【#1】Hà Tĩnh: Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương Đảng Lần Thứ 11 Khóa Xii Và Các Nghị Quyết, Kết Luận Của Trung Ương

Bí thư Tỉnh ủy Lê Đình Sơn và các Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các ban ngành, địa phương cùng tham dự.

Mở đầu hội nghị, đại biểu đã nghe Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Trần Báu Hà quán triệt Nghị quyết số 51 ngày 5/9/2019 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia. Một trong những nội dung được nhấn mạnh trong nghị quyết là các mục tiêu tổng quát, cụ thể và nhiệm vụ, giải pháp cốt lõi để bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. Đặc biệt, Nghị quyết chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của các ngành, địa phương trong thực hiện chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.

Tiếp đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Tất Thắng quán triệt Nghị quyết 50 ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và Nghị quyết số 52 ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Theo đó, các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát mà Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị nêu là: Xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài phải phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến và hài hòa với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao.

Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu…

Nghị quyết số 52 ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị khẳng định sự chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là yêu cầu tất yếu khách quan, nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đồng thời, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp, là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội.

Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Trần Thế Dũng đã quán triệt, phân tích các nội dung cơ bản của Quy định số 205 ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức chạy quyền; các nội dung chủ yếu trong dự thảo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khóa XII; báo cáo kết quả thực hiện Kết luận 144 ngày 28/8/2019 của Tỉnh ủy về thẩm quyền, cơ cấu, số lượng, quy trình lựa chọn nhân sự và sắp xếp cán bộ khi thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2021.

Phó Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thành trình bày Thông báo Kết luận số 156-TB/TW ngày 01/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”.

Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Võ Hồng Hải giới thiệu nội dung chủ yếu dự thảo Báo cáo chính trị và dự thảo báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, của tỉnh mới ban hành; bao gồm: Quy định số 208-QĐ/TW ngày 8/11/2019 của Ban Chấp hành Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị cấp huyện; Kết luận 66-KL/TW của Ban Bí thư về tổng kết việc thực hiện Quyết định số 185-QĐ/TW của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh…

Hội nghị cũng được nghe Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Tất thắng giới thiệu các nội dung chủ yếu dự thảo báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2021, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021 – 2030; báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2021 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021- 2025.

Kết luận hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Lê Đình Sơn yêu cầu đại biểu tiếp thu nghiêm túc các nội dung hội nghị, từ đó quán triệt đầy đủ, sâu sắc các nghị quyết, kết luận của Trung ương, tỉnh đến tận cơ sở, đảng viên. Cùng với đó triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận trên cơ sở bám sát thực tiễn của địa phương, đơn vị mình.

Phân tích các nội dung cần thiết trong công tác chuẩn bị văn kiện đại hội Đảng các cấp, Bí thư Tỉnh ủy đề nghị quá trình xây dựng báo cáo phải bám sát Cương lĩnh, các quan điểm, đường lối, định hướng lớn của Đảng, nhất là 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược theo Nghị quyết Đại hội XII. Đồng thời, bám sát định hướng chuẩn bị Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị để đánh giá và xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thiết thực, khả thi, hiệu quả trong nhiệm kỳ 2021 – 2025.

Công tác chuẩn bị nhân sự đại hội các cấp phải được thực hiện chặt chẽ, rà soát, đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, đa chiều, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát và công khai kết quả.

Về nhiệm vụ trước mắt, các địa phương, đơn vị tiếp tục tập trung cao chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò người đứng đầu; chủ động xây dựng chương trình hành động; dồn sức chỉ đạo giải quyết các công việc còn tồn đọng trong những tháng cuối năm; đảm bảo trật tự an toàn xã hội…

Các cơ quan thông tấn báo chí, Báo Hà Tĩnh, Đài PT-TH tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn.

