 106, 622, 751-752.

    (14) C.Mác – Ph.Ănghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.

    (16), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 178-179, 213.

    PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn

    Học viện Chính trị khu vực III

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mầm Non Lao Đao Thuở ‘xã Hội Hóa’
  • Tình Huống Giả Định Về Xét Xử Phúc Thẩm
  • 4/ Hướng Dẫn Thực Hiện Nq 05 Của Lđlđtp Về Học Bổng Nguyễn Đức Cảnh.
  • Xét Xử Vi Phạm Trong Lĩnh Vực Bảo Hiểm Xã Hội: Áp Dụng Chế Tài Nghiêm Khắc Nhất
  • Kiến Nghị Di Dời Cơ Sở Chậm Hoặc Không Khắc Phục Tồn Tại Về Pccc
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Nội Dung Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Các Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa 12
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa 12 (11 Mẫu)
  • Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã có quan niệm rộng hơn, toàn diện hơn, bao quát hơn về văn hóa, về văn hóa và phát triển, về di sản văn hóa, về bản sắc, đặc trưng văn hóa Việt Nam, về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…

    Văn hóađược đề cập ở đây theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu tạo nên đời sống văn hóanhư: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; Môi trường văn hóa; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Văn học nghệ thuật; Thông tin đại chúng; Giao lưu văn hóa với nước ngoài; Thể chế và thiết chế văn hóa…Với tính cách bao trùm như vậy, văn hóađược coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương,… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.

    Văn hóa Việt Namlà thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nền văn hóa Việt Namlà nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em.

    Bản sắc văn hóadân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo. Di sản văn hóadân tộc là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa.

    Nghị quyết Trung ương 5 đã xác định phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa nước ta. Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.

    Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ.

    Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.

    Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.Trong công cuộc phát triển văn hóa, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính, nhằm giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đồng thời “xây” phải đi đôi với “chống” những tư tưởng, hành vi, sản phẩm văn hóa lệch lạc, sai trái, lạc hậu, phản động; phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “đổi màu”.

    Bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, đòi hỏi sự kiên trì, thận trọng, đòi hỏi sự thuyết phục và nêu gương của Đảng, “đảng viên đi trước làng nước theo sau”.

    Nghị quyết đã xác định 10 nhiệm vụ cụ thể để xây dựng và phát triển văn hóa là: (1) Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính tốt đẹp; (2) Xây dựng môi trường văn hóa; (3) Phát triển sự nghiệp văn học – nghệ thuật; (4) Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; (5) Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; (6) Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; (7) Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; (8) Chính sách văn hóa đối với tôn giáo; (9) Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa; (10) Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa và thiết chế văn hóa.

    Cùng với việc thực hiện đồng bộ, toàn diện 10 nhiệm vụ nói trên, Nghị quyết yêu cầu chú trọng thực hiện nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội. Coi đây là nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm của sự nghiệp xây dựng văn hóa, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình.

    Nghị quyết cũng nêu lên 4 giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa là: (1) Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; (2) Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa; (3) Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa; (4) Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.

    Nghị quyết nêu rõ: Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Phải đặt mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Văn hóa đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên, ở các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo. Từ sự gương mẫu về mọi mặt của các tổ chức và từng cán bộ trong bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể mà phát huy vai trò lãnh đạo thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Gương mẫu là một nội dung, một phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo văn hóa của Đảng.

    2. Có thể khẳng định, Nghị quyết Trung ương 5 đã nhanh chóng đi vào đời sống và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Những quan điểm, tư tưởng của Nghị quyết đã được quán triệt và triển khai sâu rộng, không chỉ đối với các nhà hoạt động văn hóa, các nhà lãnh đạo, quản lý mà còn đối với đông đảo các tầng lớp nhân dân.Vì sao Nghị quyết lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy? Vì Nghị quyết đã đề cập đúng và trúng những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa, về văn hóa và phát triển, về văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã xác định được những định hướng cơ bản có tính chiến lược, đồng thời xác định được những trọng điểm cần giải quyết trước những vấn đề cấp bách đang đặt ra cho xã hội ta hiện nay trên lĩnh vực văn hóa. Đảng đã thể hiện rõ bản lĩnh văn hóa và sự nhạy cảm văn hóa trước những vấn đề mới nảy sinh về văn hóa trong Đảng và trong đời sống xã hội; đã đề ra được mục tiêu, định hướng, giải pháp khả thi, hiệu quả cho việc xây dựng và phát triển văn hóa của đất nước trong giai đoạn mới.

    Nghị quyết Trung ương 5 đã phát huy tác dụng to lớn đối với thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa nước ta trong hai thập niên qua. Kết quả thực hiện Nghị quyết đã tạo cho nền văn hóa Việt Nam có được nhiều giá trị, diện mạo và sắc thái văn hóa mới, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học, đại chúng. Việc xây dựng con người, xây dựng môi trường văn hóa, phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ, phát triển văn học nghệ thuật, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, chính sách văn hóa đối với tôn giáo, giao lưu văn hóa với nước ngoài, xây dựng và hoàn thiện thể chế và thiết chế văn hóa đều có nhiều thành tựu hết sức to lớn. Việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng, có ảnh hưởng lan tỏa rộng khắp đến đời sống văn hóa của cả nước, được mọi tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ hộ khá, giàu ngày càng tăng; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội chuyển biến tích cực; nhiều giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được bảo tồn… Sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người đã được các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương quan tâm trong các chính sách kinh tế – xã hội. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có bước chuyển biến quan trọng, bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Gắn kết chặt chẽ hơn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn kết chặt chẽ hơn việc xây dựng và phát triển văn hóa với xây dựng và phát triển con người Việt Nam. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa được tăng cường xây dựng và hoàn thiện. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc và của từng vùng, miền được kế thừa; di sản văn hóa của các dân tộc được bảo tồn, tôn tạo. Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng. Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động và đóng góp nguồn lực cho phát triển văn hóa ngày càng nhiều hơn. Văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới. Truyền thông đại chúng phát triển nhanh cả về loại hình, quy mô, lực lượng, phương tiện kỹ thuật và ảnh hưởng xã hội. Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa được mở rộng, có nhiều khởi sắc.

    Chủ trương của Đảng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển kinh tế vì mục tiêu văn hóa, vì sự phát triển con người đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho nhiều chương trình, kế hoạch phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân là những nhân tố quyết định tạo ra những chuyển biến tích cực của sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng con người.

    Tuy nhiên, so với những thành quả trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại,…) thành quả trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng; chưa đủ mức để tác động có hiệu quả đến việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đời sống văn hóa tinh thần ở không ít nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đạt hiệu quả chưa cao. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển còn thiếu quy hoạch, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận và xây dựng con người. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất – kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ. Nghiêm trọng hơn là tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”(2); “Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại (…) Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng”(3); “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”(4). Có thể nói, đây là mặt hạn chế lớn, là vấn đề gây bức xúc nhất trong đời sống văn hóa – xã hội ta hiện nay, đã được Nghị quyết Trung ương 5 sớm nhận diện, cảnh báo, nhưng đáng tiếc là chúng ta chưa tập trung đủ mức để ngăn chặn và đẩy lùi.

    Có thể khẳng định rằng, cho đến nay những đánh giá về thực trạng văn hóa nước ta; về phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa mà Nghị quyết Trung ương 5 nêu lên vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, mỗi cấp ủy và chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần xem xét nghiêm túc trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh”chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phải, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(5)… Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người suy thoái, tha hóa về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII)về xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị”(6).

    Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Tăng cường và nâng tầm lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học – nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa. Đẩy mạnh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa thành hệ thống chính sách và pháp luật để triển khai thực hiện. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa. Xây dựng, phát triển hợp lý các thiết chế văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa, xây dựng con người…

    Nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển văn hóa là xây dựng con người Việt Nam -chủ thể của nền văn hóaViệt Nam. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong xây dựng con người, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh và hoàn thiện nhân cách.

    “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện(…) trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”(7);làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    (1) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

    (2) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr.44-45

    (3), (4), (5), (6), (7) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr.125, 61, 202, 202, 126.

    PGS, TS Nguyễn Duy Bắc

    Phó Giám đốc

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 12 Về Kinh Tế Thị Trường
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 (Khóa Xii) Về Đổi Mới Và Nâng Cao Hiệu Quả Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 11 Doc
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 11
  • Từ Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Viii) Đến Nghị Quyết Trung Ương Iv (Khóa Xi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Bảy Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khoá Ix Sè 25
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi) Về Đổi Mới Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chương Trình Hành Động Thực Hiện Các Nội Dung Hội Nghị Trung Ương 8, Khóa Xii Của Đảng
  • Báo Bà Rịa Vũng Tàu
  • (QNĐT)-  vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta đặt ra và tiến hành thường xuyên trong quá trình 82 năm hình thành và phát triển của mình. Bước vào công cuộc đổi mới với nhiều yếu tố tác động khác nhau, vấn đề này càng đặt ra một cách cấp bách hơn bao giờ hết.

    Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (lần 2), vào năm 1999 Đảng ta đã ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Trải qua 12 năm thực hiện Nghị quyết, đã mang lại những kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào sự lớn mạnh của Đảng, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới của đất nước.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng ta cũng đã thẳng thắn nhìn nhận một thực tế, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp diễn ra ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn phạm vi. Những biểu hiện cụ thể của tình trạng này gồm:

    Một là, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có xu hướng gia tăng. Khi bước vào thời kỳ đổi mới, mới chỉ là một lời cảnh báo tại Đại hội VI: “Trong xã hội ta đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của mình, có ý thức tôn trọng và bảo vệ của công, chăm lo lợi ích của tập thể, của nhà nước, với lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền”, thì đến nay, tình trạng đó đã, đang diễn ra ngay trong Đảng.

    Từ chỗ chỉ có ở “một bộ phận” thì nay đã diễn ra ở “một bộ phận không nhỏ”, trong đó có cả cán bộ đảng viên có chức, có quyền. Nếu như trước kia tình trạng này diễn ra ở một số cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, thì nay đã xảy ra tất cả các ngành, các lĩnh vực. Mức độ này ngày càng tăng, nếu trước kia chủ yếu là những hành vi mang tính chất cá nhân, đơn lẻ thì nay ngày càng chặt chẽ, móc nối trên dưới, trong ngoài để trục lợi như: thông đồng, chia chác giữa các bên trong đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng, mua sắm vật tư, đấu thầu và chỉ định thầu, phân phối dự án, hoàn thuế giá trị gia tăng, trong cấp phát vốn, trong điều tra truy tố xét xử…

    – Hai là, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng. Việc này không chỉ có ở đảng viên trẻ mà còn biểu hiện cả trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nói chung, nhất là những cán bộ nắm nhiều quyền lực và tài sản công. Lối sống này trái với đạo đức, phẩm chất của người cộng sản “cần kiệm liên chính, chí công vô tư” như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

    Báo cáo của Bộ Chính trị trình Hội nghị trung ương VI (lần 2) khóa VIII đã đề cập đến 5 kiểu “chạy”. Đó là “chạy chức”, trước khi bầu cử; “chạy quyền” trước khi bổ nhiệm, thuyên chuyển công tác cán bộ; “chạy chỗ”, nhằm tìm chỗ kiếm được nhiều lợi (chẳng những cho bản thân mà còn cho cả người thân, người nhà); “chạy lợi” khi phân chia ngân sách, xét duyệt dự án đầu tư, giao thầu, tính thuế, xét duyệt đề tài nghiên cứu….; “chạy tội” cho bản thân, cho người thân…thì gần đây trong các báo cáo xây dựng Đảng, Trung ương đã bổ sung thêm các hình thức “chạy” khác như “chạy bằng cấp”, “chạy huân chương”, “chạy tuổi”… đang bị xã hội lên án gay gắt, cán bộ, đảng viên bức xúc nhưng chưa có biện pháp cụ thể và hiệu quả để ngăn chặn.

    – Ba là, tình trạng nói nhiều làm ít; nói nhưng không làm. Tình trạng này còn xảy ra ở không ít cán bộ, đảng viên, trái với lời dạy của Bác Hồ là “nói phải đi đôi với làm”, “dù khó khăn đến mấy cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng”. Thực tế, vẫn còn tình trạng nói một đàng, nhưng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thậm chí nói suông mà không làm ở một bộ phận cán bộ.

    – Bốn là, tình trạng quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật. Trong Đảng ta hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người lãnh đạo còn xa dân, không sát cơ sở, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới, nên có trường hợp đề ra chủ trương chính sách không phù hợp với thực tế, làm người dân không đồng tình.

    – Năm là, tình trạng tham nhũng, làm thất thoát tài sản Nhà nước và nhũng nhiễu cho nhân dân gây hậu quả nặng nề về kinh tế – xã hội, đặc biệt làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân. Biểu hiện của tình trạng này là sự “hạch sách”, “vòi vĩnh” nhân dân ở nhiều cán bộ, đảng viên, công chức khi thực thi công vụ diễn ra ngày càng nhiều gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, làm nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân băn khoăn, chưa thật sự tin tưởng đối với cuộc đấu tranh phòng chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí mà Đảng và toàn xã hội đang phát động.

    Từ những biểu hiện trên, có thể thấy việc suy thoái đạo đức lối sống ở cán bộ, đảng viên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Khách quan là đời sống cán bộ còn khó khăn, ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, kẻ xấu mua chuộc, chính sách cán bộ chưa hợp lý…; nhưng cũng có nguyên nhân từ cơ chế quản lý cán bộ lỏng lẻo, không phù hợp để cán bộ lợi dụng kẻ hở pháp luật gây phiền hà cho người dân; thiếu sự kiểm tra, giám sát…

    Về nguyên nhân chủ quan, trước hết đó trình độ cán bộ còn hạn chế, thể hiện ở chỗ nhận thức không đúng về xã hội, bám vào một vị trí quyền lực nào đó để tư lợi chứ không phải để hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Ngoài ra, còn có nguyên nhân là do thiếu tu dưỡng, có những cán bộ trình độ học vấn rất cao, có kiến thức cũng vi phạm đạo đức, thậm chí vi phạm pháp luật…

    Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực trên trên đã làm cho nhân dân bất bình, lo lắng, giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, là nhân tố kìm hãm bước tiến của công cuộc đổi mới mà Nghị quyết Trung ương IV (khóa XI) lần này vẫn cho đó là nguy cơ, hiểm họa lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta.

    Vì vậy, tiếp nối tinh thần của Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) lần này, Đảng ta quyết định phải tiếp tục tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng và toàn xã hội; tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

    Hy vọng, với những giải pháp mạnh mẽ cùng với sự đồng thuận của toàn Đảng và toàn xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới sẽ mang lại những kết quả khả quan, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao uy tín, bồi đắp thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay.

                                                                      Th.s Đỗ Tiến Cẩn

                                                             (Trường Chính trị Quảng Ngãi)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Tổ Chức Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền Nghị Quyết Đại Hội Xiii Của Đảng
  • Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 (Khóa Xii)
  • Sự Chuyển Hướng Chỉ Đạo Chiến Lược Cách Mạng Của Đảng Thời Kỳ 1939
  • Hội Nghị Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 25
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới
  • Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 (Khóa Xi) Về Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 973/2015/ubtvqh13 Sửa Đổi Bảng Phụ Cấp Chức Vụ Đối Với Cán Bộ Lãnh Đạo Của Nhà Nước Và Đại Biểu Quốc Hội Hoạt Động Chuyên Trách, Bảng Lương Chuyên Môn, Nghiệp Vụ Ngành Tòa Án, Ngành Kiểm Sát Kèm Theo Nghị Quyết 730/2004/nq
  • Công Bố 7 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Hội Nghị Cán Bộ Toàn Quốc Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Hội Đồng Thẩm Phán Tandtc Hướng Dẫn Áp Dụng Pháp Luật Về Lãi, Lãi Suất, Phạt Vi Phạm Trong Hợp Đồng Vay Tài Sản.
  • LCĐT – Sáng nay (12/3), tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, Tỉnh ủy Lào Cai tổ chức Hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”.

    GS.TS Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Nghị quyết 29.

    Tại hội nghị, chúng tôi Phạm Vũ Luận, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp triển khai Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Theo đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là quá trình diễn ra theo từng bước, sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới tư duy, nhận thức về giáo dục. Đồng chí Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đánh giá cao những nỗ lực của tỉnh Lào Cai trong phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo những năm qua, đặc biệt là những đổi mới giáo dục, thể hiện ở việc triển khai những mô hình giáo dục mới phù hợp, hiệu quả.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Vịnh phát biểu tại hội nghị.

    Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai cảm ơn đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Thực hiện Nghị quyết 29, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Chương trình hành động số 153 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, đưa ra những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện. Trong thời gian tới, tỉnh Lào Cai tập trung thực hiện 5 nhóm giải pháp nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đó là: Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đối với sự nghiệp giáo dục; đổi mới công tác quản lý và nâng cao vai trò chủ động tham mưu của ngành giáo dục – đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục và xây dựng xã hội học tập; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục; xây dựng các đề án, dự án, ban hành các chính sách đặc thù của tỉnh phù hợp với thực tiễn giáo dục. Theo đó, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 29 và Chương trình hành động 153 của Tỉnh ủy phải thực sự linh hoạt, sáng tạo, bám sát thực tiễn của từng địa phương, từng cấp học để lựa chọn những vấn đề trọng tâm, trọng điểm; xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện hiệu quả, tạo sự đột phá ở mỗi địa phương, đơn vị. Đối với mỗi cán bộ, giáo viên, tùy theo vị trí công tác, cần nỗ lực hết mình, phát huy vai trò, trách nhiệm trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xi Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Tỉnh Ủy Tiền Giang Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Ix) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”.
  • Huyện Uỷ Giồng Trôm: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khoá Ix) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Trước Hết Là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Ủy Viên Ban Bí Thư, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 Hoàn Thành Chương Trình Đề Ra
  • Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii), Quân Đội Đẩy Mạnh Các Hoạt Động Văn Hóa, Văn Học, Nghệ Thuật
  • Kế Hoạch Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii) Về Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Hội Nghị Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Viii
  • Đảng Bộ Nông Sơn Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw 5 (Khóa Viii) Của Đảng
  • Khai Mạc Trọng Thể Hội Nghị Trung Ương 9 (Khóa Xi)
  • Tong Ket Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 (khóa Viii), De Cuong Bao Cao Tong Ket Thuc Hien Nghi Quyet Trung Uong 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Bao Cao Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa Viii Cuar Cap X, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 3 Hoa Viii, Tong Ket Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa 8, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Tw 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ, Báo Cáo Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 5, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 4, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 28 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 28 Trung ương 8 Khóa 11, Nghi Quyet So 20 Trung Uong 6 Khoa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 22 Trung ương 6 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Nghị Quyết 8 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Doc, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Pdf, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11, 3 Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, 4 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Bản Cam Kết Về Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết 4 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 9, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 7, Nghị Quyết 11 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 6 Trung ương Khoá 12, Nghị Quyết Số 10 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 12 Trung ương 5 Khóa 12, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Bài Thu Hoạch 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Xii, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghi Quyet Trung Uong 7 Khoa 11, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Bai Thu Hoach Nghi Quyet Trung Uong 5 Khoa 11, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Bai Thu Hoach Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Bai Thu Hoach Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 11, Mâu Bài Viết Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa Xi, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, 5 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12,

    Tong Ket Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 (khóa Viii), De Cuong Bao Cao Tong Ket Thuc Hien Nghi Quyet Trung Uong 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Bao Cao Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa Viii Cuar Cap X, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 3 Hoa Viii, Tong Ket Nghi Quyet Trung Uong 3 Khoa 8, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Tw 3 Khóa Viii, Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ, Báo Cáo Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 5, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 4, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 28 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 28 Trung ương 8 Khóa 11, Nghi Quyet So 20 Trung Uong 6 Khoa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 22 Trung ương 6 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Nghị Quyết 8 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Doc, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Pdf, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 11 Khóa 12,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ
  • Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ
  • Mẫu Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ
  • Mẫu Toàn Văn Nghị Quyết 19
  • Mẫu Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa 12 Của Đảng Chi Tiết Đầy Đủ Nhất
  • Bài Tập Đường Lối: Nghị Quyết Trung Ương 2 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khoá Viii) Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên & Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii: Tăng Cường Công Khai, Minh Bạch, Dân Chủ Giữa Đảng Với Dân
  • Mẫu Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12
  • Kế Hoạch Học Tập, Quán Triệt Và Tuyên Truyền Và Triển Khai Thực Hiện Các Nội Dung Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii
  • A/ LỜI MỞ ĐẦU Bác Hồ lúc sinh thời từng nói: “Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có thể bước tới đài vinh quanh để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.” .Qua đó, ta có thể thấy giáo dục-đào tạo có một vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận định rõ được điều này, Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm và sự định hướng của mình với giáo dục-đào tạo qua Nghị quyết TW2 khóa VIII. Trong phạm vi bài viết của mình, nhóm chúng em xin được giới thiệu sơ qua về Nghị quyết này. B/NỘI DUNG: I/Nội dung nghị quyết 1/ Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta trước 1996 Phần đầu tiên của Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII đã tổng kết lại những thành tựu cùng như hạn chế từ đó đề ra phương hướng phát triển ngành giảo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới. Thông qua Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII chúng ta có thể nhân thấy được nhưng thành tựu giáo dục trong cả chặng đường từ 1945 đến 1996. Tiêu biểu cho những thành tựu đó là: “Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp ; ngǎn chặn được sự giảm sút quy mô và bước tǎng trưởng khá; chất lượng giáo dục – đào tạo có tiến bộ về các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật; nhiều học sinh đạt giải quốc tế; ở nhiều nơi hình thành phong trào học tập sôi nổi;… Đồng thời Nghị quyết đã chỉ rõ nhưng mặt yếu kém của giảo dục Việt Nam Vẫn còn 9% dân số mù chữ; tỷ lệ sinh viên còn thấp; tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 10%. Cơ cấu ngành,trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng chưa hợp lý..Chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo còn thấp. Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tǎng.. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục – đào tạo trong giai đoạn mới… Nguyên nhân của những yếu kém này là do: Công tác quản lý giáo dục – đào tạo có những mặt yếu kém. Cơ chế quản lý của nghành giáo dục – đào tạo chưa hợp lý. Nội dung giáo dục – đào tạo vừa thừa vừa thiếu. Phương pháp giáo dục-đào tạo chậm đổi mới. Giáo dục- đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn mật thiết với gia đình và xã hội. Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện giáo dục- đào tạo. .. 2/ Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa: Để thực hiện yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục – đào tạo, vừa gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục – đào, Nghị quyết đã đề ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá với những tư tưởng chỉ đạo như sau: Một là, nhiệm vụ chủ yếu và cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách về công bằng xã hội. Hai là, thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu. Ba là, coi giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Bốn là, phát triển giáo dục – đào gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, với tiến bộ khoa học – công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo. Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục – đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý. Đồng thời Hội nghị cũng đặt ra những mục tiêu phát triển cho giáo dục nước ta đến năm 2022, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và hoàn thiện, nâng cao chất lượng toàn bộ hệ thống giáo dục, từ bậc học mầm non cho tới đại học và trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu về con người cho đất nước. Đây là mục tiêu có tính chiến lược, dài hạn, đòi hỏi sự nỗ lực và phối hợp lớn không chỉ từ Bộ giáo dục mà cả từ hệ thống giáo dục trên cả nước. 3/ Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2000 Phát huy những thành tựu đã đạt được, phát huy các mặt yếu kém theo hướng: chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục – đào tạo và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo; phát triển quy mô giáo dục – đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21. Trên cơ sở định hướng chiến lược trình bày ở trên, tiến hành xây dựng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo cho thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Ban hành Luật giáo dục. Trong nǎm nǎm này, Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội và toàn dân phải tập trung sức thực hiện bằng các nhiệm vụ trên, giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm, tạo nên sự phát triển ổn định với một chất lượng được cải thiện, phát triển nguồn nhân lực yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, điều kiện giải quyết việc làm cho nhân dân, nhất là thanh niên. Mục tiêu cụ thể nǎm 2000 Nghị quyết đã xác định được những mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục trí dục, thẩm dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả nǎng tư duy sáng tạo và nǎng lực thực hành. – Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi.. – Phổ cập giáo dục bậc tiểu học được học đủ 9 môn theo trương trình quy định. Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm.- Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi 15 – 35- Tǎng quy mô học nghề bằng mọi hình thức để đạt 22% – 25% đội ngũ lao động được qua đào tạo vào nǎm 2000. Kế hoạch đào tạo nghề phải theo sát chương trình kinh tế – xã hội của từng vùng, phục vụ cho sự chuyển đổi lao động, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và nông nghiệp. – Nâng quy mô giáo dục đại học, cao đẳng lên 1,5 lần so với nǎm 1995 với cơ cấu đào tạo hợp lý , theo sát nhu cầu phát triển. Xây dựng một số trường đại học trọng điểm. – Có hình thức trường, lớp thích hợp nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách. – Đối với miền núi, vùng sâu vùng khó khǎn, xoá “điểm trắng” về giáo dục ở bản, ấp. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và bán trú cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học để tạo cán bộ cho các dân tộc…. 4/ Những giải pháp chủ yếu Không chỉ đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà nghị quyết Trưng ương 2 khoá VIII còn đưa ra những giải pháp trên từng bước đi chặng đường nhằm định hướng chiến lược phát triển gíáo dục – đào tạo trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nghị quyết đã đưa ra 4 giải pháp chính, khắc phục những nhược điểm cũng như để phù hợp với tình hình của nền giáo dục hiện tại. Đó là : tăng cường các nguồn lực có giáo dục – đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học; tiếp tục đổi mới nội dung phương pháp giáo dục – đào tạo, và tăng cường cơ sở vật chất các trường học; đổi mới công tác quản lí giáo dục. Với phương châm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc tăng cường nguồn lực cho giáo dục – đào tạo là hoàn toàn hợp lí. Nghị quyết đã khẳng định: Đầu tư cho giáo dục – đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục – đào taọ và được sử dụng tập trung, ưu tiên cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đào tạo cán bộ cho một số ngành trọng điểm, bồi dưỡng nhân tài, trợ giúp cho giáo dục ở những vùng khó khǎn và diện chính sách. Công khai mức học phí và các khoản đóng góp, luôn ưu tiên hộ trợ cho người nghèo và người thuộc diện chính sách. Đặc biệt với chính sách cho học sinh sinh viên vay vốn để có điều kiện học tập đã giúp cho nhiều hoàn cảnh khó khăn tiếp tục trên con đường học tập. Xây dựng đội ngũ giáo viên. tạo động lực cho người dạy, người học.. Hết sức tạo điều kiện trong việc đào tạo trong các trường sư phạm, có những chính sách ưu tiên cho giáo viên có thể yên tâm học tập và giảng dạy ở khắp các vùng miền trên cả nước. Trong bất cứ một vấn đề nào thì phương pháp luôn giữ một vai trò quan trọng. Chính bởi thế Nghị quyết chủ trương tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục- đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất trong các trường học.. Đổi mới chương trinh sách giáo khoa cho phù hợp, tổ chức cho học sinh sinh viên tham gia nhiều hoạt động đảm bảo phát triển toàn diện. Giải pháp thứ 4 là đổi mới công tác quản lí giáo dục. Luôn phải tăng cường dự báo và kế hoạch sự nghiệp giáo dục. Quy định lại chức năng, nhiệm vụ các cơ quan quản lí, kiểm soát chặt chẽ chương trình và chất lượng. Xử lí nghiêm các trường hợp tiêu cực trong ngành. Coi trong công tác nghiên cứu khoa học giáo dục. Tăng cường hợp tác nước ngoài.những đổi mới về nội dung, quy trình phương pháp giáo dục, đấnh giá… đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định. Có thể nói những giải pháp mà Đảng đề ra trong nghị quyết là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục trong thời kì mới, nó như những chủ trương chiến lược để các cấp các ngành và từng cá nhân làm theo tiến tới mục tiêu phát triển nền giáo dục nước nhà. 5/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục – đào tạo Trong nghị quyết TW2 khóa VIII, sự lãnh đạo của Đảng với giáo dục và đào tạo đã được tăng cường, đều được triển khai theo chỉ thị của Đảng, cụ thể là Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Ở cấp TW, việc thể chế hóa nhiệm vụ, mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo đến nǎm 2000, tổng kết những đổi mới trong giáo dục – đào tạo được tổng kết và xây dựng chiến lược được Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo. Dự án Luật Giáo dục cũng được Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo hoàn thiện trình lên Quốc hội. Ở cấp dưới, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt Trận tổ chức phong trào toàn dân học tập, tham gia làm giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở từng địa phương, trước hết trong chính đoàn thể mình. Tổ chức Đảng được tǎng cường xây dựng, củng cố để trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các trường học. II/ Đánh giá thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VIII 1/Mặt tích cực: – Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và chính sách giáo dục. Phát huy được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường, khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục. – Cải thiện công bằng xã hội trong giáo dục, đặc biệt đối với trẻ em gái, dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội… Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển. – Các trường công lập giữ được vai trò nòng cốt trong phổ cập giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. các trường ngoài công lập phát triển nhanh về số lượng. Việc phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ. – Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn. Quy mô giáo dục tăng nhanh (ở bậc đại học và đào tạo nghề). Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. – Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở phổ thông, dạy nghề và đại học đang được tích cực thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với phương pháp học tập mới. Chất lượng đào tạo sau đại học, đại học, đào tạo nghề ở một số ngành được nâng lên. – Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh. Việc huy động các nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được kiểm soát và tăng dần hiệu quả sử dụng, đạt hiệu quả khá cao. – Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục. 2/Mặt hạn chế: Tuy nhiên, trong quá trinh thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VII giáo dục, đào tạo nước ta vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa đáp ứng được với yêu cầu mà nghị quyết đã đề ra. Giáo dục chưa thực sự là quốc sách hàng đầu. Mặc dù hàng năm, giáo dục được đầu tư ngân sách rất lớn nhưng hiệu quả sử dụng lại không cao. Chất lượng giáo dục còn thấp, chênh lệch giữa các vùng miền, chú trọng số lượng hơn là chất lượng. Trong những năm gần đây, việc thành lập các trường đại học, cao đẳng mới tràn lan trong khi các trường này không đáp ứng được các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên khiến chất lượng đào tạo đi xuống, sinh viên ra khỏi trường không kiếm được việc làm. Hệ thống giáo dục chưa liên thông, đồng bộ giữa các cấp học, ngành học, cơ cấu, trình độ ngành nghề, vùng, miền. Việc giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống dân tộc chưa được chú trọng đúng mức cả về nội dung lẫn phương pháp khiến học sinh thiếu kĩ năng sống, mất cân đối trong việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiên đại hóa. Nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội, nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên; thi cử còn nặng nề, tốn kém. Giáo dục phổ cập ở nhiều cơ sở chưa bền vững.Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, chậm đổi mới chưa theo kịp được với sự phát triển trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của các cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu. Chât lượng nghiên cứu khoa học còn nhiều bất cập chưa đề ra được những biện pháp hiệu quả khắc phục những hạn chế, yếu kém. Định hướng liên kết với nước ngoài còn nhiều lúng túng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Quản lý sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài còn lỏng lẻo. Một số ngành, địa phương chưa nhận thức đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục làm hạn chế khả năng thu hút các nguồn lực để chăm lo cho công tác giáo dục đào tạo III/ KẾT LUẬN Giáo dục – đào tạo đã, đang và vẫn sẽ luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Đảng ta mà còn của toàn xã hội. Nghị quyết TW2 khóa VIII là bản tổng kết tình trạng thời kỳ trước đó và mục tiêu, định hướng lãnh đạo của Đảng ta về giáo dục – đào tạo trong giai đoạn 1996-2000. Tuy vẫn còn tồn tại một số nhược điểm nhưng cũng không thể phủ nhận những đổi mới trong đường lối định hướng lãnh đạo của Đảng ta với công tác giáo dục. Đây là một trong những cố gắng của Đảng để hoàn thiện, chăm lo đời sống của nhân dân, đưa nước ta từng bước phát triển tiến tới có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước của Bác Hồ năm nào