【#2】Thị Ủy An Khê::quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương Đảng Lần Thứ 10 (Khóa Xi)

(GLO)- Chiều 24-3, tại Hội trường 23-3, Thị ủy An Khê đã tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) cho gần 200 cán bộ chủ chốt là lãnh đạo Thị ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ thị xã, lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn…

Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Như Hiếu

Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe báo cáo viên phổ biến những nội dung trọng tâm của Nghị quyết lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị; Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển khinh tế-xã hội 5 năm (2011-2015) và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2016-2020); Dự thảo báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XI trình Đại hội XII và đề xuất bổ sung, sửa đổi điều lệ Đảng; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016); Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm của Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI; giới thiệu nhân sự để Bộ Chính trị xét duyệt, quyết định bổ sung quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ 2021-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Đề án tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đề án quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

Kết thúc Hội nghị, Thị ủy đã yêu cầu toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ các cấp phải phổ biến Nghị quyết trong thời gian sớm nhất. Đồng thời nêu cao ý thức, trách nhiệm nghiêm túc học tập và tiếp thu những nội dung cơ bản của Nghị quyết.

【#3】Nghị Quyết Trung Ương Đảng Khóa Xii Về Chiến Lược Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Biển Việt Nam

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2021, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt. Chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển được giữ vững; công tác tìm kiếm cứu nạn, an toàn hàng hải cơ bản được bảo đảm; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện.

Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện.

Đặc biệt, nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Cùng với đó, hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả.

Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Công tác bảo vệ an ninh, an toàn, phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với sự cố môi trường trên biển còn nhiều bất cập.

Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra chưa đạt được; lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới chưa được phát huy đầy đủ; việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Sự liên kết giữa các vùng biển, ven biển; vùng ven biển với vùng nội địa; địa phương có biển với địa phương không có biển và giữa các ngành, lĩnh vực còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả.

Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhựa đã trở thành vấn đề cấp bách; các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển bị suy giảm; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều hạn chế, bất cập. Khoa học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển. Hợp tác quốc tế về biển chưa hiệu quả. Khoảng cách giàu – nghèo của người dân ven biển có xu hướng ngày càng tăng. Việc giữ gìn giá trị, phát huy bản sắc văn hoá biển chưa được quan tâm đúng mức.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành, địa phương và người dân, doanh nghiệp về vai trò, vị trí của biển, phát triển bền vững kinh tế biển chưa đầy đủ; phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất về biển dựa trên hệ sinh thái chưa theo kịp với yêu cầu phát triển và xu thế thời đại.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết của một số cấp uỷ, chính quyền còn thiếu thường xuyên, quyết liệt. Chính sách, pháp luật về biển chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, một số chủ trương lớn của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời.

【#4】Một Số Kết Quả Bước Đầu Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Ở Đảng Bộ Phường Phúc Đồng

Ngay sau khi Quận ủy Long Biên triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Quận ủy đến các Đảng bộ phường; Đảng ủy phường Phúc Đồng đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai học tập và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết sát với tình hình thực tiễn của phường; đồng thời tổ chức hội nghị học tập nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII gắn với học tập tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh một cách nghiêm túc, đạt hiệu quả cao.

Trong quá trình học tập và đánh giá bài viết thu hoạch của đảng viên, đảng ủy thấy rằng có những đồng chí đảng viên nhận thức chưa đầy đủ và cho rằng 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ thay cho 19 điều đảng viên không được làm; Trước tình hình như vậy, Đảng ủy phường đã chủ động xây dựng chuyên đề “Nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ” và tổ chức các hội nghị tọa đàm, nhằm giúp cho đảng viên nhận thức đầy đủ hơn để tránh không mắc phải những biểu hiện suy thoái như: ngại, không sắp xếp bố trí thời gian tham gia học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng, có những trường hợp đảng viên đến ghi tên tham gia sau đó bỏ về không ở lại học tập; trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và nhiệm vụ được giao còn có cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao, làm còn qua loa, đại khái. Trong công tác tự phê bình còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, có những cán bộ, đảng viên nói và làm không nhất quán…

Đ/c Nguyễn Thị Ngọc – Bí thư Đảng ủy chủ trì hội nghị tọa đàm.