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 Lần 2 Khóa Viii
  • 4 Quan Điểm Của Nghị Quyết 8B Khóa Vi
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng Viên
  • Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3, Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyển Biến Từ Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Gắn Với Chỉ Thị 05
  • Nghị Quyết Tw Đảng Khóa 8 Về Gd_Đt 29Nqtw Doc
  • Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương Về Khoa Học Và Công Nghệ
  • Nghị Quyết Trung Ương 6 Về Phát Triển Khoa Học Và Công Nghệ
  • Ban Hành Nghị Quyết Trung Ương 6 Về Phát Triển Khcn
  • Các đồng chí: Chẩu Văn Lâm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIV của tỉnh; Nguyễn Hồng Thắng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Phạm Minh Huấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; lãnh đạo các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; lãnh đạo Ban Tổ chức các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy.

    Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Thành Công

    Từ năm 2009 đến nay, đội ngũ cán bộ trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến tích cực về chất lượng, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 20.100 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó hơn 10.400 người có trình độ chuyên môn đại học trở lên, hơn 12.600 cán bộ là đảng viên. Hàng năm, công tác đánh giá, phân loại cán bộ được thực hiện nghiêm túc, trong đó 24,02% cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 62,65% hoàn thành tốt nhiệm vụ, 12,81% hoàn thành nhiệm vụ. Việc nâng cao vai trò, năng lực của người đứng đầu được thực hiện có hiệu quả; công tác đào tạo cán bộ gắn với phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng, phát huy nhân tài, tạo nguồn cán bộ, quy hoạch, bổ nhiệm được cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ có cơ hội phát huy trình độ, năng lực, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    Phát biểu kết luận tại hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Chẩu Văn Lâm đã ghi nhận việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII được cấp ủy các cấp, các tổ chức chính trị, xã hội thực hiện nghiêm túc. Đồng chí nhấn mạnh, trong thời gian tới, để đảm bảo xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cấp ủy các cấp cần tập trung vào các nội dung như: Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm và mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ theo sự chỉ đạo của Trung ương; xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế về cán bộ và công tác cán bộ; đổi mới, triển khai đồng bộ các khâu về đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp trên về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; việc đổi mới công tác tổ chức cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ phải được tiến hành đồng bộ trong cả hệ thống chính trị…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Ban Chỉ Đạo Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa X
  • Đảng Ủy Công An Trung Ương Lãnh Đạo, Chỉ Đạo Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 (Khóa X)
  • Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa X
  • Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8
  • Bài Phát Biểu Bế Mạc, Kết Luận Hội Nghị Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược
  • Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Trung Ương 8 Năm 1998
  • Tiếp Tục Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Nêu Trong Nghị Quyết Tw 5 (Khóa Viii) Về Văn Hóa
  • Những Quyết Sách Quan Trọng Từ Hội Nghị Trung Ương 8
  • Hội Nghị Trung Ương Ðảng Lần Thứ 8 Với Việc Tổ Chức Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng Tiến Tới Tổng Khởi Nghĩa Tháng 8 Năm 1945
  • Hội Nghị Lần Thứ Tám Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng
  • Ngày 08-8, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm (1998 – 2013) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

    Dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Hoàng Tuấn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các đồng chí nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương và Hà Nội; các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia văn hóa và các văn nghệ sỹ tiêu biểu trong cả nước. Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã gửi lẵng hoa chúc mừng.

    Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh nêu rõ: Cách đây 15 năm, ngày 16 tháng 7 năm 1998, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết ” Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc“. Đây là văn kiện chuyên đề, sâu sắc và toàn diện về văn hoá sau Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) vừa có tính chiến lược lâu dài, vừa có tính cương lĩnh hành động trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới để thực sự bước vào thời kỳ CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, tạo bước ngoặt về tư duy và nhận thức văn hóa. Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (tháng 7-2004) đã khẳng định: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII thực sự có ý nghĩa chiến lược về văn hóa của Đảng ta.

    Sau khi Nghị quyết ra đời, ngành Văn hoá từ Trung ương đến cơ sở đã tổ chức quán triệt, ban hành chương trình hành động, tổ chức triển khai. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế được ban hành nhằm hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động văn hoá. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt được nhiều thành tựu; vị trí, vai trò của văn hoá truyền thống được đề cao; tư tưởng, đạo đức, lối sống của người Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực; thể chế, thiết chế văn hoá được củng cố, tăng cường về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng; vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế ngày càng được chú trọng; công tác tu bổ, tôn tạo, bảo tồn di sản văn hoá đạt được nhiều kết quả tốt, từ việc xây dựng các văn bản pháp quy đến việc đưa các di sản đến với thế giới; đời sống văn hoá cơ sở đã có bước phát triển mới; nhận thức về giá trị di sản văn hoá và truyền thống văn hoá được nâng cao; xã hội hoá hoạt động văn hoá được đẩy mạnh, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hoá, hoạt động sân khấu, văn nghệ quần chúng; giao lưu, hợp tác, hội nhập văn hoá quốc tế từng bước được mở rộng.

    Đội ngũ sáng tác, biểu diễn ngày càng đông, hoạt động nghệ thuật biểu diễn phong phú; đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa ngày một trưởng thành. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” có tác động to lớn đối với việc xây dựng gương người tốt việc tốt, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, việc xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã, phường, khu phố văn hóa… góp phần ổn định chính trị, giữ gìn, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nếp sống văn hoá, môi trường văn hoá lành mạnh ở cơ sở.

    Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương những kết quả mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã làm được trong suốt 15 năm qua. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và chăm lo phát triển văn hóa, coi văn hóa là một mặt trận quan trọng trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

    Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), nhận thức về vai trò, vị trí văn hóa trong Đảng, trong xã hội được nâng lên rõ rệt. Chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Nguồn lực văn hoá, mà trước hết là nguồn lực con người ngày càng được phát huy, phát triển toàn diện. Quan hệ hợp tác quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng và phát huy sức mạnh. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng.

    Tư tưởng, đạo đức và lối sống của con người Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, quan trọng. Các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được đề cao, kế thừa, phát triển; đồng thời nhiều giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức mới từng bước được hình thành phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước. Tính năng động và tích cực của mỗi người dân, doanh nghiệp được phát huy, sở trường và năng lực sáng tạo cá nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội ngày càng được mở rộng và phát triển. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” được đề cao; các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “hướng về cội nguồn”, tưởng nhớ các Anh hùng dân tộc… là những hoạt động văn hoá tốt đẹp, thấm đượm tinh thần nhân văn ngày càng nở rộ.

    Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được phát triển và ảnh hưởng tích cực đến đời sống văn hóa cả nước. Môi trường văn hóa, các thiết chế văn hóa cơ sở, các phong trào quần chúng hoạt động văn hóa nghệ thuật đạt nhiều tiến bộ. Gia đình văn hóa với tinh thần “ông – bà, cha – mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền” được chú trọng đã phát huy những yếu tố tích cực, góp phần duy trì và bảo vệ gia phong truyền thống – tế bào lành mạnh của xã hội.

    Đội ngũ sáng tạo văn học nghệ thuật đã có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Các hoạt động sáng tác và phổ biến văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng. Nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng tốt hướng vào các đề tài lịch sử, cách mạng và phản ánh sự sôi động, đa chiều, những tấm gương sáng của công cuộc đổi mới. Đề tài cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm hơn. Văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể thể hiện sự đa dạng, phong phú của cộng đồng các dân tộc Việt nam. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật đã đạt nhiều kết quả tích cực.

    Giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá, nghệ thuật được mở rộng và thực sự khởi sắc. Phát huy tiềm năng và thế mạnh, lĩnh vực du lịch đóng góp ngày càng nhiều vào phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời tăng cường giao lưu văn hóa giữa người dân các vùng miền trong cả nước cũng như giới thiệu văn hóa, lịch sử Việt Nam với các du khách quốc tế. Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá được quan tâm chú trọng, ngày càng chuyên nghiệp hoá và đạt được nhiều kết quả tốt, đưa các di sản đến với thế giới.

    Hệ thống các thiết chế văn hoá cơ sở được quan tâm, đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo ngày càng được quan tâm nhiều hơn cả vật chất và tinh thần, góp phần cân bằng sự hưởng thụ văn hoá giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa. Huy động đầu tư ngày càng nhiều từ các nguồn lực xã hội, phát triển nhiều công trình văn hóa trọng điểm cấp quốc gia đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của các tầng lớp nhân dân và giao lưu, hội nhập quốc tế.

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động văn hóa ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hoá, đưa sự nghiệp văn hóa phát triển lên tầm cao mới.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) 15 năm qua. Đó là, nhân cách văn hóa của người Việt Nam có nơi, có lúc vẫn chưa được quan tâm ngay từ gia đình, từ nhà trường; sự tha hóa, lối sống xa hoa, phù phiếm, giả dối có xu hướng ngày càng phát triển, bệnh thành tích và hình thức trong tổ chức các hoạt động, các sự kiện văn hóa ngày càng lan rộng.

    Hệ thống văn bản pháp quy về văn hóa chưa thích ứng với sự năng động của nền kinh tế thị trường. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa, nghệ thuật nhiều lúc còn lúng túng. Hoạt động trùng tu, tôn tạo, bảo tồn di sản có lúc có nơi vẫn thực hiện chưa nghiêm, gây bức xúc trong dư luận…

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Những yếu kém và sa sút này không chỉ làm suy giảm tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, mà còn có thể làm chệch hướng phát triển, làm xấu hình ảnh của đất nước, con người, văn hóa Việt Nam. Đó không chỉ là một nguy cơ lớn, mà còn có thể là nguy cơ của mọi nguy cơ, đặc biệt khi chúng ta mở rộng hội nhập với thế giới.

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, tổng kết 15 năm (1998 – 2013) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) cần đặt trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011). Khắc phục những yếu kém về văn hóa phải bắt đầu từ văn hóa, nhưng không chỉ bằng văn hóa. Các hoạt động kinh tế và chính trị, các mối quan hệ xã hội trên lĩnh vực kinh tế và chính trị thường xuyên tác động tới tâm tư, tình cảm của mỗi con người.

    Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian tới đạt hiệu quả cao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm sau:

    Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã tạo ra cả cơ hội và thách thức cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Ngành Văn hoá, thể thao và du lịch phải chủ động phối hợp với các ngành, các cấp nghiên cứu, có những cách làm hay, sáng tạo, thực hiện các giải pháp hiệu quả nhất để tranh thủ cơ hội, phát huy những tiềm năng, lợi thế, những mặt tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Thứ hai, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, để dân tộc ta không đánh mất mình trong thế giới luôn phát triển và biến động khó lường, để hội nhập mà không hòa tan, không đánh mất giá trị văn hóa của dân tộc, toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch phải tích cực triển khai “Chiến lược phát triển văn hóa đến 2022”.

    Xây dựng các kế hoạch hành động phù hợp nhằm phát huy nội lực, khai thác các lợi thế, thành tựu đã đạt được và thế mạnh của công nghệ thông tin, truyền thông toàn cầu, hội nhập quốc tế để chủ động hội nhập văn hoá, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, làm giàu truyền thống văn hoá dân tộc từ tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời có đóng góp tích cực vào kho tàng văn hoá nhân loại.

    Thứ ba, để xây dựng văn hóa, phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc trở thành năng lực nội sinh của phát triển, như lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, toàn ngành văn hóa,thể thao, du lịch cần có các biện pháp và hành động thiết thực để thực hiện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu, tấm gương sáng về văn hóa của dân tộc.

    Cần phải xây dựng hệ thống chính sách, biện pháp thực thi phù hợp để khai thác và phát huy được tiềm năng kinh tế của văn hóa và tiềm năng văn hóa trong kinh tế. Trong đó chú trọng xử lý thật tốt và hiệu quả quan hệ gắn kết giữa phát triển văn hóa và phát triển du lịch bền vững, giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội.

    Thứ tư, kế thừa tinh hoa trong nhân cách văn hóa Việt Nam từ ngàn đời để xây dựng con người Việt Nam với các giá trị văn minh mới của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Mỗi người dân, gia đình, làng xã, công sở, đơn vị, doanh nghiệp cùng nỗ lực, sáng tạo, chung tay xây dựng môi trường văn hóa quốc gia lành mạnh, văn minh và là nền tảng cho quá trình nhập thân văn hóa của mỗi người chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau.

    Thứ năm, toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch cần phải tăng cường hơn nữa vai trò và trách nhiệm quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống văn hóa xã hội, tăng cường kiểm tra, thanh tra, kịp thời ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực. Đồng thời tập trung thực hiện nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa Việt Nam văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc, truyền thống dân tộc với những thiết chế văn hóa mới xứng tầm thời đại, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân hiện nay và mai sau.

    Nguồn: dangcongsan.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Huyện Ủy Bình Đại Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Xi)
  • Thông Báo Hội Nghị Lần Thứ 5 Bch Tw Đảng Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa 12
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Ix) Và Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Quy Định Số 57
  • Đoàn Công Tác Của Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng::khảo Sát Về Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Ix) Tại Tỉnh Gia Lai
  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 Lần 2 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Đường Lối: Nghị Quyết Trung Ương 2 Khóa Viii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khoá Viii) Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên & Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii: Tăng Cường Công Khai, Minh Bạch, Dân Chủ Giữa Đảng Với Dân
  • Mẫu Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12
  • BÁO CÁO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 ( LẦN 2 ) KHÓA VIII

    VỀ ĐẨY MẠNH CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, ĐẤU TRANH

    NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI TỆ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ (2000 – 2005)

    Phần thứ nhất KIỂM ĐIỂM THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI TỆ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ

    Quận uỷ đã tổ chức thực hiện nghiêm túc Kế hoạch số 39-KH/TU ngày 17/3/1999 của Thành uỷ về triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, triển khai học tập, quán triệt nghị quyết cho cán bộ chủ chốt trong 2 ngày có 215 đồng chí dự, cho đảng viên trong 1 ngày có 1.940 đồng chí dự, đạt 87%. Trong học tập đã triển khai một số các quy định, chỉ thị của Thành uỷ, về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, những điều đảng viên không được làm, chế độ kiểm tra cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ. Tổ chức đợt sinh hoạt kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiến tới kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng; học tập Cương lĩnh, Điều lệ Đảng cho đảng viên (có 2.150 đồng chí dự, đạt 85%), học tập 10 chuyên đề về tư tưởng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh cho cán bộ chủ chốt. Qua việc học tập đã tổ chức các đợt tự phê bình và phê bình trong tổ chức Đảng, đảng viên nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng, rèn luyện nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, tăng cường đoàn kết nội bộ.

    Thực hiện các quy định, chỉ thị của Trung ương và Thành uỷ về việc đánh giá, phân loại tổ chức Đảng, đảng viên, kiểm điểm cán bộ. Định kỳ tổ chức sơ kết việc thực hiện các quy định, chỉ thị như kiểm tra việc lãnh đạo thực hiện quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; việc lập lại kỷ cương chấp hành pháp luật, nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước; về trách nhiệm của người có chức vụ, quyền hạn ở các cơ quan, tổ chức trong việc phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; 3 pháp lệnh về cán bộ, công chức; Chỉ thị số 15-CT/TU của Thành uỷ thực hiện “3 xây, 3 chống”.

    Quận uỷ đã thành lập Ban Chỉ đạo 6(2) và Tổ chỉ đạo chống tham nhũng, có quy chế, chương trình công tác phối hợp với các ngành chức năng thực hiện kiểm tra đảng viên, tổ chức Đảng và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Hàng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện NQTW6(2).

    Qua việc học tập Nghị quyết Trung ương 6(2) hầu hết cán bộ, đảng viên đều nâng cao được nhận thức chính trị, nắm vững, kiên định 6 quan điểm có tính nguyên tắc, nhận thức rõ hơn về 4 nguy cơ và âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh có ý thức học tập và nâng cao năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhiều cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu làm nòng cốt trong các phong trào được quần chúng tín nhiệm.

    Các cấp uỷ Đảng đã xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, tăng cường công tác quản lý đảng viên, tổ chức cho đảng viên đăng ký chương trình thực hiện nghị quyết, học tập lý luận chính trị, ngoài ra còn tổ chức tốt các cuộc hội thi, hội thảo chuyên đề như học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng qua đó đã giáo dục về chính trị, tư tưởng, truyền thống cách mạng cho đảng viên và quần chúng.

    Thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành chức năng. Bộ máy của Ủy ban nhân dân Quận, 16 phường được củng cố, xác định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền rõ ràng theo luật định và quy chế. Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chánh theo cơ chế “một cửa, một dấu”, tổ chức thí điểm mô hình Tổ nghiệp vụ hành chính công, khắc phục một số thủ tục hành chính rườm rà, thực hiện công khai rõ ràng quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ hành chính trên các lĩnh vực cấp phép đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng, xử lý các trường hợp vi phạm về xây dựng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần giải quyết các công việc kịp thời, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng phục vụ cho người dân.

    Thường xuyên giáo dục cán bộ, công chức nhà nước về tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong tiếp xúc, giải quyết các yêu cầu của nhân dân, chống quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu gây phiền hà dân.

    Tập trung củng cố các cơ sở Đảng yếu kém, chất lượng sinh hoạt Đảng ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, góp phần xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Kết quả phân loại cơ sở đảng trong sạch vững mạnh năm 2001 đạt 69,1%, cơ sở đảng yếu kém 3,7%. Năm 2004 cơ sở đảng trong sạch vững mạnh đạt 79,4%, cơ sở đảng yếu kém 1,47%.

    Đã kiểm tra, xử lý 75 đ/c đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được kịp thời, đúng quy định. Việc xử lý kỷ luật đã nâng cao được ý thức của các cấp uỷ Đảng, đảng viên trong việc xây dựng Đảng, chấp hành các quy định, chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

    Quận uỷ và các cấp uỷ cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tổ chức sơ kết thực hiện các pháp lệnh và quy định của Trung ương về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện các quy định cụ thể về việc tổ chức các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm truyền thống, lễ đón nhận Huân chương, họp mặt một cách thiết thực, tiết kiệm, khắc phục tình trạng phô trương hình thức, lãng phí. Thành lập tổ công tác của Quận uỷ kiểm tra trực tiếp 5 phường, 3 đơn vị hành chính-sự nghiệp; đa số các đơn vị đều thực hiện tiết kiệm hơn so với những năm trước. Hầu hết cán bộ, công chức thực hiện tốt Chỉ thị số 27-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

    Trong hoạt động của các cơ quan, Thủ trưởng đơn vị đã xây dựng các quy định, quy chế làm việc nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, khắc phục tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, gây phiền hà với nhân dân, đồng thời lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức. Hầu hết cán bộ, công chức thực hiện tốt 3 pháp lệnh của Chính phủ về cán bộ, công chức, chấp hành các quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm.

    – Qua việc học tập các quy định, chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã nâng cao nhận thức tư tưởng, chính trị của các cấp uỷ Đảng, đảng viên, thống nhất cao với các quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng, đa số đảng viên phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, gần gũi, sâu sát quần chúng.

    – Các cấp uỷ đã tập trung củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; nền nếp, nguyên tắc sinh hoạt đảng được giữ vững, phát huy dân chủ nội bộ, đảng viên tham gia góp ý xây dựng nghị quyết sát hợp với tình hình địa phương, nhiều đơn vị đã tập trung chỉ đạo tốt việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội… Đặc biệt chú ý lãnh đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc ở địa phương, không để xảy ra điểm nóng.

    – Sau các đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp uỷ Đảng, đảng viên đã nâng cao được vai trò trách nhiệm trong việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên, tập trung các biện pháp nhằm khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, yếu kém, xử lý nghiêm túc các vụ việc vi phạm từ đó đã xây dựng các quy định về công tác quản lý đảng viên, đánh giá, quản lý cán bộ, thực hiện công tác quy hoạch cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ sở.