Qua học tập Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đặc biệt là nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của BCH Trung ương Đảng khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong nội bộ”, đã có kết quả thiết thực đối với Đảng bộ phường Phúc Đồng. Đa số đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn trong việc tham gia sinh hoạt chi bộ, trong việc học tập nghị quyết của Đảng; cán bộ công chức trong cơ quan cũng đã thực hiện tốt nội quy, quy chế của cơ quan về giờ giấc, về tính chủ động trong công việc; đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong công tác xây dựng Đảng, từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức đến người lao động đã nhận thức đầy đủ và rõ hơn về yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng người, từng vị trí công tác; tự giác hơn tỏng tu dưỡng, rèn luyện và bước dầu đã có chuyển biến khá rõ về đạo đức, lối sống, tác phong, tinh thần thái độ khi giải quyết công việc và tiếp xúc với nhân dân. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đạt yêu cầu. Đảng ủy đã tập trung chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt cả hệ thống chính trị từ phường đến tổ dân phố thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra trong các kế hoạch, chương trình từ đầu năm; thường xuyên đôn đốc và kiểm tra các chi bộ tổ chức thực hiện những việc cần làm ngay, qua đó đã giải quyết được những nhiệm vụ khó khăn đã tồn tại nhiều năm như: vận động được gần 30 hộ gia đình di chuyển mộ để khớp nối tuyến đường 81m, hoàn thành dự án xây dựng nhà văn hóa tổ dân phố số 2 (tổ 4+6 cũ), sáp nhập 17 tổ dân phố thành 10 tổ dân phố mới, triển khai dự án xây dựng trường mầm non Phúc Đồng cơ sở 2 tại vị trí đã được quận phê duyệt, 100% hộ dân đã ký biên bản kiểm đếm thực hiện dự án 42 ha.

Kết quả năm 2021, Đảng bộ phường Phúc Đồng được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu, phường Phúc Đồng được UBND thành phố Hà Nội tặng cờ thi đua xuất sắc.

Trong thời gian tới, để Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của đảng di vào cuộc sống, Đảng ủy phường Phúc Đồng xác định và yêu cầu Chi ủy, bí thư các chi bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục tuyên truyền các nội dung của Nghị quyết, nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết. Cần tập trung chú tọng việc khắc phục khuyết điểm, hạn chế của chi bộ, đảng viên gắn với thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, coi đây là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Chi bộ trong sạch, vững mạnh. Đưa việc thực hiện các nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII vào chương trình, kế hoạch hàng năm để tổ chức thực hiện;đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp dưới, đảng viên thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc. Từng cấp ủy, chi bộ, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình và tự giác, gương mẫu, kiên trì thực hiện Nghị quyết. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt chi bộ, nêu cao tinh thần đấu tranh phê và tự phê của mỗi đảng viên. Tăng cường công atcs kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo Nghị quyết Trugn ương 4 khóa XII.

Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc chủ động, tích cực của chính quyền, MTTQ, đoàn thể và các chi bộ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII trong toàn Đảng bộ phường Phúc Đồng sẽ mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng và giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch, vững mạnh.

Nguyễn Thị Tuyết Lập

【#5】Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 14 Của Trung Ương Đảng Về Kiểm Tra, Giám Sát

* Triển khai nhiệm vụ kiểm tra, giám sát năm 2021.

Ngày 24/1, Tỉnh ủy Đắk Nông đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 14 – NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” và Tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2021, triển khai nhiệm vụ 2021.

Các đồng chí Ngô Thanh Danh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Nguyễn Đình Trung, UVTV, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy, cùng chủ trì Hội nghị. Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị và các huyện, thị xã tham dự.

Phó Bí thư Thường trực Ngô Thanh Danh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Trong 10 năm qua, qua công tác kiểm tra, giám sát (KTGS) từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên được KTGS, nhất là về chức năng, nhiệm vụ KTGS theo Điều 30, Điều lệ Đảng; thúc đẩy được việc chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác KTGS năm sau tốt hơn năm trước cả về số lượng, chất lượng, nội dung và phương pháp thực hiện.

Qua KTGS đã góp phần nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và từng bước ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra 23.007 đảng viên và 2.604 tổ chức đảng. Kết quả, phát hiện 108 đảng viên và 45 tổ chức đảng có vi phạm, trong đó xử lý kỷ luật 16 đảng viên và thu hồi 3 tỷ đồng sai phạm. Cấp ủy các cấp đã giám sát chuyên đề đối với 3.706 đảng viên, 1.038 tổ chức đảng và xem xét thi hành kỷ luật đối 1.141 đảng viên, 71 tổ chức đảng.