    – Qua việc thực hiện nghị quyết, một số cấp uỷ Đảng, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, chương trình hành động chưa cụ thể, chưa tạo được sự chuyển biến đồng bộ trong nhận thức và hành động.

    – Một số cấp uỷ chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, việc tổ chức triển khai, quán triệt nghị quyết, chỉ thị ở một số cơ sở Đảng còn hạn chế; một bộ phận đảng viên còn ngại nghiên cứu, học tập chính trị; nhận thức chưa theo kịp tình hình, còn chủ quan trong phòng chống tham nhũng.

    – Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ở một vài tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chưa thể hiện vai trò hạt nhân chính trị (chi bộ yếu kém tỷ lệ 1,47%), còn tư tưởng nể nang, ngại phê bình, không dám đấu tranh với sai trái, nền nếp sinh hoạt một số chi bộ chưa đều, chất lượng chưa cao, việc phân công đảng viên còn chung chung; một số chi bộ không kết nạp được đảng viên trong 2-3 năm liền.

    Nguyên nhân của khuyết điểm: Năng lực lãnh đạo của một số cấp uỷ Đảng, công tác triển khai thực hiện nghị quyết, quản lý điều hành ở một số đơn vị chưa theo kịp với sự phát triển của tình hình và thực tiễn đặt ra. Tinh thần đấu tranh tự phê bình, phê bình của một số đảng viên và tính chiến đấu trong sinh hoạt chi bộ chưa được phát huy mạnh. Một vài chi bộ công tác kiểm tra, quản lý đảng viên chưa được thực hiện một cách thường xuyên. Một bộ phận đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu đề cao trách nhiệm trước tổ chức và nhân dân.

    Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG NHIỆM KỲ 2005 – 2010 1/ Công tác chính trị tư tưởng:

    Tiếp tục thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư về “đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tổ chức tốt việc học tập, nghiên cứu, quán triệt các văn kiện Nghị quyết Đại hội đảng các cấp nhất là học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng; thực hiện quy định về chế độ học tập lý luận chính trị, chuyên môn cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời uốn nắn những biểu hiện dao động về tư tưởng, sự suy giảm niềm tin vào CNXH, vào chủ nghĩa Mác-Lênin, sự lãnh đạo của Đảng; chống tư tưởng bè phái, cục bộ, gây mất đoàn kết. Xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh trong cán bộ, đảng viên theo Chỉ thị số 15-CT/TU của Thành uỷ.

    Tập trung quán triệt chức năng, nhiệm vụ các loại hình tổ chức cơ sở Đảng và nghiệp vụ công tác Đảng cho các cấp uỷ. Làm chuyển biến, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ thực sự là hạt nhân chính trị ở đơn vị, phấn đấu có 85% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt công tác phân tích chất lượng cơ sở Đảng, đảng viên, tự phê bình và phê bình hàng năm, phát huy vai trò tính tiên phong gương mẫu của đảng viên sâu sát cơ sở, quần chúng. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ từng bước chuẩn hoá trình độ cán bộ theo quy định.

    Tiếp tục triển khai sâu rộng trong bộ máy nhà nước và nhân dân Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về dân chủ cơ sở. Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nhằm tạo điều kiện để nhân dân phát huy và thực hiện tốt quy chế dân chủ. UBMTTQ và các đoàn thể chính trị đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường vai trò giám sát, xây dựng tổ chức hướng mạnh về cơ sở. Chú trọng một số nội dung “dân bàn, dân giám sát, dân quyết định”; thực hiện công khai những nội dung theo quy định một cách đầy đủ, rộng rãi. Duy trì chặt chẽ, thường xuyên công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng quy định.

    Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã tạo ra sự chuyển biến, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, tăng cường được sự đoàn kết thống nhất về nhận thức chính trị, tạo được niềm tin của quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ. Tuy nhiên cũng còn những mặt khuyết điểm, hạn chế. Ban chấp hành Đảng bộ nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và có phương hướng cụ thể khắc phục thiếu sót nhằm thực hiện có kết quả NQTW6(2) trong thời gian tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Quan Điểm Của Nghị Quyết 8B Khóa Vi
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng Viên
  • Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8
  • Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 (Khóa Viii)
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 (Khóa Viii): Thành Công Trong Công Tác Cán Bộ Nữ
  • Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8
  • Bài Phát Biểu Bế Mạc, Kết Luận Hội Nghị Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược
  • Báo Cáo Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8
  • Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa VIII

    Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa 8 về chiến lược cán bộ

    Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa 8 thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

    VnDoc.com xin gửi tới bạn đọc bài viết báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa 8 thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết nêu rõ việc thực hiện nghị quyết trung ương 3 trong các năm vừa qua và phương hướng thực hiện cho tới năm 2022. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết để có thể lập được bài báo cáo tổng kết thực hiện nghị quyết cho riêng cá nhân mình.

    BÁO CÁO TỔNG KẾT

    Việc thực hiện Nghị quyết TW3 Khoá VIII về chiến lược cán bộ

    thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

    Phần thứ nhất TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CÁN BỘ NGUYÊN NHÂN ƯU KHUYẾT ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I. Tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay

    Phòng Giáo dục và Đào tạo ………….. được thành lập năm ………… trên cơ sở thành lập huyện ………………. tháng…năm…. Năm học ………….. ngành có tổng số …… trường và ……… văn phòng trong đó Mầm non: … trường; Tiểu học …. trường, THCS có ….. trường và PTCS có ……. trường. Tổng số biên chế năm học …………….. là …….. biên chế.

    Đến thời điểm tháng …….. năm …………. phòng Giáo dục và Đào tạo ………… có tổng số ……………. trường trong đó mầm non ………. trường (tăng ….. trường so với năm học …………..), tiểu học ……….. trường PTCS …. trường và THCS là …… trường. Tổng số biên chế tính đến thời điểm tháng …… năm ………… là …………….. biên chế, tăng ……………… biên chế so với năm học …………… Số cán bộ quản lý trong năm học ………………. là …….. người trong đó lãnh đạo phòng ….., mầm non ….., tiểu học …… và THCS là ………

    Huyện ……………… là một huyện trẻ mới được thành lập ………… năm nên đa số đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt huyết với công việc cao, gương mẫu đi đầu cho các phong trào của ngành, phấn đấu làm cho phong trào giáo dục của huyện ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Từ năm ……………….. đến nay ngành Giáo dục …………….. đang từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ. Nhiều cán bộ được cử đi đào tạo bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, hiện có cán bộ làm chủ chốt của ngành.

    Cụ thể như sau: Đối với lãnh đạo ngành: Hiện ngành Giáo dục …………………. đang có lãnh đạo đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đại học = 100%, một đồng chí đã có bằng Cao cấp chính trị và 01 đang theo học lớp Cao cấp chính trị.

    Đối với các đơn vị trường học: Bậc mầm non hiện có …… trường và có ….. cán bộ quản lý trong đó có …. hiệu trưởng và ….. Phó Hiệu trưởng, trình độ trên chuẩn của hiệu trưởng là ….. người = ….. %, trình độ đạt chuẩn là ….. = ……. %. Dự kiến trong năm học ………………. ngành sẽ tham mưu với huyện bổ nhiệm thêm ….. cán bộ quản lý nữa.

    Bậc tiểu học hiện có ….. trường (03 trường nằm trong PTCS) và có ….. cán bộ quản lý trong đó có ….. hiệu trưởng và …. Phó Hiệu trưởng, trình độ trên chuẩn của hiệu trưởng …. người = ….. %, trình độ trên chuẩn của phó hiệu trưởng … người = …. %, trình đạt chuẩn là …. = ….. %.

    Bậc THCS có …… trường (03 trường PTCS): Tổng số ….. quản lý trong đó có …. hiệu trưởng và …. Phó Hiệu trưởng, trình độ trên chuẩn của hiệu trưởng …. người = ….. %, trình độ trên chuẩn của phó hiệu trưởng …. người = ….. %, trình độ đạt chuẩn là ….. = …… %.

    Đa số đội ngũ cán bộ quản lý cả 03 bậc học đều đã được bồi dưỡng qua các lớp quản lý nhà trường và đều biết sử dụng máy vi tính.

    II. Tình hình thực hiện chiến lược về công tác cán bộ

    Với quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đánh giá cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nhìn chung, chiến lược cán bộ được Ban Thường vụ Huyện ủy thực hiện theo đúng quan điểm, phương hướng về công tác cán bộ của Đảng: Công tác đánh giá, xếp loại cán bộ được tiến hành dân chủ, khách quan, thận trọng, đúng nguyên tắc, đảm bảo đúng quy trình; công tác quy hoạch cán bộ và thực hiện quy hoạch cán bộ từng bước đi vào nề nếp; công tác bồi dưỡng cán bộ được chú trọng đào tạo bằng nhiều hình thức, phù hợp với chức danh, chuyên môn, chủng loại cán bộ; công tác bố trí, sử dụng cán bộ đảm bảo đúng quy hoạch, tạo điều kiện cho cán bộ phát huy tốt năng lực công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; thực hiện tốt chính sách cán bộ về đào tạo, bồi dưỡng, về sử dụng và quản lý cán bộ, về chế độ đãi ngộ vật chất và động viên tinh thần… Qua đó, đội ngũ cán bộ từ phòng tới cơ sở trường học có nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động,ý thức tự giác rèn luyện phấn đấu, ý thức trách nhiệm trong công tác và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ được nâng lên, phát huy sức mạnh tập thể, tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trong các cơ quan đơn vị.