Năm 2021, Cấp ủy các cấp thực hiện kiểm tra 3.382 đảng viên và 311 tổ chức đảng. Trong số này, có 30 đảng viên và 2 tổ chức đảng có khuyết điểm và phải thi hành kỷ luật 1 đảng viên và 1 tổ chức đảng. UBKT các cấp thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 134 đảng viên và 14 tổ chức đảng. Trong số này, có 120 đảng viên và 13 tổ chức đảng có vi phạm. UBKT các cấp đã thực hiện giám sát chuyên đề đối với 85 đảng viên và 133 tổ chức đảng. Hầu hết các đảng viên và tổ chức đảng được giám sát đều chấp hành tốt nội dung được giám sát.

Về thi hành kỷ luật trong đảng, cấp ủy các cấp đã thực hiện kỷ luật 151 đảng viên và 7 tổ chức đảng; đình chỉ sinh hoạt 4 đảng viên. UBKT các cấp thi hành kỷ luật 50 đảng viên, 7 tổ chức đảng; đình chỉ sinh hoạt đảng 16 đảng viên.

Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Nguyễn Đình Trung triển khai nhiệm vụ KTGS năm 2021

Trong năm 2021, công tác KTGS sẽ được tập trung nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác KTGS; tập trung kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị; tập trung xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên trong việc giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ KTGS và thi hành kỷ luật trong Đảng…

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Ngô Thanh Danh đánh giá công tác kiểm tra, giám sát đã từng bước được đổi mới và triển khai tương đối toàn diện, hiệu quả. Qua kiểm tra, giám sát đã đánh giá đúng ưu điểm, chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục, xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng một số cấp ủy cơ sở còn “khoán trắng” nhiệm vụ kiểm tra, giám sát cho UBKT. Một số cấp ủy chưa đề cao vai trò, vị trí của của công tác KTGS. Nội dung KTGS đôi lúc vẫn còn dàn trải, chưa thực sự đi sâu vào lĩnh vực nhạy cảm… Do đó, cần phải tập trung khắc phục các mặt còn hạn chế, và tiếp tục đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng KTGS. Việc KTGS phải chủ động, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm và cần tập trung vào những lĩnh vực còn nổi cộm, nhạy cảm. Cấp ủy, UBKT các cấp cần chú trọng thực hiện tốt việc kiểm tra khi dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Tin, ảnh: Song Việt

【#6】Tỉnh Ủy Phú Yên Sơ Kết Thực Hiện Nghị Quyết 22 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa X)

QĐND Online – Ngày 25-3, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW, ngày 2-2-2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng tỉnh Phú Yên đã lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) chặt chẽ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong, gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ theo hướng gắn TCCSĐ với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên; chú trọng thực hiện chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thể hóa chức danh cán bộ, công chức ở cơ sở; không ngừng âng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của các loại hình TCCSĐ; làm tốt công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên.

Đồng chí Đào Tấn Lộc Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên trao bằng khen cho đại diện các TCCSĐ đạt TSVM 3 năm liền.

Hội nghị xác định, trong thời gian tới, việc thực hiện Nghị quyết 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) của các cấp ủy Đảng ở Phú Yên được tập trung vào một số nội dung: Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và thực hiện Chỉ thị 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trước Đảng và nhân dân. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dự nguồn chủ chốt ở cơ sở; có kế hoạch nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng TCCSĐ. Giữ vững nền nếp sinh hoạt của cấp ủy, sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; quan tâm giúp đỡ các tổ chức đảng mới thành lập, các tổ chức đảng trong doanh nghiệp và tổ chức đảng yếu kém, không ngừng nâng cao chất lượng TCCSĐ…

Tại hội nghị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên đã tặng Bằng khen cho 24 TCCSĐ đạt TSVM 3 năm liền (2011-2013).

Tin, ảnh: XUÂN HIẾU

【#7】Tỉnh Uỷ Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 22 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa X

Sáng 14/6, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 22, ngày 2/2/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”; tổng kết thực hiện Chỉ thị 36,ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Các đồng chí: Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Phạm Sỹ Lợi, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Xuân Đông, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được coi trọng, nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng (TCĐ), cán bộ, đảng viên (CBĐV) được nâng lên. Cùng đó, cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở luôn quan tâm, hoàn thiện mô hình TCĐ phù hợp với tình hình, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo. Công tác chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở và công tác phát triển ĐV được coi trọng. Giai đoạn 2008-2017 toàn Đảng bộ kết nạp 12.178 ĐV mới. Công tác kiểm tra, giám sát (KTGS) luôn được coi trọng, thực hiện nền nếp, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 22, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ có nhiều chuyển biến rõ nét. Số TCCSĐ giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh nhiều năm tăng, TCCSĐ yếu kém giảm (năm 2021 không có TCCSĐ yếu kém), chất lượng đội ngũ CBĐV được nâng lên. Qua 10 năm thực hiện, Tỉnh ủy đã kiến nghị với Trung ương tiếp tục nghiên cứu ban hành, bổ sung, sửa đổi quy định về tổ chức, hoạt động của một số loại hình TCĐ; phân cấp cho cấp ủy địa phương xem xét, quyết định sáp nhập, giải thể, tổ chức lại các chi bộ cơ sở phù hợp với thực tế.

Cùng đó, lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đơn vị, địa phương; tăng cường KTGS, thi hành kỷ luật Đảng. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng yêu cầu các cấp ủy tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu Đại hội đảng bộ các cấp; chủ động chuẩn bị chu đáo điều kiện, nguồn cán bộ cho Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ tới.

【#8】Sốp Cộp Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết 33 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng

5 năm qua, các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện Sốp Cộp đã triển khai kịp thời, nghiêm túc Nghị quyết số 33 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, qua đó, đã tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 33, các cấp, các ngành của huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng, nội dung phong phú, nhằm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng và cấp bách của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước thời kỳ mới. Cụ thể, công tác tuyền truyền, cổ động trực quan trên địa bàn huyện luôn được quan tâm và là mũi nhọn tạo hiệu quả nhanh phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh và địa phương; đã căng treo 1.979 m2 pa nô, 1.062 băng rôn khẩu hiệu vượt đường, 313 cờ dây, 320 cờ đuôi cá, 650 cờ Tổ quốc, 270 cờ Đảng; tuyên truyền cổ động mặt đường 440 lượt theo tuyến đường chính của huyện và các xã… Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn huyện được đầu tư và phát triển, các nét đẹp văn hóa truyền thống được quan tâm giữ gìn. Môi trường văn hóa được cải thiện; các thiết chế văn hóa, thể dục, thể thao được đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp nhân dân. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” thu hút đông đảo lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, học sinh các trường học và nhân dân trên địa bàn tham gia. Nhiều môn thể thao hiện đại, như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, điền kinh và các môn thể thao dân tộc như bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co, tung còn, tó mák lẹ… được duy trì và phát triển. Hiện, 100% các xã, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, đơn vị trường học đã đăng ký phấn đấu xây dựng đơn vị đạt danh hiệu đơn vị văn hóa; 100% cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt quy chế văn hóa công sở, quy chế tham gia giao thông; 100% các bản đã xây dựng và tổ chức ký kết các hương ước, quy ước với những nội dung mới theo hướng văn minh, tiến bộ. Việc thực hiện cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa”; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh và có nhiều chuyển biến; huyện đã cụ thể hóa bằng 5 nội dung, 7 phong trào. Đến nay, toàn huyện có trên 51% số hộ đạt gia đình văn hoá, gần 27% bản đạt tiêu chuẩn bản văn hoá, trên 95% cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hoá, 100% các bản đều xây dựng được quy ước, đồng bào dân tộc Mông thực hiện cam kết “5 có, 5 không”.