    Tuy nhiên, công tác cán bộ còn một số hạn chế: Thực hiện đánh giá cán bộ ở một số đơn vị trường học còn chưa được coi trọng đúng mức, còn mang tính hình thức, nể nang, né tránh nên chưa phát huy được hết công tác quy hoạch cán bộ. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chất lượng còn chưa cao.

    Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW3 Khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó công tác tổ chức, bộ máy cán bộ là nhiệm vụ cốt lõi, ngành Giáo dục và Đào tạo ………………… đề ra phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2022: Phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý từ ngành đến cơ sở có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo theo tiêu chuẩn Nghị quyết TW3 khóa VIII đã đề ra; phấn đấu đội ngũ cán bộ cấp trường 100% đạt trình độ trên chuẩn.

    1) Tình hình xây dựng, ban hành và thực hiện các quy chế về công tác cán bộ; cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu.

    Từ khi nhận được Nghị quyết TW3 Khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh, huyện, ngành. Ngành Giáo dục và Đào tạo …………………. đó tiến hành phổ biến, quán triệt nội dung văn bản đến các đơn vị trường học trong toàn huyện. Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của cấp trên, hằng năm ngành lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, điều động và luõn chuyển cán bộ, chuẩn bị nhân sự cán bộ quản lý trình huyện phê duyệt. Phần lớn cán bộ mới đảm nhận nhiệm vụ đều trong diện được quy hoạch.

    2) Tình hình và kết quả thực hiện các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, quy định, quy chế và công tác cán bộ:

    – Công tác đánh giá cán bộ: Hằng năm ngành có tổ chức đánh giá cán bộ công chức cuối năm, từ đó phân loại cán bộ theo quy định của Bộ Nội vụ. Đưa vào bồi dưỡng, quy hoạch những cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, có tinh thần trách nhiệm để làm nguồn cán bộ về sau. Tiếp tục bồi dưỡng cho những cán bộ còn yếu và đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không còn đủ năng lực, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới đất nước.

    – Công tác quy hoạch cán bộ: Từ khi có các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, Huyện uỷ. Ngành Giáo dục và Đào tạo ……………… đã mạnh dạn quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các trường học để đưa đi đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Đội ngũ cán bộ đưa vào quy hoạch đã được cấp ủy, lãnh đạo cơ quan rà soát, xem xét, đánh giá, điều chỉnh hàng năm; được đào tạo lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và được bố trí, đề bạt, bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt theo quy hoạch.

    – Công tác quản lý và bố trí sử dụng cán bộ: Hiện nay ngành có tổng số 68 Cán bộ quản lý cho cả 3 bậc học (mầm non, tiểu học, THCS) và đã được ngành tham mưu bổ nhiệm vào các vị trí công tác phù hợp với năng lực chuyên môn và điều kiện công tác. Cán bộ quản lý trước khi bổ nhiệm đều được đào tạo, bồi dưỡng và đều nằm trong danh sách quy hoạch.

    – Công tác luân chuyển cán bộ: Thực hiện theo các văn bản hướng dẫn của cấp trên, luân chuyển những cán bộ đã có 2 nhiệm kỳ liên tiếp tại đơn vị cũ, dựa vào trình độ, năng lực của từng cán bộ quản lý mà luân chuyển cho phù hợp nhu cầu công việc.

    – Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được Chi bộ, Lãnh đạo cơ quan quan tâm tăng cường và từng bước gắn công tác đào tạo với quy hoạch cán bộ. Trong những năm gần đây tỉ lệ cán bộ được đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý trường học đều tăng.

    – Công tác xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ: Việc thực hiện các chính sách do Trung ương và địa phương ban hành như quy định chính sách đào tạo và thu hút nguồn nhân lực, chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ học tập lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước và nghiệp vụ đoàn thể, chính sách luân chuyển cán bộ, chính sách ưu đãi ngành, các loại phụ cấp…đã thể hiện sự quan tâm hơn đối với cán bộ công chức, đặc biệt là cán bộ nữ khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng hoặc luân chuyển, điều động.

    Ngoài ra ngành đã thực hiện đầy đủ các chính sách đối với cán bộ nữ như thực hiện các chế độ, chính sách lao động, tiền lýơng, bảo hiểm xă hội, bảo hiểm y tế, thai sản, nuôi con nhỏ theo quy định…góp phần động viên, khích lệ đội ngũ cán bộ yên tâm công tác.

    – Công tác xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ: Hiện nay ngành có 563 cán bộ công chức, viên chức và 01 đồng chí phụ trách công tác cán bộ nên khối lượng công nhiều, không có chuyên môn nên công tác cán bộ còn gặp nhiều khó khăn.

    III. Ưu điểm và khuyết điểm trong công tác cán bộ, bài học kinh nghiệm 1. Các ưu điểm (cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện)

    Hệ thống văn bản chỉ đạo cấp trên đầy đủ, rõ ràng, hướng dẫn chi tiết, cụ thể.

    Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dần trở thành quy trình chặt chẽ, dân chủ, công khai, có tính chiến lược;

    Việc xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ đã phát huy được tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo trong mỗi cán bộ cơ quan.

    Đội ngũ cán bộ trẻ nhiều.

    2. Khuyết điểm (cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện)

    Thiếu nguồn cán bộ thực sự có năng lực quản lý có thể đưa được phong trào đi lên.

    Đội ngũ cán bộ tuổi cao còn nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong công tác quản lý, trình độ chuyên môn còn hạn chế.

    Cán bộ trẻ tuy có trình độ, có năng lực nhưng lại trong độ tuổi sinh đẻ, nuôi con nhỏ, khó khăn trong công tác quản lý và nắm bắt thực tiễn, v́ vậy thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý

    Công tác bồi dưỡng cho cán bộ còn ít, đặc biệt về lý luận chính trị.

    3. Bài học kinh nghiệm

    Thường xuyên phát hiện, đào tạo bồi dưỡng những cán bộ trẻ có năng lực, trình độ và có điều kiện công tác bổ sung vào quy hoạch.

    Đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đủ điều kiện, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

    Phần thứ 2 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ XÂY DỰNG I. Phương hướng, mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc xây dựng đội ngũ cán bộ 1) Phương hướng, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2022. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẾN NĂM 2022

    – Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện uỷ theo tinh thần Nghị quyết TW 3 khóa VIII “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Phấn đấu đến năm 2022 có 100% CBQL có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên.

    2) Quan điểm nguyên tắc xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2022.

    Ngành xây dựng chiến lược cán bộ đúng tinh thần của Nghị quyết TW3 khóa VIII là: Bố trí, sử dụng cán bộ đảm bảo hợp lý về cơ cấu, gắn với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và chuyên môn của từng cơ quan, đơn vị trường học.

    – Công tác quy hoạch cán bộ đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo tính kế thừa và liên tục, khắc phục t́nh trạng thiếu hụt, chắp vá, bị động về cán bộ. Thực hiện luân chuyển cán bộ để tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng trình độ và năng lực cán bộ từ thực tiễn công tác

    – Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác quy hoạch cán bộ;

    II. Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2022.

    – Tập trung sắp xếp, kiện toàn lại đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh công tác quy hoạch, tạo nguồn; đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ nữ;

    Bám sát quan điểm chỉ đạo của cấp trên trong công tác cán bộ, kịp thời phát hiện bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng để có nguồn cán bộ cho những năm tiếp theo.

    Tham mưu với các cấp lãnh đạo đưa nguồn cán bộ trẻ đi đào tạo bồi dưỡng về chính trị cũng như chuyên môn nghiệp vụ.

    Chỉ đạo các đơn vị thực hiện đúng nội dung yêu cầu của công tác cán bộ, hằng năm có đánh giá, điều chỉnh, bổ sung nguồn cán bộ mới đưa vào diện quy hoạch.

    Hằng năm ngành thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá cán bộ trước khi bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực và hiệu quả công tác, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Lý Do Để Trung Ương Bàn Và Ra Nghị Quyết Về Xây Dựng Đảng (Tiếp)
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết Trung Ương 4 Về Xây Dựng Đảng
  • Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi Về Đổi Mới Gdđt
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Phúc Thọ
  • 27 Biểu Hiện Suy Thoái Trong Nghị Quyết Trung Ương 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100