Theo đồng chí Bùi Thanh Thủy, Bí thư huyện ủy Sốp Cộp, công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa đã gắn với phát triển KT-XH, QP-AN, chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần xây dựng các thiết chế văn hóa. Từ năm 2021 đến nay, toàn huyện đã huy động các nguồn lực xây dựng 74 công trình phục vụ đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, huyện thường xuyên quan tâm đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá – thể thao của huyện, các xã và các bản. Trong 5 năm, đã sửa chữa, nâng cấp 8 nhà văn hoá xã, 37% số xã có sân bóng đá; 81% số bản có nhà văn hoá. Quan tâm sưu tầm, bảo tồn, giữ gìn và phát huy những nét văn hoá truyền thống các dân tộc như: Múa nón, múa xoè của dân tộc Thái; múa ô, múa khèn của dân tộc Mông; múa lăm vông của dân tộc Lào… Phục dựng, duy trì và phát triển nhiều lễ hội, như Xên Mường, Khẩu Hó, Xên lẩu nó…

Có thể khẳng định, Nghị quyết số 33 đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng các dân tộc, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại trên địa bàn huyện.

【#9】Hội Nghị Trực Tuyến: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 33 Của Bch Trung Ương Đảng

Sáng ngày 23/5/2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Các đại biểu tham dự hội nghị

Đồng chí Đỗ Xuân Tuyên – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì hội nghị. Tại điểm cầu của tỉnh, dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành của tỉnh.

Tại điểm cầu huyện nhà, dự hội nghị có đồng chí Lê Trí Viễn – Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện; đồng chí Trần Duy Thái – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; dự hội nghị còn có Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND huyện; các đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban chấp hành đảng bộ huyện; đại diện lãnh đạo các ban, phòng, ngành của huyện; ủy viên UBKT huyện ủy; các đồng chí Bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc huyện ủy; đồng chí Chủ tịch UBND, đồng chí Trưởng ban tuyên giáo Đảng ủy; công chức văn hóa các xã, thị trấn trong huyện, cùng đại diện các tập thể, cá nhân được khen thưởng.

Nhằm tổ chức triển khai thực hiện, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện. Các địa phương, các cơ quan, đơn vị cũng đã ban hành chương trình hành động, kế hoạch, đề án nhằm cụ thể hóa thực hiện nghị quyết.

Qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng con người trong tình hình mới đã có sự chuyển biến rõ rệt. Nhận thức của nhân dân về xây dựng, phát triển văn hóa, con người đã được nâng lên. Nhân dân ngày càng tự giác và tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; tích cực, chủ động tiếp thu những giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại.

Đến năm 2021, toàn tỉnh có 91% gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”; 749/851 làng, khu phố văn hóa, đạt tỉ lệ 88%; 661 gia đình được công nhận gương ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền cấp tỉnh, trên 4500 gia đình được công nhận cấp huyện và trên 6.400 gia đình được công nhận cấp xã; 62 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được UBND tỉnh công nhận lại danh hiệu Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa 05 năm (2014-2018) và có 32 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được UBND huyện, thành phố công nhận đạt chuẩn văn hóa lần đầu. 100% thôn, làng và các khu dân cư xây dựng được nghĩa trang nhân dân có khu hung táng, cải táng riêng biệt; 100% số làng, khu phố xây dựng được hương ước, qui ước trong đó có nội dung về xây dựng nếp sống văn hóa mới. Giai đoạn 2021 – 2021, toàn tỉnh đã đầu tư hơn 330 tỷ đồng cho xây dựng các thiết chế văn hóa thông tin cơ sở. Công tác giáo dục – đào tạo được quan tâm thường xuyên, chất lượng giáo dục không ngừng được nâng lên; việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động được đẩy mạnh thực hiện. Việc xây dựng gia đình văn hóa, thôn, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa đã có tác động tích cực đến đời sống văn hóa cơ sở, cổ vũ các phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật, biểu diễn, triển lãm, văn nghệ quần chúng ở cơ sở diễn ra sôi nổi, thiết thực, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia. Hoạt động của hệ thống thư viện, phòng đọc cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn tỉnh được quan tâm. Công tác quản lí nhà nước về văn hóa được tăng cường, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có bước trưởng thành.

Tuy nhiên, báo cáo sơ kết và các ý kiến tham luận tại hội nghị cũng đã chỉ ra một số hạn chế đó là: Việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết ở một số nơi còn chậm; có đảng bộ xã, phường, thị trấn còn chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể; Cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp văn hóa còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa có nhiều khu vui chơi, giải trí công cộng; Công tác bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể hiệu quả chưa cao, một số quy hoạch bảo tồn đã được phê duyệt nhưng chưa được triển khai thực hiện hoặc tiến độ thực hiện chậm; Chất lượng các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa chưa cao; các loại hình nghệ thuật truyền thống tuy được khôi phục nhưng chưa nhiều; Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa chưa rộng khắp; Đội ngũ làm công tác văn hóa và công tác lí luận, phê bình văn học nghệ thuật còn yếu và thiếu; cơ chế, chính sách hộ trợ chưa khuyến khích được những người làm công tác văn hóa, nhất là văn, nghệ sỹ; công tác hỗ trợ đào tạo tài năng, chế độ chính sách còn thấp, chưa xây dựng được đội ngũ cộng tác viên cơ sở; .v.v.

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Đỗ Xuân Tuyên – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đánh giá cao những kết quả mà tỉnh nhà đã đạt được trong xây dựng đời sống văn hóa, con người, nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 33 của BCH trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy cũng đã chỉ ra và làm rõ thêm những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đồng thời nhấn mạnh một số nội dung tỉnh nhà cần tiếp tục thực hiện đó là: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong tổ chức thực hiện Nghị quyết gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết TW 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyên hóa” trong nội bộ. Tiếp tục cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết phù hợp với điều kiện từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa, có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển văn hóa. Tiếp tục nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm các thiết chế văn hóa, thông tin, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Hoàn thiện các qui định để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, di tích lịch sử, văn hóa kết hợp với phát triển du lịch đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.

XUÂN ĐÀI

【#10】Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 33 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng

Dự hội nghị có đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành; Ủy ban MTTQ, tổ chức chính trị- xã hội tỉnh; đại diện ban tuyên giáo, tuyên huấn các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc và lãnh đạo UBND các huyện, thành phố…

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 33, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Tỉnh ủy Lạng Sơn đã bám sát những tư tưởng, quan điểm mới về con người trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng, qua đó tạo chuyển biến mạnh mẽ về đạo đức, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và nhân dân.

Theo đó, tỉnh đã vận dụng và triển khai thực hiện các nội dung, giải pháp, quan điểm chỉ đạo của trung ương, đề ra chủ trương biện pháp thiết thực, hiệu quả, đưa Nghị quyết số 33 vào cuộc sống, phù hợp với địa bàn của tỉnh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn góp phần gìn giữ, phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình, xã hội, con người Việt Nam. Nhiều giá trị văn hóa trong gia đình và cộng đồng được phát huy; ý thức trách nhiệm của người dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngày càng tốt hơn.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển sâu rộng, đến năm 2021, toàn tỉnh đã có 143.926 hộ đạt gia đình văn hóa (tăng 8,4% so với năm 2014) và 1.232 thôn bản, khối phố văn hóa (tăng 11,9% so với năm 2014).

Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa thường xuyên được tỉnh quan tâm, đến nay, đã có 75 lượt tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích trên địa bàn tỉnh. Cùng đó, 313 lễ hội truyền thống được quan tâm, duy trì, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, thu hút khách tham quan, du lịch; sự nghiệp văn học – nghệ thuật, giáo dục đào tạo được chú trọng…

Với những kết quả đạt được, sự nghiệp văn hóa của tỉnh đã thực sự thể hiện vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, xây dựng được niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

Tại hội nghị, đã có 10 báo cáo tham luận làm rõ hơn những kết quả đã đạt được cũng như những yếu kém, hạn chế cần khắc phục trong triển khai thực hiện Nghị quyết 33.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lưu ý các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở, ban ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, đảng viên tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, đồng thời có những giải pháp cụ thể, thiết thực tập trung khắc phục những yếu kém mà hội nghị đã chỉ ra.

Trong đó tập trung vào một số nội dung như: tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với lĩnh vực văn hóa; chủ động chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng con người nhất là đối với thế hệ trẻ; thực hiện tốt việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng văn hóa trong kinh tế, văn hóa trong Đảng, văn hóa trong bộ máy Nhà nước, văn hóa trong ứng xử giữa con người với con người trong xã hội làm cho các giá trị văn hóa lan tỏa và thấm sâu vào đời sống xã hội; tăng cường các nguồn lực đầu tư; phát triển văn hóa và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa nhằm huy động nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức xã hội cho các hoạt động văn hóa, giáo dục…